Khái niệm tư tưởng và tư tưởng HCM Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới chung quanh. Trong thuật ngữ tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm tư tưởng có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. Khái niệm tư tưởngTư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới chung quanh. Trong thuật ngữ tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm tư tưởng có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. Tư tưởng ở đây không phải dùng với nghĩa tinh thần tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng, mà với nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học(thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực. Khái niệm tư tưởng liên quan trực tiếp đến khái niệm nhà tư tưởng. Một người xứng đáng là nhà tư tưởng, theo Lênin khi người đó biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trị sách lược, các vấn đề về tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát. Khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống hoàn chỉnh. Câu 2: Tiền đề tư tưởng lí luận hình thành tư tưởng HCM và bài học cho sinh viên từ tinh hoa văn hóa nhân loạiGiá trị truyền thống dân tộc•Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước•Tinh thần tương thân tương ái ý thức cố kết cộng đồng Truyền thống lạc quan yêu đời luôn tin vào chân lí và chính nghĩa Truyền thống lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài Đây là tiền đề tư tưởng lí luận để hình thành tư tưởng HCM
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Trình bày khái niệm tư tưởng và tư tưởng HCM Ý nghĩa của việc học tập môn học đối với sinh viên?
a Khái niệm tư tưởng và tư tưởng HCM
Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người
với thế giới chung quanh Trong thuật ngữ "tư tưởng Hồ Chí Minh", khái niệm "tư tưởng" có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học.
* Khái niệm tư tưởng
Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của conngười với thế giới chung quanh Trong thuật ngữ "tư tưởng Hồ Chí Minh", kháiniệm "tư tưởng" có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học "Tư tưởng" ở đây không phảidùng với nghĩa tinh thần - tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộngđồng, mà với nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm đượcxây dựng trên một nền tảng triết học(thế giới quan và phương pháp luận) nhấtquán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc được hìnhthành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạohiện thực
Khái niệm "tư tưởng" liên quan trực tiếp đến khái niệm "nhà tư tưởng" Mộtngười xứng đáng là nhà tư tưởng, theo V.I.Lênin khi người đó biết giải quyết trướcngười khác tất cả những vấn đề chính trị-sách lược, các vấn đề về tổ chức, vềnhững yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát
* Khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh
Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao,
từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống hoàn chỉnh
Trang 2Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991) đánh dấu một cột mốcquan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh Đảng ta đă khẳngđịnh: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động Văn kiện của Đại hội định nghĩa: "tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc".
Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, công tác nghiêncứu tư tưởng Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc và đạt được những kết quảquan trọng Những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp luận cứ khoa học có sứcthuyết phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) vàĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) xác định khá toàndiện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ
Chí Minh "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi"!.
Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ được:
Một là, bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh:
Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cáchmạng Việt Nam, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt
Trang 3Nam;tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng,kim chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc Việt Nam.
Hai là, nguồn gốc tư tưởng, lý luận của tư tưởng Hồ Chí minh: Chủ nghĩa
Mác-Lênin; giá trị văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa nhân loại
Ba là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí
Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sựnghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi
Dựa trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt
Nam, các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác—Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.
b Ý nghĩa của việc học tập đối với sinh viên
Đối với sinh viên, người trí thức tương lai của nước nhà, việc học tập tư tưởngHCM có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là trong thời kì đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế
- Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác:
Tư tưởng HCM soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam trên con đườngthực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.Thông qua việc làm rõ và truyền thụ nội dung quan điểm lý luận của HCM vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, làm cho sinh viên nâng cao nhậnthức về vị trí, vai trò của tư tưởng HCM đối với đồi sống cách mạng Việt Nam;
Trang 4làm cho tư tưởng của Nguồi ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thầncủa thế hệ trẻ nước ta Thông qua học tập, nghiên cứu tư tưởng HCM để bồidưỡng, củng cố cho sinh viên, thanh niên lập trường, quan điểm cách mạng nềntảng chủ nghĩa Mác Lennin, tư tưởng HCM; kiên định mục tiêu độc lập dân tộcgắn liền với chủ nghĩa xã hội, tích cực, chủ động đấu tranh phê phán những quanđiểm sai trái, bảo vệ chủ nghãi Mác Lenin, tư tưởng HCM, đường lối, chủ trương,chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta; biết vận dụng tư tưởng HCM vàogiải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
- Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức CM và rèn luyện bản lĩnh chính trị:
Tư tưởng HCM giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất CM cho cán bộ Đảngviên và toàn dân sống hợp lí, yêu cái tốt, cái thiện, ghét cái xấu, cái ác Học tập tưtưởng HCM giúp ta nâng cao lòng tự hào về Người, về Đảng Cộng sản, về Tổquốc Việt Nam, tự nguyện “sống, chiến đấu, lao động vè học tập theo gương Bác
Hồ vĩ đại”
Trên cơ sở kiến thức đã học được, sinh viên vận dụng vào cuộc sống, tudưỡng, rèn luyện bản thân, hoàn thành tốt chức trách của mình, đóng góp thiết thực
và iệu quả cho sự nghiệp CM theo con đường HCM và Đảng ta đã lựa chọn
Câu 2: Tiền đề tư tưởng lí luận hình thành tư tưởng HCM và bài học cho sinh viên từ tinh hoa văn hóa nhân loại
Giá trị truyền thống dân tộc
Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữnước
Tinh thần tương thân tương ái ý thức cố kết cộng đồng
Truyền thống lạc quan yêu đời luôn tin vào chân lí và chính nghĩa
Trang 5 Truyền thống lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, quý trọng hiềntài
Đây là tiền đề tư tưởng lí luận để hình thành tư tưởng HCM
Kết luận
Chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi xuyên suốt lịch sử và truyền thống VN,
là động lực chính mạnh mẽ cho sự trường tồn và phát triển của dântộc
Động lực thúc dục HCM ra đi tìm tòi, học hỏi, làm giàu cho tư tưởng
CM và văn hóa VN
HCM cũng là hiện thân sinh động và trọn vẹn của truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc
1 Tinh hoa văn hóa nhân loại
HCM đã làm giàu thêm kiến thức của mình bằng cách tiếp thu tinh hoa văn hóanhân loại Tư tưởng văn hóa phương Đông và tư tưởng văn hóa phương Tây
a Tư tưởng văn hóa phương Đông: HCM đã kế thừa những yếu tố tiến bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu một cách chọn lọc những tư tưởngvăn hóa tiến bộ của Phương Đông, có thể kể tới như Nho giáo, Phật giáo,Lão giáo, hay một số tư tưởng tiến bộ như chủ nghĩa Tam Dân của TônTrung Sơn Cụ thể:
Tư tưởng nho giáo
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những mặt tích cực của Nho giáonhư: tư tưởng nhân trị và đức trị để quản lý xã hội, tinh thần trong đạo đứccủa Nho giáo trong việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức con người, triết lý hànhđộng, tư tưởng nhập thế, hành đạo cứu đời,v.v Tuy nhiên, Hồ Chí Minhcũng phê phán các mặt tiêu cực của Nho giáo như: bảo vệ chế độ phongkiến, phân chia đẳng cấp, trọng nam khinh nữ, coi trọng thi cử; suy nghĩ bảo
Trang 6thủ, một chiều; khinh thường công việc lao động chân tay, lao động xã hội,chỉ đề cao nghề đọc sách .
Người tiếp thu thông qua việc thường xuyên sử dụng các mệnh đề
để đưa ra vấn đề về việc tu dưỡng đạo đức cá nhân (thể hiện xuyên suốt
trong các tác phẩm “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người
(1969))
Tư tưởng phật giáo
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứukhổ cứu nạn, thương người như thể thương thân, đề cao nếp sống có đạođức, trong sạch, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động, v.v Đồng thờiphê phán thế giới quan duy tâm, tư tưởng an phận, bi quan yếm thế
Những quan điểm tích cực trong triết lý của Đạo Phật đã được Hồ ChíMinh vận dụng sáng tạo để đoàn kết đồng bào theo đạo Phật, đoàn kết toàndân vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàumạnh
Lão giáo
Hồ Chí Minh chú ý kế thừa tư tưởng của Lão Tử, khuyên con ngườinên sống gắn bỏ, hòa đồng với thiên nhiên, ít lòng ham muốn vật chất, hànhđộng đúng với quy luật của tự nhiên và xã hội
Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân ta trồng cây, tổ chức "Tết trồng cây" để bảo
vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người Hồ Chí Minhchú ý kế thừa phát triển tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh lợitrong Lão giáo Người khuyên cán bộ, đảng viên ít lòng tham muốn về vật
Trang 7chất; thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; hành động theo đạo lývới ý nghĩa là hành động đúng với quy luật tự nhiên, xã hội.
Chủ nghĩa Tam dân:
Người tiếp tục tìm hiểu chủ nghĩa Tam Dân: “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc” của Tôn Trung Sơn và bước đầu nhận
thấy trong đó nhiều tư tưởng tiến bộ, tích cực, phù hợp với xu thế thời đại và
có thể vận dụng được vào cách mạng Việt Nam, đó là quan điểm về dân tộc,dân quyền và dân sinh
Kết luận: Cách thức tiếp thu của Hồ Chí Minh: tiếp thu trên tinh thầnbiện chứng, có chọn lọc, không rập khuôn máy móc, vận dụng sáng tạo vàphát triển vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Ưu điểm được Hồ Chí Minhtiếp thu, cương quyết loại bỏ nhược điểm ra khỏi tư tưởng của mình, đồngthời những điểm chưa phù hợp được HCM cải biến cho phù hợp Có thể nêu
ra một số phạm trù của Nho giáo được Hồ Chí Minh sử dụng như Nhân,Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm, Trung, Hiếu, v.v Việc Hồ Chí Minh cải tạo cácphạm trù của Nho giáo thể hiện rõ nhất ở hai phạm trù Trung và Hiếu Hồ
Chí Minh viết: “Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới Phải trung với nước Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào” Rõ ràng, ở Hồ Chí Minh, nếu chữ Trung
mang một nội hàm hoàn toàn mới, từ Trung với vua trở thành Trung vớinước, thì chữ Hiếu lại được mở rộng trên cơ sở phổ quát hoá đạo đức cánhân, trong đó gốc của Hiếu với Dân phải là Hiếu với cha mẹ
b Văn hóa phương Tây
Ngay từ khi còn học ở Trường tiểu học Pháp-bản xứ ở thành phố Vinh(1905), Hồ Chí Minh đã quan tâm tới khẩu hiệu nổi tiếng của Đại Cáchmạng Pháp năm 1789: Tự do - Bình đẳng - Bác ái
Trang 8Đi sang phương Tây, Người quan tâm tìm hiểu những khẩu hiệu nổitiếng đó trong các cuộc cách mạng tư sản ở Anh, Pháp, Mỹ Người đã tiếpthu các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, sựbình đẳng trong Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ Đối với BảnTuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Pháp, Người tiếp thucác quyền như là quyền cá nhân và quyền tập thể của tất cả các giai cấp làbình đẳng, không thể chuyển nhượng và bất khả xâm phạm với mọi mụcđích Người đã kế thừa, phát triển những quan điểm nhân quyền, dân quyềntrong 2 bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ và đề xuất quan điểm về quyền mưucầu độc lập, tự do, hạnh phúc của các dân tộc trong thời đại ngày nay Người
khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Việc đề cao tư
tưởng nhân quyền và dân quyền như trên chính là để khẳng định: mục tiêucủa Cách mạng Việt Nam hoàn toàn phù hợp với khuôn khổ pháp lý quốc tế,với “lẽ phải” thông thường và là điều “không ai có thể chối cãi được”
Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh đãsống, hoạt động thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tình hình chính trị, kinh tế,văn hóa nhân loại tại những trung tâm chính trị kinh tế văn hóa lớn ở cáccường quốc trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, v.v bằngchính ngôn ngữ của các nước đó Trong thời gian Hồ Chí Minh sống và hoạtđộng ở phương Tây, Người đã tiếp thu tư tưởng tự do, bình đẳng của các nhàkhai sáng Pháp như: Voltaire, Rousso, Montesquieu, v.v
Hồ Chí Minh còn tham gia các hoạt động chính trị, nghiên cứu lý luận, kinh tế, vănhóa, v.v., đồng thời tiếp thu tư tưởng của Thiên Chúa giáo trong quá trình hìnhthành tư tưởng của minh, tiêu biểu nhất là tinh thần bác ái, yêu thương con người
2 Chủ nghĩa Mác Lenin
a Vai trò của chủ nghĩa Mác Lenin với iệc hình thành Tư tưởng HCM
Trang 9Chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở lý luận quyết định bước phát triển mới
về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp Người vượt hẳn lên phía trước sovới những nhà yêu nước tiền bối (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh ) HồChí Minh nhận xét: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủnghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”(Đường cách mệnh)
Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lý luậnquyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh HồChí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin một cách có chọn lọc, không rậpkhuôn, máy móc, giáo điều Từ đó, Người vận dụng sáng tạo và phát triển đểgiải quyết những vấn đề cụ thể của cách mạng Việt Nam, giải quyết đượckhủng hoảng đường lối cứu nước, lãnh đạo Cách mạng Việt Nam cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Vai trò của CN Mác Lênin đối với tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện:Quyết định bản chất thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh,quyết định phương pháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh Đối với
Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin là thế giới quan, phương pháp luậntrong nhận thức và hoạt động cách mạng Trên cơ sở lập trường, quan điểm
và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã kế thừa, đốimới, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tinhhoa văn hóa nhân loại kết hợp với thực tiễn cách mạng trong nước và thếgiới hình thành lên một hệ thống các quan điểm cơ bản, toàn diện về cáchmạng Việt Nam Chủ nghĩa Mác Lênin tiền đề lý luận quan trọng nhất, cóvai trò quyết định trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa Mác – Lênin còn giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức vàkinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước Người nhận thức:Trong cuộc đấu tranh vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa làm công tác
Trang 10thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộngsản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trênthế giới.
Chủ nghĩa MLN đã cung cấp cho HCM
Thế giới quan duy vật biện chứng
Phương pháp luận mác xít cách tư duy biện chứng duy vật
Tổng kết lịch sử và tìm ra con đường cứu nước
Tư tưởng HCM thuộc hệ tưởng MLN mang tính khoa học sâu sắc
3 Giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại đối với sinh viên trong giai đoạn hiện nay
a Văn hóa Phương Đông
Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đảng xácđịnh: " Phát triển con người Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đểvăn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước vàbảo vệ Tổ quốc" Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay,con người Việt Nam phát triển toàn diện phải là con người có văn hóa, thấmnhuần bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, có năng lực tiếp thu tinh hoa vănhóa nhân loại, làm cho kho tàng ấy giàu có hơn, phong phú hơn, cũng là mộtcách để khẳng định mình trong thế giới rộng lớn Trong bối cảnh toàn cầuhóa và hội nhập hóa quốc tế hiện nay, khi mà nhân loại đang lo âu về sựđánh mất chính mình trong "thế giới phẳng" và nguy cơ đồng phục văn hóa,chúng ta càng thấy rõ hơn về việc ứng xử linh hoạt với các giá trị của tinhhoa văn hóa nhân loại, góp phần bồi đắp những thiếu hụt cho mỗi bên và tạonên sự đa dạng văn hóa
Hiện nay nhiều nguồn văn hóa đang du nhập vào nước ta khiến nhiềungười dần thay đổi nhận thức và đánh mất đi những bản sắc, giá trị dân tộc.Hơn lúc nào hết, lúc này chúng ta, nhất là thế hệ trẻ "xung kích" để bảo vệ
Trang 11những giá trị truyền thống văn hóa, để đất nước chúng ta vẫn giữ nguyênđược bản sắc, hòa nhập chứ không hòa tan Để làm được điều đó, mỗi sinhviên chúng ta cần phải tự mình phấn đấu, rèn luyện, tự trau dồi cho bản thânnhững kỹ năng cần thiết, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, nỗ lực rèn luyện vì lợi ích chung của cộng đồng và vì chính sựphát triển của bản thân Quan trọng hơn, thế hệ trẻ cần xây dựng bản lĩnhvăn hóa, sẵn sàng đấu tranh với những hoạt động, sản phẩm văn hóa khônglành mạnh, chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt độngđịnh hướng cho sinh viên tiếp thu những mặt tích cực, tiên tiến của văn hóahiện đại.
b Văn hóa phương Tây
Quan điểm của Đảng ta: Trong định hướng phát triển đất nước giaiđoạn 2021 - 2030, Đảng xác định: " Phát triển con người Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh,động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc" Trong bối cảnh toàn cầuhóa và hội nhập quốc tế hiện nay, con người Việt Nam phát triển toàn diệnphải là con người có văn hóa, thấm nhuần bản sắc văn hóa dân tộc ViệtNam, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho kho tàng ấygiàu có hơn, phong phú hơn, cũng là một cách để khẳng định mình trong thếgiới rộng lớn Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hóa quốc tế hiện nay,khi mà nhân loại đang lo âu về sự đánh mất chính mình trong "thế giớiphẳng" và nguy cơ đồng phục văn hóa, chúng ta càng thấy rõ hơn về việcứng xử linh hoạt với các giá trị của tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần bồiđắp những thiếu hụt cho mỗi bên và tạo nên sự đa dạng văn hóa
Tiếp thu một cách chọn lọc những giá trị văn hóa phương Tây: Phongcách sống của người phương Tây thiên về sự tự do, tự khám phá giá trị sống;con người ưa sự xê dịch, tìm kiếm các trải nghiệm mới mẻ, họ thích sử dụng
Trang 12các mô hình lập luận, tranh biện, logic, thuật ngữ trong khi trò chuyện Tuynhiên, người phương Tây sống theo chủ nghĩa duy vật, đề cao danh tiếng vàthành tựu, gắn tiền bạc với sự xa xỉ và giàu có, tôn sùng lợi nhuận Họ hứngthú và thao tác với công nghệ nhanh hơn là giao tiếp trong đời thực, đồngthời có quan niệm về tình yêu, giá trị hôn nhân khác độc đáo, khác so vớichúng ta Khi đã nhận thức được những giá trị trong văn hóa phương Tây,cần có sự tiếp thu một cách chọn lọc, biết tận dụng những điều tốt, loại bỏnhững điều chưa tốt, đồng thời kết hợp hài hòa với truyền thống văn hóa dântộc ta.
Giá trị của việc tiếp thu văn hóa phương Tây: làm giàu vốn tri thức, kếthợp yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại, phù hợp với các giá trị truyềnthống dân tộc, thích nghi với quá trình giao lưu, hội nhập văn hóa Nhìnchung, trong quá trình toàn cầu hóa, văn hóa, tư duy, lối sống của phươngTây cũng đem lại những lợi ích nhất định cho Việt Nam, như về các mặtkinh tế, thu nhập quốc dân, mức sống, tiện nghi vật chất nhưng mặt khác
nó cũng đặt ra vấn đề cần giải quyết Đó là đạo lý, giá trị truyền thống, bảnsắc văn hóa dân tộc đang thật sự bị xâm hại Trước nguy cơ có thật này, cần
có ngay những giải pháp thích hợp để chỉnh đốn lại những nề nếp truyềnthống, đồng thời tìm cách phát huy cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của bản sắcViệt Nam trên đường hội nhập vào kho tàng văn hóa toàn cầu
c Quan điểm Mac Lenin
Bản thân mỗi sinh viên, đặc biệt là sinh viên BKHN phải nhận thức rõ nềntảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.Sinh viên cần xây dựng cơ sở khoa học cho nhận thức và niềm tin vững chắcvào con đường đi lên của chủ nghĩa xã hội Nhiều sinh viên đã chủ động đấutranh với những luận điệu xuyên tạc, thông tin xấu độc, góp phần bảo vệ nềntảng tư tưởng của Đảng
Trang 13Trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, tình hình trong nướcnhiều khó khăn, các thế lực thù địch để tuyên truyền những quan điểm saitrái đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh
vi, nguy hiểm hơn, có tác động đến các tầng lớp trong đó thanh niên là đốitượng chủ yếu bị tấn công Thực tiễn cho thấy, không ít thanh niên đã cónhững biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xa rời mục tiêu Hiện nay, sự bùng nổcủa Internet và mạng xã hội tác động mạnh mẽ đến cuộc sống chúng ta, nóđặt ra nhiều vấn đề là những đạo lý, văn hoá, bản sắc dân tộc đang bị xâmhại Do đó cần có giải pháp chỉnh đốn đồng thời phát huy cái hay cái đẹp củadân tộc ta trên con đường hội nhập
Để bảo đảm nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi sinh viên phải tích cựchọc tập, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức,
có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cảnh giáctrước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu Trên “mặttrận” không gian mạng, mỗi thanh niên phải tận dụng sức trẻ, khả năng sángtạo để tạo nên những sản phẩm thông tin về bảo vệ nền tảng tư tưởng củaĐảng một cách đa dạng, mới mẻ, thu hút đông đảo công chúng Phải kịp thờiphát hiện, cảnh báo cho cộng đồng về các trang cung cấp thông tin xấu, độc,giả mạo; các nguy cơ xâm hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng, từ đó phốihợp các cơ quan chức năng xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
Câu 3: Trình bày quan điểm HCM về độc lập dân tộc Trách nhiệm của sinh viên trong việc bảo vệ độc lập dân tộc
a Khái niệm tư tưởng HCM về độc lập dân tộc
Theo HCM thì thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa là đấu tranh chống chủnghĩa thực dân, GPDT và lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Trong đóĐLDT là nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa
Trang 14Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đến naygắn liền với truyền thống yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm Điều đó nóilên một khát khao to lớn của dân tộc ta là có được một nền độc lập cho dân tộc, tự
do cho nhân dân và đó cũng là một giá trị tinh thần thiêng liêng, bất hủ của dân tộc
mà Hồ Chí Minh là hiện thân cho tinh thần ấy Người nói rằng, cái mà tôi cần nhấttrên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập
Tại Hội Nghị ở Vécxây (Pháp) năm 1919, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hộinghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, với hai nội dung chính là đòi quyền bìnhđẳng về mặt pháp lý và đòi các quyền tự do, dân chủ Tuy nhiên bản yêu sáchkhông được Hội nghị chấp nhận nhưng qua đó cho thấy lần đầu tiên, tư tưởng HồChí Minh về quyền của các dân tộc thuộc địa mà trước hết là quyền bình đẳng và
tự do đã hình thành
Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh cũng đã xácđịnh mục tiêu chính trị của Đảng là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phongkiến và làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập Cách mạng Tháng Tám năm
1945 thành công, trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ
lâm thời trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng
và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”
Ý chí và quyết tâm trên còn được thể hiện trong hai cuộc kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ Khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam lần thứ hai,trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, Người ra lời hiệu triệu,thể hiện quyết tâm sắt đá, bảo vệ cho bằng được nền độc lập dân tộc - giá trị thiêng
Trang 15liêng mà nhân dân Việt Nam mới giành được: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả,chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Năm 1965, đế quốc Mỹ tăng cường mở rộng chiến tranh ở Việt Nam Tronghoàn cảnh khó khăn, chiến tranh ác liệt đó, Hồ Chí Minh đã nêu lên một chân lýthời đại, một tuyên ngôn bất hủ của các dân tộc khao khát nền độc lập, tự do trênthế giới “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Với tư tưởng trên của Hồ Chí Minh,nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu, đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược,buộc chúng phải ký kết Hiệp định Paris, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơbản của nhân dân ta
Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn với tự do của nhân dân Người
đánh giá cao học thuyết “Tam dân” của Tôn Trung Sơn về độc lập và tự do: dân
tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc Và bằng lý lẽ đầy thuyết phục,trong khi viện dẫn bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của
Cách mạng Pháp năm 1791, Hồ Chí Minh khẳng định dân tộc Việt Nam
đương nhiên cũng phải được tự do và bình đẳng về quyền lợi: “Đó là lẽ phải không ai chối cãi được” Người nói: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Ngoài ra, độc lập cũng phải gắn với cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhândân Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trong hoàn cảnhnhân dân đói rét, mù chữ , Hồ Chí Minh yêu cầu phải cố gắng để cho nhân dân
ai cũng có cái ăn cái mặc, ai cũng có chỗ ở và được học hành Có thể thấy rằng,trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, Người luôn coi độclập gắn liền với tự do, cơm no, áo ấm cho nhân dân, như Người từng bộc bạch đầy
Trang 16tâm huyết: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước
ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để:
Trong quá trình đi xâm lược các nước, bọn thực dân đế quốc hay dùngchiêu bài mị dân, thành lập các chính phủ bù nhìn bản xứ, tuyên truyền cái gọi là
“độc lập tự do” giả hiệu cho nhân dân các nước thuộc địa nhưng thực chất là nhằmche đậy bản chất “ăn cướp” và “giết người” của chúng
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt
để trên tất cả các lĩnh vực Người nhấn mạnh: độc lập mà người dân không cóquyền tự quyết về ngoại giao, không có quân đội riêng, không có nền tài chínhriêng , thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì Trên tinh thần đó và trong hoàn cảnhđất nước ta sau Cách mạng Tháng Tám còn gặp nhiều khó khăn, Người đã thaymặt Chính phủ ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946,
theo đó: “Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình, Nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình”.
Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ:
Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân tộc ta luôn đứng trước
âm mưu chia cắt đất nước của kẻ thù Thực dân Pháp khi xâm lược nước ta đã chiađất nước ta ra ba kỳ, mỗi kỳ có chế độ cai trị riêng Trong hoàn cảnh đó, trong bức
Thư gửi đồng bào Nam Bộ (1946), Hồ Chí Minh khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ
là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi” Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm
thời bị chia cắt làm hai miền, Hồ Chí Minh tiếp tục kiên trì đấu tranh để thống nhất
Trang 17Tổ quốc Trong Di chúc, Người cũng đã thể hiện niềm tin tuyệt đối vào sự thắng
lợi của cách mạng, vào sự thống nhất nước nhà: "Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” Có thể khẳng định rằng tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với
thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời hoạtđộng cách mạng của Hồ Chí Minh
b Trách nhiệm của sinh viên trong việc bảo vệ độc lập dân tộc
Nhận thức về độc lập dân tộc: hiểu rõ hơn về tư tưởng độc lập dân tộc và vai
trò của Hồ Chí Minh trong việc đưa đất nước Việt Nam đến với độc lập tự do Bêncạnh đó, theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là quyền của mỗi quốcgia và mỗi dân tộc, là một giá trị cốt lõi của con người, đóng vai trò quan trọngtrong việc đảm bảo sự phát triển và tiến bộ của xã hội Chính vì thế mà sinh viêncần đưa ra những quan điểm chính xác về độc lập dân tộc, sinh viên cần phải nắmvững các nguyên tắc và giá trị của độc lập dân tộc, bao gồm cả tôn trọng và bảo vệquyền tự quyết của mỗi quốc gia và mỗi dân tộc sự công bằng và bình đẳng cho tất
cả các thành viên trong cộng đồng dân tộc Sinh viên cần đặt sự tôn trọng và bảo
vệ quyền con người lên hàng đầu, đảm bảo sự công bằng và bình đẳng cho tất cảcác thành viên trong cộng đồng dân tộc Đồng thời sinh viên cần phải luôn tìmcách đối thoại và hợp tác với các
quốc gia và dân tộc khác trong khu vực và trên thế giới để xây dựng một thế giớihòa bình chính trị ổn định và phát triển bền vững
Trách nhiệm của sinh viên trong việc bảo vệ độc lập dân tộc thể hiện như thế nào?
Sinh viên cần có tri thức hiểu biết về những vấn đề có liên quan đến sựnghiệp bảo vệ Tổ quốc, bao gồm hiểu biết về đất nước và con người các dân tộc vàtôn giáo ở Việt Nam, hiểu biết về lịch sử truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc,
Trang 18hiểu biết về Đảng Cộng sản, về nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vìdân về chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
Sinh viên sinh viên cần phải cảnh giác tích cực trong đấu tranh với nhữnghành động sai trái, không để các thế lực thù địch, các phần tử chống đối lợi dựngmình để thực hiện diễn biến hòa bình, phát hiện những tổ chức người có hành vituyên truyền lôi kéo sinh viên tham gia các hoạt động trái quy định của Pháp luật,nhằm chống lại Đảng Nhà nước để bảo báo cho lãnh đạo của trường chính quyền
và các cơ quan bảo vệ pháp luật biết
Sinh viên cần tích cực tự giác tham gia các hoạt động cụ thể để bảo vệ an ninhquốc gia, giữ gìn trật tự và an toàn xã hội, tham gia xây dựng nếp sống văn minhtrật tự ngay trong trường học ký túc xá và khu vực dân cư mà mình sinh sống, bảo
vệ môi trường, giúp đỡ các cơ quan chuyên trách trong bảo vệ an ninh quốc gia,giữ gìn trật tự an toàn xã hội
Sinh viên cần tăng cường rèn luyện thể lực, học tập tốt môn học giáo dụcquốc phòng an ninh, góp phần chuẩn bị cho lực lượng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổquốc và giữ gìn trật tự an toàn xã hội
Sinh viên cần tích cực học tập để nâng cao hiểu biết về toàn vẹn lãnh thổ vàtuyên truyền những điều đúng đắn cho mọi người xung quanh Mỗi sinh viên phảinắm chắc đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước vềxây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân
Câu 4: Quan điểm của HCM về cách mạng GPDT
Tư tưởng HCM về CMGPDT là hệ thống các quan điểm các con đường cứunước, về tổ chức lực lượng, chiến lược, sách lược và những nhân tố bảo đảm thắnglợi của CMGPDT ở Việt Nam và các dân tộc thuộc địa khỏi chủ nghĩa thực dân đếquốc, xây dựng một nước việt nam hòa bình thống nhất độc lập dân chủ và giàu
Trang 19mạng… đây là đóng góp xuất sắc nhất của HCM vào kho tang lí luận MLN Vìngười được suy tôn là anh hùng giải phóng dân tộc.
KN tư tưởng HCM
Tư tưởng HCM về cách mạng GPDT
1 Tính chất nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng GPDT
Sự phân hóa của xã hội thuộc địa: mâu thuẩn giai cấp và mâu thuẩndân tộc trong đón mâu thuẩn giai cấp không gay gắt nổi trội mà mâuthuẩn dân tộc gay gắt nổi trội
Đối tượng: chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc
Yêu cầu bất thiết: ĐLDT
Nhiệm vụ hang đầu: đấu tranh để GPDT
Tính chất của CM thuộc địa: CMGPDT
Mục tiêu của CMGPDT:
o Lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân
o Giành độc lập dân tộc
o Thiết lập chính quyền nhà nước của nhân dân
2 Cách mạng GPDT muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản
Phong trào cách mạng trong nước
Phong trào cách mạng quốc tế
Trang 20 HCM quyết định lựa chọn con đường GPDT theo con đường CMVS:người thấy cách mạng tháng 10 Nga không chỉ là một cuộc CMVS màcòn là một cuộc cách mạng GPDT nó nêu con tấm gương sáng về sựnghiệp GP các dân tộc thuộc địa và mở ra trước mắt họ thời đại cáchmạng chống đế quốc thời đại GPDT.
Khi đọc được luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc người khẳng định
“muốn cứu nước và GPDT không còn con đường nào khác ngoài conđường CMVS”
HCM chọn con đường cứu nước là con đường CMVS vì:
Có được đông đảo đồng minh bên vực: quốc tế cộng sản, cách dân tộc
bị áp bức khác
Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng triệt để nhất trong lịch sử
Do ĐCS lãnh đạo: đảng của giai cấp công nhân nên đảm bảo quyềnlợi của người lao động
Đáp ứng nguyện vọng của đại đa số quần chúng nhân dân
Phù hợp với xu thế của thời đại CMVS
HCM: trước các nước thuộc địa và phong kiến vấn đề dân tộc chỉ cóthể được giải quyết triệt để khi đặt dưới sự lãnh đạo của GCCN thôngqua lí luận tiên phong của ĐCS
Trang 21 CM trước hết phải có đảng: để giác ngộ cho dân và giảng giải lí luận, chủnghĩa MLN cho dân hiểu bày sách lược cho dân
HCM khẳng định “ trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động
và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản ởkhắp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như ngườicầm láy có vững thuyền mới chạy”
Ngày 3/2 thành lập ĐCS VN
ĐCSVN là đảng của giai cấp CN và nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo duy nhất bảo đảm cách mạng thành công
ĐCS có đường lối chính trị đúng đắn
Quy tụ được sức mạnh của quần chúng, gắn bó với nhân dân với dân tộc
Tổ chức chặt chẽ theo nguyên tắc đảng kiểu mới của GCVS
4 Lực lượng của cách mạng GPDT: toàn dân tộc
Cách mạng GPDT là sự nghiệp của toàn nhân dân trên cơ sở liên minhcông nông
MLN khẳng định: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân,nhân dân lao động là người sáng tạo và quyết định sự phát triển của lịchsử
Người chủ trương đưa cách mạng VN theo con đường CMVS, nhưngchưa làm ngay cách mạng vô sản mà thực hiện cách mạng GPDT giảiquyết mâu thuẩn dân tộc với đế quốc xâm lược và tay sai Mục tiêu làgiành độc lập dân tộc vì vật cách mạng là đoàn kết dân tộc không phânbiệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, trung tiểu địa chủ, tư sản bản xứ….ai
có long yêu nước thương nồi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận thu gon
Trang 22toàn lực đem tất cả ra giành độc lập tự do, đánh tan giặc xâm lược nhưngphải lấy công nông làm gốc vì đây là lực lượng đông đảo bị ba tầng lớp
Quan điểm của QTCS chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộcGPDT thuộc địa khi giai cấp VS tiên tiến như vậy QTCS khẳng địnhcách mạng thuộc địa phải phụ thuộc vào cách mạng VS ở chính quốc
HCM đánh giá đúng bản chất của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thựcdân ( đó là xâm lược), xác định rõ vị trí vai trò của CM thuộc địa,HCM nhận thức được chủ nghĩa đế quốc ở thuộc địa là khâu tất yếutrong hệ thống dây chuyền của CNĐQ vì vấp phải sự phản khángmãnh liệt của nhân dân các dân tộc thuộc địa HCM nhận thức đượcđánh gía đúng và tin tưởng vào tiềm năng, sức mạnh của cách dân tộc
bị áp bức, do đó HCM khẳng định CMGPDT ở thuộc địa khôngnhững không phụ thuộc vào CMVS ở chính quốc mà còn nổ ra vàgiành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, khi giành đượcthắng lợi rồi thậm chí “ có thể giúp đỡ những người an hem mình ởPhương Tây, trong nhiệm vụ giải phóng toàn dân”
Đây là luận điểm sáng tạo và có ý nghĩa lí luận thực tiễn quan trọng,
đã được thực tế cách mạng GPDT ở VN chứng minh là hoàn toànđúng đắn
Trang 236 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực
Người khẳng định: “ ở các nước thuộc địa chủ nghĩa thực dân dungbạo lực phản cách mạng đàn áp các phong trào yêu nước, CMGPDT muốnthắng lợi thì phải dung bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cáchmạng Bạo lực chống cách mạng là bạo lực của quần chúng gồm lực lượng “chính trị” và “lực lượng vũ trang” với hai hình thức đấu tranh vũ trang kếthợp với chính trị để giành chính quyền bằng bạo lực trước hết là khởi nghĩa
vũ trag của quần chúng được sự ủng hộ của cách mạng vô sản thế giới, cáchmạng Nga… sau hội nghị trung ương 8 HCM chỉ đạo xây dựng căn cứ địa,lực lượng vũ trang lực lượng chính trị, chuẩn bị tổng khởi nghĩa CM tháng
8 thành công thắng lợi chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng HCM về bạolực cách mạng
CÂU 10: Quan điểm của HCM về Nhà nước và Đảng Cộng sản
* Nhận thức của Hồ Chí Minh về vấn đề chính quyền, nhà nước
- Nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền thì vấn
đề cơ bản của 1 chính quyền là nó thuộc về ai? Phục vụ cho ai? Năm 1927, trongcuốn “ Đường Kách Mệnh”, Người viết: “ Chúng ta đã hi sinh làm kách mệnh, thìnên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng
số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hi sinh nhiều lần, thếdân chúng mới được hạnh phúc.”Hồ Chí Minh đã chủ trương xây dựng một chínhquyền công nông binh thể hiện trong Chánh cương vắn tắt của Đảng khi thành lậpĐảng đầu năm 1930 Trải qua thực tế các cao trào cách mạng ở Việt Nam, về sau,
Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng ở Việt Nam một nước Dân chủ Cộng hòa, mộtnhà nước do nhân dân lao động làm chủ, nhà nước của dân, do dân, vì dân Trongbài báo Dân vận (năm 1949), Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta là nước dân chủ
Trang 24Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới,xây dựng là trách nhiệm của dân.Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việccủa dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từTrung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều
ở nơi dân
- Tại Hội Nghị Trung Ương VIII năm 1941 Hồ Chí Minh và Đảng ta quyết địnhlựa chọn mô hình nhà nước Dân chủ Cộng hòa – 1 kiểu Nhà nước đại diện choquyền lợi của tất cả các giai cấp trong xã hội
*Quan điểm về dân chủ
- Theo nghĩa khởi thủy: Dân chủ là “ quyền lực thuộc về nhân dân”
- Theo Mác từ năm 1875 nói rằng: “ Dân chủ theo tiếng Đức là chính quyền củanhân dân”
- Trong Mười đề cương về chính quyền Xô Viết, V.I Lê nin nhấn mạnh rằng:
“Dân chủ là tự do, là bình đẳng, là quyết định của đa số; còn có gì cao hơn tự do,bình đẳng, quyết định của đa số”, ông khẳng định “ dân chủ là một hình thái nhànước”
- Theo quan điểm Hồ Chí Minh:
+ Dân chủ là “ dân là chủ” và “dân làm chủ”: Dân là chủ: nghĩa là để khẳng
định vị thế, tư cách xã hội của một chủ thể xã hội rộng lớn là nhân dân vàđồng thời cũng để nói lên quyền của chủ thể đó đối với một khách thể, đối
tượng, ở đây là xã hội, “nước ta”, “nước nhà” Dân làm chủ: xác định quyền
và nghĩa vụ của dân.Để thực hiện quyền làm chủ, nhân dân không nhữngphải có quyền mà điều cũng rất quan trọng là nhân dân phải có khả năng,năng lực làm chủ Và đây cũng chính là mối quan tâm hàng đầu của Chủ tịch
Trang 25Hồ Chí Minh Người nói: “Muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ”, và “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.
+ Hồ Chí Minh không chỉ coi dân chủ có ý nghĩa là một giá trị chung, là sảnphẩm của văn minh nhân loại, mà coi xem nó như lí tưởng phấn đấu của cácdân tộc Nó không chỉ là một thiết chế xã hội mà còn mang ý nghĩa biểu thịmối quan hệ quốc tế, hòa bình giữa các dân tộc.Đó là dân chủ, bình đẳngtrong mọi tổ chức quốc tế, là nguyên tắc ứng xử trong các quan hệ quốc tếcủa Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam
1 Nhà nước của dân
- Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong Nhànước và trong xã hội đều đều thuộc về nhân dân
+ Trong hiến pháp 1946 của nước VNDCCH nêu rõ:
Điều 1:“ Tất cả quyền bính trong nước đều là của toàn thể nhân dân Việt Nam,không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo.”
Điều 32: “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra toàn dânphúc quyết…” Thực chất đây là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ
đề ra khá sớm ở nước ta
+ Nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước.Quyền lực cao nhất thuộc về nhândân.Quyền lực đó được nhân dân thực hiện thông qua đại biểu quốc hội và đại biểuHĐND các cấp do mình bầu ra Tuy nhiên các vị đại diện của dân, do dân cử ra,chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là "công bộc của dân" HCM phê phán những "vịđại diện" lầm lẫn sự uy quyền đó với quyền lực cá nhân, sinh lộng quyền, cửaquyền, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế
Trang 26với dân Vì thế nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hộiđồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm củanhân dân.
+ Nhân dân có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia + Người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền làm bất cứ việc gì phápluật không cấm, và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật Nhà nước của dân phải bằngmọi nỗ lực hình thành các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của ngườidân
+ Dân chủ là khát vọng muôn đời của con người Hồ Chí Minh cho rằng: “ Nước ta
là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ.”Trong sự nghiệp đổi mớiđất nước hiện nay, vấn đề quyền làm chủ của nhân dân phải được thể hiện trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng trước hết và quan trọng nhất là làm chủ vềkinh tế Không làm chủ về kinh tế, thì theo lẽ tự nhiên nhân dân không thể làm chủcác lĩnh vực khác của đời sống xã hội Nhưng làm thế nào để nâng cao quyền làmchủ của nhân dân và nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa? Phát triển kinh tế – xã hội là cơ sở để nâng cao quyền làmchủ của nhân dân, tức là phải coi vấn đề lợi ích, bảo đảm lợi ích thiết thực củanhân dân là mục đích, động lực của sự phát triển xã hội
2 Nhà nước do dân
- Nhà nước do nhân dân lựa chọn bầu ra những đại biểu của mình, nhà nước donhân dân ủng hộ, đóng thuế để chi tiêu hoạt động Đó là nhà nước do nhân dân phêbình, xây dựng và giúp đỡ Do đó Bác yêu cầu mọi cơ quan nhà nước phải dựa vàodân, liên hệ chặt chẽ với dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của dân
- Nhân dân có quyền bầu ra Nghị viện nhân dân (Quốc hội) - cơ quan quyền lựcNhà nước cao nhất và Hội đồng nhân dân - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
Trang 27phương Từ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất quyết định tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nước Nhà nước do dân bãi miễn nếu không đáp ứng những yêucầu và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Nhà nước do dân được tổ chức theophương thức đại diện, đại biểu nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra và có thể bãimiễn nếu người được bầu không còn xứng đáng.
- Hồ Chí Minh khẳng định: việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có tráchnhiệm "ghé vai gánh vác một phần" Quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi vớitrách nhiệm, nghĩa vụ
là tham ô, lãng phí, quan liêu.”
- Nhà nước vì dân là nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêungoài ra không có lợi ích nào cả
- Nhà nước vì dân là nhà nước biết chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân trước mắt
là thỏa mãn nhu cầu thiết yếu nhất Hồ Chí Minh rất chú ý đến quyền lợi của nhândân
+ Bác nói: “Chính quyền có trách nhiệm lo cho dân, làm cho dân có ăn, làmcho dân có mặc,…”
+ “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.Công việcđổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
là công việc của dân.Chính quyền từ xã, đến Chính phủ, Trung ương do dân
Trang 28cử ra.Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyềnhành và lực lượng đều ở nơi dân”
- Cả cuộc đời Người "chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân" Hồ Chí Minh viết: "khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc
ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó".
- Một Nhà nước vì dân, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, là từ chủ tịch nước đếncông chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đày tớ cho nhân dân chứ không
phải "làm quan cách mạng" để "đè đầu cưỡi cổ nhân dân" Ngay như chức vụ Chủ
tịch nước của mình, Hồ Chí Minh cũng quan niệm là do dân ủy tháccho và như vậy
phải phục vụ nhân dân, tức là làm đày tớ cho nhân dân Hồ Chí Minh nói: "Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi."
CÂU 11: Quan điểm của HỒ CHÍ MINH về sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước
Quán triệt lý luận về nhà nước của chủ nghĩa Mác –LêNin, chủ tịch HồChí Minh viết về tính giai cấp,tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước cáchmạng Việt Nam: “ tính chất nhà nước là vấn đề cơ bản của Hiến Pháp Đó là nộidung giai cấp của chính quyền Chính quyền về tay ai và phục vụ quyền lợi củaai?” Điều đó quyết định toàn bộ nội dung của Hiến Pháp Nhà nước của ta là nhà
Trang 29nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp côngnhân lãnh đạo.
1, Bản chất giai cấp công nhân của nhà nước:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - LêNin, bản chất của bất kì nhà nướcnào cũng trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng mang bản chất của giai cấp thốngtrị xã hội ( ví dụ : nhà nước dân chủ chủ nô, nhà nước dân chủ tư sản, nhà nướcquân chủ phong kiến ) Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa ( nhà nướcchuyên chính vô sản ) do đó trước hết nó mang bản chất giai cấp công nhân.Nhưng giai cấp công nhân lại là giai cấp thuộc nhân dân lao động mà ra, đại biểuphương thức sản xuất mới, hiện đại, gắnvới và đại biểu cho lợi ích của toàn thểnhân dân lao động và dân tộc, do vậy nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa có bản chấtgiai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - LêNin chỉ ra rằng: nhà nước là một phạmtrù lịch sử, là sản phẩm tất yếu của xã hội có giai cấp, nó bao giờ cũng mang mộtgiai cấp nhất định, không có nhà nước phi giai cấp, nhà nước đứng trên giai cấp
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòađược coi là nhà nước của dân, do dân, vì dân nhưng tuyệt nhiên nó không phải lànhà nước toàn dân, hiểu theo nghĩa nhà nước phi giai cấp Nhà nước bao giờ và ởđâu cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định Nhà nước việt nam mới, theoquan điểm của Hồ Chí Minh, là một nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân
Sở dĩ như vậy là vì nhà nước ta dựa trên nền tảng của liên minh giữa giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức và được đặt dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng Sản Việt Nam, Đảng tiên phong của giai cấp công nhân, tức là Đảngphấn đấu theo mục tiêu lý tưởng của giai cấp công nhân Do vậy, từ pháp luật đến
cơ chế chính sách, tổ chức, hoạt động của nhà nước ta đều quán triệt tư tưởng quan
Trang 30điểm của giai cấp công nhân mà cụ thể là quán triệt chủ nghĩa Mác Lê nin và tưtưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong đường lối,chính sách của Đảng Cộng SảnViệt Nam.Nhà nước ta có nhiệm vụ cải tạo, xây dựng, quản lý và phát triển đấtnước theo con đường xã hội chủ nghĩa, đồng thời giữ gìn độc lập dân tộc, bảo vệ tổquốc xã hội chủ nghĩa.Tính giai cấp công nhân được thể hiện như sau :
- Nhà nước do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo Điều này thể hiện :
Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước giữ vững và tăng cường bảnchất giai cấp công nhân Việc xác định bản chất của giai cấp công nhân của nhànước là một vấn đề cơ bản của hiến pháp Lời nói đầu của bản hiến pháp năm 1959khẳng định: “nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liênminh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo” Trong quan điểm cơ bản xâydựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, một nhà nước thể hiện tính chấtnhân dân rộng rãi, Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh nòng cốt của nhân dân là liênminh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí thức, do giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và trí thức, do giai cấp công nhân mà đội tiên phongcủa nó là Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo
Đảng lãnh đạo nhà nước bằng phương thức thích hợp Nói đến phương thứclãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là nói đến cách lãnh đạo cho phù hợp vớitừng thời kỳ Trong thời kỳ Hồ Chí Minh làm chủ tịch nước, đất nước ta phải vừatiến hành kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giải phóng và bảo vệ tổ quốc, vừalãnh đạo nhân dân xây dựng chế độ mới Do đó , phương thức lãnh đạo của Đảngđối với nhà nước ta thời kỳ đó không giống với những thời kỳ sau này Song, trong
tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn có những vấn đề cơ bản về phương thức lãnh đạo củaĐảng chung cho các thời kỳ Đó là:
Trang 31+ Đảng lãnh đạo bằng đường lối, quan điểm, chủ trương để nhà nước thể chếhóa thành pháp luật, chính sách, kế hoạch.
+ Đảng lãnh đạo nhà nước bằng hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viêncủa mình trong bộ máy, cơ quan nhà nước
+ Đảng lãnh đạo nhà nước bằng công tác kiểm tra
- Bản chất giai cấp còn thể hiện ở định hướng đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội.Điều này đã được thể hiện trong quan điểm của Hồ Chí Minh ngay từ khi nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mới ra đời Như người đã xác định: “Bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kĩ thuật tiên tiến”
- Bản chất giai cấp công nhân của nhà nước ta thể hiện ở nguyên tắc tổ chức vàhoạt động cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ Hồ Chí Minh rất chútrọng đến tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tất cả bộ máy, cơ quan nhànước, nhấn mạnh đến việc phát huy cao độ dân chủ, đồng thời phát huy cao độ tậptrung, nhà nước phải tập trung thống nhất quyền lực đê tất cả mọi quyền vào tay
nhân dân Người nói: “ nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên Đồng thời phải tập trung cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội” Bên cạnh dân chủ, Bác cũng nhắc đến chuyên chính.“Chế độ nào cũng có chuyên chính.Vấn đề là ai chuyên chính với ai ?” “Dân chủ là của quý báu của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại dân chủ cũng cần chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ”.
2 , Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân , tính dân tộc của nhà nước :
Tính nhân dân và tính dân tộc :
Trang 32- Tính nhân dân của nhà nước ta biểu hiện tập trung ở chỗ đó là nhà nước củadân, do dân, vì dân Tính nhân dân biểu hiện cụ thể trong cơ cấu tham chính với sự
có mặt rộng rãi của mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội, từ nông dân, công nhân, tríthức, phụ nữ, tôn giáo, dân tộc, kể cả công chức, quan lại cũ tiến bộ, không phânbiệt nguồn gốc, miễn là thành thật hợp tác, vì quyền lợi của dân tộc
- Tính dân tộc của nhà nước ta được thể hiện trước hết ở chỗ nhà nước thaymặt nhân dân thực thi chủ quyền dân tộc, đấu tranh cho lợi ích của dân tộc, đấutranh với mọi xu hướng đi ngược lại với lợi ích của dân tộc Tính dân tộc còn thểhiện sâu sắc ở chỗ, nguồn gốc sức mạnh của nhà nước ta là khối đại đoàn kết toàndân trong mặt trận dân tộc, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc và có chính sách đúng đắn để giải quyết vấn đề dân tộc
Cơ sở khách quan đảm bảo tính thống nhất này chính là ở chỗ giai cấp côngnhân lãnh đạo nhà nước, mà quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng và của cả dân tộc là một Giai cấp công nhân không có lợi ích nào khác lợiích của dân tộc, của nhân dân và chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được gaicấp công nhân một cách triệt để Tính giai cấp của nhà nước gắn liền với tính nhândân, tính dân tộc sâu sắc Sự gắn bó hữu cơ đó được thể hiện ở chỗ nhà nước đạidiện và bảo vệ cho lợi ích của toàn dân, lấy lợi ích của dân tộc làm nền tảng, là nhànước của đại gia đình dân tộc Việt Nam Nhà nước đấu tranh cho sự nghiệp giảiphóng dân tộc, giải phóng nhân dân, xây dựng một nước việt nam dân chủ cộnghòa hòa bình, thống nhất,độc lập, tự do, dân chủ,công bằng,văn minh, giàu mạnh
Hồ Chí Minh là người giải quyết rất thành công mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp
và dân tộc trong công cuộc xây dựng nhà nước Việt Nam mới Người đã giải quyếthài hòa thống nhất giữa bản chất giai cấp với tính nhân dân và tính dân tộc và đượcbiểu hiện ở những quan điểm sau :
Trang 33- Nhà nước ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của rấtnhiều thế hệ người Việt Nam Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, dân tộc Việt Namrơi vào khủng hoảng đường lối cách mạng Trong cuộc đấu tranh trường kì chốngthực dân pháp của dân tộc ta, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo củacác nhà cách mạng tiền bối rất oanh liệt, tô thắm cho truyền thống yêu nước chốnggiặc ngoại xâm của dân tộc nhưng độc lập, tự do cho dân tộc vẫn chưa trở thànhhiện thực.Từ đầu năm 1930 , Đảng ta ra đời, sự lớn mạnh của giai cấp công nhânvới đội tiên phong của nó là Đảng cộng sản việt nam đã vượt qua được tất cả cáchạn chế và đã lãnh đạo thắng lợi cách mạng tháng tám năm 1945, đấu tranh giànhchính quyền, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu Á.
- Tính thống nhất còn biểu hiện ở chỗ nhà nước ta bảo vệ lợi ích của nhân dân,lấy lợi ích của dân tộc làm cơ bản Bản chất của vấn đề này là ở chỗ, Người khẳngđịnh lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dântộc là một.Nhà nước ta không những thể hiện ý chí của giai cấp công nhân mà cònthể hiện ý chí của nhân dân, dân tộc
- Trong thực tế, nhà nước ta đã đứng ra làm nhiệm vụ của cả dân tộc giao phó,
đã lãnh đạo nhân dân tiến hành các cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập, tự docủa tổ quốc, xây dựng một nước việt nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ vàgiàu mạnh, góp phần tích cực vào sự phát triển tiến bộ của thế giới.Con đường quá
độ lên chủ nghĩa xã hội và đi đến chủ nghĩa cộng sản là con đường mà Hồ ChíMinh và Đảng ta đã xác định, cũng là sự nghiệp của chính nhà nước ta
CÂU 12: QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CÓ HIỆU LỰC PHÁP LÝ MẠNH MẼ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hiệu lực pháp lý của nhà nước pháp quyền của dân,
do dân, vì dân được hình thành và phát triển trong suốt tiến trình của cách mạng
Trang 34Việt Nam Đây là sự sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - LêNin vào điều kiện
cụ thể của nước ta
Hồ Chí Minh đã sớm thấy được tầm quan trọng của Hiến Pháp và pháp luậttrong quản lí xã hội.Ngay từ năm 1919, trong Yêu sách của nhân dân An Nam gồmtám điều mà Người gửi đến Hội nghị Vécxây, đã có bốn điều liên quan đến vấn đềpháp quyền:
1 Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị
2 Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũngđược quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa
bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộphận trung thực nhất trong nhân dân An Nam
7 Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;
8 Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tạiNghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng củanhững người bản xứ''
Sau đó, để dễ phổ biến và tuyên truyền trong người Việt Nam về hiệu lực của nhànước pháp quyền, Người đã chuyển bản yêu sách thànhViệt Nam yêu cầu ca, trong
đó có câu: ''Bảy xin Hiến pháp ban hành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”
1, Xây dựng một nhà nước hợp pháp, hợp hiến:
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ,trước hết phải là một nhà nước hợp hiến Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9năm 1945, Hồ Chí Minh đã tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thế giới về sựkhai sinh của Nhà nước Việt Nam mới Theo đó, Chính phủ lâm thời đại biểu cho
Trang 35quyền lợi của đại đa số nhân dân lao dộng do cách mạng lập nên đã có một địa vịpháp lý hợp pháp Còn tư tưởng ''thần linh pháp quyền'' mà Người đã đưa ra chính
là tư tưởng về một nhà nước pháp quyền nghiêm minh và hiệu qủa Để thực hiện tưtưởng đó, ngày 3 - 9 1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ ChíMinh đã xác định những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng
hòa Trong nhiệm vụ thứ ba, Người đã khẳng định: ''Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển
cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”
Ngày 17-9- 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ấn định thể lệ Tổngtuyển cử; ngày 20-9- 1945, Người ký sắc lệnh số 34 thành lập Ủy ban dự thảo Hiếnpháp do chính Người làm trưởng ban; ngày 6 - 1-1946, cả nước đã tiến hành Tổngtuyển cử Theo Hồ Chí Minh, chính sách bầu cử, ứng cử là vấn đề cốt lõi đảm bảotính hợp hiến của bộ máy nhà nước, đảm bảo sự tự do hay hạn chế, bình đẳng hayphân biệt, giả hay thật, áp đặt hay tự do lựa chọn những người có đủ tài đức đạidiện cho nhân dân ra tham gia gánh vác việc nước Hơn nữa, Người còn coi đó lànhững chuẩn mực để xem xét một bộ máy chính quyền có thật sự dân chủ haykhông Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 đó là một Quốc hội được thànhlập, một Nhà nước hợp hiến ra đời - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Đây
là Chính phủ hợp hiến đầu tiên do đại biểu của nhân dân bầu ra, có đủ tư cách vàhiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của nhà nước ViệtNam mới
2, Hoạt động quản lý nhà nước bằng Hiến Pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống:
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh
mẽ là nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệulực trong thực tế Sở dĩ như vậy là vì trong một nhà nước dân chủ, mọi quyền dân
Trang 36chủ của người dân phải được thể chế bằng Hiến pháp và pháp luật Pháp luật là “bàđỡ” cho dân chủ Không có dân chủ ngoài vòng pháp luật Quản lý xã hội bằngpháp luật (hơn nữa, đó lại là pháp luật phản ánh đúng đắn ý chí và nguyện vọngcủa nhân dân) là điều kiện tất yếu đảm bảo cho sự tự do của người này không xâmphạm tự do của người khác Vì vậy, xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩađảm bảo việc thực hiện quyền lợi của nhân dân đã trở thành mối quan tâm suốt đờicủa Hồ Chí Minh.
Với cương vị và trách nhiệm là người đứng đầu Nhà nước ta, Chủ tịch HồChí Minh luôn chú ý đến việc xây dựng và hoàn thiện Hiến pháp và pháp luật phùhợp với những đòi hỏi của mỗi giai đoạn cách mạng và sự biến chuyển của xã hội.Trong những năm kháng chiến chống Pháp; Quốc hội không thể nhóm họp thường
kỳ được, Người đã cho ban hành và ký nhiều sắc lệnh trên nhiều lĩnh vực chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội làm cơ sở cho hoạt động quản lý nhà nước và thực hiệnquyền dân chủ của nhân dân Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc làm chongười dân hiểu luật pháp và có ý thức chấp hành pháp luật Bởi với Người, côngtác giáo dục cho người dân hiểu biết và tự giác chấp hành pháp luật là cực kỳ quantrọng, có ý nghĩa quyết định đến thành công của việc xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, đến việc xây dựng nền dân chủđích thực, dân chủ theo kỷ cương, phép nước Hồ Chí Minh đòi hỏi pháp luật phải
xét xử nghiêm minh Người nói: ''Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề gì'' Dù rất đau lòng, Hồ Chí Minh đã bác
đơn chống án tử hình của Trần Dụ Châu - người vốn cũng là một người cáchmạng, nhưng lại phạm tội nghiêm trọng khi có chức quyền Với Hồ Chí Minh,pháp luật bất vị thân, công tội phân minh, ''không vì công mà quên lỗi, vì lỗi màquên công''
Trang 37Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lýmạnh mẽ thể hiện rõ trong hoạt động của Chính phủ Người nghiêm khắc đòi hỏibản thân mình và mọi tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể phải tuân thủ pháp luật.
Người nói: ''Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự
do dân chủ rộng rãi của nhân dân lao động Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp''.
Theo Hồ Chí Minh, một điều kiện không thể thiếu được để tiến tới một nhànước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực là phải đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ cán
bộ, viên chức nhà nước có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp
vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý và thường xuyên quan tâm tới việc chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Người nhận thức sâu sắc rằng,hiệu 1ực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước phụ thuộc rất lớn vào chất
lượng đội ngũ cán bộ công chức Bởi lẽ, ''cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Cán bộ là người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được''
Với nhận thức này, Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan niệm mới về cán bộ vàcông chức, về các ngạch, bậc trong toàn bộ nền hành chính quốc gia; đồng thời banhành một số sắc lệnh cụ thể quy định chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chứcnhà nước, như Sắc lệnh số 188-SL, ngày 29-5- 1948; Sắc lệnh số 76-SL, ngày 20-
2- 1950, rằng: ''Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân dưới sự lãnh đạo tối cao của chính phủ.
Trang 38Đi đôi với nhiệm vụ trên, người công chức phải đem hết tất cả sức lực và tâm trí làm theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc, công chức Việt Nam cần có một địa vị xứng đáng với tài năng của mình Địa
vị ấy được đề cao trong quy chế này'' Quan điểm như vậy về một đội ngũ cán bộ,
công chức của nền hành chính quốc gia ở Hồ Chí Minh đã đem lại một hình ảnh rấtmới mẻ về một bộ máy nhà nước hiện đại Đó là sự kết tinh truyền thống của dântộc và tinh hoa văn hóa nhân loại về nhà nước pháp quyền
Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải biết quản lý nhà nước, phải là ngườivừa có tài vừa có đức, vừa ''hồng'' vừa ''chuyên'' và đặc biệt là phải có đạo đức caođẹp, bởi đạo đức là cái gốc của người cách mạng Người đặc biệt quan tâm đếnviệc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước có phẩm chất đạo đức và tinh thầnphục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, bởi theo Người, thiếu điều cơ bản này thì dù
có năng lực mấy cũng không dùng được Với Người, ''đức có mà tài chưa thì sẽ khó; tài có mà đức không có thì sẽ bị tàn lụi'' Đồng thời, Người luôn nhắc nhở
công chức nhà nước phải gần dân, trọng dân, không được lên mặt ''quan cáchmạng” với dân, phải lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân Rằng, chỉ
có trí tuệ và lòng dân mới có thể làm cho chính quyền trở nên trong sạch, vữngmạnh
Người luôn căn dặn chúng ta ''phải đào tạo một mớ cán bộ phụ trách, cógan làm việc, ham làm việc Có thế Đảng mới thành công Nếu đào tạo một mớ cán
bộ nhát gan, dễ bảo ''đập đi, hò đứng'', không dám phụ trách Như thế là một việcthất bại cho Đảng” Tại Đại hội IX, khi đề cập đến vấn đề ''đẩy mạnh cải cách tổchức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế'', Đảng ta
đã chỉ rõ việc ''kiểm tra định kỳ, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, kịp thờithay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hóa'' Đây là một định hướng
Trang 39đúng và nếu làm tốt điều này, chúng ta sẽ có được một đội ngũ cán bộ có đủ nănglực và đạo đức cách mạng.
Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về hiệu lực pháp lý của một nhà nướcpháp quyền ngày càng được hoàn thiện cùng với sự vận động của thực tiễn đấtnước và thời đại Đó là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo họcthuyết Mác - Lênin về nhà nước Đó cũng là kết quả của việc tiếp thu có chọn lọccác giá trị tư tưởng của dân tộc và nhân loại trong lĩnh vực xây dựng, tổ chức nhànước và pháp luật Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước, về hiệu lực pháp lýcủa một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đã được nâng lên một trình độ mới,ngày càng hòa nhập với dòng chảy của tư tưởng nhân loại tiến bộ về nhà nướcpháp quyền Trước yêu cầu củng cố và hoàn thiện đồng bộ nhà nước theo hướngpháp quyền xã hội chủ nghĩa, tư tường Hồ Chí Minh vẫn và mãi mãi còn nguyêngiá trị cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nướchiện nay
CÂU 13: QUAN ĐIỂM HCM VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC TRONG SẠCH, HOẠT ĐỘNG CÓ HIỆU QUẢ
Về vấn đề Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, bên cạnh quantâm đến các nội dung Xây dựng Nhà nước thể hiện quyền là chủ và làm chủ củanhân dân;Thống nhất giữa bản chất GCCN với tính nhân dân và dân tộc của Nhànước;Xây dựng Nhà nước có tính hiệu lực mạnh mẽ, Hồ Chí Minh còn đặc biệtquan tâm đến nội dung Xây dựng Nhà nước trong sạch, hoạt động có hiệu quả.Trong nội dung này, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những điểm cần phải quan tâm: Độingũ cán bộ công chức; Hoạt động của Nhà nước; Pháp luật và giáo dục đạo đứccách mạng Ba điểm này có quan hệ khăng khính với nhau, hỗ trợ nhau, đồng thờimỗi điểm trên cũng có những đặc trưng, những yêu cầu cụ thế khác nhau
Trang 401 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài.
V.I.Lênin viết: “Thông thường thì các chính đảng đều nằm dưới quyền lãnhđạo của những nhóm ít nhiều có tính chất ổn định, gồm những người có uy tínnhất, có kinh nghiệm nhất, được bầu ra giữ những trách nhiệm trọng yếu nhất vàngười ta gọi đó là các lãnh tụ” (V I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, tập 41, trang30) Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã minh chứng rằng, nếu không có một độingũ cán bộ đông đảo về số lượng, đặc biệt đảm bảo về chất lượng thì không thể nóitới quyền lãnh đạo “Người cộng sản lãnh đạo chỉ có một cách duy nhất để chứngminh quyền lãnh đạo của mình, đó là tìm cho mình được nhiều, càng ngày càngnhiều, những người phụ tá , biết giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giớithiệu và chú ý đến kinh nghiệm của họ” (V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, tập 42,trang 407) Vì lẽ đó, Bác Hồ coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc; Người chỉ rõ:
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều
do cán bộ tốt hoặc kém” “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thìthành công, tức là có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn (Hồ ChíMinh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, tập 5, trang 269, 240; tập 6 trang 46).Theo Bác, bất luận như thế nào, phải lấy công việc để sắp xếp người, chứ khôngphải lấy người để đặt vào công việc Nếu để cán bộ “ngồi nhầm ghế” do không cóđức, có tài thì vừa làm khổ người ta, lại có hại cho cách mạng Bác căn dặn rằng:
“Muốn chủ nghĩa xã hội thành công, thì trước hết phải có con người mới xã hộichủ nghĩa - đó là những cán bộ, công nhân viên chức có đủ tài, đủ đức để gánh váctrọng trách nặng nề của đất nước mà nhân dân giao phó Nếu có cán bộ tốt thì việcxây dựng đường lối sẽ đúng đắn.” Người yêu cầu đối với đội ngũ này cẩn phải làngười “vừa có đức, vừa có tài” trong đó đức là gốc Bác đã từng dạy “có tài màkhông có đức là người vô dụng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”,