So sánh Tòa án Quốc tế với Trọng tài quốc tế. Theo anh chị, điều kiện nào để có thể đưa tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ra giải quyết tại Tòa án Công lý quốc tế? MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT LỜI MỞ ĐẦU Nội dung Chương I. Tòa án Quốc tế 1. Khái niệm Tòa án Quốc tế............................................... 2. Quyền hạn của Tòa án quốc tế 3. Tòa án Công lý quốc tế 4. Cơ cấu tổ chức của Tòa án quốc tế 5. Chức năng của Tòa án Công lý quốc tế 6. Thủ tục tố tụng tại phiên tòa 7. Phán quyết của tòa mang tính bắt buộc đối với các bên 8. Thực tiễn hoạt động của Tòa án Công lý quốc tế 8.1. Những thành tựu đạt được 8.2. Những tồn tại Chương II: Trọng tài quốc tế 1. Khái quát chung của Trọng tài quốc tế 2. Trọng tài quốc tế là gì? 3. Thẩm quyền của Trọng tài quốc tế 4. Đặc điểm của trọng tài quốc tế 5. Cách thức tổ chức của trọng tài quốc tế 6. Ý nghĩa thỏa thuận trọng tài quốc tế 7. Tố tụng và giá trị phán quyết của trọng tài quốc tế Chương III: Sự khác biệt Tòa án quốc tế và Trọng tài quốc tế 1. Sự giống nhau 2. Sự khác biệt Chương IV. Tranh chấp chủ quyền Biển Đông Hoàng Sa Trường Sa và thẩm quyền Tòa án Công lý quốc tế 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông 2. Thực tiễn tranh chấp biển đảo Việt Nam tại Tòa án Công lý quốc tếTòa án Trọng tài Quốc tế, mặc dù được gọi là tòa án, không phải là một cơ quan tư pháp và bản thân nó không đưa ra phán xét về các khía cạnh thực chất của các vấn đề tranh chấp. Theo quy chế của nó, xuất bản như Phụ lục I của Quy tắc trọng tài ICC, vai trò chính của Tòa án Trọng tài Quốc tế là giám sát các thủ tục tố tụng trọng tài theo Quy tắc Trọng tài của ICC, với vai trò của nó bao gồm sự xem xét và phê chuẩn các phán quyết của trọng tài. Tòa án Trọng tài Quốc tế tuân theo Quy tắc nội bộ của chính mình, được đính kèm như Phụ lục II của Quy tắc trọng tài ICC. Tòa án Trọng tài Quốc tế bao gồm một Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên của nó. Các thành viên được Hội đồng Thế giới ICC bổ nhiệm theo nhiệm kỳ ba năm theo đề xuất của Ủy ban và Nhóm Quốc gia. Đối với thuật ngữ hiện tại của nó (20182021), Tòa án Trọng tài Quốc tế có 176 Thành viên từ 104 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sự bình đẳng giới chính xác của 88 phụ nữ và 88 đàn ông. Chủ tịch hiện tại của Tòa án Trọng tài Quốc tế là ông. Alexis Mourre của Pháp, người được bổ nhiệm lần thứ hai, nhiệm kỳ ba năm bắt đầu vào 1 Tháng 7 2018. Trong công việc của nó, Tòa án Trọng tài Quốc tế được Ban Thư ký ICC hỗ trợ. Tổng thư ký có một tổng thư ký, phụ trách hoạt động hàng ngày của Ban thư ký của Tòa án. Tổng thư ký được trợ lý bởi một phó tổng thư ký, cùng với đội ngũ nhân viên và chuyên gia khác lên kế hoạch và giám sát các hoạt động hàng ngày. Luật sư quản lý và Tổng thư ký và Phó tổng thư ký đều hỗ trợ trong việc quản lý caseload. Luật sư quản lý được hỗ trợ bởi một nhóm gồm hai hoặc nhiều Phó luật sư và hai hoặc nhiều thư ký. TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG HOÀNG SATRƯỜNG SA VÀ TÒA ÁN QUỐC TẾ 1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông Bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong tình hình phức tạp hiện nay, chúng ta phải: a) Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về biển, đảo Tuyên truyền và vận dụng đúng quan điểm về đối tác, đối tượng. Trong tình hình phức tạp và thay đổi nhanh chóng ngày nay, cần phải có một quan điểm biện chứng. Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) nêu rõ: “Các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; Bất kỳ thế lực nào có âm mưu, hành động chống lại mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là mục tiêu của chúng ta”. của một đối tượng ở khắp mọi nơi. Thực hiện ba không: không để bị kích động, lợi dụng chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Việt Trung; Đừng ngạc nhiên ; Đừng sa đà vào những hành động khiêu khích gây mâu thuẫn, xô xát. b) Kiên trì giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế Kiên trì, kiên quyết thực hiện hai mục tiêu chiến lược, đó là:
Trang 1So sánh Tòa án Quốc tế với Trọng tài quốc tế Theo anh chị, điều kiện nào để
có thể đưa tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ra giảiquyết tại Tòa án Công lý quốc tế?
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
Nội dung
Chương I Tòa án Quốc tế
1 Khái niệm Tòa án Quốc tế
2 Quyền hạn của Tòa án quốc tế
3 Tòa án Công lý quốc tế
4 Cơ cấu tổ chức của Tòa án quốc tế
5 Chức năng của Tòa án Công lý quốc tế
6 Thủ tục tố tụng tại phiên tòa
7 Phán quyết của tòa mang tính bắt buộc đối với các bên
8 Thực tiễn hoạt động của Tòa án Công lý quốc tế
8.1 Những thành tựu đạt được
8.2 Những tồn tại
Chương II: Trọng tài quốc tế
1 Khái quát chung của Trọng tài quốc tế
2 Trọng tài quốc tế là gì?
3 Thẩm quyền của Trọng tài quốc tế
4 Đặc điểm của trọng tài quốc tế
5 Cách thức tổ chức của trọng tài quốc tế
6 Ý nghĩa thỏa thuận trọng tài quốc tế
7 Tố tụng và giá trị phán quyết của trọng tài quốc tế
Trang 2Chương III: Sự khác biệt Tòa án quốc tế và Trọng tài quốc tế
Trang 3Danh mục từ viết tắt
ICJ The International Court of
Justice
Tòa án Công lý quốc tế
PCIJ The Permanent Court of
Phòng Thương mại quốc tế
LCIA The London Court of
International Arbitration
Tòa án Trọng tài quốc tếLondon
UNCITRAL United Nations Commission on
International Trade Law
Ủy ban Liên Hợp quốc vềLuật Thương mại quốc tếITLOS International Tribunal for the
Law Of the Sea
Tòa án Quốc tế về Luật Biển
UNCLOS Untied Nations Convention on
the Law Of the Sea
Công ước Liên Hợp quốc vềLuật Biển
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, xu thế hội nhập quốc tế cũng toàn cầu hóa đang ngày càng pháttriển sâu rộng Đây cũng là yêu cầu hàng đầu đặt ra với mỗi quốc gia trên thếgiới Bên cạnh đó là sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế Tuy nhiên, mặttrái của quan hệ hợp tác giữa các quốc gia chính là các tranh chấp quốc tế.Các tranh chấp quốc tế cũng ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như mức
độ nghiêm trọng Điều này đòi hỏi các bên phải giải quyết bằng biện pháp hòabình và dựa trên các nguyên tắc của pháp luật quốc tế Một trong những biệnpháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp quốc tế là giải quyết thông qua cơquan tài pháp quốc tế, cụ thể là tòa án quốc tế Vậy Toàn án công lý quốc tế làgì? Cơ cấu tổ chức của Tòa án Công lý quốc tế ra sao? Chức năng của Tòa ánCông lý quốc tế như thế nào? Thực tiễn hoạt động của Tòa án Công lý quốc tếhiện nay ra sao? Sự khác nhau giữa Tòa án quốc tế và Trọng tài quốc tế là gì?
Và điều kiện nào Việt Nam có thể đưa tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa ra giải quyết tại Tòa án Công lý quốc tế?
Biển Đông là một khu vực có vị trí địa chính trị chiến lược quan trọng,
có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, liên quan đến lợi ích của nhiềuquốc gia trên thế giới (đặc biệt là các nước lớn như: Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ,Trung Quốc, Nhật Bản….) Chính vì vậy, vấn đề tranh chấp trên Biển Đôngkhông đơn thuần chỉ là chuyện giữa Trung Quốc, Việt Nam và các quốc giaven bờ Biển Đông, mà nó vốn dĩ đã là một vấn đề quốc tế kể từ khi phát sinh.Biển Đông hiện nay đang là một điểm nóng về tình trạng mâu thuẫn và tranhchấp chủ quyền, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định an ninh của khu vực
và thế giới Các vấn đề liên quan đến Biển Đông hiện đang được giới khoahọc trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm nghiên cứu Tranh chấp trên BiểnĐông hiện nay là một vấn đề chính trị lớn ảnh hưởng chủ quyền của nhiềuquốc gia có liên quan Trong khi các cường quốc trên thế giới đều thể hiện lợiích địa chính trị và chiến lược của mình tại vùng biển này, thì Trung Quốc lại
Trang 5âm mưu độc chiếm toàn bộ Biển Đông bằng bản đồ “đường lưỡi bò” củamình khiến cho tình trạng chồng lần về chủ quyền, và mâu thuẫn lợi ích tạikhu vực này trở lên căng thằng hơn bao giờ hết, rất có nguy cơ xảy ra xungđột quân sự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trên Biển Đôngnói riêng và an ninh thế giới nói chung Các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản,Nga, Ấn Độ… đều có những toan tính chiến lược của mình tại vùng biển này,không chỉ với mục đích bảo vệ các lợi ích kinh tế của mình, mà đằng sau đóchính là lợi ích địa chính trị, khi gây dựng sự ảnh hưởng của quốc gia mìnhtại khu vực này, đồng thời kiềm chế sức mạnh của Trung Quốc Việt Nam với
tư cách là một nước có yêu sách về chủ quyền tại Biển Đông, đặc biệt là chủquyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cần xem xét kĩ lưỡng nhữngvấn đề địa chính trị, lợi ích và chiến lược của các 2 nước lớn tại vùng biểnnày, để đề ra những sách lược cụ thể, có hiệu quả đối với việc giải quyết tranhchấp chủ quyền tại vùng biển này, sao cho bảo vệ được lợi ích của mình trênBiển Đông và dung hòa được với lợi ích của các nước có liên quan, tránh tìnhtrạng căng thằng xung đột leo thang, gây bất lợi cho sự phát triển kinh tế cũngnhư ngoại giao của mình
Trang 6CHƯƠNG I: TÒA ÁN QUỐC TẾ
1 Khái niệm Tòa án quốc tế
Căn cứ theo quy định tại Điều 1 Quy chế tòa án quốc tế 1945 quy định vềkhái niệm tòa án quốc tế cụ thể như sau:
Tòa án quốc tế được thành lập theo Hiến chương Liên hợp quốc
là cơ quan xét xử chính của Liên hợp quốc, được tổ chức và hoạt
động theo đúng các nghị quyết dưới đây của bản quy chế này.
Theo đó, tòa án quốc tế được thành lập theo Hiến chương Liên hợp quốc là cơquan xét xử chính của Liên hợp quốc, được tổ chức và hoạt động theo đúngcác nghị quyết dưới đây của bản quy chế này
Đối với quy định về tổ chức Tòa án quốc tế thì tại Điều 2, Điều 3 Quy chế tòa
án quốc tế 1945 quy định cụ thể như sau:
Một là, Tòa án quốc tế có cơ cấu là một hội đồng các thẩm phán độc lập, đượclựa chọn, không căn cứ quốc tịch, trong số những người có phẩm chất đạođức tốt, đáp ứng các yêu cầu đề ra ở quốc gia họ để chỉ định vụ xét xử caonhất, hoặc là những luật gia có uy tín trong lĩnh vực luật quốc tế
Hai là, tòa án quốc tế được cấu tạo gồm 15 người, trong đó không thể có 2công dân cùng một quốc gia
Người có thể được xem xét để đưa vào thành phần Tòa án quốc tế, như côngdân của một quốc gia, được coi là công dân của chính quốc gia đó, mà ở quốcgia ấy công dân này thường xuyên sử dụng các quyền công dân và các quyềnchính trị của mình
Trang 7Như vậy, Tòa án quốc tế là cơ quan tư pháp chính của Liên hợp quốc thựchiện ủy quyền trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia và đưa
ra kết luận tư vấn về vấn đề pháp lí theo yêu cầu của Đại hội đồng, Hội đồngbảo an hoặc cơ quan khác của Liên hợp quốc Quy chế Tòa án quốc tế là bộphận không thể tách rời của Hiến chương Liên hợp quốc Tòa án quốc tếkhông phải cơ quan tư pháp đứng trên các quốc gia để phán xét các vấn đềphát sinh trong đời sống quốc tế
Theo Quy chế, Tòa án quốc tế Liên hợp quốc gồm 15 thẩm phán có quốc tịchkhác nhau đại diện cho nền văn minh và các hệ thống pháp luật chủ yếu trênthế giới Người trúng cử thẩm phán là những người nhận được đa số tuyệt đốiphiếu bầu vừa ở Đại hội đồng Liên hợp quốc vừa ở Hội đồng bảo an Liên hợpquốc Các thẩm phán của Tòa án quốc tế có nhiệm kì 9 năm và sau nhiệm kì
đó, họ có thể được bẩu lại Với các vụ tranh chấp mà các quốc gia đã thỏathuận ủy quyền để Tòa án quốc tế giải quyết, nếu một bên không chịu thihành phán quyết do Toà án quốc tế đưa ra thì bên kia có quyền yêu cầu Hộiđồng bảo an can thiệp để phán quyết được tuân thủ Các bản kết luận tư vấncủa Tòa án quốc tế không mang tính chất bắt buộc thi hành đối với cơ quan,các tổ chức quốc tế đã yêu cầu Tòa án quốc tế đưa ra các bản kết luận này vì
về mặt pháp lí, nó chỉ thể hiện ý kiến tập thể của các thẩm phán quốc tế vềvấn đề pháp luật nào đó
2 Quyền hạn của Tòa án quốc tế
Tại Chương II Quy chế tòa án quốc tế 1945 quy định về quyền hạn của tòa ánquốc tế cụ thể như sau:
- Chỉ các quốc gia mới là các bên trong các vụ tranh chấp được Tòa án giảiquyết
Trang 8Với các điều kiện của bản quy chế này, Tòa án có thể được hỏi các tổ chứcquốc tế công khai về những tin tức có liên quan đến vụ tranh chấp mà Tòa ánđang xem xét, cũng như thu nhập các tin tức cần thiết được tổ chức đó chuyểnđến theo sáng kiến riêng của họ.
Khi có một vụ tranh chấp đang được Tòa án giải quyết Tòa án phải giải thíchvăn kiện pháp lý cho một tổ chức quốc tế nào đó hay một điều ước quốc tế đãcông nhận hiệu lực của văn bản đó Thư ký Tòa án thông báo và gửi cho tổchức quốc tế đó bản sao tất cả các hồ sơ giấy tờ đó
Tòa án giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là thành viên của quy chế này.Các điều kiện Tòa án giải quyết tranh chấp đối với các quốc gia khác sẽ doHội đồng bảo an quy định theo các điều khoản cụ thể từ các điều ước quốc tếhiện hành Các điều kiện này trong mọi trường hợp không được để các bên ở
vị trí bất bình đẳng trước Tòa án Khi có một quốc gia không phải là thànhviên của Liên hiệp quốc nhưng lại là một bên trong một vụ tranh chấp thì Tòa
án quy định số tiền mà bên đó phải đóng góp vào việc chi phí của Tòa án.Quyết định này không áp dụng nếu như quốc gia đó đã tham gia vào việc chiphí của Tòa án
Tòa án tiến hành xét tất cả các vụ tranh chấp mà các bên đưa ra và tất cả cácvấn đề được nêu riêng trong hiến chương Liên hợp quốc hay các điều ướcquốc tế hiện hành
Các quốc gia thành viên của quy chế này bất kỳ lúc nào cũng có thể tuyên bốrằng họ thừa nhận vô điều kiện (ifso facto) đối với mỗi quốc gia khác bất kỳ
đã nhận nhiệm vụ như vậy: thẩm quyền xét xử của Tòa án là nghĩa vụ xét xử
về tất cả vấn đề tranh chấp pháp lý có liên quan đến:
Một là, giải thích điều ước
Trang 9Hai là, vấn đề bất kỳ liên quan đến Luật quốc tế.
Ba là, có sự kiện, nếu về sau xác định được vi phạm nghĩa vụ quốc tế
Bốn là, tính chất mà mức độ bồi hoàn do vi phạm nghĩa vụ quốc tế
Những tuyên bố nêu trên có thể là không điều kiện hay trong điều kiện cóthiện cảm từ phía các quốc gia này hay quốc gia khác hay trong thời gian nhấtđịnh Những bản tuyên bố đó được chuyển tới Tổng thư ký bảo quản Tổngthư ký gửi các bản sao cho các thành viên của quy chế này và cho thư ký Tòaán
Các tuyên bố dựa trên cơ sở của Điều 36 quy chế của Thường trực Pháp việnquốc tế vẫn còn có hiệu lực, thì trong quan hệ giữa các thành viên của quy chếnày, các tuyên bố đó được coi như công nhận thẩm quyền xét xử của Tòa ánquốc tế và là nghĩa vụ đối với mình trong thời hiện tại có hiệu lực của cáctuyên bố và phù hợp với các điều kiện đã trình bày trong đó
Trong trường hợp tranh chấp về quyền xét xử được đưa đến Tòa án thì vấn đề
đó sẽ được Tòa án xác định và giải quyết
- Trong tất cả các trường hợp khi điều ước quốc tế hiện hành dự kiến chuyển
vụ tranh chấp cho một tòa án được Hội quốc liên hay Thường trực pháp việnquốc tế thiết lập thì vụ tranh chấp giữa các quốc gia thành viên của quy chếnày phải được chuyển đến Tòa án quốc tế
- Tòa án, với chức năng là giải quyết phù hợp với luật quốc tế các vụ tranhchấp được chuyển đến Tòa án, sẽ áp dụng:
+ Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắcđược các bên đang tranh chấp thừa nhận;
Trang 10+ Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhậnnhư những quy phạm pháp luật;
+ Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận
+ Với những điều kiện nêu ở điều 59, các án lệ và các học thuyết của cácchuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khácnhau được coi là phương tiện để xác định các qui phạm pháp luật
Quyết định này không nằm ngoài quyền giải quyết vụ việc của Tòa án, xácđịnh như vậy (ex aequo et bono), nếu các bên thỏa thuận điều này
3 Tòa án Công lý quốc tế
Tòa án công lý quốc tế thành lập và hoạt động dựa trên cơ sở Hiến chươngliên hợp quốc và Quy chế Tòa án Công lý quốc tế Cũng chính vì thế Tòa áncông lý quốc tế cũng được quy định chi tiết về quy chế và cập nhật liên tụccho đến thời điểm hiện tại
Tiền thân của Tòa án Công lý quốc tế (The Internatinol Court of Justice - ICJ)
là Tòa án Thường trực Công lý Quốc tế (The Permanent Cour of InternationalJustice - PCIJ) - vốn là tòa án của Hội Quốc Liên ra đời vào năm 1922 TòaPCIJ tồn tại cùng với sự tồn tại của Hội Quốc Liên cho tới khi UN được thànhlập và ICJ ra đời thay thế cho PCIJ vào năm 1946
Toà án Công lý Quốc tế là Tòa án được thành lập và hoạt động trên cơ sởHiến chương Liên Hợp quốc và Quy chế Tòa án Công lý quốc tế Hiếnchương Liên hợp quốc dành toàn bộ Chương XIV từ Điều 92 đến Điều 96 đểquyđịnh những vấn đề cơ bản về tổ chức, thẩm quyền và hoạt động của Tòa.Quy chế Tòa án Công lý quốc tế gồm 70 điều được coi là một phần phụ lụcgắn bó hữu cơ với Hiến chương Liên hợp quốc Trụ sở của ICJ đặt tại La Hay,
Hà Lan
Trang 114 Cơ cấu tổ chức của Tòa án Công lý quốc tế
Tòa án Công lý quốc tế gồm 15 thẩm phán có các quốc tịch khác nhau Thẩmphán Tòa án Công lý quốc tế được Đại hội đồng và Hội đồng Bảo án Liênhợp quốc bầu với nhiệm kỳ 9 năm và cứ mỗi năm bầu lại 1/3 số thẩm phán.Tiêu chuẩn để bầu thẩm phán Tòa án Công lý quốc tế căn cứ vào năng lực cánhân, tương quan vị trí địa lý và đại diện cho các hệ thống pháp luật trên thếgiới Thẩm phán của tòa không được đảm nhiệm chức vụ chính trị, hànhchính hoặc nghề nghiệp nào trong thời gian đương nhiệm Bên cạnh các thẩmphán, khi phiên tòa mở ra, các bên tranh chấp có thể lựa chọn các thẩm phánAD-HOC Thẩm phán AD-HOC là thẩm phán do một hoặc các bên tranhchấp không có thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần củatòa đề cử tham gia Hội đồng xét xử
Các Thẩm phán được Đại hội đồng và Hội đồng bảo an lựa chọn trong sốnhững người có tên trong danh sách theo đề nghị của các tiểu ban dân tộc củaPháp viện thường trực quốc tế Một tiểu ban được đưa ra không quá 04 ứng
cử viên, trong đó không quá 02 ứng viên có cùng quốc tịch của một quốc giađược tiểu ban đại diện
Tổng thư ký Liên hiệp quốc lập danh sách theo thứ tự ABC tất cả nhữngngười được đề cử, ký trình bản danh sách lên Đại hội đồng và Hội đồng bảo
an Đại hội đồng và Hội đồng bảo an khi bầu cử Thẩm phán hoàn toàn độc lậpnhau
Những người được coi là trúng cử là những ứng cử viên được tuyệt đại đa sốphiếu bầu cử ở cả Đại hội đồng cũng như ở cả Hội đồng bảo an
Trang 12Chi tiết thú vị là trong trường hợp nếu như tuyệt đại đa số phiếu cả ở Đại hộiđồng cũng như ở Hội đồng bảo an chọn nhiều công dân của cùng một quốcgia trùng nhau thì người được công nhận trúng cử là… người nhiều tuổi hơn.
Việc căn cứ vào tuổi tác để lựa thành viên Tòa án của Tòa án quốc tế, cơ quancao nhất giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, là rất thú vị và nhân văn.Mặc dù trước đó các ứng viên đều đã trải qua bước lựa chọn của Đại hội đồngcũng như ở Hội đồng bảo an
Thêm một chi tiết thú vị nữa cũng liên quan đến tuổi tác, đó là việc bầu chủtrì phiên tòa trong thủ tục xét xử
Tòa án quốc tế có chủ tịch và phó chủ tịch với nhiệm kỳ 3 năm, chủ tịch vàphó chủ tịch có thể được bầu lại Thông thường, trong xét xử, việc nghe vụ ánđược tiến hành dưới sự chủ trì của chủ tịch hay nếu chủ tịch không thể chủ trìđược thì phó chủ tịch sẽ chủ trì Tuy nhiên trong trường hợp nếu như không
có chủ tịch, phó chủ tịch chủ trì thì người chủ trì sẽ là Thẩm phán… nhiềutuổi nhất có mặt
Các phụ thẩm có thể được tòa lựa chọn hoặc theo yêu cầu của các bên tranhchấp tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp nhằm mục đích tranh thủthêm sự đóng góp của các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan đến hoạt độngcủa tòa, nhất là trong các lĩnh vực kỹ thuật Ban thư ký đảm trách các dịch vụ
tư pháp và là bên lien lạc giữa tòa và các bên tranh chấp
5 Chức năng của Tòa án Công lý quốc tế
Tòa án Công lý quốc tế có những chức năng chính như sau:
– Chức năng giải quyết tranh chấp: ICJ là cơ quan có chức năng giải quyết
tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia thành viên Liên hợp quốc và các quốcgia không phải thành viên Liên Hợp quốc (thỏa mãn những điều kiện do Đại
Trang 13hội đồng quyết định ) Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa được xácđịnh theo 3 phương thức: Chấp nhận thẩm quyền của tòa theo từng vụ việc,Chấp nhận trước quyền của Tòa trong các điều ước quốc tế, Tuyên bố đơnphương chấp nhận trước thẩm quyền của tòa.
– Chức năng đưa ra kết luận tư vấn: ICJ thực hiện chức năng đưa ra kết luật
tư vấn khi Đại hội đồng hay Hội đồng bảo an Liên hợp quốc yêu cầu, liênquan đến những vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn hoạt động của các cơquan này Các quốc gia không có quyền yêu cầu tòa đưa ra kết luận tư vấn vềtranh chấp của mình Các ý kiến tư vấn chỉ mang tính chất khuyến nghị
Ngoài ra, Tòa án Công lý quốc tế còn có một số hạn chế nhất định, chủ yếu là
về mặt cấu trúc, tình huống và liên quan đến các nguồn lực vật chất đượccung cấp cho Tòa án
Thứ nhất, cơ quan này không có thẩm quyền xét xử những cá nhân bị cáobuộc tội ác chiến tranh hoặc tội ác chống lại loài người Vì đây không phải làtòa án hình sự nên không có công tố viên có thể khởi kiện
Thứ hai, ICJ không phải là tòa án cao nhất mà các tòa án quốc gia có thể nhờcậy Nó cũng không phải là tòa án cuối cùng dành cho người dân Nó cũngkhông hoạt động như một tòa phúc thẩm đối với các tòa án quốc tế, tuy nhiên,
nó có thể đưa ra phán quyết về tính hợp lệ của phán quyết trọng tài
Thứ ba, ICJ không thể thụ lý vụ việc Cơ quan này chỉ có thể xét xử các vụviệc hoặc tranh chấp khi được các Quốc gia yêu cầu làm như vậy Nó cũngkhông thể điều tra và phán quyết về hành vi của các quốc gia
Thứ tư, ICJ chỉ có thẩm quyền dựa trên sự đồng ý chứ không phải thẩm quyềnbắt buộc
Trang 14Thứ năm, nó không được hưởng sự phân chia quyền lực hoàn toàn, với cácthành viên thường trực của Hội đồng Bảo an có thể phủ quyết việc thi hànhcác vụ việc, ngay cả những vụ việc mà họ đồng ý ràng buộc.
6 Thủ tục tố tụng tại phiên tòa
ICJ tiến hành giải quyết tranh chấp quốc tế theo trình tự đầy đủ hoặc rút gọn.Thành phần của một phiên tòa là tối thiểu 9 thẩm phán Trình tự đầy đủ gồm 2giai đoạn: giai đoạn tiến hành các thủ tục bổ trợ và giai đoạn xét xử nội dung
vụ việc Trong phạm vi chức năng của mình, tòa có thể lập ra ba loại tòa đặcthù: tòa rút gọn trình tự tố tụng, tòa đặc biệt, tòa ad hoc Được quy định rất rõtrong chương III Quy chế Tòa Công lý quốc tế
Thủ tục xét xử một vụ tranh chấp trước tòa được quy định cụ thể trong quychế của Tòa án Công lý quốc tế Quá trình thụ lý gồm hai giai đoạn: 1, Thủtục viết trong đó các quốc gia hoàn thành và trao đổi bị vong lục về lập luậncủa từng bên và các lý lẽ luận tội hay bào chữa; 2, Thủ tục nói ( Tranh tụngtrước tòa ) trong đó tòa sẽ nghe ý kiến các bên, các luật sư và cố vấn trongphiên tòa xét xử công khai
Ngoài thủ tục chung gồm hai giai đoạn này cho bất kỳ một vụ tranh chấp nàođưa ra trước tòa, thủ tục xét xử của tòa theo từng trường hợp sẽ được tiếnhành theo những bước sau:
– Các bên nộp đơn kiện lên Tòa và cử đại diện liên lạc của mình
– Tòa tiến hành các thủ tục bổ trợ cho thủ tục chính về xét xử nội dung : Tòa
sẽ xem xét xác định thẩm quyền của mình trong từng vụ việc cụ thể được nêu.Trong từng trường hợp cần thiết, tòa có thể ra những biện pháp bảo đảm tạmthời cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho mỗi bên Hợp các các vụ án có mục tiêutranh chấp chung Khả năng xử án vắng mặt Tòa xem xét khả năng can dựvào vụ việc từ bên thứ ba
– Tòa xét xử về mặt nội dung của vụ việc
Trang 15– Ra quyết định cuối cùng phân giải tranh chấp.
7 Phán quyết của tòa mang tính bắt buộc đối với các bên
Các phán quyết của tòa có giá trị chung thẩm và bắt buộc đối với các bên.Quyết định của tòa chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên tranh chấp và chỉtrong vụ án đó ( điều 59 quy chế của tòa ) Tuy nhiên có thể nhận thấy rằngmặc dù phán quyết của tòa không ràng buộc các bên đứng ngoài tranh chấpnhưng nó có tác động gián tiếp tới các nước này
8 Thực tiễn hoạt động của Tòa án Công lý quốc tế
Tòa án Công lý quốc tế là cơ quan pháp lý chính của Liên hợp quốc Các phánquyết và kết luận tư vấn của Tòa đã đề cập mọi khía cạnh khác nhau của côngpháp cũng như tư pháp quốc tế, liên quan tới tất cả các bên trên thế giới tớiviệc kiểm tra các hệ thống pháp lý khác nhau Tòa có bước khởi đầu tốt đẹpqua các vụ Eo biển corfou năm 1949, quyền tị nạn 1950, hay các kết luận tưvấn Bồi thường thiệt hại cho hoạt động các cơ quan của Liên hợp quốc năm1949
Trong thực tiễn hoạt động của tòa đã có 148 vụ tranh chấp được đưa ra trướctòa (tính đến tháng 6 năm 2010), trong số đó có khoảng 120 vụ tranh chấp đãđược tòa xét xử Nhiều phán quyết của ICJ đã có ý nghĩa rất quan trọng Bêncạnh các phán quyết, ICJ đã đưa ra hơn 20 kết luận tư vấn Mặc dù số kết luận
tư vấn đưa ra không nhiều và các kết luận đó cũng không có giá trị pháp lýbắt buộc đối với các chủ thể nhưng nó có vai trò không nhỏ trong quá trìnhdàn xếp một số tranh chấp quốc tế
8.1 Những thành tự đã đạt được
ICJ đã có những đóng góp tích cực trong các lĩnh vực chung của luật quốc tế.Tòa án công lý quốc tế với sứ mệnh giải quyết các tranh chấp pháp lý giữ cácquốc gia và giúp đỡ các tổ chức quốc tế hoạt động hiệu quả với việc duy trìcông lý trong hoạt động của tòa đã có đóng góp to lớn trong việc khẳng định
Trang 16vai trò của Luật quốc tế trong quan hệ quốc tế cũng nhưu việc phát triển luậtquốc tế.
Các quyết định của tòa không chỉ giới hạn trong việc giải thích và nhận thứcquá trình phát triển của Luật quốc tế, đóng góp vào quá trình tiến triển đóbằng việc giái thích luật quốc tế thực định và áp dụng chúng vào các hoàncảnh đặc thù, các quyết định của tòa đã làm sáng tỏ thêm luật quốc tế và qua
đó phần nào mở đường cho các quốc gia phát triển tiếp nhận luật quốc tế
8.2 Những tồn tại
Tòa án công lý quốc tế đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và có những đónggóp không nhỏ vào việc phát triển và hoàn thiện luật quốc tế Song, năng lựccủa tòa vẫn chưa được khai thác đầy đủ Năng lực này bị hạn chế do cả sựtham gia chưa tích cực của các quốc gia vào công việc của tòa cũng như dochính tầm quan trọng của những vụ việc tòa giải quyết Những vấn đề đưa ratrước tòa thường là những vấn đề không lớn ví dụ các vụ tai nạn máy baynhững năm 1950, vụ Electronica Sicula …
Một số yêu cầu giải thích điều lệ của các tổ chức quốc tế hay Hiến chươngLiên hợp quốc Tòa cũng giải quyết một số vụ tranh chấp về lãnh tổ như vủCác đảo Minquier và Ecre’hous, Tranh chấp biên giới Hà lan – Bỉ, ĐềnPre’ah… Tuy nhiên những vụ tòa xét xử không phải những vụ tranh chấplãnh thổ lớn Mỗi khi phải giải quyết một vấn đề lớn của luật quốc tế có tầmquan trọng về kinh tế và chính trị (Tây Nam Phi, Các vụ thử vũ khí hạt nhân
về chính trị , Barcelona Traction về kinh tế ) Tòa thường đưa ra các giải phápmang tính tranh cãi ( Thềm lục địa Tuynidi/Libi hay vụ Nicaragoa,Lôccơbi ) Tòa không đối đầu với các cơ quan khác
Tòa án Công lý quốc tế hoạt động dựa trên sự thỏa thuận của các quốc giathành viên nên Tòa chỉ thực sự hoạt động đúng năng lực và chức năng củamình khi các quốc gia thành viên thực sự tin tưởng và coi Tòa như một giải
Trang 17pháp tài phán có thể sử dụng khi đàm phán trực tiếp không đạt được kết quảkhả quan.
Trang 18CHƯƠNG II: TRỌNG TÀI QUỐC TẾ
1 Khái quát chung về Trọng tài quốc tế
Khác với các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường ngoạigiao, các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường xét xử luôn đem lạikết quả là một phán quyết của cơ quan xét xử có giá trị pháp lý ràng buộc đốivới các bên tranh chấp Tuy nhiên, cũng giống như trường hợp các biện phápngoại giao, việc sử dụng trọng tài hay tòa án để giải quyết tranh chấp quốc tếcũng đòi hỏi phải có sự thỏa thuận, chấp nhận của tất cả các bên tranh chấp
Sự ra đời nhanh chóng của nhiều thiết chế trọng tài, tòa án quốc tế trong vàithập niên trở lại đây được nhiều học giả trong lĩnh vực pháp luật quốc tế gọi
là xu hướng “tư pháp hoá” quá trình giải quyết các tranh chấp quốc tế Điềunày một mặt cho thấy niềm tin, nhu cầu của các quốc gia đối với các thiết chếxét xử quốc tế ngày một tăng lên, mặt khác cũng cho thấy các tranh chấp quốc
tế ngày càng được giải quyết nhiều hơn trên cơ sở những tiêu chí pháp lý vàthông qua những thủ tục ngày càng được thể chế hoá chặt chẽ hơn
Việc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương thức xét xử trọng tàiđược thực hiện qua hai hình thức cơ bản là trọng tài quốc tế vụ việc và trọngtài quốc tế thường trực Trong phần này chỉ nghiên cứu những vấn đề chungnhất của phương thức trọng tài quốc tế nói chung, có để cập đến hai thiết chếtrọng tài thường trực là Tòa trọng tài quốc tế thường trực La Haye được thànhlập trên cơ sở các Công ước La Haye năm 1899 và 1907 và Trọng tài Luậtbiển được thành lập trên cơ sở Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợpquốc
2 Trọng tài quốc tế là gì?
Trang 19Trọng tài quốc tế là một thiết chế giải quyết tranh chấp quốc tế mà thẩmquyền được xác lập trên cơ sở thỏa thuận, thông qua thủ tục xét xử để đưa ramột phán quyết có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên tranh chấp Việc
sử dụng trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp quốc tế có lịch sử lâuđời trong quan hệ quốc tế Thực tiễn trọng tài được ghi nhận ngay từ thời kỳ
cổ đại, và tiếp tục phát triển trong thời kỳ trung cổ, trước khi có sự ra đời của
mô hình Nhà nước hiện đại Trong các thời kỳ này chi tồn tại hình thức trọngtài quốc tế vụ việc, nhằm giải quyết những tranh chấp cụ thể
Những điều ước quốc tế quan trọng sớm nhất đề cập đến hình thức trọngtài quốc tế thường trực là các Công ước quốc tế Lahay năm 1899 và 1907 vềgiải quyết các tranh chấp quốc tế Trên cơ sở hai công ước này đã hình thànhlên Tòa trọng tài thường trực La Haye Vào năm 1953, Uỷ ban pháp luật quốc
tế của Liên hợp quốc đã xây dựng một văn kiện bao gồm các quy định mẫu vềthủ tục trọng tài giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia Các quy địnhmẫu này đề cập đến việc thành lập hội đồng trọng tài, xác định thẩm quyềncủa trọng tài, thủ tục trọng tài và hiệu lực pháp quyết của trọng tài Tuy nhiên,các quy định này chỉ có giá trị tham khảo đối với các quốc gia
Tổ chức trọng tài mang tính chất quốc tế, vì thế nó thể hiện một trong badấu hiệu sau:
Thứ nhất, các bên tham gia thỏa thuận trọng tài, tại thời điểm kí kết thỏathuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau
Thứ hai, một trong những địa điểm sau đây được đặt ngoài quốc gia nơicác bên có trụ sở kinh doanh: nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định tronghoặc thỏa thuận trọng tài, nơi mà các thành phần chủ yếu của các nghĩa vụtrong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp cóquan hệ thiết nhất
Trang 20Thứ ba, các bên đã thỏa thuận rõ ràng vấn đề chủ yếu của thỏa thuận trọngtài liên quan đến nhiều nước.
Tòa án Trọng tài Quốc tế, mặc dù được gọi là tòa án, không phải là một
cơ quan tư pháp và bản thân nó không đưa ra phán xét về các khía cạnh thựcchất của các vấn đề tranh chấp Theo quy chế của nó, xuất bản như Phụ lục Icủa Quy tắc trọng tài ICC, vai trò chính của Tòa án Trọng tài Quốc tế là giámsát các thủ tục tố tụng trọng tài theo Quy tắc Trọng tài của ICC, với vai tròcủa nó bao gồm sự xem xét và phê chuẩn các phán quyết của trọng tài Tòa ánTrọng tài Quốc tế tuân theo Quy tắc nội bộ của chính mình, được đính kèmnhư Phụ lục II của Quy tắc trọng tài ICC
Tòa án Trọng tài Quốc tế bao gồm một Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thànhviên của nó Các thành viên được Hội đồng Thế giới ICC bổ nhiệm theonhiệm kỳ ba năm theo đề xuất của Ủy ban và Nhóm Quốc gia Đối với thuậtngữ hiện tại của nó (2018-2021), Tòa án Trọng tài Quốc tế có 176 Thành viên
từ 104 quốc gia và vùng lãnh thổ, với sự bình đẳng giới chính xác của 88 phụ
nữ và 88 đàn ông Chủ tịch hiện tại của Tòa án Trọng tài Quốc tế là ông.Alexis Mourre của Pháp, người được bổ nhiệm lần thứ hai, nhiệm kỳ ba nămbắt đầu vào 1 Tháng 7 2018
Trong công việc của nó, Tòa án Trọng tài Quốc tế được Ban Thư ký ICC
hỗ trợ Tổng thư ký có một tổng thư ký, phụ trách hoạt động hàng ngày củaBan thư ký của Tòa án Tổng thư ký được trợ lý bởi một phó tổng thư ký,cùng với đội ngũ nhân viên và chuyên gia khác lên kế hoạch và giám sát cáchoạt động hàng ngày Luật sư quản lý và Tổng thư ký và Phó tổng thư ký đều
hỗ trợ trong việc quản lý caseload Luật sư quản lý được hỗ trợ bởi một nhómgồm hai hoặc nhiều Phó luật sư và hai hoặc nhiều thư ký
Trang 21Khi các bên đồng ý về một điều khoản trọng tài liên quan đến Quy tắcTrọng tài của ICC, họ cũng giao một số quyền ra quyết định cho Tòa ánTrọng tài Quốc tế Những quyền hạn này bao gồm, ví dụ: quyền lực của Tòa
án Trọng tài Quốc tế để đưa ra các quyết định liên quan đến trọng tài (bổnhiệm và thay thế trọng tài, quyết định những thách thức đối với họ); giám sátquá trình trọng tài để chắc chắn rằng nó được thực hiện đúng và với tốc độ vàhiệu quả cần thiết; xem xét và phê duyệt tất cả các phán quyết của trọng tài,
để đảm bảo chất lượng và khả năng thực thi của họ; cài đặt, quản lý và, Nếucần, điều chỉnh phí và tạm ứng chi phí; và giám sát quá trình tố tụng khẩn cấptrước khi bắt đầu trọng tài Ngôn ngữ chính thức và làm việc của Tòa Trọngtài Quốc tế là tiếng Anh và tiếng Pháp
3 Thẩm quyền của Trọng tài quốc tế
Thẩm quyền của trọng tài quốc tế xuất phát từ sự thoả thuận của các bêntranh chấp, không có thỏa thuận trọng tài sẽ không là trọng tài Đó là nguyêntắc “hòn đá tảng” của trọng tài nói chung, trọng tài quốc tế nói riêng Tuynhiên, cũng có ngoại lệ của nguyên tắc này Một số điều ước quốc tế quy địnhbắt buộc tranh chấp giữa các bên có liên quan đều phỉa giải quyết bằng trọngtài dù có thỏa thuận hay không Thỏa thuận này có thể nằm trong một điềuước quốc tế được ký kết từ trước giữa các quốc gia, quy định tranh chấp hoặccác tranh chấp phát sinh giữa họ sẽ được giải quyết bằng trọng tài
Thoả thuận về trọng tài cũng có thể là một văn bản được ký kết riêngbiệt giữa các bên về việc đem một tranh chấp cụ thể đã phát sinh ra giải quyếtbằng trọng tài Việc ký kết thỏa thuận trọng tài phải tôn trọng sự bình đẳng và
tự nguyện của các bên Giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài được xem xétgiống như khi xem xét giá trị pháp lý của một điều ước quốc tế Trong trườnghợp có tranh chấp về giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài hay thẩm quyềncủa trọng tài thì chính trọng tài là người có quyền giải quyết
Trang 22Ví dụ, khoản 1 Điều 8 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa ViệtNam với Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland ký ngày 01/8/2002 quyđịnh:
‘‘Các tranh chấp giữa công dân hoặc công ty thuộc một bên ký
kết và bên ký kết kia về nghĩa vụ của bên ký kết kìa theo Hiệp
định này liên quan đến khoản đầu tư của công dân hoặc có thấm
quyền thuộc bên thứ nhất đã không được giải quyết thông qua
thương lượng hoà giải, thì sau ba tháng kể từ khi nhận được
thông bảo bằng văn bản về việc khiếu nại, phải được trình lên cơ
quan trọng tài quốc tế nếu một trong hai bên trong tranh chấp
mong muốn như vậy"
Và khoản 3 Điều 8 quy định thêm:
“Nếu sau một thời gian hoặc sau ba tháng kể từ khi có thông
bảo bằng vãn bản về việc khiếu nại mà không đạt được một thoả
thuận về một trong các thủ tục lựa chọn nêu trên, các bên trong
tranh chấp buộc phải đưa tranh chấp đó ra trọng tài giải quyết
theo các Quy tắc trọng tài của Uỷ ban Liên hợp quốc về luật
thương mại quốc tế có hiệu lực tại thời điểm đô Các bên trong
tranh chấp có thể thoả thuận bằng văn bản việc sửa đoi các Quy
tắc này”
hoặc, Điều 11.2 Hiệp định Việt Nam và Trung Quốc về quá cảnh hàng hoá,
ký ngày 09/4/1994 nêu rõ:
“Những tranh chấp giữa các doanh nghiệp trong quá trình thực
hiện các hợp đồng sẽ do các doanh nghiệp giải quyết thông qua
thương lượng, nếu thương lượng không đạt kết quả, sẽ do tổ
chức trọng tài thương mại quốc tế của nước cho quả cảnh giải
quyết”.
Trang 23Nguyên tắc này ngày càng được công nhận rộng rãi trong cả luật quốcgia lẫn các điều ước quốc tế Khi các bên thiết lập một thoả thuận trọng tàiđiều đó có nghĩa là họ đã trao cho một hội đồng trọng tài nhất định thẩmquyền giải quyết tranh chấp và đồng nghĩa rằng toà án quốc gia không cóthẩm quyền giải quyết tranh chấp đó trừ khi thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc
bị hủy bỏ bởi chính các bên hoặc không thể thực hiện được (Điều II Công ướcNew York 1958 quy định:
" Toà án của một quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn
kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thoả
thuận theo nội dung của điều này, sẽ theo yêu cầu của một bên,
đưa các bên tớì trọng tài, trừ khi toà án thấy rằng thoả thuận nói
trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện
được).
Thẩm quyền của trọng tài còn bị ảnh hưởng bởi phạm vi các tranh chấp mà
nó được phép giải quyết (hay còn gọi là khả năng trọng tài) Trọng tài có thể
bị giới hạn phạm vi xét xử trong những quan hệ hợp đồng, cũng có thể không
bị giới hạn dù có hợp đồng hay không Chẳng hạn các quy tắc trọng tàiUNCITRAL đã giới hạn thẩm quyền của trọng tài trong phạm vi các quan hệhợp đồng, việc sử dụng bộ quy tắc này đối với những tranh chấp ngoài hợpđồng là không được phép Trong khi đó các quy tắc trọng tài LCIA (Toà ántrọng tài quốc tế London) và ICC (Phòng Thương mại quốc tế) cho phéptrọng tài quốc tế giải quyết các tranh chấp cho dù có hợp đồng hay không
“Khả năng trọng tài” còn liên quan tới việc xác định thẩm quyền của trọngtài đối với các tranh chấp phát sinh từ nhũng lĩnh vực nào? Thực tế là, ngàynay, hầu hết pháp luật các nước đều mở rộng thẩm quyền của trọng tài, theo
đó cho phép trọng tài có khả năng giải quyết không chỉ tranh chấp thương mại
Trang 24mà còn các tranh chấp lao động, dân sự khác Điều 1 Luật trọng tài Brazil
1996 quy định:
"Mọi người có khả năng ký kết hợp đồng đều có thể đưa ra trọng
tài để giải quyết các tranh chấp liên quan tới các quyền về tài
sản mà họ có quyền quyết định".
Các quy định tương tự cũng được tìm thấy tại Điều 2 Luật trọng tàiTrung Quốc 1994, khoản 1 Điều 1030 Luật trọng tài Đức 1998, Điều 1 Luậttrọng tài Thụy Điển 1999 Tuy nhiên, sự mở rộng thẩm quyền trọng tàicũng có giới hạn của nó, khi nhà nước cần can thiệp trực tiếp vào các tranhchấp “không chỉ liên quan tới quyền lợi cá nhân đương sự mà còn liên quantới quyền lợi của bên thứ ba hoặc lợi ích công cộng” Chẳng hạn, các tranhchấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân, thừa kế, một số tranh chấp về sở hữu trítuệ, cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh, phá sản, tranh chấp từquan hệ hành chính phải do toà án hay cơ quan nhà nước có
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, trọng tài quốc tế chỉ có thẩm quyền hợppháp để giải quyết tranh chấp nếu có một thoả thuận trọng tài hợp pháp đượclàm bởi các bên tranh chấp (trừ trường hợp ngoại lệ) Thoả thuận trọng tàiphải là biểu hiện của sự thống nhất ý chí giữa các bên tranh chấp chứ khôngphải là sự biểu hiện của ý chí đơn phương
Thông thường trọng tài chỉ giải quyết các tranh chấp pháp lý, tức lànhững tranh chấp về sự tồn tại, giải thích hay áp dụng một quy định pháp luật.Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng trọng tài có thể được các bên yêucầu giải quyết một tranh chấp chính trị Trong trường hợp như vậy, để giảiquyết tranh chấp, trọng tài có thể dựa trên nguyên tắc công bằng (Ex aequo etbono)
4 Đặc điểm của trọng tài quốc tế
Trang 25Mặc dù còn có những nhìn nhận khác nhau về trọng tài theo quan điểmriêng, nhửng rõ ràng, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của trọng tài nhưsau:
Thứ nhất, quá trình trọng tài diễn ra trên cơ sở thoả thuận trọng tài được thiếtlập bởi các bên tranh chấp
Thứ hai, thủ tục trọng tài được xác định bởi các bên và thường là một thủ tụcxét xử kín được điều khiển bởi hội đồng trọng tài gồm một hoặc một số lẻ cáctrọng tài viên
Thứ ba, phán quyết của trọng tài về vụ tranh chấp là chung thẩm, buộc cácbên phải thực hiện
Trọng tài quốc tế luôn chứa đựng những đặc điểm chung của một trọngtài, nhưng một trọng tài chỉ được coi là trọng tài quốc tế nếu nó chứa đựngđầy đủ tính “quốc tế”, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, việc xác định mộttrọng tài là quốc tế hay nội địa thường rất có ý nghĩa bởi vì hầu hết các nướcđều xây dựng các quy chế pháp lý khác nhau cho mỗi loại trọng tài này Cáctrọng tài nội địa (trọng tài giải quyết các tranh chấp thuần tủy nội địa, không
có yếu tố nước ngoài) thường bắt buộc phải tuân theo những quy định vềtrọng tài của quốc gia đó như: tố tụng trọng tài, luật điều chỉnh nội dung tranhchấp, ngôn ngữ trọng tài
Ví dụ, khoản 1 Điều 14 Luật trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Namquy định:
“Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng
trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp".
hay, khoản 1 Điều 10 Luật này quy định:
“Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử
dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh
Trang 26chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng
Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt”.
Nhưng, với trọng tài quốc tế thì điều này là không nhất thiết Có nghĩa là,trọng tài quốc tế có thể tiến hành phiên xử và đưa ra phán quyết ở trong nướchay nước ngoài trên cơ sở một trình tự tố tụng, ngôn ngữ và luật áp dụng chonội dung tranh chấp do chính các bên tranh chấp thoả thuận ra với nhau
Luật mẫu của UNCITRAL 1985 về trọng tài thương mại quốc tế là một ví dụđiển hình Điều 1(3) Luật này quy định:
“Trọng tài là quốc tế nếu:
(a) Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết
thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác
nhau; hoặc
(b) Một trong những địa điểm sau đây được đặt ở ngoài quốc gia
nơi các bên có trụ sở kinh doanh:
+ Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo
thoả thuận trọng tài;
+ Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương
mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ
mật thiết nhất;
(c) Các bên đã thoả thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả
thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước”.
Như vậy, theo quy định của Điều l(3)(a) thì tính quốc tế của trọng tài có liênquan tới yếu tố chủ thể, trong khi đó Điều 1 (3)(b)(ii) có liên quan tới bản chấtquốc tế của tranh chấp
Pháp luật trọng tài Việt Nam hiện hành không có quy định giải thích rõthế nào là trọng tài quốc tế, tuy nhiên, trong Luật trọng tài thương mại 2010
có những quy định áp dụng riêng đối với trọng tài giải quyết tranh chấp có