1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014

57 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (8)
    • 1.1 Lý do nghiên cứu (8)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (9)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (10)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (10)
    • 1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu (10)
    • 1.7 Bố cục luận văn (10)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN (12)
    • 2.1 Các khái niệm (12)
      • 2.1.1 Khái niệm Thu nhập (12)
      • 2.1.2 Khái niệm khu vực kinh tế phi chính thức (0)
      • 2.1.3 Khu vực kinh tế phi chính thức ở Thành Phố Hồ Chí Minh (15)
    • 2.2 Các lý thuyết (16)
      • 2.2.1 Lý thuyết kinh tế học về lao động (16)
      • 2.2.2 Lý thuyết hàm thu nhập của Mincer (18)
    • 2.3 Các nghiên cứu trước (18)
      • 2.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài (18)
      • 2.3.2 Nghiên cứu ở iệt Nam (0)
    • 2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất (24)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu (25)
    • 3.2 Mô hình nghiên cứu & giải thích các biến, kỳ vọng dấu (0)
      • 3.2.1 Mô hình nghiên cứu (26)
      • 3.2.2 Giải thích các biến, kỳ vọng dấu (26)
    • 3.3 Mẫu nghiên cứu và phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu (0)
      • 3.3.1 Mẫu nghiên cứu (31)
      • 3.3.2 Cách lọc số liệu (32)
      • 3.3.3 Phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu (0)
    • 3.4 Cách đánh giá độ phù hợp của mô hình (33)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (35)
    • 4.1 Kết quả thống kê mô tả (35)
      • 4.1.1 Mô tả mẫu (35)
      • 4.1.2 Các biến liên quan đến lao động (35)
      • 4.1.3 Các biến hộ gia đình của người lao động (39)
      • 4.1.4 Các biến liên quan đến thu nhập của người lao động (41)
    • 4.2 Kết quả phân tích tương quan (42)
    • 4.3 Kết quả kiểm định mô hình (44)
      • 4.3.1 Kiểm định độ phù hợp của mô hình (44)
      • 4.3.2 Kiểm định phần dư (45)
      • 4.3.3 Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư (45)
      • 4.3.4 Phương sai đồng nhất (47)
    • 4.4 Phân tích kết quả hồi quy (47)
      • 4.4.1 Các biến có ý nghĩa thống kê (47)
      • 4.4.2 Các biến không đạt mức ý nghĩa thống kê (50)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (52)
    • 5.1 Kết luận (52)
    • 5.2 Khuyến nghị (53)
    • 5.3 Giới hạn đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo (0)

Nội dung

TỔNG QUAN

Lý do nghiên cứu

Nền kinh tế các nước luôn bao gồm hai khu vực: khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế phi chính thức Ở các nước đang phát triển, khu vực kinh tế phi chính thức phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào quá trình chuyển đổi kinh tế quốc gia, giúp xóa đói giảm nghèo và tăng thu nhập cho người dân Khu vực này cải thiện an ninh xã hội và đảm bảo đời sống người dân Phần lớn việc làm tại các quốc gia đang phát triển đến từ khu vực kinh tế phi chính thức, cho thấy vai trò thiết yếu của nó trong nền kinh tế Đặc biệt, trong bối cảnh biến động kinh tế toàn cầu, việc làm trong khu vực chính thức giảm mạnh, trong khi khu vực phi chính thức lại gia tăng, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp do khu vực chính thức gây ra.

Việt Nam, với nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu, đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường và công nghiệp hóa, dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế phi chính thức Tuy nhiên, khu vực này vẫn gặp nhiều khó khăn, bao gồm chính sách chưa hợp lý từ Chính phủ, khiến người lao động trong lĩnh vực này phải chịu thiệt thòi Mặc dù khu vực phi chính thức đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm, nó vẫn phải đối mặt với những định kiến xã hội và thiếu sự chú ý đúng mức từ chính sách của Chính phủ Nghiên cứu của Cling và Razafindrakoto (2009) chỉ ra rằng khu vực phi chính thức tại Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với các thành phố lớn ở Tây Phi trong giai đoạn 2001.

Khu vực kinh tế phi chính thức tại Tây Phi đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, chỉ sau nông nghiệp, với 70% lao động làm việc trong lĩnh vực này Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân không cung cấp trợ cấp ngoài lương hàng tháng cho người lao động, dẫn đến việc họ phải làm việc với số giờ cao hơn mức bình thường (48 giờ/tuần) nhưng lại nhận mức thu nhập thấp Thêm vào đó, tỷ lệ lao động không được trả lương trong khu vực phi chính thức cũng khá cao, đặt ra thách thức cho các cơ quan quản lý và chính quyền địa phương trong việc cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

Phần lớn việc làm mới trong khu vực phi chính thức đến từ các cơ sở sản xuất nhỏ và công việc tự do như chạy xe ôm, khuân vác, hay giúp việc nhà Những công việc này thiếu sự bảo vệ xã hội, với mức lương không ổn định và điều kiện làm việc không đảm bảo Người lao động trong khu vực này thường phải đối mặt với nhiều thiệt thòi, đặc biệt là những người làm việc tự do hoặc làm công cho người khác mà không có hợp đồng lao động.

Tại các thành phố lớn của Việt Nam, việc thiếu hụt về năng lực, kiến thức và tài chính là nguyên nhân chủ yếu khiến người lao động phải lựa chọn con đường này.

Người lao động xuất phát từ hoàn cảnh nghèo đói và thiếu học vấn phải gia nhập thị trường lao động với ít cơ hội học hỏi và hòa nhập vào sự phát triển xã hội Họ đối mặt với mức thu nhập thấp, nguy cơ tai nạn lao động cao và khả năng không được bồi thường.

Nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến thu nhập của lao động khu vực phi chính thức ở TPHCM năm 2014” đã được chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của tác giả nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động trong khu vực này.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động trong khu vực phi chính thức tại TPHCM năm 2014, đồng thời đo lường mức độ tác động của các biến số đến thu nhập của lao động trong nền kinh tế phi chính thức.

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở để đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cũng như bảo vệ quyền lợi của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức.

Câu hỏi nghiên cứu

Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thu nhập của lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại TP Hồ Chí Minh?

Chính quyền TP Hồ Chí Minh cần triển khai các chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, đồng thời đảm bảo quyền lợi của họ Việc tạo ra môi trường làm việc an toàn và minh bạch sẽ giúp cải thiện điều kiện sống của người lao động Cần có các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ tài chính để người lao động có thể chuyển đổi sang các công việc chính thức Hơn nữa, việc xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội cho người lao động trong khu vực này là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của họ.

1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động khu vực phi chính thức Đối tượng khảo sát: là người lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức tại TP Hồ Chí Minh năm 2014

Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý dữ liệu thu thập, bài viết thực hiện phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại Thành phố Hồ Chí Minh.

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập người lao động khu vực kinh tế phi chính thức nhằm góp phần cung cấp thêm cách nhìn tổng quan hơn về khu vực kinh tế phi chính thức; Tìm ra những bằng chứng có nền tảng khoa học để giải quyết những vấn đề thực tiễn mà cụ thể là lao động, việc làm và thu nhập của khu vực kinh tế phi chính thức

Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách phát triển khu vực kinh tế phi chính thức, đồng thời đề xuất các phương pháp quản lý hiệu quả nhằm nâng cao đời sống cho người lao động trong khu vực còn nhiều hạn chế này.

Chương 1: Tổng quan, nội dung chương này giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và bố cục của luận văn

Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu

Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Giới thiệu sơ lược về quy trình nghiên cứu, mô hình và dữ liệu nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập lao động khu vực kinh tế phi chính thức

Chương 5: Kết luận, đề xuất kiến nghị, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Chương 1 trình bày về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng khảo sát là những người lao động làm việc tại khu vực kinh tế phi chính thức Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng.

Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý dữ liệu thu thập, thực hiện phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về lĩnh vực này Mục tiêu là tìm kiếm những bằng chứng khoa học để giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến lao động, việc làm và thu nhập trong khu vực kinh tế phi chính thức.

Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chính sách phát triển khu vực kinh tế phi chính thức và áp dụng các phương pháp quản lý hiệu quả, nhằm nâng cao đời sống cho người lao động trong khu vực này, nơi còn nhiều hạn chế.

Bố cục luận văn

Chương 1: Tổng quan, nội dung chương này giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và bố cục của luận văn

Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu

Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Giới thiệu sơ lược về quy trình nghiên cứu, mô hình và dữ liệu nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập lao động khu vực kinh tế phi chính thức

Chương 5: Kết luận, đề xuất kiến nghị, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Chương 1 trình bày về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng khảo sát là những người lao động làm việc tại khu vực kinh tế phi chính thức Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Các khái niệm

Thu nhập được định nghĩa là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Nó cũng có thể được hiểu là phần giá trị còn lại của sản phẩm sau khi trừ đi các khoản chi phí vật chất và chi phí thuê ngoài Tổng thu nhập của hộ gia đình thường đến từ một hoặc nhiều nguồn khác nhau.

Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm các nguồn thu từ trồng trọt, chăn nuôi gia súc và gia cầm, nuôi trồng thủy sản, cùng với các hoạt động liên quan khác trong lĩnh vực nông nghiệp.

Thu nhập từ tiền lương và tiền công bao gồm thu nhập chính trong 7 ngày, công việc phụ trong 7 ngày, và việc làm chính trong 12 tháng Thành phần thu nhập của mỗi công việc không chỉ bao gồm tiền mặt mà còn cả giá trị hiện vật từ các khoản như tiền công, trị giá bữa ăn trưa, các loại phụ cấp, và bảo hộ lao động liên quan đến công việc.

Ngành nghề tự sản xuất và ngành nghề cá thể là những lĩnh vực tự do, cho phép các hộ gia đình mua bán và sản xuất chế biến sản phẩm trong cả nông nghiệp và phi nông nghiệp Các chủ hộ thường tự bỏ vốn và sử dụng lao động gia đình, hoặc có thể thuê thêm lao động bên ngoài để phát triển hoạt động kinh doanh của mình.

Thu nhập từ hưu trí và trợ cấp học bổng bao gồm các khoản thu nhập bình quân từ quỹ bảo hiểm xã hội, như trợ cấp hưu trí, trợ cấp mất sức, các khoản trợ cấp xã hội khác, cùng với học bổng giáo dục.

Thu nhập khác bao gồm tiền cho thuê nhà, quà biếu tặng, và thu nhập từ lãi cho vay trong 12 tháng, cũng như các khoản trợ giúp hiện vật đã nhận Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 2006, tiền lương là khoản thu nhập được xác định thông qua thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, hoặc theo quy định pháp luật của quốc gia nơi người sử dụng lao động hoạt động.

Theo CIEM (2012), thu nhập bao gồm tất cả các khoản tiền và hiện vật mà người lao động nhận từ người sử dụng lao động, như tiền lương, phụ cấp, và tiền thưởng Trong đó, tiền lương là một phần quan trọng của thu nhập, và tổng thu nhập được tính bằng tiền lương cộng với các khoản thu khác ngoài lương.

Theo Vũ Đình Ánh (2012), tiền lương là khoản thu nhập thường xuyên mà nhân viên nhận được từ công việc, được xác định là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho lao động khi hoàn thành nhiệm vụ theo quy định pháp luật hoặc thỏa thuận trong hợp đồng lao động Tiền công, một thuật ngữ khác của tiền lương, thường liên quan đến các thỏa thuận mua bán sức lao động và phổ biến trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và hợp đồng thuê mướn lao động có thời hạn Trong thị trường tự do ở Việt Nam, "tiền công" thường chỉ tiền trả cho lao động chân tay, trong khi "thù lao" dùng để chỉ tiền trả cho lao động trí óc.

2.1.2 Khu vực kinh tế phi chính thức:

2.1.2.1 Đặc điểm của khu vực phi chính thức trong thị trường lao động

Điều kiện lao động trong khu vực này rất kém, với các quyền lợi như bảo hiểm xã hội, phân chia lợi nhuận và nghỉ phép gần như không tồn tại Tỷ trọng lao động phụ thuộc ngày càng gia tăng mà không có bất kỳ hình thức hợp đồng nào được đảm bảo, khiến cho người lao động rơi vào tình trạng bất ổn.

Nhiều hộ sản xuất kinh doanh phi chính thức tại thành phố đang phải đối mặt với thu nhập thấp và điều kiện làm việc tạm bợ Đặc biệt, một bộ phận lớn trong số họ không có địa điểm kinh doanh cố định, như người bán hàng rong và lái xe ôm, điều này ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của họ.

Tỷ lệ lao động nhập cư tại TP Hồ Chí Minh chỉ khoảng 17%, thấp hơn so với dự đoán của mô hình Harris - Todaro, cho rằng khu vực KTPCT là điểm đến cuối cùng cho lao động nhập cư khi không tìm được việc làm Mặc dù mô hình này được nhiều nhà kinh tế và chuyên gia di cư chấp nhận, nhưng thực tế ở Việt Nam, đặc biệt là tại Hà Nội và TP HCM, cho thấy sự kiểm soát chặt chẽ về nhập cư thông qua quản lý hộ khẩu đã dẫn đến sự khác biệt này.

Khu vực kinh tế phi chính thức hoạt động tách biệt với nền kinh tế chính thức, chủ yếu phục vụ cho các hộ gia đình, chiếm tới 90% khối lượng tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến việc hạn chế mối liên hệ trực tiếp giữa hai khu vực này.

Khủng hoảng đã làm nổi bật sự yếu thế của các hộ sản xuất kinh doanh trong khu vực phi chính thức, với ảnh hưởng rõ rệt nhất là sự giảm sút các khoản tiền tiết kiệm và cắt giảm chi tiêu cho lương thực, thực phẩm Tại TP HCM, 37% hộ gia đình trong khu vực phi chính thức đã phải giảm chi tiêu cho lương thực – thực phẩm, trong khi 17% phải cắt giảm chi tiêu cho y tế Những con số này cho thấy khu vực phi chính thức đang gặp khó khăn hơn gấp đôi so với các hộ gia đình trong khu vực chính thức.

2.1.2.2 Khái niệm về khu vực kinh tế phi chính thức

Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 2003), nhiều thuật ngữ như khu vực phi chính quy, kinh tế bóng đen, kinh tế chìm và kinh tế không được giám sát đang được sử dụng để chỉ những hoạt động kinh tế không nằm trong khu vực chính thống Dù có sự khác biệt trong cách gọi, tất cả đều phản ánh bản chất của một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, mà trong bài viết này, tác giả sẽ gọi là khu vực kinh tế phi chính thức.

Khu vực kinh tế phi chính thức (KTPCT) bao gồm tất cả các hộ sản xuất kinh doanh chưa có tư cách pháp nhân và chưa đăng ký kinh doanh, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phi nông, lâm nghiệp, thủy sản Theo ILO (2006), các hộ này vẫn sản xuất hàng hóa và dịch vụ để bán hoặc trao đổi trên thị trường.

Các lý thuyết

2.2.1 Lý thuyết kinh tế học về lao động

Hình 2.1: Đường cung lao động trong quan điểm của kinh tế học cổ điển

Theo Mankiw (1997, trích từ David, 2007), kinh tế học cổ điển chỉ ra rằng khi mức tiền công thực tế tăng lên, lượng cung lao động cũng sẽ gia tăng, dẫn đến đường cung lao động có hình dạng dốc lên.

Theo quan điểm của Mankiw (1997, trích từ David, 2007), trong ngắn hạn, người lao động gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và ít có khả năng thương lượng về tiền công Do đó, lượng lao động cân bằng trong ngắn hạn chủ yếu phụ thuộc vào quyết định của nhà sản xuất, buộc người lao động phải chấp nhận mức tiền công hiện có Điều này dẫn đến việc cung lao động không thay đổi theo mức tiền công thực tế, thể hiện qua đường cung nằm ngang Ngược lại, trong dài hạn, đường cung lao động sẽ có xu hướng dốc lên.

Hình 2.2: Đường cung lao động theo quan điểm của kinh tế học Keynes

Nguồn: Mankiw (1997, trích từ David, 2007) Hình 2.3: Đường cung lao động theo quan điểm của kinh tế học tân cổ điển

Theo lý thuyết kinh tế học tân cổ điển của Mankiw (1997, trích từ David, 2007), đường cung lao động vi mô có hình dạng uốn ngược Điều này xảy ra vì con người cần cân bằng giữa lao động để có thu nhập và thời gian nghỉ ngơi Khi số giờ trong ngày là cố định, nếu tăng giờ làm việc thì giờ nghỉ ngơi sẽ giảm Khi thu nhập thấp, người lao động phải làm việc nhiều hơn và hy sinh thời gian nghỉ ngơi, dẫn đến đường cung lao động dốc lên Tuy nhiên, khi thu nhập tăng, nhu cầu nghỉ ngơi cũng tăng theo, làm cho lượng cung lao động giảm khi tiền công thực tế cao Kết quả là đường cung lao động có hình dạng uốn ngược.

2.2.2 Lý thuyết hàm thu nhập của Mincer

Mincer (1974) đã chỉ ra mối quan hệ giữa thu nhập và giáo dục thông qua mô hình học vấn, trong đó đường tiền lương theo học vấn thể hiện sự tương quan giữa tiền lương và số năm đào tạo của người lao động Độ dốc của đường tiền lương cho thấy mức tăng thu nhập khi người lao động có thêm một năm học vấn Người lao động sẽ chọn trình độ học vấn tối ưu và dừng việc học khi mức lợi tức biên bằng với suất chiết khấu kỳ vọng, từ đó tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập Hàm thu nhập của Mincer (1974) được trình bày như sau:

LnTiền lương (tiền lương tính theo giờ) = a + b 1 *Số năm kinh nghiệm (năm) + b 2 *Số năm kinh nghiệm bình phương + b 3 *Số năm đi học (năm) + U (sai số ngẫu nhiên)

Lý thuyết hàm thu nhập của Mincer cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động bao gồm số năm kinh nghiệm và trình độ giáo dục Ngoài ra, hàm thu nhập này đã được mở rộng để xem xét thêm các biến độc lập khác như giới tính và nghề nghiệp.

Các nghiên cứu trước

2.3.1.1 Nghiên cứu của Maurizio (2010) “Lao động phi chính thức ở Châu Mỹ Latin Trường hợp của Argentina, Brazil, Chile và Peru”

Nghiên cứu tại bốn quốc gia Mỹ Latin (Argentina, Brazil, Chile và Peru) cho thấy mối quan hệ tích cực giữa khu vực kinh tế phi chính thức và nghèo đói Việc loại bỏ tình trạng phi chính thức không thể hoàn toàn xóa bỏ nghèo, do còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến tình trạng này Tỉ lệ thất nghiệp cao và trình độ học vấn thấp dẫn đến thu nhập thấp, cùng với phân phối thu nhập bất bình đẳng, là những yếu tố gắn liền với nghèo đói Một trong những vấn đề trọng tâm của nghiên cứu là giảm tỷ lệ phi chính thức và việc làm bấp bênh, điều này cần tác động đến cả hai phía cung và cầu Cần kích thích tạo ra công ăn việc làm chính thức phù hợp với người lao động và hỗ trợ họ trong việc tìm kiếm cơ hội việc làm chính thức Phi chính thức không chỉ là nguyên nhân gây ra nghèo đói mà còn là biểu hiện của sự thiếu cơ hội lao động trong khu vực chính thức, đặc biệt ở những nước có chính sách hạn chế nhằm giải quyết tình trạng thiếu thốn xã hội.

Nghiên cứu này kế thừa các biến giới tính, trình độ học vấn và nghề tự do từ Maurizo (2010) để áp dụng vào mô hình của tác giả.

2.3.1.2 Nghiên cứu của Oaxaca (1973) “Bất bình đẳng trong thu nhập chính”

Nghiên cứu này khám phá sự chênh lệch tiền lương giữa lao động nam và nữ do phân biệt giới, so với mức lương cân bằng trên thị trường Bài viết hệ thống hóa lý thuyết về bất bình đẳng và minh họa tình trạng này tại Việt Nam qua dữ liệu VHLSS 2010 Bằng cách phân tích các yếu tố cấu thành tiền lương như năng lực, kỹ năng và phân biệt đối xử theo phương pháp của Oaxaca (1973) và Neumark (1988), nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về tiền lương giữa hai giới Kết quả chỉ ra rằng giới tính có ảnh hưởng đáng kể đến mức lương của người lao động.

2.3.2.1 Nghiên cứu “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình ở huyện Đức Hòa, tỉnh Long An” của Huỳnh Thanh Phương và Nguyễn Văn Phúc (2011)

Mô hình nghiên cứu về thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình (Yi) cho thấy rằng các yếu tố như tuổi và giới tính của chủ hộ, trình độ giáo dục, kinh nghiệm nghề nghiệp, số năm học nghề, và tài sản hộ gia đình (bao gồm công cụ, dụng cụ và vốn) đều có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập Ngược lại, quy mô hộ gia đình có tác động tiêu cực Thêm vào đó, tuổi trung bình, số năm đi học, số người làm việc, thông tin việc làm, tình trạng giao thông và tín dụng cũng là những yếu tố quan trọng cần xem xét.

Nghiên cứu cho thấy số người làm việc trong hộ gia đình có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập phi nông nghiệp, vì việc tăng thêm lao động giúp tiết kiệm chi phí thuê mướn và nâng cao hiệu quả sản xuất Học vấn trung bình của hộ cũng tương quan tích cực với thu nhập thực tế, khi số năm học tăng lên, trình độ của các thành viên trong gia đình cải thiện, tạo cơ hội tiếp cận công nghệ và nâng cao thu nhập Số năm học của chủ hộ có xu hướng làm tăng giàu và giảm nghèo, nhờ vào việc áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động Hơn nữa, việc vay vốn tín dụng cũng có tác động tích cực đến thu nhập phi nông nghiệp, với hộ gia đình vay vốn ngân hàng thường có thu nhập cao hơn Ngược lại, quy mô hộ gia đình lớn và số con đông có thể dẫn đến nghèo đói, trong khi khoảng cách từ nhà đến đường giao thông chính ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập, cho thấy rằng cơ sở hạ tầng như giao thông và điện lưới là yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng.

Dựa vào nghiên cứu của Huỳnh Thanh Phương và Nguyễn Văn Phúc (2011) về

Bài viết "Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập phi nông nghiệp của hộ gia đình ở huyện Đức Hòa, tỉnh Long An" của tác giả đã sử dụng các biến quan trọng như tuổi, giới tính, trình độ giáo dục, kinh nghiệm nghề nghiệp, quy mô hộ và số năm đi học để làm cơ sở cho nghiên cứu Những yếu tố này đóng vai trò quyết định trong việc xác định thu nhập phi nông nghiệp của các hộ gia đình tại khu vực này.

2.3.2.2 Nghiên cứu “Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động Việt Nam và một số giải pháp chính sách” của Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự (2007) - Đề tài khoa học cấp Bộ

Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa gần đây Nghiên cứu so sánh kết quả định tính và định lượng giữa các ngành kinh tế và vùng miền trên toàn quốc Dựa trên phân tích chuỗi số liệu từ năm 2002-2004, nghiên cứu dự đoán xu hướng biến động của mức bất bình đẳng giới trong thu nhập Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp gợi ý chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự bất bình đẳng về thu nhập giữa nam và nữ, với lao động nữ chỉ nhận 86% mức lương cơ bản của nam giới Tỷ trọng tiền lương cơ bản của lao động nữ trong tổng thu nhập là 71%, thấp hơn so với 73% của nam giới Tiền công chiếm phần lớn trong cơ cấu thu nhập, và lao động nữ trong mọi loại hình doanh nghiệp đều có mức lương cơ bản thấp hơn khoảng 68% so với lao động nam Các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ có mức trả lương tương đối bình đẳng hơn, do không chịu sự điều chỉnh của pháp luật Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự (2007) cho thấy giới tính và ngành nghề có ảnh hưởng đến thu nhập của lao động tại Việt Nam.

2.3.2.3 Hồ Đức Hùng và cộng sự (2008) nghiên cứu “Các đặc điểm của việc làm trong khu vực phi chính thức của người lao động Việt Nam” - Đề tài Nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu từ điều tra mức sống dân cư (VHLSS) của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức của người lao động Mục tiêu là đề xuất các chính sách phát triển thị trường lao động và cải cách khung pháp lý nhằm nâng cao chất lượng việc làm trong khu vực này.

Mô hình tham gia vào việc làm khu vực kinh tế phi chính thức của người lao động được xác định bởi nhiều yếu tố như quy mô hộ, giới tính, công chức, làm thêm, khu vực sinh sống, tuổi, tình trạng hôn nhân, giáo dục nghề, địa điểm kinh doanh và yếu tố vùng Kết quả cho thấy quy mô hộ và giới tính nam có tác động tích cực đến khả năng tham gia vào việc làm phi chính thức, trong khi công chức, làm thêm và khu vực sinh sống tại thành phố lại có tác động tiêu cực Đặc biệt, người lao động nông thôn có xu hướng tham gia cao hơn, trong khi tuổi tác và trình độ học vấn thấp cũng làm giảm khả năng tham gia vào khu vực này.

Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều yếu tố như giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, dân tộc, nghề tự do, làm thêm, khu vực sinh sống, quy mô hộ, nghề nghiệp và địa điểm kinh doanh đều ảnh hưởng đến việc làm trong khu vực phi chính thức của người lao động Việt Nam Tác giả đã tái sử dụng các biến này trong nghiên cứu của mình để phân tích sâu hơn.

2.3.2.4 Nghiên cứu “Sự khác nhau gi a lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức và chính thức tại thành phố Hồ Chí Minh” Nguyễn Thanh Bình (2014)

Nghiên cứu này phân tích vai trò của lao động trong hai khu vực kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh, dựa trên dữ liệu thứ cấp từ cuộc khảo sát lao động việc làm năm 2012 với 945 hộ gia đình, tương đương 11.340 quan sát Mô hình hồi quy tuyến tính logarit được sử dụng để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình trong khu vực kinh tế phi chính thức Các yếu tố bao gồm: thu nhập tiền ương hàng tháng của người lao động, số năm kinh nghiệm, số năm học, tình trạng cư trú, giới tính, tình trạng hôn nhân, ngành nghề, dân tộc và thành phố cư trú.

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nghiên cứu này áp dụng mô hình hồi quy theo hàm thu nhập của Mincer để ước lượng ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập bình quân của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại Tp Hồ Chí Minh.

Mô hình nghiên cứu đề nghị

Chương 2 trình bày các khái niệm thu nhập, khu vực kinh tế phi chính thức, khu vực kinh tế phi chính thức ở Tp Hồ Chí Minh và các lý thuyết: lý thuyết kinh tế học về lao động, lý thuyết hàm thu nhập của Mincer

Chương 2 của bài viết tổng hợp các nghiên cứu trước đây, bao gồm 2 nghiên cứu quốc tế và 4 nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài Dựa trên những nghiên cứu này, tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu cơ sở nhằm phát triển nội dung nghiên cứu của đề tài.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quy trình thực hiện nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan

Kiểm định các giả thiết đã đề ra

Phân tích tương quan, hồi quy đa biến

Mô hình nghiên cứu & giải thích các biến, kỳ vọng dấu

Từ mô hình nghiên cứu sơ bộ đề xuất, có 14 biến độc lập ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động

Mô hình nghiên cứu dạng tổng quát:

Trong đó: Ln Y là biến phụ thuộc β 0 : là hệ số gốc (hằng số)

X 1 …X 14 : là các biến độc lập β 1… β 14: là các hệ số hồi quy của các biến số e là sai số ngẫu nhiên

Mô hình nghiên cứu chi tiết:

Mô hình Ln Y (thu nhập hằng tháng của người lao động) được xác định bởi nhiều yếu tố, bao gồm giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, tình trạng hôn nhân, thành phần dân tộc, tình trạng di cư, tình trạng cư trú (thành thị hoặc nông thôn), số giờ làm việc, ngành nghề, công việc trước đây, quy mô hộ gia đình, địa điểm kinh doanh và khả năng làm thêm Các yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của người lao động, từ đó giúp phân tích và hiểu rõ hơn về sự biến động trong thu nhập hằng tháng.

3.2.2 Giải thích các biến, kỳ vọng dấu

Thu nhập bình quân hằng tháng của người lao động, được ký hiệu là Y, là một biến định lượng được tính bằng ngàn đồng mỗi tháng Biến này sử dụng logarithm tự nhiên (Ln) để biểu diễn thu nhập bình quân hằng tháng của người lao động.

Biến giả X1 (Giới tính) có giá trị 1 cho nam giới và 0 cho nữ giới, với kỳ vọng mang dấu dương (+) Điều này cho thấy nam giới thường có thu nhập bình quân cao hơn nữ giới, do họ thường có mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn và dễ dàng tìm kiếm việc làm với mức thu nhập cao hơn.

Tuổi của lao động (X2) là một biến định lượng, đo bằng số năm sống của người lao động, và thường có mối tương quan thuận với thu nhập bình quân (Y) Điều này có nghĩa là, người lao động trong độ tuổi lao động càng cao thường có nhiều kinh nghiệm làm việc hơn, dẫn đến năng suất lao động cao hơn Ngoài ra, những người này thường ưa thích các nghề nghiệp tự do, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chọn lựa công việc trong khu vực kinh tế phi chính thức.

Trình độ học vấn của lao động, được đo bằng số năm đi học, có tác động tích cực đến thu nhập và năng suất lao động Lao động có trình độ học vấn cao hơn thường có khả năng tìm kiếm việc làm với thu nhập cao hơn, đồng thời năng suất lao động cũng được cải thiện.

Biến giả X4 (Kinh nghiệm) được mã hóa với giá trị 1 nếu có kinh nghiệm và 0 nếu không, với kỳ vọng có mối quan hệ thuận với thu nhập bình quân Y Người lao động có kinh nghiệm thường dễ dàng tìm kiếm việc làm với thu nhập cao hơn, đồng thời kinh nghiệm cũng nâng cao hiệu quả và năng suất lao động so với những người không có hoặc có ít kinh nghiệm.

Tình trạng hôn nhân (biến giả X5) được mã hóa đơn giản với giá trị 1 cho những lao động đang có vợ/chồng và giá trị 0 cho các tình trạng khác như ly thân, đã ly hôn hoặc độc thân Biến này kỳ vọng có mối quan hệ tương quan thuận với biến phụ thuộc.

Người lao động có gia đình thường phải đối mặt với áp lực tài chính lớn, vì vậy họ nỗ lực tìm kiếm việc làm có thu nhập cao và ổn định Để tăng thu nhập, họ thường làm thêm giờ hoặc nhận thêm công việc phụ.

Biến thành phần dân tộc trong nghiên cứu này được mã hóa đơn giản, với dân tộc Kinh nhận giá trị 1 và các dân tộc khác nhận giá trị 0 Việt Nam có sự đa dạng về dân tộc, bao gồm Kinh, Khơ Me, Chăm, và nhiều nhóm khác Biến này dự kiến có mối quan hệ tích cực với thu nhập bình quân (Y), cho thấy rằng lao động từ dân tộc Kinh thường có thu nhập cao hơn.

Kinh phổ biến ở Việt Nam, họ có điều kiện học tập, tìm việc, dễ hơn những dân tộc khác

Biến di cư (X7) được mã hóa với giá trị 1 cho những lao động di cư từ nơi khác đến TP HCM dưới 6 tháng, và giá trị 0 cho những người khác Biến này kỳ vọng có mối quan hệ nghịch với thu nhập bình quân (Y), cho thấy rằng di cư có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập Trong nghiên cứu này, di cư được định nghĩa là những cá nhân từ 15 tuổi trở lên chuyển đến TP HCM từ tỉnh khác trong vòng 12 tháng trước điều tra Người lao động di cư thường thiếu thông tin về việc làm và nghề nghiệp, dẫn đến việc họ thường phải chấp nhận các công việc có thu nhập thấp.

Biến thành thị - nông thôn được định nghĩa là biến giả, với giá trị 1 nếu người lao động cư trú tại khu vực thành thị và 0 nếu ở khu vực nông thôn Biến này dự kiến có dấu dương (+), cho thấy mối quan hệ thuận với thu nhập bình quân (Y) Người lao động tại khu vực thành thị thường có nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cao hơn, đồng thời khu vực này cũng cung cấp nhiều việc làm hơn so với khu vực nông thôn.

Biến X 9 (Số giờ làm việc – giờ/tuần) là một biến định lượng, thể hiện tổng số giờ làm việc trung bình của người lao động trong một tuần Biến này thường có giá trị dương, vì số giờ làm việc càng cao đồng nghĩa với thu nhập cao hơn, bao gồm cả tiền lương từ làm thêm giờ và ngoài giờ.

Biến giả X10 trong ngành kinh doanh xác định giá trị 1 cho người lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và giá trị 0 cho những người làm việc trong lĩnh vực dịch vụ Với sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp tại Tp Hồ Chí Minh, biến này được kỳ vọng mang dấu dương, phản ánh tính ổn định cao và mức lương hấp dẫn hơn cho người lao động trong khu vực này.

Biến X11 (Việc làm trước đây) là một biến giả, nhận giá trị 1 nếu người lao động từng có việc làm và 0 nếu không Biến này dự kiến có mối quan hệ thuận với thu nhập bình quân Y, vì những người đã có kinh nghiệm làm việc sẽ có khả năng tìm kiếm việc làm tốt hơn và chỉ chuyển việc khi có cơ hội với thu nhập cao hơn.

Số lượng thành viên trong hộ gia đình có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập bình quân, theo nghiên cứu của Okurut (2006) Cụ thể, khi số thành viên trong hộ tăng lên, khả năng sản xuất cũng gia tăng, từ đó dẫn đến thu nhập cao hơn cho hộ gia đình.

Mẫu nghiên cứu và phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu

Việc làm trước đây Có làm việc làm trước đây = 1, trước đây không làm việc

Hồ Đức Hùng và cộng sự

Quy mô hô Số người trong gia đình +

Huỳnh Thanh Phương và Nguyễn Văn Phúc (2011), Hồ Đức Hùng và cộng sự (2008) Địa điểm kinh doanh Địa điểm cố định 1, địa điểm di động

Hồ Đức Hùng và cộng sự

Làm thêm việc Có làm thêm viêc 1, không làm thêm việc = 0

Hồ Đức Hùng và cộng sự

3.3 Mẫu nghiên cứu và phương pháp xử lý d liệu nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ cuộc điều tra lao động việc làm năm 2014 tại Thành phố Hồ Chí Minh, với mẫu khảo sát gồm 11.340 hộ gia đình và tổng cộng 41.424 nhân khẩu Các hộ gia đình trong nghiên cứu có từ 1 đến 15 thành viên.

Nghiên cứu này tập trung vào lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức nhằm đánh giá thu nhập của người lao động trong lĩnh vực này, do đó, một số tiêu chí cụ thể đã được thiết lập.

- Cơ sở nơi người lao động làm việc là hộ/cá nhân (Câu 23 mã 1)

- Ngành nghề làm việc không phải là ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (Câu 25 có mã từ “0111” đến mã “0323”)

- Các cá nhân phải có mức thu nhập lớn hơn 0 (câu 38 + câu 40 + câu 59 + câu

Sau khi lọc dữ liệu với những tiêu chí như trên, kết quả còn lại 1.575 nhân khẩu phù hợp với tiêu chí đã đề ra

Dựa vào phiếu điều tra lao động việc làm 2014, tác giả lọc số liệu như sau:

 Giới tính của người lao động: câu 3 trang 2

 Tuổi của người lao động: câu 5 trang 2

 Trình độ (số năm đi học) của người lao động: câu 15 trang 4

 Kinh nghiệm làm việc của người lao động: câu 34 trang 9

 Tình trạng hôn nhân của người lao động: câu 8 trang 3

 Dân tộc của người lao động: câu 6 trang 2

 Tình trạng di cư của người lao động: câu 9 trang 3

 Thành thị - nông thôn: định danh trang 1

 Giờ làm việc của người lao động: câu 41 trang 10

 Ngành kinh doanh: câu 25 kết hợp câu 22 trang 6

 Việc làm trước đây: câu 35 trang 9

 Quy mô hộ: định danh trang 1

 Địa điểm kinh doanh: câu 26 trang 7

 Có làm thêm việc: câu 45 trang 11

3.3.3 Phương pháp xử lý d liệu nghiên cứu

Sau khi khảo sát và thu thập thông tin, các phiếu sẽ được kiểm tra độ hoàn chỉnh; những phiếu thiếu thông tin sẽ bị loại bỏ Tiếp theo, dữ liệu sẽ được mã hoá, nhập và hiệu chỉnh trước khi phân tích Sau khi hoàn tất việc nhập dữ liệu, sẽ tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên một số mẫu để đảm bảo tính chính xác Luận văn sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để thực hiện phân tích dữ liệu.

Luận văn sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả như tần suất, tỉ lệ, trung bình cộng, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất và các biểu đồ thống kê để cung cấp cái nhìn tổng quan về các mẫu nghiên cứu Phân tích thống kê mô tả giúp tổng hợp và trình bày thông tin một cách rõ ràng và dễ hiểu.

Phương pháp hồi quy tuyến tính bội được áp dụng để nhận diện và xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố độc lập đến yếu tố phụ thuộc Luận văn này sử dụng phương pháp hồi quy Enter, một lựa chọn phổ biến trong phân tích hồi quy tuyến tính nhằm khẳng định tầm quan trọng của các yếu tố độc lập.

Cách đánh giá độ phù hợp của mô hình

Để đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy đa biến với dữ liệu nghiên cứu, Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) khuyến nghị sử dụng hệ số R Square hiệu chỉnh Hệ số này càng gần giá trị 1.00 thì chứng tỏ mô hình càng phù hợp với dữ liệu mẫu.

Hệ số R² là thước đo mức độ phù hợp của phương trình hồi quy, với giá trị dao động từ 0 đến 1 Giá trị R² càng cao cho thấy mô hình có khả năng giải thích dữ liệu mạnh mẽ hơn.

Hệ số R² thể hiện tỷ lệ phần trăm biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích bởi biến độc lập Khi số lượng biến độc lập trong mô hình tăng lên, hệ số R² cũng tăng theo Tuy nhiên, R² điều chỉnh là một chỉ số đã được điều chỉnh để phản ánh chính xác hơn mức độ phù hợp của mô hình hồi quy, vì nó xem xét số lượng biến độc lập R² điều chỉnh không nhất thiết phải tăng khi thêm biến độc lập, do đó, việc sử dụng nó để đánh giá độ phù hợp của mô hình là an toàn hơn Mức ý nghĩa của R² điều chỉnh được kiểm định thông qua phương pháp F-test.

Thực hiện các kiểm định xem mức độ phù hợp của mô hình:

Kiểm định F-test là một phương pháp kiểm định giả thuyết nhằm đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính tổng thể Mục tiêu của kiểm định này là xác định mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập Giả thuyết H0 được thiết lập là R² = 0, tương đương với β1 = β2.

= =β k = =β p =0 và khi giả thuyết H 0 bị bác bỏ, điều này cũng có nghĩa là mô hình ta xây dựng phù hợp với dữ liệu

Kiểm định T-test được sử dụng để xác định mức ý nghĩa của hệ số β, với thông số Sig trong bảng Coefficients Thông thường, các nghiên cứu chọn mức ý nghĩa 95%, tức là chỉ những hệ số β có Sig < 0,05 mới được coi là có ý nghĩa thống kê.

Kiểm định quan hệ tuyến tính thông qua đồ thị Scatterplot cho thấy nếu các điểm phần dư phân tán ngẫu nhiên xung quanh đường tung độ bằng 0 mà không theo một trật tự hay hình dáng cụ thể nào, thì giả định về tính tuyến tính được coi là thỏa mãn.

 Kiểm định phần dư có phân phối chuẩn: xây dựng biểu đồ phân tán của phần dư xem xét biểu đồ Norman Probability Plot của phần dư

Kiểm định phương sai đồng nhất là phương pháp đo lường mức độ phân tán của phần dư (e) xung quanh giá trị trung bình 0 Việc có phương sai của độ sai số không đổi đảm bảo rằng mức độ phân tán là như nhau cho tất cả các quan sát Nếu phương sai của độ sai số thay đổi, điều này sẽ ảnh hưởng đến tính hiệu quả của ước lượng.

Chương 3 đã trình bày mô hình nghiên cứu, kỳ vọng dấu và giải thích ý nghĩa của từng biến Bên cạnh đó, tác giả trình bày cách lấy mẫu, xử lý và quy trình nghiên cứu Chương 4 tiếp theo sẽ trình bày kết quả nghiên cứu phân tích từng thông tin thống kê của các số liệu thu thập được.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả thống kê mô tả

Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu điều tra lao động việc làm năm 2014 tại Tp

Bài viết dựa trên dữ liệu từ cuộc điều tra với 11.340 hộ gia đình trên toàn quốc, tổng cộng 41.424 nhân khẩu, trong đó các hộ có từ 1 đến 15 thành viên Chỉ những thành viên làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức được xem xét Mô hình nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lao động, với điều kiện lọc duy nhất là cá nhân có mức thu nhập lớn hơn 0, dẫn đến số quan sát là 1.575.

4.1.2 Các biến liên quan đến lao động

Hình 4.1: Nhóm tuổi của lao động

Trong mẫu điều tra, người lao động trong độ tuổi từ 30 – 45 chiếm 47,4% với 747 người, cho thấy nhóm tuổi trung niên này vẫn còn khả năng lao động và cần công việc để ổn định cuộc sống Họ có xu hướng tự kinh doanh và làm nghề tự do Nhóm tuổi dưới 30 tuổi, với 426 người (27%), rất linh hoạt và có khả năng tìm kiếm việc làm cao Nhóm tuổi từ 45 – 60 cũng chiếm 23,7% với 373 người, trong khi những người trên 60 tuổi chiếm 1,8% Điều này chứng tỏ rằng mọi độ tuổi đều có nhu cầu tìm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức.

Hình 4.2: Giới tính của lao động

Giới tính của người lao động ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập Nghiên cứu với 1.575 người cho thấy có 1.056 nam giới, chiếm 67% tổng mẫu, trong khi số lao động nữ còn lại.

Trong nghiên cứu, 519 người tham gia, tương đương 33% mẫu khảo sát, cho thấy tỷ lệ lao động nam trong khu vực kinh tế phi chính thức gấp đôi so với lao động nữ.

Trình độ học vấn của người lao động ảnh hưởng lớn đến khả năng nhận thức và thu nhập của họ Trong mẫu nghiên cứu, 2,5% người lao động không đi học, cho thấy vẫn còn một số ít người không biết đọc biết viết Hơn 36% trong số đó chỉ có trình độ tiểu học, trong khi chỉ có 0,7% đạt trình độ cao đẳng Điều này cho thấy trình độ học vấn của lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng thu nhập của họ.

Hình 4.3: Số năm đi học của lao động

Năm đi học Số lượng

Hình 4.4: Tình trạng hôn nhân của lao động

Hôn nhân ảnh hưởng đáng kể đến kinh tế của người lao động, với những người có gia đình thường phải đối mặt với áp lực tài chính lớn hơn so với người độc thân Những cá nhân tự kinh doanh hoặc làm nghề tự do, chủ yếu là người trung niên, thường tập trung vào việc phát triển kinh tế gia đình Trong một mẫu nghiên cứu, 66% trong số 1046 người tham gia cho biết họ đã có gia đình, trong khi 34% còn lại là những người độc thân, ly dị hoặc thuộc các trường hợp khác.

Kết quả này là phù hợp cho thấy, gia đình chính là động lực để người lao động tìm thêm thu nhập

Hình 4.5: Dân tộc của lao động

Hầu hết người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức chủ yếu là người dân tộc Kinh, với 1.508 người, chiếm 96% tổng số lao động Điều này cho thấy sự hoạt động mạnh mẽ của người lao động dân tộc Kinh trong lĩnh vực này, phản ánh tỷ lệ chiếm đa số của họ trong xã hội.

Hình 4.6: Tình trạng di cư của lao động

Theo nghiên cứu, chỉ có 1% người di cư vào TPHCM dưới 6 tháng, trong khi 99% còn lại thuộc các nhóm di cư khác, cho thấy rằng làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức không phải là mục tiêu cuối cùng của họ Thành phố Hồ Chí Minh, với vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa và giáo dục của cả nước, thu hút đông đảo học sinh, sinh viên và lao động đến học tập và làm việc.

Hình 4.7: Kinh nghiệm của lao động

Trong 1.575 người ở mẫu nghiên cứu thì đa phần người lao động có kinh nghiệm (đi làm trên 1 năm) là 1.426 người chiếm 91%, người lao động không có kinh nghiệm chiếm 9% trong mẫu nghiên cứu Điều này chứng tỏ thâm niên của người lao động hoạt động trong khu vực kinh tế phi chính thức rất cao vì phần đông độ tuổi của người lao động trong khu vực này từ trung niên trở lên

4.1.3 Các biến hộ gia đình của người lao động

Hình 4.8: Quy mô hộ gia đình

Theo nghiên cứu, quy mô hộ gia đình của người lao động thường tập trung vào khoảng 4 người, chủ yếu là gia đình 2 thế hệ Có 489 người tham gia khảo sát cho biết hộ gia đình của họ có 4 thành viên, tiếp theo là gia đình có 3 thành viên Mẫu nghiên cứu cho thấy gia đình có từ 3 đến 6 thành viên là phổ biến trong xã hội hiện nay Số lượng thành viên trong hộ gia đình ảnh hưởng đến thu nhập, do tác động đến số lượng lao động trong hộ.

Hình 4.9: Thành thị - nông thôn của hộ gia đình

Vị trí địa lý ảnh hưởng lớn đến điều kiện sống, sinh hoạt và khả năng tiếp cận thông tin của người lao động Theo khảo sát, 66% người lao động thuộc khu vực nông thôn và chỉ 34% thuộc khu vực thành thị, cho thấy phần lớn lao động trong lĩnh vực kinh tế phi chính thức tập trung tại nông thôn.

Trong mẫu nghiên cứu, có 1.016 người lao động, chiếm 65%, làm việc trong các ngành nghề khác, chủ yếu do họ tập trung ở vùng nông thôn và không thể tham gia vào các khu công nghiệp Ngành công nghiệp chỉ chiếm 35% trong tổng số mẫu nghiên cứu.

4.1.4 Các biến liên quan đến thu nhập của người lao động

Hình 4.11: Việc làm trước đây ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động

Không làm việc trước đây 66 4%

Theo nghiên cứu, 96% người lao động trong mẫu khảo sát có kinh nghiệm làm việc trước đó, trong khi chỉ 4% chưa từng đi làm Điều này cho thấy phần lớn người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức chủ yếu là những người ở độ tuổi trung niên trở lên, với đa số đã tích lũy kinh nghiệm từ các công việc trước đây.

Hình 4.12: Có làm thêm việc

Người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức cần tìm thêm việc làm để tăng thu nhập, theo nghiên cứu 1.575 mẫu cho thấy 99% (1.557 người) đã làm thêm việc Điều này chứng minh rằng thu nhập từ công việc chính không đủ để nuôi sống gia đình.

Kết quả phân tích tương quan

Bảng 4.2: Kết quả hệ số tương quan Biến

Tương quan Thống kê đa cộng tuyến

Trình độ (số năm đi học) 0,168 0,139 0,913 1,095

Quy mô hộ -0,042 -0,035 0,950 1,053 Địa điểm kinh doanh -0,081 -0,066 0,920 1,087

Trước khi thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính, cần tiến hành phân tích mối tương quan giữa các biến Sử dụng ma trận hệ số tương quan để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến độc lập thông qua hệ số Pearson Correlation Nếu hệ số này lớn hơn 1, có thể xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến Các nhà nghiên cứu thường áp dụng tiêu chí VIF < 10 để xác định hiện tượng này Nếu các biến trong mô hình có hệ số VIF nhỏ hơn 5 (1≤ VIF≤ 5), có thể kết luận rằng không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến trong mô hình.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng với 14 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc là thu nhập của lao động Trong số 14 biến, có 12 biến có ý nghĩa thống kê, cho thấy chúng tác động đến thu nhập Cụ thể, 9 biến có hệ số hồi quy dương và 3 biến có hệ số hồi quy âm.

Có 9 biến độc lập có mức ý nghĩa 1% là:

- Giới tính người lao động (β = 0,303)

- Trình độ học vấn (số năm đi học) người lao động (β = 0,016)

- Số giờ làm việc trong 1 tuần (β = 0,008)

Có 2 biến độc lập có mức ý nghĩa 5% là:

Có 1 biến độc lập có mức ý nghĩa 10% là:

- Quy mô hộ gia đình của người lao động (β = -0,008)

Kết quả nghiên cứu phù hợp với thực tế, phù hợp với đối tượng và mục tiêu của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức

Bảng 4.3: Kết quả phân tích hồi quy

Các biến trong mô hình

Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa

Hệ số hồi quy chuẩn hóa

Trình độ (số năm đi học) 0,016*** 0,002 0,145 6,741 0,000 1,095 Kinh nghiệm làm việc 0,253*** 0,037 0,187 6,765 0,000 1,817 Tình trạng hôn nhân 0,061*** 0,018 0,073 3,319 0,001 1,147

Ngành kinh doanh 0,130*** 0,019 0,157 6,754 0,000 1,273 Việc làm trước đây 0,110** 0,054 0,056 2,042 0,041 1,753

Quy mô hộ -0,008* 0,005 -0,035 -1,678 0,094 1,053 Địa điểm kinh doanh -0,091*** 0,028 -0,069 -3,208 0,001 1,087 Làm thêm việc -0,375*** 0,077 -0,101 -4,846 0,000 1,025 a Biến phụ thuộc: Ln_TNLD

Ghi ch : ***,** và* nghĩa à ức ý nghĩa 1%,5% và 10%

Kết quả kiểm định mô hình

4.3.1 Kiểm định độ phù hợp của mô hình

Bảng 4.4: Mô hình tóm tắt

Mô hình Hệ số R Hệ số R 2 Hệ số R 2 hiệu chỉnh

Sai số chuẩn của ước lượng (Std Error of the Estimate)

Hệ số R² là 0,342 và hệ số R² hiệu chỉnh là 0,336, cho thấy các biến trong mô hình có khả năng giải thích 33,6% sự chênh lệch giữa thu nhập thực tế và thu nhập giả định của người lao động (tham khảo bảng 4.4).

Tất cả các nhóm biến có ý nghĩa thống kê đều có hệ số hồi quy (B) phù hợp với giả thuyết kỳ vọng Kiểm định F trong bảng phân tích phương sai (ANOVA) được sử dụng để kiểm tra độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính.

Giá trị F là 57,719 với Sig = 0,000 cho thấy mô hình hồi quy được xây dựng có tính chấp nhận cao, đồng nghĩa với việc nó phù hợp với tổng thể Do đó, kết quả hồi quy này có thể được tin cậy và phản ánh đúng thực tế.

Bảng 4.5: phân tích phương sai (Anova)

Mô hình Tổng bình phương df Trung bình bình phương Giá trị F Giá trị

Biến phụ thuộc: Ln_TNLD

4.3.3 Kiểm định phân phối chuẩn của phần dƣ

Phương pháp kiểm định phân phối chuẩn của phần dư được thực hiện thông qua việc xây dựng biểu đồ tần số (histogram) của các phần dư, với giả định rằng các phần dư này tuân theo phân phối chuẩn Điều này có nghĩa là trung bình (mean) của phần dư bằng 0 và độ lệch chuẩn (Std.Dev) bằng 1 Biểu đồ histogram sẽ giúp trực quan hóa sự phân bố của các phần dư và kiểm tra giả thuyết về phân phối chuẩn.

Phân phối phần dư của mô hình giữa biến phụ thuộc (số tiền vay) và các biến độc lập gần đạt chuẩn, với trung bình là -1,79E-13 (gần bằng 0) và độ lệch chuẩn là 0,996 (gần bằng 1) Điều này cho thấy giả thuyết phân phối chuẩn không bị vi phạm, khẳng định rằng mô hình nghiên cứu phù hợp với điều kiện thực tế.

Hình 4.12: Biểu đồ phân dư

Hình 4.13: đồ thị Normal P-P để quan sát

Theo kết quả phân tích, giá trị Skewness là 0,062, nằm trong khoảng chấp nhận được từ -0,5 đến 0,5, cho thấy điều kiện phương sai đồng nhất đã được thỏa mãn Bên cạnh đó, giá trị Kurtosis là 0,123 cũng nằm trong khoảng chấp nhận từ -1 đến 1, xác nhận thêm rằng điều kiện phương sai đồng nhất đã thỏa mãn.

Phân tích kết quả hồi quy

Mô hình được viết lại:

Mô hình thu nhập hằng tháng của người lao động được xác định bởi nhiều yếu tố, bao gồm giới tính, trình độ học vấn, kinh nghiệm, tình trạng hôn nhân, tình trạng di cư, và tình trạng cư trú (thành thị hoặc nông thôn) Cụ thể, thu nhập hằng tháng (Ln Y) tăng lên khi người lao động có trình độ học vấn cao hơn, nhiều kinh nghiệm, và sống ở khu vực thành phố Ngoài ra, số giờ làm việc, ngành kinh doanh, và việc làm trước đây cũng ảnh hưởng tích cực đến thu nhập Tuy nhiên, quy mô hộ và địa điểm kinh doanh có tác động tiêu cực, và việc làm thêm có thể làm giảm thu nhập của người lao động.

4.4.1 Các biến có ý nghĩa thống kê

Giới tính của người lao động có hệ số β = 0,303, cho thấy mối liên hệ tích cực giữa biến này và kết quả hồi quy, phù hợp với kỳ vọng ban đầu và nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình.

Nghiên cứu của Hồ Đức Hùng và cộng sự (2014), Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự (2007), cùng với Huỳnh Thanh Phương và Nguyễn Văn Phúc (2011) cho thấy, với mức ý nghĩa 1% (α = 0,000), lao động nam trong khu vực kinh tế phi chính thức có thu nhập cao hơn lao động nữ tới 35,33% khi các yếu tố khác không đổi Kết quả này phản ánh thực tế rằng nam giới có khả năng làm nhiều loại công việc và dễ dàng thay đổi công việc hơn, do đặc điểm không ổn định của khu vực kinh tế phi chính thức.

Biến “Số năm đi học của người lao động” có hệ số β = 0,016 dương, khẳng định rằng khi số năm đi học tăng lên, thu nhập của người lao động cũng tăng theo Kết quả hồi quy này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thanh Bình (2014), Hồ Đức Hùng và cộng sự (2008), Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự (2007), cùng với Huỳnh Thanh Phương và Nguyễn Văn Phúc (2011) Với mức ý nghĩa 1% (α = 0,000), giả định các yếu tố khác không đổi, mỗi năm học thêm sẽ làm tăng thu nhập 1,66% Điều này cho thấy rằng việc nâng cao trình độ học vấn giúp người lao động dễ dàng tìm kiếm việc làm với thu nhập cao hơn và có khả năng thay đổi công việc tốt hơn, từ đó cải thiện thu nhập.

Kinh nghiệm làm việc của người lao động có hệ số hồi quy β = 0,253, cho thấy mối quan hệ tích cực với thu nhập Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2014) và Huỳnh Thanh Phương cùng Nguyễn Văn Phúc (2011) Tại mức ý nghĩa 1% (α = 0,000), khi người lao động tăng 1 năm kinh nghiệm, thu nhập của họ sẽ tăng 28,80% Điều này phản ánh thực tế rằng kinh nghiệm làm việc càng cao, khả năng tìm kiếm công việc với mức thu nhập tốt hơn cũng tăng theo, dẫn đến cải thiện thu nhập cho người lao động.

Tình trạng hôn nhân của người lao động có hệ số β = 0,061, đứng thứ 9 trong 12 biến có ý nghĩa thống kê và mang dấu dương Kết quả hồi quy phù hợp với nghiên cứu của Hồ Đức Hùng và cộng sự (2008), Nguyễn Thanh Bình (2014), cho thấy với mức ý nghĩa 1% (α = 0,001), giả định các yếu tố khác không đổi, người lao động có gia đình có thu nhập tăng 6,31% Điều này phản ánh thực tế rằng người lao động có gia đình thường phải nỗ lực tìm kiếm thu nhập đủ để nuôi sống gia đình, dẫn đến việc họ có thể làm nhiều việc và tăng số giờ làm để kiếm thêm thu nhập.

Biến "Di cư" có hệ số hồi quy β = -0,045, cho thấy mối quan hệ âm với kết quả nghiên cứu, phù hợp với kỳ vọng ban đầu và mô hình của Nguyễn Thanh Bình (2014) cũng như nghiên cứu của Hồ Đức Hùng và cộng sự (2008) Kết quả này đạt mức ý nghĩa 1% (α).

= 0,001), giả định các yếu tố khác không đổi, người lao động là người di cư trên 1 năm thì thu nhập giảm là 22,99%

Hệ số hồi quy β = 0,064 cho biến "Thành thị - Nông thôn" cho thấy mối quan hệ tích cực, phù hợp với nghiên cứu của Huỳnh Thanh Phương và Nguyễn Văn Phúc (2011), Nguyễn Thanh Bình (2014), nhưng khác với kết quả của Hồ Đức Hùng và cộng sự (2008) Với mức ý nghĩa 1% (α = 0,001), giả định các yếu tố khác không đổi, người lao động ở khu vực thành thị có thu nhập tăng 6,63% Điều này phản ánh thực tế rằng lao động tại thành phố có cơ hội tiếp cận tốt hơn với ngành công nghiệp, dịch vụ và thương mại, dẫn đến thu nhập cao hơn so với lao động ở nông thôn.

Biến "Giờ làm việc của người lao động" có hệ số β = 0,008, cho thấy mối quan hệ tích cực giữa thời gian làm việc và thu nhập Kết quả hồi quy này phù hợp với mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2014) và đạt mức ý nghĩa 1% (α = 0,001) Cụ thể, khi người lao động làm thêm 1 giờ, thu nhập của họ sẽ tăng 0,77%, phản ánh thực tế rằng làm thêm giờ sẽ mang lại thu nhập cao hơn.

Ngành kinh doanh có hệ số hồi quy β = 0,13, cho thấy mối quan hệ tích cực với thu nhập Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Maurizio (2010), Nguyễn Thị Nguyện và cộng sự (2007), và Nguyễn Thanh Bình (2014) Ở mức ý nghĩa 1% (α = 0,000), nếu các yếu tố khác không đổi, người lao động trong ngành công nghiệp sẽ có thu nhập tăng 13,83% Điều này phản ánh thực tế rằng thu nhập của người lao động trong ngành công nghiệp thường cao hơn so với các ngành khác.

Biến “Việc làm trước” có hệ số hồi quy β = 0,110, cho thấy mối quan hệ tích cực với thu nhập Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Hồ Đức Hùng và cộng sự (2008) và đạt mức ý nghĩa 1% (α = 0,001) Cụ thể, khi các yếu tố khác không đổi, người lao động đã có việc làm trước có thu nhập cao hơn 11,59% Điều này phản ánh thực tế rằng kinh nghiệm từ công việc trước giúp nâng cao thu nhập so với những lao động chưa từng có việc làm.

Biến “Quy mô hộ” có hệ số β = -0,008, cho thấy mối quan hệ tiêu cực với thu nhập Kết quả này không phù hợp với kỳ vọng ban đầu và mô hình nghiên cứu của Huỳnh Thanh Phương và Nguyễn Văn Phúc (2011) Với mức ý nghĩa 1% (α = 0,001), nếu gia đình người lao động tăng thêm 1 thành viên, thu nhập sẽ giảm 0,80% Điều này phản ánh thực tế rằng việc tăng số thành viên trong hộ sẽ làm gia tăng chi phí, dẫn đến giảm thu nhập.

Hệ số hồi quy β = -0,091 cho thấy địa điểm kinh doanh có ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, với mức giảm 8,67% khi địa điểm cố định Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Hồ Đức Hùng và cộng sự (2008), cho thấy rằng người lao động mưu sinh qua việc bán hàng rong và kinh doanh vỉa hè sẽ gặp khó khăn hơn khi địa điểm kinh doanh không linh hoạt, dẫn đến giảm thị phần khách hàng Tại Tp Hồ Chí Minh, kinh doanh hàng rong trở thành điều kiện cần thiết để đáp ứng nhu cầu của những người có thu nhập thấp, đặc biệt là những người không thể tiếp cận hàng hóa và dịch vụ tại các cửa hàng hay siêu thị vì lý do thu nhập hoặc phương tiện di chuyển.

Hệ số hồi quy cho biến "Làm thêm việc" là β = -0,375, cho thấy mối quan hệ tiêu cực Kết quả này không như kỳ vọng ban đầu và phù hợp với mô hình nghiên cứu đã đề ra.

Hồ Đức Hùng và cộng sự (2008) chỉ ra rằng, với mức ý nghĩa 1% (α = 0,000), thu nhập của người lao động sẽ giảm 31,27% bất chấp việc họ làm thêm nhiều công việc Kết quả này cho thấy một cái nhìn khác về khu vực kinh tế phi chính thức, khi người lao động có thu nhập thấp thường tìm thêm việc để cải thiện tình hình tài chính cho bản thân và gia đình Tuy nhiên, việc làm thêm quá nhiều khiến họ không đủ sức khỏe và thời gian cho công việc chính, từ đó ảnh hưởng đến năng suất và dẫn đến giảm thu nhập từ công việc chính Do đó, nguồn thu nhập chính từ công việc đầu tiên bị giảm sẽ kéo theo tổng thu nhập của người lao động giảm theo, chứng tỏ rằng việc làm thêm có thể khiến thu nhập của họ bị giảm.

4.4.2 Các biến không đạt mức ý nghĩa thống kê

Ngày đăng: 04/10/2023, 01:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Đường cung lao động trong quan điểm của kinh tế học cổ điển - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 2.1 Đường cung lao động trong quan điểm của kinh tế học cổ điển (Trang 16)
Hình 2.2: Đường cung lao động theo quan điểm của kinh tế học Keynes - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 2.2 Đường cung lao động theo quan điểm của kinh tế học Keynes (Trang 17)
Hình 4.1: Nhóm tuổi của lao động - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.1 Nhóm tuổi của lao động (Trang 35)
Hình 4.2: Giới tính của lao động - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.2 Giới tính của lao động (Trang 36)
Hình 4.3: Số năm đi học của lao động - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.3 Số năm đi học của lao động (Trang 37)
Hình 4.5: Dân tộc của lao động - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.5 Dân tộc của lao động (Trang 38)
Hình 4.6: Tình trạng di cư của lao động - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.6 Tình trạng di cư của lao động (Trang 38)
Hình 4.7: Kinh nghiệm của lao động - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.7 Kinh nghiệm của lao động (Trang 39)
Hình 4.8: Quy mô hộ gia đình - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.8 Quy mô hộ gia đình (Trang 39)
Hình 4.10: Ngành kinh doanh - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.10 Ngành kinh doanh (Trang 40)
Hình 4.9: Thành thị - nông thôn của hộ gia đình - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.9 Thành thị - nông thôn của hộ gia đình (Trang 40)
Hình 4.12: Có làm thêm việc - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.12 Có làm thêm việc (Trang 41)
Bảng 4.3: Kết quả phân tích hồi quy - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Bảng 4.3 Kết quả phân tích hồi quy (Trang 44)
Hình 4.12: Biểu đồ phân dư - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.12 Biểu đồ phân dư (Trang 46)
Hình 4.13: đồ thị Normal P-P để quan sát - Các yếu tố tác động thu nhập của lao động khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố hồ chí minh năm 2014
Hình 4.13 đồ thị Normal P-P để quan sát (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm