Xuất phát từ những vấn đề trên và nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính và quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp, luận văn đi vào nghiên cứu mối quan hệ của các
Trang 1
PHẠM THỊ NGỌC THÚY
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THỰC PHẨM VÀ
ĐỒ UỐNG ĐƯỢC NIÊM YẾT TRÊN SÀN
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số chuyên ngành: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VŨ HỒNG THÁI
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 08 năm 2015
Tai Lieu Chat Luong
Trang 2CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.1.2 Vấn đề nghiên cứu 2
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa đề tài nghiên cứu 5
1.6 Kết cấu luận văn nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NẮM GIỮ TIỀN MẶT VÀ CÁC HỌC THUYẾT LIÊN QUAN 7
2.1 Cơ sở lý thuyết về nắm giữ tiền mặt và các học thuyết 7
2.1.1 Học thuyết hoán đổi (The Trade – off Theory) 8
2.1.2 Học thuyết trật tự phân hạng (The Pecking Order Theory) 8
2.1.3 Học thuyết về đại diện (The Agency Theory) 9
2.2 Các nghiên cứu trước 9
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Khung tiếp cận nghiên cứu 22
3.2 Mô hình nghiên cứu 23
3.3 Biến đo lường 25
3.3.1 Biến phụ thuộc 25
3.3.2 Biến độc lập 26
3.3.2.1 Cơ hội đầu tư 26
3.3.2.2 Quy mô doanh nghiệp 27
3.3.2.3 Dòng tiền doanh nghiệp 28
3.3.2.4 Tài sản thanh khoản 29
3.3.2.5 Đòn bẩy doanh nghiệp 30
3.3.2.6 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản 31
Trang 33.5 Phương pháp nghiên cứu 34
3.5.1 Mô hình Pooled Regression 35
3.5.2 Mô hình hồi quy với tác động cố định – FEM 35
3.5.3 Mô hình hồi quy với tác động ngẫu nhiên – Random 36
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 37
3.6.1 Thống kê mô tả dữ liệu 37
3.6.2 Phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình 38
3.6.3 Phân tích hồi quy đa biến 38
3.6.4 Thảo luận kết quả 39
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Thống kê mô tả 41
4.2 Ma trận hệ số tương quan 42
4.3 Kết quả hồi quy 42
4.3.1 Kiểm định tính dừng 43
4.3.2 Kết quả mô hình hồi quy Pooled OLS 43
4.3.3 Kết quả mô hình hồi quy FEM 43
4.3.4Mô hình hồi quy Random 44
4.3.5 Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp 44
4.4 Thảo luận kết quả 44
4.4.1 Kiểm định đa công tuyến 45
4.4.2 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi 45
4.4.3Kiểm định hiện tượng tự tương quan 46
4.4.4 Phân tích ý nghĩa hệ số hồi quy 47
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Một số đề xuất 53
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 53
Trang 4đủ trong tuần sau Nhà cung cấp không bằng lòng cho kéo dài thời gian trả chậm
Nhận thấy tầm quan trọng của tiền mặt đối với đời sống của doanh nghiệp, đề tài đi vào nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến quyết định nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam”
Trang 5Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 2
1.1.2 Vấn đề nghiên cứu
Thị trường thực phẩm và đồ uống Việt Nam hiện trở nên sôi động hơn bao giờ hết Cùng với các đại gia đã và đang đẩy mạnh quá trình xâm nhập vào thị trường lớn với hơn 90 triệu dân, các doanh nghiệp nội địa cũng đang tự đổi mới với các mô hình quản trị và tư duy marketing tiên tiến trên thế giới Sự cạnh tranh giữa các công ty không những về sản phẩm/ dịch vụ mà còn ở các giá trị văn hóa, phong cách sự thỏa mãn tinh thần mà sản phẩm mang lại Tất cả các điều đó tạo ra cho người tiêu dùng sự lựa chọn rất phong phú trên thị trường
Với Việt Nam, ngành chế biến thực phẩm, đồ uống là ngành có nhiều tiềm năng
Là nước nông nghiệp nhiệt đới, Việt Nam có nguồn nguyên liệu phong phú, đa dạng là đầu vào quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến Đất nước đang phát triển, thu nhập của người dân không ngừng tăng và lối sống thay đổi đặc biệt là tại các trung tâm thành phố, mang lại nhu cầu về tiêu thụ nhiều đồ ăn nhẹ, thực phẩm tiện dùng và đắt tiền Thị trường trong nước lớn với chi phí lao động thấp và quá trình tư nhân hóa các doanh nghiệp thực phẩm khiến thị trường này có sức sống mãnh liệt
Xét theo các tiêu chí: tổng doanh thu, ROA, ROE của 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam từ BXH VNR500 năm 2014, ngành thực phẩm, đồ uống luôn góp mặt ở Top 5 cho thấy hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngành khá tốt
Cạnh tranh là yếu tố cần thiết, góp phần làm cho chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn và người tiêu dùng được hưởng lợi nhiều hơn Cơ hội lớn đang mở ra khi Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết Là nước phát triển ở trình độ thấp, khi tham gia Hiệp định này sẽ là cơ hội nhưng cũng sẽ là thách thức lớn nếu doanh nghiệp Việt Nam không chuẩn bị tốt hành trang Thị trường các nước tham gia đàm phán vào TPP hiện có 12 quốc gia với 800 triệu dân, chiếm 40% GDP toàn cầu
Trước những cơ hội phát triển trong tương lai cùng với tiềm năng sẵn có, việc
mở rộng sản xuất kinh doanh của các ngành công nghiệp nói chung, và ngành thực
Trang 6Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 3
phẩm – đồ uống nói riêng là điều tất yếu Ngành thực phẩm được đánh giá là “con gà
đẻ trứng vàng” và sẽ tiếp tục tăng trưởng trong những năm tới Đó là lý do các doanh nghiệp đua nhau đầu tư vào ngành này
Cơ hội luôn đi kèm những thách thức, có thể thấy những năm vừa qua có hàng loạt doanh nghiệp tuyên bố phá sản – giải thể Vậy nguyên nhân do đâu? Là do kinh doanh thua lỗ hay vì lý do nào khác? Theo những khảo sát và nghiên cứu gần đây mọi vấn đề nảy sinh đều có liên quan đến việc nắm giữ tiền mặt tại doanh nghiệp Ở Việt Nam đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên điều này quan trọng hơn cả
Giống như mỗi chúng ta luôn muốn nắm giữ tiền mặt trong tay càng nhiều càng tốt, các doanh nghiệp cũng vậy Nhưng các doanh nghiệp nắm giữ nhiều tiền mặt liệu
có tốt? Nên nắm giữ ở mức độ nào? Sử dụng tiền mặt đang nắm giữ như thế nào cho hợp lý? Đó cũng là các câu hỏi mà các doanh nghiệp luôn đặt ra cho mình và cũng là bí quyết riêng, là chìa khóa thành công của các doanh nghiệp hiện nay Hầu hết mọi hoạt động của doanh nghiệp đều liên quan tới tiền mặt, giống như máu lưu thông trong cơ thể người vậy Việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp rất quan trọng
vì tiền mặt mang lại cho doanh nghiệp tính thanh khoản cao nhất
Xuất phát từ những vấn đề trên và nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính và quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp, luận văn đi vào nghiên cứu mối quan hệ của các yếu tố tác động đến quyết định nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống (theo tiêu chuẩn phân ngành VSIC 2007) Trên cơ sở đó, tác giả muốn cụ thể hóa các tác động này bằng phương pháp định lượng trên phần mềm Stata Cuối cùng có thể đưa ra các giải pháp khắc phục những khó khăn trong thực tế của các doanh nghiệp thực phẩm và đồ uống
Để tiến hành nghiên cứu những tác động của việc nắm giữ tiền mặt đối với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tác giả sẽ sử dụng các dữ liệu liên quan đến: Tổng tài sản, tiền mặt và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, phải thu khách hàng, doanh thu thuần, giá vốn hàng bán, nợ ngắn hạn, vốn chủ sở hữu….là cơ
Trang 7Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 4
sở nghiên cứu Số liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trong ngành thực phẩm và đồ uống đã được niêm yết trên sàn Chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 – 2014
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các câu hỏi sau:
- Quyết dịnh nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam chịu tác động của những yếu tố nào?
- Mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam như thế nào?
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, đề tài hướng vào những mục tiêu chính sau:
- Kiểm nghiệm sự tác động của các chỉ số tài chính, cụ thể: cơ hội đầu tư, quy mô doanh nghiệp, dòng tiền doanh nghiệp, tài sản thanh khoản, đòn bẩy, kỳ luân chuyển tiền, tỷ suất sinh lợi, đến quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp
- Đánh giá cụ thể các tác động này là thuận hay nghịch chiều
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, áp dụng các kỹ thuật hồi quy
đa biến, phân tích tương quan để xác định mối liên hệ giữa các biến và mức độ tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chỉ số tài chính lên quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp đề tài phân tích hồi quy với biến phụ thuộc là tỷ lệ tiền mặt và các biến độc lập là giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, logarit của tổng tài sản, dòng tiền, tài sản thanh khoản, đòn bẩy, tỷ suất sinh lời, kỳ luân chuyển tiền mặt đại diện cho cơ hội đầu tư, quy mô doanh nghiệp, dòng tiền của doanh nghiệp, tài sản thanh khoản, tỷ suất sinh lời, kỳ luân chuyển tiền của doanh nghiệp
Dữ liệu sử dụng trong đề tài là dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán của 37 doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống được niêm yết trên sàn chứng
Trang 8Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 5
khoán Việt Nam giai đoạn 2009 – 2014 theo tiêu chuẩn phân ngành VSIC 2007 Các thông tin sử dụng: Lợi nhuận sau thuế, nợ ngắn hạn, lãi vay, dòng tiền hoạt động, hàng tồn kho, khoản phải thu, những thông tin này được thu thập và sử dụng để tính toán
các chỉ số tài chính trong bài
1.5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Ý nghĩa khoa học:
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm không chỉ cho thấy sự tác động của các chỉ số tài chính lên quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp, nó còn hướng tới những nghiên cứu mở rộng hơn, phân tích sâu hơn dành cho những ai quan tâm đến mối quan
hệ này trong tương lai
- Ý nghĩa thực tiễn:
Các kết quả nghiên cứu có giá trị cho cả lý thuyết và thực tiễn, nó cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính của doanh nghiệp với quyết định nắm giữ tiền mặt? Trên kết quả nghiên cứu đó có thể giúp các nhà quản trị tài chính công ty xây dựng đưa ra những chính sách nắm giữ tiền mặt phù hợp, giảm thiểu rủi ro thiếu hụt vốn, mất thanh khoản, gia tăng hiệu quả sử dụng vốn, gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Mặt khác với kết quả nghiên cứu các ngân hàng, các cơ quan quản lý nhà nước, các công ty đối tác … có thể đưa ra những chính sách tín dụng thương mại, đầu tư, cho vay hợp lý và hiệu quả, đạt mục đích như mong muốn
1.6 Kết cấu luận văn nghiên cứu
Kết cấu đề tài gồm 5 chương và được trình bày theo thứ tự như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về nắm giữ tiền mặt và các học thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận
Trang 9Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NẮM GIỮ TIỀN
MẶT VÀ CÁC HỌC THUYẾT LIÊN QUAN
Chương 1 đã phần nào giới thiệu khái quát nội dung luận văn với lý do chọn đề tài, vấn đề và câu hỏi nghiên cứu, trên cơ sở đó đề ra mục tiêu nghiên cứu và thông qua các phương pháp kỹ thuật định lượng để tìm ra kết quả nghiên cứu Trong chương 2 đề tài sẽ tiếp tục giới thiệu cơ sở lý thuyết về nắm giữ tiền mặt và các học thuyết liên quan Nội dung chương sẽ được tách làm hai phần: phần đầu nêu ra cở sở
lý thuyết về quyết định nắm giữ tiền mặt và các học thuyết liên quan; phần thứ hai đề tài trích dẫn một số nghiên cứu trước từ các nước trên thế giới để minh chứng cho mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và quyết định nắm giữ tiền mặt, đồng thời cũng làm cơ sở để xác định các biến nghiên cứu trong đề tài
2.1 Cơ sở lý thuyết về nắm giữ tiền mặt và các học thuyết
Tiền mặt là một tài sản có tính thanh khoản cao nhất và là thước đo khả năng trả
nợ của doanh nghiệp Nắm giữ tiền mặt là một vấn đề quan trọng của bất kỳ doanh nghiệp nào bởi vì nó cung cấp cho doanh nghiệp khả năng thanh khoản, vì vậy, các doanh nghiệp có thể trả hết những nghĩa vụ nợ của họ đúng hạn thậm chí cả trong những khoảng thời gian khó khăn Để gia tăng sản lượng bán hàng và doanh thu, một doanh nghiệp cần xây dựng tiền mặt dự trữ bằng cách đảm bảo rằng thời gian của các dòng tiền có thể tạo nên vị thế tích cực của toàn bộ dòng tiền Bởi vậy, tiền mặt là một nhân tố cần thiết cho phép doanh nghiệp tồn tại và thịnh vượng Trong các nghiên cứu tài chính, tiền mặt thường được định nghĩa là các khoản tiền mặt và các loại chứng khoán đầu tư ngắn hạn hoặc các khoản tương đương tiền Các khoản tương đương tiền
có đặc điểm chúng có thể chuyển thành tiền mặt trong khoảng thời gian rất ngắn, bao gồm các loại chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu kho bạc, hợp đồng mua lại và các quỹ thị trường tiền tệ Chính vì vậy, nắm giữ tiền mặt có thể xác định từ quan điểm tài chính nắm giữ tiền mặt và các khoản tương đương tiền bởi doanh nghiệp (Pascal, 2005)
Theo John Maynard Keynes, trong tác phẩm kinh điển Lý thuyết chung về nhân công, lợi ích và tiền, đã định nghĩa ba động cơ cho tính thanh khoản: động cơ đầu cơ,
Trang 10Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 7
động cơ dự phòng và động cơ giao dịch Theo đó, động cơ đầu cơ là nhu cầu nắm giữ tiền nhằm tận dụng được, ví dụ, mua bán mặc cả có thể tăng lên, lãi suất hấp dẫn, và (trong trường hợp của các công ty đa quốc gia) những biến động tỷ giá có lợi Đối với hầu hết các công ty, khả năng vay dự trữ và các chứng khoán đầu tư ngắn hạn có thể được sử dụng để thỏa mãn động cơ này Theo đó, có thể có động cơ đầu cơ để duy trì thanh khoản, nhưng thực chất không nhất thiết nắm giữ tiền mặt Hãy nghĩ theo cách này: nếu bạn có một thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng rất lớn, thì có lẽ bạn có thể tận dùng bất kỳ món hời bất thường nào diễn ra mà không cần mang theo tiền mặt Điều này cũng đúng cho phạm vi nhỏ hơn là động cơ dự phòng Động cơ dự phòng là nhu cầu một nguồn cung cấp an toàn để hoạt động như là một dự trữ tài chính Một lần nữa,
có thể là động cơ dự phòng để duy trì thanh khoản Tuy nhiên, do giá trị của các công
cụ thị trường tiền tệ tương đối ổn định và những công cụ như tín phiếu kho bạc có tính lỏng cao, nên không có nhu cầu thực sự để nắm giữ một lượng tiền đáng kể nhằm mục đích dự phòng Động cơ giao dịch là nhu cầu có tiền mặt trong tay để chi trả hóa đơn Các nhu cầu liên quan đến giao dịch xuất phát từ hoạt động chi tiêu và thu nợ thông thường của công ty Chi tiêu tiền mặt bao gồm thanh toán tiền lương, các món nợ thương mại, thuế và cổ tức Tiền mặt được thu từ việc bán sản phẩm, bán tài sản và huy động vốn mới Dòng tiền vào (các khoản thu) và dòng tiền ra (các khoản chi) không hoàn toàn đồng nhất, và một vài mức độ nắm giữ tiền mặt là cần thiết để đảm bảo Khi hoạt động chuyển tiền điện tử và các hoạt động tốc độ cao khác, hay còn gọi là hệ thống thanh toán không giấy tờ tiếp tục phát triển, thì nhu cầu giao dịch tiền mặt vẫn tồn tại mà không bị biến mất Tuy nhiên, nếu điều này có diễn ra thì vẫn sẽ có nhu cầu
về thanh khoản và nhu cầu để quản lý nó hiệu quả (Stephen, 2008)
Có ba học thuyết quan trọng giải thích về mức độ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp:
2.1.1 Học thuyết hoán đổi (The Trade – off Theory):
Theo học thuyết này, các doanh nghiệp chọn mức độ nắm giữ tiền mặt tối ưu bằng cách so sánh giữa chi phí và lợi ích nắm giữ tiền mặt Giả định rằng nhà quản lý
Trang 11Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 8
tối đa hóa tài sản của cổ đông, họ sẽ lập nên cách nắm giữ tiền mặt sao cho lợi ích biên
và chi phí biên cân bằng với nhau Theo Keynes (1936) nhận định, lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt vì động cơ chi phí giao dịch và động cơ phòng ngừa Động cơ đầu tiên liên quan tới vấn đề tiết kiệm chi phí nhằm gia tăng vốn và nhu cầu thanh toán tài sản hiện
có để chi trả Động cơ thứ hai cho rằng doanh nghiệp có thể sử dụng khả năng thanh khoản để huy động vốn cho các hoạt động và việc đầu tư khi các nguồn tài chính khác không có sẵn hoặc tốn kém chi phí Chi phí của việc nắm giữ tiền mặt chủ yếu là chi phí cơ hội của vốn đầu tư vào tài sản thanh khoản Điểm quan trọng của học thuyết này
là có một mức độ tối ưu về số dư tiền mặt cho các doanh nghiệp, trong đó các nhà quản
lý quyết định về vấn đề nắm giữ tiền mặt dựa trên phân tích giữa chi phí và lợi ích Theo học thuyết này, để tối đa hóa tài sản của các cổ đông, số dư tiền mặt của doanh nghiệp phải được kiểm soát sao cho lợi ích biên gia tăng từ việc nắm giữ tiền mặt sẽ
bằng với chi phí biên
2.1.2 Học thuyết trật tự phân hạng (The Pecking Order Theory):
Học thuyết của Myers và Majluf (1984) lại cho rằng không có mức độ nắm giữ tiền mặt tối ưu, và tiền mặt chỉ hoạt động như là một vật đệm giữa lợi nhuận giữ lại và nhu cầu đầu tư Ngoài ra, học thuyết này còn giả định rằng một hệ thống phân cấp tài chính được tuân theo bởi các công ty nhằm tối thiểu hóa chi phí do các thông tin bất cân xứng Ở trường hợp đầu tiên, các công ty thích tài trợ cho các khoản đầu tư của họ bằng nguồn vốn bên trong, sau đó sử dụng nợ và cuối cùng là vốn cổ phần, bởi vì nợ có chi phí thông tin thấp hơn so với huy động vốn bằng cổ phần Kết quả là, xem xét thực
tế rằng các nhà quản lý thích huy động vốn bằng nguồn bên trong hơn là nguồn bên ngoài, họ có xu hướng tích lũy tiền mặt để có thể cung cấp cho nhu cầu tài chính trong nội bộ ở giai đoạn đầu và không sử dụng nguồn vốn bên ngoài
Trang 12
Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 9
2.1.3 Học thuyết về đại diện (The Agency Theory)
Học thuyết của Jensen (1986) cho rằng những nhà đầu tư cố hữu của các công ty
có cơ hội đầu tư nghèo nàn có xu hướng giữ lại tiền mặt hơn là chi tiêu nó Học thuyết đại diện gồm hai giả thiết khi hướng tới quyết định nắm giữ tiền mặt: giả thiết dòng tiền tự do và giả thiết giảm thiểu rủi ro Trong đó, lý thuyết dòng tiền tự do cho rằng nhà quản lý thích nắm giữ tiền mặt hơn là chi trả cổ tức cho cổ đông bởi vì nó giúp gia tăng mức độ tài sản mà họ kiểm soát và tính linh hoạt để theo đuổi mục tiêu riêng của
họ Giả thiết giảm thiểu rủi ro xem xét việc nắm giữ tiền mặt như là các khoản đầu tư phi rủi ro và chính vì vậy nhà đầu tư ngại rủi ro sẽ gia tăng việc nắm giữ tiền mặt để giảm thiểu tổn thất do rủi ro của công ty, do đó, từ bỏ những dự án rủi ro có NPV dương
2.2 Các nghiên cứu trước
Một số tác giả đã nghiên cứu tác động của nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp từ nhiều góc độ và quy mô khác nhau Sau đây là một số các nghiên cứu trước hữu ích đối với bài nghiên cứu này
Đứng ở góc độ nghiên cứu về nắm giữ tiền mặt và các đặc điểm doanh nghiệp,
có những nghiên cứu hữu ích sau:
Hassan, Farzin và Negar (2013) nghiên cứu về các nhân tố tài chính của nắm giữ tiền mặt trong các công ty được niêm yết trên sàn giao dịch Tehran Để kiểm tra các giả thiết, phương pháp hồi quy đa biến với dữ liệu theo không gian được sử dụng Kết quả của các kiểm tra thực nghiệm sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính của 121 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch Tehran trong giai đoạn 2003 – 2011 Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng, các biến độc lập như đòn bẩy, lợi nhuận trên vốn cổ phần, tỉ lệ thanh khoản, và quy mô công ty có tác động ý nghĩa và thuận chiều Trong khi đó, biến độc lập là cổ phiếu trôi nổi tự do có tác động nghịch chiều và ý nghĩa lên quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp Ngoài ra, biến phụ thuộc tỉ lệ chi trả cổ tức không có tác động ý nghĩa đến quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp
Trang 13Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 10
Nghiên cứu này ủng hộ quan điểm của học thuyết trật tự phân hạng, đó là, bằng cách kiểm soát yếu tố đầu tư, các công ty lớn hơn sẽ thành công hơn và chính vì vậy sẽ nắm giữ tiền mặt nhiều hơn
Nghiên cứu tiếp theo được quan tâm là nghiên cứu của Sara và Qaisar (2013) về các nhân tố của thanh khoản doanh nghiệp Nghiên cứu đã lựa chọn 395 công ty phi tài chính của Pakistan được niêm yết trên sàn giao dịch Karachi trong 6 năm từ 2005 đến
2011 và sử dụng phương pháp ANOVA để tiến hành phân tích Nghiên cứu kết luận rằng những nhân tố chính của nắm giữ tiền mặt của các công ty phi tài chính được niêm yết Pakistan là quy mô công ty, đòn bẩy, tài sản thanh khoản và kỳ luân chuyển tiền Tăng trưởng doanh thu không có liên kết với nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp
Sự biến động của nắm giữ tiền mặt liên quan đến sự thay đổi trong các biến nghiên cứu
là khác nhau Kết quả của nghiên cứu ủng hộ được những phát hiện của các học thuyết hoán đổi, học thuyết trật tự phân hạng và học thuyết đại diện Kết quả của nghiên cứu xác nhận những phát hiện trước đây là những mức độ tiền mặt khác nhau thì ít hơn ở các doanh nghiệp có cấu trúc trúc tập trung quyền sở hữu cao và cũng bởi vì điều này
mà vấn đề đại diện ít gia tăng
Sunday, Rafiu và Lawrencia (2012) nghiên cứu về quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp ở Nigeria, nghiên cứu sử dụng mẫu của 54 công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn giao dịch Nigeria từ năm 1995 – 2009, sử dụng phương pháp GMM
để phân tích các dữ liệu từ báo cáo thường niên Nghiên cứu ủng hộ những quan điểm của các học thuyết hoán đổi và trật tự phân hạng Kết quả của nghiên cứu cho thấy bằng chứng tích cực của mô hình điều chỉnh mục tiêu và theo đó, doanh nghiệp không thể ngay lập tức điều chỉnh mức độ tiền mặt mục tiêu do liên quan tới vấn đề điều chỉnh chi phí Nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ nghịch chiều và ý nghĩa giữa nắm giữ tiền mặt và quy mô công ty, tài sản thanh khoản, tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản và ngân hàng Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ thuận chiều với cơ hội tăng trưởng, đòn bẩy, hàng tồn kho, các khoản thu và chi tài chính Ngoài ra, không có mối quan hệ ý nghĩa giữa nắm giữ tiền mặt và dòng tiền
Trang 14Sohani (2012) nghiên cứu về các nhân tố nắm giữ tiền mặt của 66 doanh nghiệp sản xuất ở Bangladesh được niêm yết trên sàn giao dịch Dhaka với bộ dữ liệu 5 năm (2006 – 2010) Nghiên cứu cho thấy, tài sản thanh khoản, Tobin’s Q và biến động của dòng tiền không có mối quan hệ ý nghĩa với nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn, thu nhập hoạt động, dòng tiền, quy mô, nợ ngắn hạn, tổng nợ, tài sản vô hình, tỉ lệ đòn bẩy, tỉ lệ tiền mặt và tài sản hữu hình ròng có mối quan hệ ý nghĩa với nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp sản xuất Nghiên cứu đi đến kết luận rằng, cấu trúc vốn và quyết định nắm giữ tiền mặt của các công ty Bangladesh hầu hết ủng hộ các giả định của học thuyết hoán đổi
Nghiên cứu của Amarjit và Charul (2012) nghiên cứu 166 công ty Canada được niêm yết trên sàn giao dịch Toronto trong 3 năm (2008 – 2010) ủng hộ các giả định của học thuyết hoán đổi Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ hội đầu tư, dòng tiền, tài sản thanh khoản, đòn bẩy, quy mô công ty, CEO duality, và quy mô hội đồng quản trị có tác động ý nghĩa đến quyết định nắm giữ tiền mặt của các công ty Canada Nghiên cứu cũng ủng hộ cho tranh cãi là vấn đế đại diện là một yếu tố quan trọng của quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp
Mohammad và Tariq (2012) tiến hành nghiên cứu các giả định của học thuyết trật tự phân hạng thông qua việc tìm kiếm bằng chứng từ lĩnh vực doanh nghiệp ở Pakistan Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 300 công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn giao dịch Karachi từ năm 1998 – 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy tài sản thanh khoản có tác động thuận chiều và ý nghĩa đến đặc điểm nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp đang hoạt động ở các thị trường đang phát triển, chỉ ra rằng độ dài của kỳ
Trang 15Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 12
luân chuyển tiền ở những thị trường này có thể có quan hệ ý nghĩa với việc nắm giữ tiền mặt cao hơn của doanh nghiệp Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy nắm giữ tiền mặt của công ty có mối quan hệ nghịch chiều với đòn bẩy, điều này phù hợp với học thuyết trật tự phân hạng Các công ty hoạt động với tỉ lệ đòn bẩy tài chính cao nắm giữ ít tiền mặt hơn Mối quan hệ nghịch chiều này cũng cho thấy các công ty giảm nợ
và giữ tiền mặt nhiều hơn khi tỉ lệ đòn bẩy cao Mối quan hệ thuận chiều giữa nắm giữ tiền mặt và tăng trưởng của doanh nghiệp được tìm thấy trong bài nghiên cứu
Wolfgang và Matthias (2007) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến quyết định nắm giữ tiền mặt và các khoản tương đương tiền của 156 công ty phi tài chính Thụy Sĩ
từ năm 1995 đến năm 2004 Kết quả của phân tích cho thấy những công ty Thụy Sĩ cỡ trung nắm giữ tiền mặt dự trữ nhiều hơn so với những công ty từ các quốc gia khác Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ ngược chiều mạnh giữa tài sản hữu hình và tỉ lệ tiền mặt, điều này có nghĩa rằng những công ty với tài sản có tính lỏng cao tích lũy ít tiền mặt hơn để giảm thiểu các chi phí cơ hội của thanh khoản Kết quả này ủng hộ cho các giả định của học thuyết hoán đổi Bên cạnh đó, mối quan hệ nghịch chiều giữa đòn bẩy
và nắm giữ tiền mặt, và quan hệ thuận chiều dòng tiền hoạt động và nắm giữ tiền mặt cũng phù hợp với dự báo của học thuyết trật tự phân hạng
Nghiên cứu của Aydin và Neslihan (2004) nghiên cứu các nhân tố thực nghiệm của quyết định nắm giữ tiền mặt từ 1,029 công ty đại chúng ở Anh trong giai đoạn
1984 – 1999 Kết quả của nghiên cứu cho thấy cấu trúc sở hữu của công ty giữ một vai trò quan trọng trong việc quyết định mức độ tiền mặt cần nắm giữ của các công ty Anh Bài nghiên cứu tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ không đơn điệu giữa quản lý quyền sở hữu và nắm giữ tiền mặt theo ý nghĩa là nắm giữ tiền mặt đang tác động nghịch chiều ở mức độ thấp của quyền sở hữu nhưng tác động đảo ngược lại ở mức sở hữu cao hơn Mối quan hệ trở nên nghịch chiều một lần nữa ở mức độ cao của quản lý quyền sở hữu Nghiên cứu này cũng cho thấy tác động ý nghĩa tích cực của các nhân tố trong nắm giữ tiền mặt của công ty Hơn nữa, nó cung cấp bằng chứng, đó là dòng tiền
và cơ hội tăng trưởng của công ty có tác động thuận chiều lên nắm giữ tiền mặt Ngoài
Trang 16Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 13
ra, bằng chứng về tác động nghịch chiều của tài sản thanh khoản cũng được tìm thấy Kết quả cho thấy nắm giữ tiền mặt cao có liên quan với mức độ nợ thấp hơn trong cấu trúc vốn của công ty
Nghiên cứu của Tim và ctg (1999) về các nhân tố và ý nghĩa của nắm giữ tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn của các công ty đại chúng Mỹ giai đoạn 1971 -1999 Những kết quả trong nghiên cứu này ủng hộ các giả định của học thuyết hoán đổi Nhìn chung, những công ty có cơ hội phát triển mạnh và dòng tiền rủi ro hơn có tỉ lệ tiền mặt trên tổng tài sản phi tiền mặt khá cao Những công ty có sự tham gia vào thi trường vốn lớn, chẳng hạn như những công ty lớn với chỉ số tín dụng cao, có xu hướng nắm giữ tỉ
lệ tiền mặt trên tổng tài sản phi tiền mặt thấp hơn
Bên cạnh đó, còn có những nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyết định nắm giữ tiền mặt, cấu trúc vốn và việc định giá doanh nghiệp:
Mohsen và Ali (2013) nghiên cứu về tác động của việc tập trung vào các khách hàng lớn đối với việc duy trì tiền mặt và cấu trúc vốn của 112 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch Tehran giai đoạn 2006 – 2011 Kết quả cho thấy, có mối quan hệ nghịch chiều và ý nghĩa giữa việc tập trung vào khách hàng lớn và nợ ngắn hạn và cuối cùng không có mối quan hệ giữa việc tập trung vào các khách hàng lớn với nợ dài hạn
và vốn cổ phần
Venkat và ctg (2011) nghiên cứu về cấu trúc tổ chức của các doanh nghiệp (hoạt động đa dạng, hoạt động tập trung) lên quyết định nắm giữ tiền mặt Kết quả cho thấy, đầu tiên, ở những công ty hoạt động đa dạng, tổng nhu cầu tiền mặt có thể ít biến động qua thời gian Nếu công ty nắm giữ tiền mặt cho nhu cầu phát triển tiềm năng, những công ty hoạt động đa dạng sẽ cần ít hơn để đáp ứng nhu cầu đầu tư tại bất kỳ thời điểm nào Thêm vào đó, nếu có một thị trường vốn bên trong năng động, dòng tiền cho một phân khúc sẽ có sẵn như dành cho các phân khúc khác Điều này làm giảm nhu cầu vốn
từ bên ngoài bởi vì giảm lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt Thứ hai, những công ty hoạt động đa dạng gần giống với những công ty hoạt động trên một phân khúc riêng lẻ để có
Trang 17Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 14
thể huy động vốn bằng cách bán những tài sản cơ bản, đặc biệt là những tài sản của những phân khúc ngoài ngành Điều này làm giảm lợi ích nắm giữ tiền mặt Do vậy, những công ty với nhiều hơn một phân khúc nên có mức độ tiền mặt nắm giữ thấp hơn
Rashid (2011) nghiên cứu về tác động của việc nắm giữ tiền mặt và tập trung quyền sở hữu lên định giá doanh nghiệp sử dụng số liệu của 389 công ty phi tài chính
Úc được niêm yết trên sàn giao dịch trong giai đoạn 1995 - 2010 Bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ giữa nắm giữ tiền mặt và tỉ lệ q của các doanh nghiệp Úc Cấu trúc sở hữu điều chỉnh tác động của việc nắm giữ tiền mặt lên tỉ lệ q, đối với những công ty nắm giữ quyền sở hũu lớn, có mối quan hệ thuận chiều giữa nắm giữ tiền mặt và tỉ lệ q, những công ty nắm giữ ít, có mối quan hệ nghịch chiều Hơn nữa, những thay đổi liên quan đến cải cách quản lý doanh nghiệp, cũng tác động đến tỉ lệ q, bên cánh cấu trúc sở hữu Bài nghiên cứu cũng kiểm tra tác động của nắm giữ tiền mặt lên giá trị thị trường của các doanh nghiệp qua thời gian Như tác giả dự báo, sự gia tăng trong việc nắm giữ tiền mặt có tác động nghịch chiều lên định giá doanh nghiệp, và tác động này chậm lại qua thời gian
Nghiên cứu của Tiago và João (2013) phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, nắm giữ tiền mặt và định giá công ty đựa trên mẫu số liệu của tất cả các công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn giao dịch Brazil từ năm 2002 đến năm 2012 Kết quả của nghiên cứu cho thấy nợ (cả ngắn và dài hạn) đều có mối quan hệ nghịch chiều với mức
độ nắm giữ tiền mặt, và mức độ nắm giữ tiền mặt cũng liên quan tới đòn bẩy thấp hơn Nghiên cứu này cũng cho thấy bằng chứng gián tiếp rằng những công ty hạn chế tài chính nắm giữ tiền mặt nhiều hơn Liên quan đến tác động của cấu trúc vốn lên giá trị công ty, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và sự hạn chế tài chính có những tác động biên nghịch chiều lên giá trị công ty Nắm giữ tiền mặt, thay vào đó, được các nhà đầu tư đánh giá tích cực, nhưng lên tới một mức ngưỡng tối ưu Hơn nữa, vốn hóa thị trường
bị giảm xuống đối với việc nắm giữ tiền mặt, theo học thuyết hoán đổi
Đứng dưới góc độ nghiên cứu về lý do nắm giữ nhiều tiền mặt của các doanh nghiệp, có một số các nghiên cứu hữu ích sau:
Trang 18Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 15
Thomas và ctg (2009) nghiên cứu lý do tại sao các công ty Mỹ nắm giữ rất nhiều tiền mặt hơn so với họ từng nắm giữ, sử dụng số liệu của các công ty tài chính từ năm 1980 đến 2006 Bằng chứng cho thấy sự gia tăng trong tỉ lệ tiền mặt, phần lớn được giải thích bởi sự thay đổi trong đặc điểm doanh nghiệp, và ít đáng kể hơn, là do
sự thay đổi trong mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp và nắm giữ tiền mặt Các công ty nắm giữ tiền mặt nhiều hơn, theo phân tích, xuất phát từ vấn đề đại diện
Miguel và Antonio (2004) với tiêu đề tại sao các doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt, nghiên cứu về các nhân tố của nắm giữ tiền mặt doanh nghiệp ở khối các nước EMU Kết quả cho thấy nắm giữ tiền mặt có tác động thuận chiều bởi cơ hội đầu tư và dòng tiền, và bị tác động nghịch chiều bởi tính lỏng của tài sản, đòn bẩy và quy mô Nợ ngân hàng và nắm giữ tiền mặt có mối quan hệ nghịch chiều, điều này ủng hộ rằng mối quan hệ gần gũi với ngân hàng cho phép doanh nghiệp nắm giữ ít tiền mặt hơn cho lý
do dự phòng Các doanh nghiệp ở các quốc gia có khả năng bảo vệ nhà đầu tư cao và quyền sở hữu tập trung nắm giữ ít tiền mặt hơn, đóng góp rằng vai trò của chi phí cơ quan quyết định quản lý trong việc giải thích mức độ nắm giữ tiền mặt Sự phát triển của thị trường vốn có tác động nghịch chiều đến mức độ tiền mặt, trái ngược với quan điểm đại diện
Ở góc độ vĩ mô nghiên cứu về quyết định nắm giữ tiền mặt, một số nghiên cứu đáng quan tâm như sau:
Frederick (2013) nghiên cứu về tác động của nắm giữ tiền mặt lên tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong suốt cuộc khủng hoảng tín dụng lấy bằng chứng khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn tại Mỹ Bài nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2008 và nhận thấy rằng tình hình hoạt động của doanh nghiệp giảm đáng kể từ khi bắt đầu khủng hoảng Sự sụt giảm trong tình hình hoạt động lớn nhất được thấy ở các doanh nghiệp có dự trữ tiền mặt thấp Đặc biệt, tình hình hoạt động của các doanh nghiệp có tiền mặt thấp giảm đáng kể 31.5% trước cuộc khủng hoảng diễn ra Thêm vào đó, sự sụt giảm của lợi nhuận trên tài sản ở các doanh nghiệp giữ ít tiền mặt lớn hơn so với các doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt ở giai đoạn đầu
Trang 19Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 16
khủng hoảng Rõ ràng, dự trữ tiền mặt giúp doanh nghiệp duy trì vị thế tài chính khỏe mạnh và giảm nguy cơ bị phá sản trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính Ngoài ra, bài nghiên cứu còn tìm thấy những công ty bị hạn chế tài chính trải qua quá trình hoạt động giảm hiệu quả tương tư như các công ty không bị hạn chế tài chính trong suốt giai đoạn đầu cuộc khủng hoảng
Nghiên cứu của Yanchao và ctg (2013) về mối quan hệ giữa lạm phát, chu kỳ hoạt động và nắm giữ tiền mặt thông qua số liệu của các công ty niêm yết được đánh giá cổ phiếu hạng A trên sàn giao dịch Thượng Hải và Thẩm Quyến trong giai đoạn
1998 – 2009 Sử dụng chỉ số giá cả, nghiên cứu này xác nhận và giải thích kết quả nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp giảm khi lạm phát tăng trong quan điểm giảm sức mua của tài sản tiền tệ Tuy nhiên, khi lạm phát đạt một mức nhất định, các doanh nghiệp gia tăng nắm giữ tiền mặt của họ để tránh bị phá sản Ở mức độ vĩ mô, nghiên cứu này tìm thấy nắm giữ tiền mặt giảm với chu kỳ hoạt động dài hơn, nhưng khi lạm phát đạt tới mức độ nhất định, các doanh nghiệp gia tăng nắm giữ tiền mặt để làm giảm bớt rủi
ro Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy ảnh hưởng tương tác giữa lạm phát và chu kỳ kinh doanh lên việc nắm giữ một lượng tiền mặt
Yujun, Mohammad và Maggie (2011) nghiên cứu thực nghiệm nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp và khủng hoảng tài chính ở Trung Quốc giải đoạn 1999 – 2009 Nghiên cứu này tập trung vào việc đặc điểm doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hạn chế tài chính và lựa chọn đầu tư liên quan thế nào tới quyết định nắm giữ tiền mặt Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, so với khoảng thời gian bình ổn, các doanh nghiệp Trung Quốc có xu hướng gia tăng nắm giữ tiền mặt của họ Nhìn chung, các công ty với hạn chế tài chính lớn, và nhiều cơ hội đầu tư hơn, có xu hướng nắm giữ nhiều tiền mặt hơn Ngoài ra, những doanh nghiệp với tỉ lệ đòn bẩy thấp hơn, vốn lưu động ròng ít hơn, và chi tiêu vốn thấp hơn, những doanh nghiệp này có xu hướng tiết kiệm tiền mặt từ dòng tiền Những bằng chứng này cho rằng các doanh nghiệp Trung Quốc nên cẩn trọng trong việc nắm giữ tiền mặt của họ
Trang 20ty thuộc lĩnh vực sản xuất được niêm yết trên sàn giao dịch Karachi trong giai đoạn
2006 – 2010 Kết quả cho thấy mối tương quan nghịch chiều giữa độ dài của chu kỳ tiền mặt và quy mô công ty Vì vậy, những công ty lớn có vẻ quản lý doanh thu chu kỳ tiền mặt của họ theo ngày tốt hơn, trái lại những công ty nhỏ hơn xảy ra mâu thuẫn với vấn đề nắm giữ tiền mặt Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa độ dài chu kỳ tiền mặt với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
Nghiên cứu của Haitham, Modar và Maryam (2011) nghiên cứu về chu kỳ tiền mặt và tình hình hoạt động của 34,771 công ty Nhật trong giai đoạn 1990 – 2004 Kết quả cho thấy mối quan hệ nghịch chiều mạnh giữa độ dài chu kỳ tiền mặt của doanh nghiệp và khả năng sinh lời của nó Nghiên cứu này đề nghị rằng các nhà quản lý vốn lưu động của các công ty Nhật có thể cải thiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp họ bằng cách rút ngắn chu kỳ tiền mặt Chu kỳ tiền mặt có thể được rút ngắn bằng cách giảm giảm giai đoạn chuyển đổi hàng tồn kho thông qua xử lý và bán hàng hóa nhanh hơn, hoặc bằng cách giảm giai đoạn thu hồi các khoản phải thu thông qua việc đẩy mạnh thu hồi, hoặc bằng cách kéo dài giai đoạn trì hoãn thanh toán thông qua việc làm chậm các khoản phải trả cho nhà cung cấp Làm chậm chu kỳ tiền mặt cải thiện khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bởi vì chu kỳ tiền mặt càng dài thì nhu cầu về việc huy động nguồn vốn đắt đỏ từ bên ngoài càng lớn Bởi vậy, bằng cách rút ngắn thời gian
mà tiền mặt bị đóng băng dưới dạng vốn lưu động, doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả hơn
Đề tài nghiên cứu này cũng đi vào nghiên cứu tác động của các nhân tố đến quyết định nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp, nhưng đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp thuộc ngành đồ uống và thực phẩm được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam Sự khác biệt quan trọng là ngoài các biến độc lập được chọn
Trang 21Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 18
lọc từ các nghiên cứu trước như cơ hội đầu tư, quy mô công ty, dòng tiền, tài sản thanh khoản,…thì đề tài còn bổ sung thêm biến chu kỳ tiền mặt Biến phụ thuộc là quyết định nắm giữ tiền mặt giống như các nghiên cứu trước
Trang 22Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 19
Bảng 2.1: Kết quả một số nghiên cứu trước
Quyết định nắm giữ tiền mặt và Đòn bẩy nợ
của doanh nghiệp
+
Hassan, Farzin và Negar (2013); Sunday, Rafiu và Lawrencia (2012); Lawrencia, Sunday và Samuel (2012); Sohani (2012); Amarjit và Charul (2012)
−
Mohammad và Tariq (2012); Wolfgang và Matthias (2007); Aydin và Neslihan (2004); Tim và ctg (1999); Mohsen và Ali (2013); Miguel và Antonio (2004)
Quyết định nắm giữ tiền mặt và Quy mô của
doanh nghiệp
+
Hassan, Farzin và Negar (2013); Sara và Qaisar (2013);Sohani (2012)
−
Sunday, Rafiu và Lawrencia (2012); Amarjit và Charul (2012); Tim và ctg (1999); Mohsen và Ali (2013); Miguel
và Antonio (2004); Wolfgang
và Matthias (2007)
0
Aydin và Neslihan (2004); Lawrencia, Sunday và Samuel (2012), Mohammad và Tariq (2012)
Trang 23Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 20
Quyết định nắm giữ tiền mặt và Tài sản thanh
khoản của doanh nghiệp
+
Sara và Qaisar (2013); Mohammad và Tariq (2012)
−
Sunday, Rafiu và Lawrencia (2012); Lawrencia, Sunday và Samuel (2012); Amarjit và Charul (2012); Tim và ctg (1999); Miguel và Antonio (2004)
0 Sohani (2012)
Quyết định nắm giữ tiền mặt và Tỉ lệ dòng tiền
trên tài sản ròng của doanh nghiệp +
Sunday, Rafiu và Lawrencia (2012); Lawrencia, Sunday và Samuel (2012), Sohani (2012); Amarjit và Charul (2012); Mohammad và Tariq (2012); Wolfgang và Matthias (2007); Aydin và Neslihan (2004); Tim và ctg (1999); Mohsen và Ali (2013); Miguel
và Antonio (2004)
Quyết định nắm giữ tiền mặt và Cơ hội đầu tư
của doanh nghiệp
+
Sunday, Rafiu và Lawrencia (2012); Sohani (2012); Mohammad và Tariq (2012); Aydin và Neslihan (2004); Tim và ctg (1999); Miguel và Antonio (2004)
− Amarjit và Charul (2012)
0
Wolfgang và Matthias (2007); Lawrencia, Sunday và Samuel
Trang 24Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 21
(2012) Quyết định nắm giữ tiền mặt và Tỉ suất sinh lời
trên tổng tài sản của doanh nghiệp +
Lawrencia, Sunday và Samuel (2012)
Quyết định nắm giữ tiền mặt và Kỳ luân
chuyển tiền của doanh nghiệp
− Sara và Qaisar (2013); Wolfgang và Matthias (2007)
Trang 25Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này sẽ trình bày cách xây dựng mô hình nghiên cứu, lựa chọn các biến phụ thuộc, độc lập, mô tả biến, cách lấy dữ liệu và phương pháp hồi quy, kiểm định để có thể đưa ra kết quả nghiên cứu
3.1 Khung tiếp cận nghiên cứu
Để có hướng nhìn tổng quát về mối quan hệ giữa quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp và các biến tài chính, đồng thời tóm tắt lại những lý thuyết đã được trình bày ở Chương 2, khung tiếp cận nghiên cứu sẽ được trình bày Hình 3.1 dưới đây
mô tả khung tiếp cận nghiên cứu
Hình 3.1 cho thấy mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các chỉ số tài chính và việc đưa
ra quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp Các chỉ số được sử dụng trong
Trang 263.2 Mô hình nghiên cứu
Để xây dựng mô hình nghiên cứu, luận văn đề xuất mô hình được kế thừa từ kết quả nghiên cứu của Lawrencia, Sunday và Samuel (2012) Hầu hết các biến, mà theo các học thuyết hoán đổi và trật tự phân hạng có liên quan đến quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp, được đưa vào trong mô hình Mô hình được xây dựng như sau:
1 7
6 5
4 3
2 1
Luận văn sẽ đi vào nghiên cứu hai câu hỏi chính đó là:
- Quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp chịu tác động của những yếu tố nào?
- Mức độ và hướng tác động của các yếu tố đến quyết định nắm giữ tiền mặt như thế nào?
Trang 27Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 24
Bảng 3.1 Bảng mô tả các biến đo lường được sử dụng trong nghiên cứu
Biến phụ thuộc
Tiền và các khoản tương đương tiền/ (Tổng tài sản – Tiền
và các khoản tương đương tiền)
Biến độc lập
(Giá trị sổ sách của tài sản – Giá trị sổ sách cổ phiếu + Giá trị thị trường của cổ phiếu) / Giá trị sổ sách của tài sản
Quy mô doanh nghiệp
Logarit (Tổng tài sản)
doanh nghiệp
(Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao) / (Tổng tài sản - Tiền và các khoản tương đương tiền)
(Vốn lưu động – Tiền và các khoản tương đương tiền) / (Tổng tài sản - Tiền và các khoản tương đương tiền)
Trang 28Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 25
LEV Đòn bẩy của doanh
nghiệp
Tổng nợ / (Tổng tài sản – Tiền và các khoản tương đương tiền)
Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản của doanh nghiệp
Lợi nhuận sau thuế / (Tổng tài sản - Tiền và các khoản tương đương tiền)
3.3 Biến đo lường
Biến đo lường được sử dụng để đưa vào mô hình phân tích bao gồm: (1) biến phụ thuộc (tỉ lệ tiền mặt của doanh nghiệp); (2) biến độc lập Sau đây là phần trình bày
cụ thể về các biến đo lường:
3.3.1 Biến phụ thuộc
Để đo lường quyết đinh nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp, biến phụ thuộc được sử dụng là tỉ lệ tiền mặt Qua một số các nghiên cứu trước đây, luận văn xác định
có hai phương pháp đo lường tỉ lệ tiền mặt của doanh nghiệp phổ biến:
1 Tiền và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản (Kim và ctg, 1998) (Aydin
& Neslihan, 2004) (Thomas và ctg, 2009) Đây là phương pháp truyền thống được sử dụng trong nghiên cứu
Trang 29Phạm Thị Ngọc Thúy Trang 26
2 Tiền và các khoản tương đương tiền trên tài sản ròng, trong đó tài sản ròng được tính bằng hiệu số của tổng tài sản và tiền và các khoản tương đương tiền (Tim và ctg, 1999) (Miguel & Antonio, 2004)
Trong luận văn, tỉ lệ tiền mặt được đo lường theo phương pháp của (Tim và ctg, 1999), theo đó, tỉ lệ tiền mặt được tính theo công thức sau:
CASH = Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng tài sản - Tiền và các khoản tương đương tiền
Số liệu về tiền và các khoản tương đương tiền được thu thập từ bảng cân đối kế toán của 37 doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam, cụ thể là sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ năm
2009 đến năm 2014
3.3.2 Biến độc lập
Mô hình bao gồm 7 biến độc lập: cơ hội đầu tư, quy mô doanh nghiệp, dòng tiền doanh nghiệp, tài sản thanh khoản, đòn bẩy của doanh nghiêp, tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản và kỳ luân chuyển tiền
3.3.2.1 Cơ hội đầu tư
Qua một loạt các nghiên cứu trước đây đều cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa quyết định nắm giữ tiền mặt và cơ hội đầu tư Aydin và Neslihan (2004), Miguel
và Antonio (2004), Mohammad và Tariq (2011) đều cho thấy kết quả là những doanh nghiệp với tỉ lệ cơ hội đầu tư cao hơn sẽ thích nắm giữ nhiều tiền mặt hơn nhằm tránh việc họ phải từ bỏ những cơ hội đầu tư giá trị vì thiếu tiền Ngoài ra, nghiên cứu của họ còn ủng hộ cho dự báo rằng những doanh nghiệp với tỉ lệ giá trị thị trường trên giá trị
sổ sách cao hơn sẽ mong muốn nắm giữ tiền và các khoản tương đương tiền nhiều hơn
để tránh những khó khăn tài chính bởi vì về cơ bản chi phí cao hơn đối với những doanh nghiệp này Thêm nữa, những doanh nghiệp với cơ hội phát triển cao hơn thì có
Trang 30cổ phiếu
Căn cứ vào kết quả của các nghiên cứu trước đây, giả thiết nghiên cứu trong luận văn này được đặt ra như sau:
đồng biến với cơ hội đầu tư
Từ các nghiên cứu (Tim và ctg, 1999) (Miguel &Antonio, 2004), tỉ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách được tính theo công thức:
MTB = Giá trị sổ sách của tài sản - Giá trị sổ sách của cổ phiếu + Giá trị thị trường của cổ phiếu
Giá trị sổ sách của tài sản
Theo đó, giá trị sổ sách của tài sản và của cổ phiểu được thu thập từ bảng cân đối kế toán, giá trị thị trường của cổ phiếu được tính bằng số lượng cổ phiếu đang lưu hành nhân giá trị cổ phiếu tại thời điểm đóng cửa của năm được tính
3.3.2.2 Quy mô doanh nghiệp
Qua một số nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau, trừ những trường hợp không có mối quan hệ ý nghĩa giữa quy mô doanh nghiệp và quyết định nắm giữ tiền mặt (Aydin và Neslihan, 2004; Mohammad và Tariq, 2011), hầu hết kết quả của các nghiên cứu đều theo hướng ủng hộ cho quan điểm của một trong hai học thuyết hoán đổi và học thuyết trật tự phân hạng Quan điểm của học thuyết hoán đổi cho rằng việc