Việc nghiên cứu tác động của chi tiêu NSNN cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố của Việt Nam là cần thiết để từ đó gợi ý những chính sách phân bổ chi N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
BÙI THỊ HỒNG THỦY
TÁC ĐỘNG CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC TỈNH, THÀNH Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
BÙI THỊ HỒNG THỦY
TÁC ĐỘNG CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC TỈNH, THÀNH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế học
Mã số chuyên ngành : 60 03 01 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS TS HẠ THỊ THIỀU DAO
Tp Hồ Chí Minh, năm 2015
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Tên học viên: Bùi Thị Hồng Thủy
Học viên: lớp ME4B
Tên đề tài: “Tác động của chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo đến tăng
trưởng kinh tế tại các tỉnh, thành ở Việt Nam”
Luận văn của học viên Bùi Thị Hồng Thủy đạt yêu cầu của Luận văn thạc sỹ Đề nghị Khoa Đào tạo Sau đại học, trường Đại học Mở TP.HCM cho phép học viên làm thủ tục bảo vệ
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015
Giảng viên hướng dẫn
PGS TS Hạ Thị Thiều Dao
Trang 4Tôi cam đoan luận văn “Tác động của chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và
đào tạo đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh, thành ở Việt Nam” là bài nghiên cứu của
chính tôi
Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường Đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
TP Hồ Chí Minh, năm 2015
Bùi Thị Hồng Thủy
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báo cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô khoa sau đại học của Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học này
Và đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến người hướng dẫn khoa học của tôi - PGS TS Hạ Thị Thiều Dao đã tận tình hướng dẫn và góp ý cho tôi suốt thời gian thực hiện luận văn này
Tôi chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập
Cuối cùng, tôi xin chúc quý Thầy Cô, gia đình bạn bè và đồng nghiệp sức khoẻ
và thành đạt
Tác giả
Bùi Thị Hồng Thủy
Trang 6TÓM TẮT
Giáo dục, đào tạo và y tế luôn là vấn đề được quan tâm ở mọi quốc gia Vì đây
là vấn đề không những liên quan đến phúc lợi xã hội, nguồn nhân lực mà còn liên quan đến phát triển kinh tế Do đó, bên cạnh việc đầu tư chăm sóc sức khỏe thì đầu tư cho giáo dục và đào tạo được ưu tiên trong chính sách phát triển của nước ta Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của chi tiêu công cho giáo dục và đào tạo đối với tăng trưởng kinh tế ở quy mô cấp cấp tỉnh/vùng còn rất ít mà chủ yếu thực hiện ở quy mô quốc gia Với mức đầu tư ngân sách cho giáo dục và đào tạo ở các tỉnh, thành phố của Việt Nam chiếm tỷ lệ tương đối cao trong tổng chi NSNN cho giáo dục đào tạo của cả nước Việc nghiên cứu tác động của chi tiêu NSNN cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố của Việt Nam là cần thiết để từ đó gợi
ý những chính sách phân bổ chi NSNN cho giáo dục và đào tạo giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các địa phương của Việt Nam
Dựa trên mô hình tăng trưởng nội sinh và kế thừa các nghiên cứu trước, luận văn đã xây dựng mô hình nghiên cứu với các biến tác động đến tăng trưởng kinh tế: chi NSNN cho giáo dục và đào tạo như đại diện cho vốn nhân lực, tỷ lệ tử vong sơ trẻ
sơ sinh được sử dụng như đại diện cho vốn sức khỏe và chi đầu tư như dẫn xuất của vốn vật chất và lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế
Để đánh giá tác động giữa chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế, tác giả đã sử dụng dữ liệu chéo theo thời gian (dữ liệu bảng) của 63 tỉnh, thành trong giai đoạn 2004-2013, kết hợp với phương pháp phân tích đồng liên kết dữ liệu bảng và phương pháp phân tích hồi quy DOLS, FMOLS (Pedroni, 2000; 2001) để giải quyết các vấn đề các biến hồi quy không dừng, hiệu chỉnh các ước lượng sai lệch của phương pháp OLS, cũng như giải quyết các vấn đề tương quan chuỗi và vấn đề nội sinh làm sai lệch các ước lượng
Kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa trong dài hạn giữa các biến trong mô hình Chi NSNN cho giáo dục và đào tạo có tác động dương cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với mức 1% đối với tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố của Việt Nam Các yếu tố khác: vốn đầu tư, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế đều có ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố của Việt Nam
Trang 7MỤC LỤC
Trang
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
PHỤ LỤC vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU 1
DANH MỤC HÌNH VẼ ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 6
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.5 Dữ liệu nghiên cứu 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.7 Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài 7
1.8 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 9
2.1 Cơ sở lý thuyết 9
2.1.1 Khái quát về chi NSNN và chi NSNN cho giáo dục và đào tạo 9
2.1.2 Khái quát về tăng trưởng kinh tế và các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế 11
2.1.3 Lý thuyết về chi NSNN cho giáo dục 10
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước 12
2.2.1 Các nghiên thực nghiệm với dữ liệu chuỗi thời gian 15
2.2.2 Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng hoặc dữ liệu chéo 17
Trang 8CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Mô hình nghiên cứu 20
3.1.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu: 20
3.1.2 Mô tả các biến trong mô hình: 21
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 24
3.2.1 Dữ liệu bảng 24
3.2.2 Nguồn dữ liệu 25
3.3 Phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu 28
3.3.1 Kiểm định tính dừng của dữ liệu bảng: 30
3.3.2 Kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng (panel cointegration test) 32
3.3.3 Ước lượng hồi quy DOLS và FMOLS: 35
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG CHI NSNN CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ 37
4.1 Thực trạng về chi NSNN cho giáo dục và đào tạo ở các tỉnh, thành phố giai đoạn 2004-2013 37
4.2 Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố và các yếu tố liên quan đến tăng trưởng 41
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM TÁC ĐỘNG CỦA CHI NSNN CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 46
5.1 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình 486
5.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 50
5.3 Ước lượng và phân tích mô hình 50
5.3.1 Kiểm định tính dừng các biến 49
5.3.2 Kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng (Panel cointergration test) 51
5.3.3 Ước lượng mô hình bằng phương pháp DOLS và FMOLS 53
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN 61
6.1 Những điểm chính trong kết quả nghiên cứu 61
6.2 Các khuyến nghị chính sách 62
6.3 Hạn chế và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo 64
Trang 9PHỤ LỤC
Trang Phụ lục 1 Mô tả thống kê các biến 70
Phụ lục 2 Tương quan giữa các biến 71
Phụ lục 3 Phân tích mô hình thực nghiệm 72
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1 Tóm tắt biến và đo lường các biến trong mô hình 21
Bảng 5.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 46
Bảng 5.2 Ma trận tương quan các biến 48
Bảng 5.3 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho dữ liệu bảng 49
Bảng 5.4 Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng theo Pedroni 52
Bảng 5.5 Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng theo Kao 52
Bảng 5.6 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy 53
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 4.1: Tốc độ tăng chi NSNN cho GD &ĐT bình quân ở các tỉnh, thành phố
trong giai đoạn 2004-2013 37 Hình 4.2: Chi NSNN cho giáo dục và đào tạo các tỉnh, thành phố bình quân giai
đọan 2004-2013 38 Hình 4.3: Chi NSNN và Chi NSNN cho GD &ĐT bình quân và tỷ lệ chi NSNN cho
GD&ĐT trong tổng chi NSNN bình quân ở các tỉnh, thành phố 40 Hình 4.4: GDP thực tế và chi NSNN cho giáo dục và đào tạo bình quân của các tỉnh,
thành phố giai đoạn 2004-2013 41 Hình 4.5: GDP thực tế năm 2013 và tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân các tỉnh,
thành phố 2004-2013 42 Hình 4.6: GDP thực tế bình quân và tổng vốn đầu tư bình quân các tỉnh, thành phố
giai đoạn 2004- 2013 42 Hình 4.7: Lực lượng lao động và GDP thực tế năm 2013 các tỉnh, thành phố 43 Hình 4.8: Lực lượng lao động đang làm việc và tốc độ tăng lực lượng lao động bình
quân giai đoạn 2004-2013 của các tỉnh, thành phố 44 Hình 4.9: Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và GDP thực tế năm 2013 của các tỉnh, thành
phố 45
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADF (Augemented Dicky-Fuller) Kiểm định ADF (mở rộng của kiểm
định DF)
DOLS (Dynamic Ordinary Least Square) Phương pháp bình phương bé nhất
động ECM (Error Correction Model) Mô hình hiệu chỉnh sai số
FMOLS (Fully Modified Ordinary Least
Square)
Phương pháp bình phương bé nhất
đã được hiệu chỉnh hoàn toàn
GDP (Gross Domestic Product) Tổng sản phẩm trong nước
GLS (Generalized Least Squares) Phương pháp bình phương nhỏ nhất
tổng quát GMM (Generalized Method of
Moments)
Phương pháp hồi quy biến công cụ
ILO (International Labor Organization) Tổ chức lao động quốc tế
LSDV (Least Squares Dummy Variable) Phương pháp biến giả bình phương
nhỏ nhất
OECD (Organization for Economic
Cooperation and Development)
Scientific and Cultural Organizeation)
Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa
VAR (Vector Autoregression) Mô hình vectơ tự hồi quy
VECM (Vector Error Correction Model) Mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Trong bài viết về chi tiêu công cho giáo dục có tác động đến tăng trưởng kinh
tế hay không, tác giả Idrees và Siddiqi (2013) đã nhận định chi phí giáo dục là rất quan trọng cho việc hình thành nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế Nó không chỉ làm tăng nhu cầu giáo dục bằng cách hạ thấp chi phí của trình độ học vấn mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của nó Do đó, hình thành nguồn nhân lực là một yếu tố quyết định quan trọng của tăng trưởng Đầu tư nhiều hơn vào giáo dục dẫn đến hình thành nguồn nhân lực, điều này làm tăng năng suất lao động Tăng năng suất giảm thiểu lãng phí về nguồn lực và tăng mức sản lượng
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển kinh
tế xã hội nên từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” và một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước là: “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2011) Hơn nữa, theo Luật Giáo dục Việt Nam, mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện Đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển
Xuất phát từ quan điểm và vai trò của giáo dục và đào tạo nêu trên, thời gian qua nhà nước ta luôn quan tâm dành một tỷ lệ ngân sách thích đáng đầu tư cho giáo dục và đào tạo, có thể kể đến chủ trương lớn như Nghị quyết của Quốc hội số 37/2004/QH11 ngày 3 tháng 12 năm 2004 về việc dành 20% tổng chi ngân sách hàng năm cho giáo dục và đào tạo
Chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho giáo dục và đào tạo ở nước ta chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố Theo số liệu phân bổ dự toán chi ngân sách (NS) của Bộ Tài chính, trong tổng chi NSNN cho giáo dục và đào tạo cả nước giai đoạn 2004-
2013, có đến 76% thuộc NS địa phương do các tỉnh quản lý chi tiêu, còn lại 24% do
Bộ Giáo dục và đào tạo và các Bộ, ngành quản lý
Trang 14Trong số rất nhiều các khoản chi từ NSNN như: chi sự nghiệp văn hóa, phát thanh, truyền hình, chi lương hưu và đảm bảo xã hội, chi sự nghiệp kinh tế, chi sự nghiệp môi trường… thì chi cho giáo dục đào tạo ở các tỉnh trong thời gian qua chiếm tỷ trọng tương đối cao trong cơ cấu chi tiêu ngân sách ở các tỉnh, gần như là lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu Mức độ đầu tư chi NSNN cho giáo dục và đào tạo bình quân của các tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2004 -2013, chiếm 22,4% trên tổng chi ngân sách của các tỉnh này (theo số liệu chi NSNN của Bộ Tài chính) Nhưng liệu chi NSNN cho giáo dục và đào tạo của các tỉnh, thành phố ở nước ta có tác động đến tăng trưởng kinh tế hay không là vấn đề cần được quan tâm, xem xét dưới góc độ phân tích định lượng
Theo Trần Thọ Đạt: “Hầu hết các công trình nghiên cứu về vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng vĩ mô tập trung vào so sánh giữa các nước, sự bất đồng về hệ thống giáo dục thường khiến việc so sánh vốn con người giữa các khung khổ thể chế khác nhau của các nước trở nên vô cùng phức tạp Vì hệ thống giáo dục của các tỉnh hay các bang trong một quốc gia thống nhất thường khá tương đồng Đây có thể là nguyên nhân khiến một số nhà kinh tế tin rằng những nghiên cứu kiểm nghiệm các nguồn tăng trưởng dựa trên số liệu cấp vùng/tỉnh có thể cung cấp được nhiều thông tin hứa hẹn và khả quan hơn.”
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã đề cập đến vai trò của giáo dục và đào tạo đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hay ở các tỉnh, thành của Việt Nam như Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005), Trần Thọ Đạt và các cộng sự (2007),
Vũ Quang Huy (2012), Nguyễn Đăng Khoa (2013) Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu phân tích vai trò của giáo dục thông qua các thước đo vốn con người: số năm đi học bình quân, tỷ lệ nhập học bậc phổ thông hoặc chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục Nghiên cứu cụ thể về ảnh hưởng của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đối với tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố của Việt Nam với những thông tin dữ liệu cập nhật mới chưa được tìm thấy
Do đó, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tác động của chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh, thành ở Việt Nam” để đánh giá và định lượng về mối quan hệ giữa chi tiêu công cho giáo dục và
đào tạo và vấn đề tăng trưởng kinh tế ở các địa phương của Việt Nam
Trang 151.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích hiện trạng và định lượng tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố ở Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2013 Từ kết quả phân tích đưa ra gợi
ý chính sách phân bổ chi NSNN cho giáo dục và đào tạo giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành của Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi sau: “Chi NSNN cho giáo dục và đào tạo ở các tỉnh, thành phố có tác động đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành
ở Việt Nam hay không? Nếu có thì tác động như thế nào?”
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà luận văn hướng đến là mối liên hệ trong dài hạn giữa chi NSNN cho giáo dục và đào tạo và tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn phân tích các nhân tố sau: tổng sản phẩm (GDP) của các tỉnh, thành phố đại diện cho tăng trưởng kinh tế, chi NSNN cho giáo dục và đào tạo, vốn đầu tư, lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế và tỷ
lệ tử vong ở trẻ sơ sinh của 63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam
Kỳ nghiên cứu: dựa trên số liệu 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 10 năm từ 2004-2013 do Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính công bố
1.5 Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp thu thập từ niên giám thống kê hàng năm của 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2004-2013 do tổng cục Thống kê cung cấp và
số liệu quyết toán chi ngân sách nhà nước của Bộ Tài chính
Dữ liệu áp dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu bảng (panel data) với tập hợp các quan sát ở 63 tỉnh, thành phố và mỗi tỉnh theo thời gian 10 năm từ năm 2004 đến năm 2013, nên sẽ có 630 quan sát
Trang 161.6 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu để làm cơ sở phân tích Trên cơ sở mô hình xây dựng và dữ liệu thứ cấp thu thập được từ Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính, luận văn sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đo lường tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế thông qua ước lượng DOLS và FMOLS
Để thực hiện kiểm định mô hình theo phương pháp DOLS và FMOLS, trước tiên, tác giả tiến hành kiểm định tính dừng của dữ liệu bảng (hay kiểm tra nghiệm đơn vị dữ liệu bảng) Nếu các biến trong mô hình đều dừng có cùng bậc tích hợp thì tiến hành kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng (panel cointegration test) để làm cơ
sở ước lượng mô hình theo phương pháp DOLS và FMOLS
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thống kê mô tả để thống kê phân tích dữ liệu và
kỹ thuật tổng hợp, so sánh để phân tích, nhận xét về vấn đề nghiên cứu
1.7 Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa đề tài
Qua thực hiện tuần tự các bước trong phương pháp nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ trong dài hạn giữa các biến trong mô hình nghiên cứu Trong đó, chi NSNN cho giáo dục và đào tạo có tác động tích cực đến sản lượng của nền kinh tế các tỉnh, thành trong dài hạn Mức độ tác động cao nhất trong các biến của mô hình nghiên cứu Bên cạnh đó, vốn đầu tư và lực lượng lao động đang làm việc cũng có đóng góp tích cực đến sản lượng của mỗi tỉnh, thành phố Riêng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh có chiều hướng tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Bằng phương pháp kinh tế lượng, đề tài đã làm rõ vấn đề nghiên cứu tăng trưởng trong dài hạn của nền kinh tế phụ thuộc vào hành động của Nhà nước thông qua chi NSNN cho giáo dục và đào tạo
Từ kết quả nghiên cứu này, ta thấy ý nghĩa của đề tài vận dụng các kiến thức
về kinh tế học, đặc biệt kinh tế lượng, để phân tích tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo ở các tỉnh, thành phố đến tăng trưởng kinh tế
Tìm ra tác động, ảnh hưởng của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đối với tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố làm cơ sở khoa học để các tỉnh, thành phố tham khảo trong quá trình định hướng phân bổ chi NSNN cho giáo dục và đào tạo ở
Trang 17địa phương phục vụ công tác quản lý và điều hành ngân sách được tốt hơn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương
1.8 Kết cấu luận văn
Luận văn nghiên cứu gồm có sáu chương và được trình bày như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu gồm vấn đề được nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu luận văn, dữ liệu nghiên cứu và tóm tắt kết quả nghiên cứu và những đóng góp từ kết quả nghiên cứu của luận văn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Thực trạng chi NSNN cho giáo dục và đào tạo và tăng tưởng kinh
tế ở các tỉnh, thành phố
Chương 5: Phân tích thực nghiệm tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố
Chương 6: Kết luận kết quả nghiên cứu, gợi ý giải pháp từ kết quả nghiên cứu
và những hạn chế của đề tài cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Tóm tắt chương
Nhận thấy được vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế và nghiên cứu về tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo ở các tỉnh, thành của Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này Vì vậy chương một đã đưa ra vấn đề nghiên cứu “Tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh, thành ở Việt Nam” Bên cạnh đó, chương một
đã nêu câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài đối với việc định hướng quản lý và phân bổ chi NSNN của các địa phương cũng được đề cập trong chương này Cuối cùng là giới thiệu về kết cấu của luận văn Từ đó, làm tiền đề cho nghiên cứu của những chương tiếp theo của đề tài
Trang 18CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Chương này luận văn trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết về chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo và tăng trưởng kinh tế, các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng Sau đó phân tích và nhận xét các kết quả nghiên cứu thực nghiệm có trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu để có cơ sở đưa ra mô hình nghiên cứu ở chương 3
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Khái quát về chi NSNN và chi NSNN cho giáo dục và đào tạo
2.1.1.1 Chi Ngân sách nhà nước
Trong hệ thống tài khoản quốc gia, chi ngân sách nhà nước được định nghĩa
là toàn bộ các khoản chi của Nhà nước được thực hiện trong một thời kỳ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2011)
Chi ngân sách Nhà nước còn được định nghĩa là hoạt động của Nhà nước nhằm mục đích phân tích và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước theo dự toán ngân sách Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định Về phương diện vật chất, các khoản chi ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ số tiền từ ngân quỹ mà nhà nước sử dụng để đảm bảo cho chức năng, nhiệm vụ của mình Về phương diện kinh tế, chi ngân sách nhà nước là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế xã hội mà nhà nước phải thực hiện Do vậy, các khoản chi ngân sách nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia (Đại học quốc gia Hà Nội, 2007, p.1)
Theo Luật ngân sách nhà nước 2002 thì chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Trang 192.1.1.2 Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo
Chi NSNN cho giáo dục và đào tạo là một trong những khoản chi trong cơ cấu chi của NSNN Theo hướng dẫn thi hành Luật NSNN của Bộ Tài chính, phân theo nhiệm vụ chi, chi NSNN cho giáo dục và đào tạo bao gồm: Chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
- Chi đầu tư phát triển gồm:
+ Đầu tư xây dựng các công trình phục vụ cho giáo dục và đào tạo: Trường học, thư viện, phòng thí nghiệm, cải tạo, nâng cấp, mở rộng các tài sản cố định hiện có…
+ Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện;
+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật;
- Chi thường xuyên:
Là chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, dạy nghề mang tính chất tiêu dùng nhằm góp phần đảm bảo, duy trì phát triển kinh tế xã hội, gồm chi thường xuyên cho giáo dục phổ thông, bổ túc văn hóa, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các hoạt động giáo dục khác; Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác
Ngoài ra, còn có chi thường xuyên trong các chương trình quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện
Các khoản chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo được hạch toán và quyết toán theo mục lục NSNN, có thể chia thành bốn nhóm mục chi sau:
+ Chi thanh toán cá nhân gồm các khoản chi cho con người như chi lương, các khoản phụ cấp theo lương, các khoản đóng góp BHXH, BHYT, KPCĐ, học bổng học sinh sinh viên, chi tiền thưởng, chi phúc lợi tập thể cho giáo viên, cán
bộ nhân viên và các khoản thanh toán khác như hỗ trợ đối tượng chính sách đóng học phí và chi phí học tập
Trang 20+ Chi nghiệp vụ chuyên môn, hàng hóa dịch vụ quản lý hành chính: chi mua tài liệu, đồ dùng giảng dạy, học tập, hội thảo, chi bồi dưỡng học sinh, bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn, thanh toán dịch vụ công cộng (điện, nước, nhiên liệu ), vật tư văn phòng, thông tin tuyên truyền, chi hội nghị, công tác phí, chi thuê đào tạo lại cán bộ
+ Chi mua sắm, sửa chữa: chi mua sắm sửa chữa xây dựng nhỏ phục vụ hoạt động chuyên môn: mua sắm bàn ghế, bảng, thiết bị tin học và các trang thiết bị khác, sửa chữa nhỏ trong trường
+ Các khoản chi khác: chi cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục và đào tạo theo chế độ, chi trích lập các quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập, chi hỗ trợ đào tạo tay nghề và các khoản chi phí khác (Bộ Tài chính, 2013)
Theo Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ, hệ thống NSNN được phân chia thành ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Trong phạm vi đề tài này, chi NSNN cho giáo dục và đào tạo ở các tỉnh, thành phố là khoản chi thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, do các địa phương (các tỉnh, thành phố) thực hiện quản lý, chi tiêu và quyết toán NSNN
2.1.2 Khái quát về tăng trưởng kinh tế và các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế
2.1.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế theo nghĩa chung nhất có thể được hiểu là việc tạo ra nhiều của cải hơn nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoản thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng thể hiện ở quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời
kỳ (Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung, 2008)
Trang 212.1.2.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế thường được đo lường dựa trên các chỉ số: tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) Trong đó, chỉ số tổng sản phẩm (GDP) được dùng phổ biến nhất Với các chỉ số này, tăng trưởng kinh tế chỉ đơn thuần đề cập đến gia tăng năng lực để tạo ra giá trị gia tăng thông qua các hoạt động kinh tế Để đánh giá tăng trưởng kinh tế, GDP/GNP tính theo giá cơ sở của cùng một năm gốc (GDP/GNP thực) thường được quan tâm nhiều hơn do loại
bỏ được biến động giá cả
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) được định nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong khoản thời gian nhất định (thường là một năm)
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNI) được đo lường bằng toàn bộ thu nhập hay giá trị sản xuất mà các công dân của một quốc gia tạo ra trong một thời kỳ nhất định không kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia
Ngoài ra, người ta còn dùng tốc độ tăng trưởng kinh tế để đánh giá tăng trưởng Chỉ tiêu này được tính theo công thức:
Y
Y Y
Trong đó: - g là tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu X
- Y có thể là GDP thực, GNP thực hay GDP thực tế bình quân đầu
người hay GNP thực tế bình quân đầu người (Nguyễn Trọng Hoài, 2010)
2.1.2.3 Các nhân tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế
Trong khi các nhà kinh tế học cổ điển nhấn mạnh vai trò của vốn (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng thì mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956) đã xét đến các nhân tố: vốn sản xuất, lao động và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng tới sản lượng và tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế Tiếp đến là nhóm lý thuyết tăng trưởng mới đề cao nhân tố vốn con người (vốn nhân lực) trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hướng tới việc giải thích chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia, khởi đầu được nghiên cứu bởi nhà kinh tế Theodore Schultz qua bài viết đầu tư vào vốn nhân lực vào năm 1961
Trang 22Qua nghiên của các nhà kinh tế học có thể thấy vốn vật chất, lao động, vốn con người và tiến bộ kỹ thuật là bốn nguồn cơ bản của tăng trưởng kinh tế:
- Vốn là một yếu tố được trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất Nó bao gồm các máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà kho và cơ sở hạ tầng kỹ thuật Vốn
có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Cụ thể: đã được Võ Văn Đức và các cộng sự (2005) dẫn dắt: “Công nhân của những nước giàu có do được trang bị nhiều máy móc hơn nên họ có năng suất lao động cao hơn Nhưng để tích lũy vốn thì cần
có sự hy sinh tiêu dùng của thế hệ hiện tại trong nhiều năm Kinh nghiệm cho thấy những nước tăng trưởng nhanh nhất đều dành 10% đến 20% thu nhập cho việc tạo vốn.”
- Tiến bộ khoa học và công nghệ cung cấp tri thức và phương pháp sản xuất Việc đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất làm giảm chi phí, tiết kiệm lao động và tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế Công nghệ và kỹ thuật mới ngày càng trở thành một trong những yếu tố sản xuất quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế
- Lao động với tư cách là nguồn lực của sản xuất, là nhân tố sản xuất đặc biệt, lao động không đơn thuần chỉ là số lượng lao động hay thời gian lao động mà nó còn bao gồm cả chất lượng lao động mà người ta gọi là vốn nhân lực
- Vốn nhân lực là một khái niệm phức tạp hàm chứa tất cả những kỹ năng, tri thức, khả năng lao động, những giá trị của con người Vốn nhân lực cũng giống như vốn vật chất nó có thể được đầu tư thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế Về mặt thực tế, giáo dục và sức khỏe là hai biến đại diện quan trọng để nâng cao vốn nhân lực của một quốc gia Cùng với vốn vật chất, lao động, công nghệ thì vốn nhân lực quyết định đến sự thịnh vượng của một quốc gia trong dài hạn (Nguyễn Trọng Hoài, 2010)
2.1.3 Lý thuyết về chi NSNN cho giáo dục và đào tạo
Theo Todaro và Smith (2012), cho rằng giáo dục và y tế là mục tiêu của phát triển, chúng được xem như thành phần thiết yếu của tăng trưởng và phát triển Đầu
tư cho giáo dục càng cao có thể cải thiện thu nhập Đầu tư cho giáo dục và y tế tiếp
Trang 23cận dưới gốc độ vốn con người có thể gia tăng năng suất khi gia tăng đầu tư cho hai yếu tố này
Hai yếu tố quan trọng hình thành nên vốn con người mà nhà nước cần đầu tư
đó là giáo dục và y tế Đầu tư vào sức khỏe cũng như đầu tư vào giáo dục, sẽ cải thiện vốn nhân lực, một đầu vào quan trọng của nền kinh tế và sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng của quốc gia Có hai yếu tố cơ bản mà các nhà kinh tế thường sử dụng
để xem xét tình trạng sức khỏe của một quốc gia theo thời gian là tuổi thọ bình quân đầu người và tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh (Nguyễn Trọng Hoài, 2010, trang 181-182)
Chi tiêu NSNN cho giáo dục thể hiện trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh Lý thuyết tăng trưởng nội sinh đề cao vai trò của Chính phủ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào giáo dục – đào tạo, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành công nghiệp sử dụng nhiều tri thức như phần mềm máy tính, viễn thông Mục tiêu của lý thuyết này là phân tích, làm
rõ cơ chế nội sinh tạo ra các quá trình tăng trưởng kinh tế, giải thích sự chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia Nguyên nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ ở lượng vốn vất chất mà quan trọng hơn là ở vốn con người
Mankiw, Romer và Weil (1992), đã giải thích sự chênh lệch về thu nhập thực
tế giữa các quốc gia cho nên quốc gia cần phải có những chính sách đầu tư vào giáo dục và đào tạo để phát triển kinh tế thông qua đưa vốn con người vào trong mô hình tăng trưởng Solow:
Trong đó K là lượng vốn vật chất, H là lượng vốn con người (trong nghiên cứu thực nghiệm được đo bằng biến chi tiêu cho giáo dục và đào tạo), L là số lao động và giá trị tích số của A và L là lao động hiệu dụng
Romer (1986), Barro (1990) và Robelo (1991) đề xuất, coi mọi yếu tố đầu vào
có thể tái sản xuất không chỉ là vốn vật chất mà cả vốn con người Vì vậy quốc gia cần phải đầu tư vào vốn vật chất và vốn con người để tăng trưởng kinh tế Đầu tư vào vốn con người thông qua đầu tư cho giáo dục và y tế, với hàm sản xuất có dạng như sau:
Trang 24Y (2.3) Trong đó, A là tham số thể hiện mọi nhân tố tác động tới trình độ công nghệ và
K là tổng hợp các yếu tố vốn vật chất và vốn con người
Nhiều nhà kinh tế đã lập luận rằng việc cung ứng giáo dục cơ bản miễn phí hay tạo ra các chương trình tín dụng công để giúp người nghèo thanh toán chi phí nâng cao kỹ năng có thể gia tăng phúc lợi cho nền kinh tế Giá trị của những khoản đầu tư này rất rõ ràng: nó tạo ra ngoại ứng tích cực (bởi vì nó đem lại lợi ích cho tổng thể xã hội), đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái dừng lên và làm giảm chênh lệch giàu nghèo (Trần Thọ Đạt, 2005, trang 216) Đây là lý do giải thích vì sao nhà nước cần đầu tư cho giáo dục và đào tạo
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã kiểm tra thực nghiệm tác động của chi tiêu công cho giáo dục đến tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu khác nhau, phương pháp khác nhau và không gian khác nhau để thực hiện nghiên cứu Các nghiên cứu có thể chia thành: nghiên cứu với dữ liệu chuỗi thời gian và nghiên cứu với dữ liệu chéo hoặc bảng
2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu chuỗi thời gian
Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian đã tìm ra mối quan hệ giữa chi tiêu công cho giáo dục và tăng trưởng kinh tế, có thể kể đến các nghiên cứu:
Nghiên cứu của Mohd Hussin và các cộng sự (2012), đã dựa trên lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả (granger) giữa chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực giáo dục với tăng trưởng kinh tế của Malaysia giai đoạn
1970 đến 2010 Bằng cách sử dụng mô hình vectơ tự hồi quy (VAR) đã cho thấy GDP có mối quan quan hệ dài hạn tích cực có ý nghĩa thống kê ở mức 1% với chi tiêu Chính phủ cho giáo dục (EDU), vốn cố định (CAP), lực lượng lao động (LAB) Trong đó, chi tiêu của Chính phủ cho giáo dục được sử dụng như đại diện vốn nhân lực ở Malaysia Đồng thời, trong thời gian ngắn giáo dục sẽ tạo ra tăng trưởng và ngược lại Nghiên cứu này đã chứng minh rằng vốn con người như biến giáo dục đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng tăng trưởng kinh tế ở Malaysia
Trang 25Vì vậy, họ đã kết luận rằng Chính phủ nên tăng chi tiêu cho lĩnh vực giáo dục để cải thiện hoạt động kinh tế
Nghiên cứu của Riasat và các cộng sự (2011) đo lường tác động của chi phí giáo dục đến tăng trưởng kinh tế trong khoảng thời gian 1972-2010 ở Pakistan Bằng cách tiếp cận phân phối trễ hồi quy tự động (ARDL), phương pháp kiểm định đường bao (bound test), kết quả nghiên cứu cho thấy chi tiêu giáo dục tác động không đáng
kể về mặt thống kê trong ngắn hạn nhưng về lâu dài ảnh hưởng của nó là khá quan trọng vì nó làm tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng lên đến 0,039% trong dài hạn
Dauda (2009) đã sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1977-2007, với mô hình tăng trưởng Solow mở rộng gồm các biến độc lập vốn vật chất, lao động và tổng chi tiêu cho giáo dục, bằng phương pháp phân tích đồng liên kết của Johansen
và hiệu chỉnh sai số (ECM) đã tìm thấy kết quả về mối quan hệ lâu dài giữa đầu tư cho giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria Tất cả các biến trong mô hình đều có tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng kinh tế (trừ lực lao động) Mặc dù nghiên cứu cho thấy chi giáo dục ở Nigeria là khá thấp (trong giai đọan nghiên cứu tỷ lệ chi giáo dục thấp nhất là 3,8% và cao nhất 10,4% trong tổng chi tiêu của Chính phủ) và tụt xuống mức khuyến cáo của Liên Hiệp Quốc (tối thiểu 26% phân bổ ngân sách cho giáo dục) nhưng nó vẫn góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế của nước này
Kaur, Baharom and Habibullah (2014), đã sử dụng các công cụ kinh tế như
kỹ thuật kiểm tra đồng liên kết Johansen-Juselius (1990) và ba phương pháp hồi quy: bình phương bé nhất (OLS), bình phương bé nhất động (DOLS) và vectơ hiệu chỉnh sai số (VECM) để kiểm tra mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ trong giai đoạn 1970 đến năm 2005 Theo kết luận của nghiên cứu này đã cho biết có tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa mức thu nhập (GDP bình quân đầu người) và chi tiêu cho giáo dục ở cả Trung Quốc và Ấn
Độ Trong dài hạn, có mối quan hệ nhân quả một chiều cho cả hai nước, từ mức thu nhập tác động chi tiêu giáo dục cho trường hợp của Trung Quốc, trong khi đối với trường hợp Ấn Độ chi tiêu giáo dục tạo ra thu nhập của nước này Kết quả là mạnh mẽ và nhất quán trên tất cả các phương pháp Tuy nhiên, không tồn tại mối quan hệ
Trang 26nhân quả ngắn hạn từ chi tiêu giáo dục với GDP bình quân đầu người cho cả Trung Quốc và Ấn Độ
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian, mô hình và lý thuyết tăng trưởng nội sinh để xem xét vai trò của chi tiêu công cho giáo dục và y tế (như đại diện cho vốn con người) đến tăng trưởng kinh tế như:
- Aminu (2011), dựa trên mô hình của Romer (1990) cho thấy trong giai đọan 1977- 2007 ở Nigeria, chi tiêu của Chính phủ cho giáo dục và y tế có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế và tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa chúng được xác nhận thông qua thử nghiệm đồng liên kết;
- Rahman (2010), đã điều tra mối quan hệ nhân quả giữa chi phí giáo dục và
y tế và GDP cho Bangladesh trong giai đoạn 1990-2009, áp dụng mô hình tăng trưởng Solow mở rộng vốn đầu tư cho giáo dục và y tế và phương pháp phân tích quan hệ nhân quả Granger, mô hình ECM, nghiên cứu thực nghiệm cho thấy biến chi đầu tư vào sức khỏe và giáo dục có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ về mối quan hệ nhân quả một chiều từ chi tiêu y tế tới GDP và quan hệ nhân quả hai chiều giữa chi phí giáo dục và GDP ở Banladesh
- Wendwesen Tsadiku (2012), dựa trên khung lý thuyết của mô hình Keynes
và tăng trường nội sinh để nghiên cứu tác động của các thành phần chi tiêu của Chính phủ Ethiopia và vốn con người (như chi tiêu giáo dục và y tế) trong giai đoạn
1960 - 2011, bằng phương pháp OLS, đồng tích hợp và mô hình ECM, nghiên cứu tìm thấy chi tiêu giáo dục trong cả ngắn hạn và dài hạn tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng kinh tế, trong khi chi tiêu cho ngành y tế và nông nghiệp
có tác động ngược lại Nên nghiên cứu đã kiến nghị Chính phủ nên hỗ trợ kinh tế phát triển bằng cách thúc đẩy tích lũy vốn con người thông qua chuyển dịch chi tiêu công nhiều hơn cho giáo dục
2.2.2 Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng hoặc dữ liệu chéo
Có khá nhiều nhà nghiên cứu sử dụng dữ bảng hoặc dữ liệu chéo và phương pháp định lượng để kiểm tra và lượng hóa tác động của chi tiêu cho giáo dục đến tăng trưởng kinh tế và họ đã đưa ra các kết luận khác nhau
Trang 27Akpolat (2014) sử dụng dữ liệu bảng của 13 nước phát triển và 11 nước đang phát triển trong giai đoạn 1970 – 2010 để nghiên cứu tác động trong dài hạn của chi phí giáo dục và tăng trưởng kinh tế Dựa trên lý thuyết tăng trưởng nội sinh với vai trò vốn con người, và thông qua tóm tắt ngắn gọn về mối quan hệ giữa giáo dục, y tế
và tăng trưởng, tác giả đã xây dựng mô hình gồm các biến GDP (tổng sản phẩm quốc gia), CAP (hình thành vốn cố định), EDU (chi phí cho giáo dục) và (LIF) tuổi thọ trung bình Trong đó, tổng vốn cố định được sử dụng như chỉ số của vốn vật chất, chi tiêu cho giáo dục và tuổi thọ trung bình được sử dụng như chỉ số vốn con người Đáng chú ý là nghiên cứu đã áp dụng phương pháp phân tích đồng liên kết dữ liệu bảng, phương pháp hồi quy DOLS và FMOLS để loại bỏ vấn đề tương quan chuỗi và vấn đề nội sinh trong mô hình
Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến đều dừng ở sai phân bậc 1 và có mối quan hệ đồng liên kết trong dài hạn, tất cả các biến giải thích đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê với GDP Trong đó, đầu tư cho vốn cố định và chi phí giáo dục tác động đến tăng trưởng ở các nước phát triển có hiệu quả hơn so với các nước đang phát triển Mặt khác, tuổi thọ trung bình ở các nước đang phát triển được phát hiện tác động tăng GDP hiệu quả hơn so với các nước phát triển
Để kết hợp các ảnh hưởng của giáo dục, năng suất các nhân tố được tạo ra từ bên trong nền kinh tế thông qua việc tăng chi tiêu công cho giáo dục, nghiên cứu của Idrees và Siddiqi (2013) đã sử dụng hàm sản xuất tăng trưởng nội sinh: Y = f (EDU) Trong đó Y đại diện cho tổng sản lượng và EDU đề cập đến chi tiêu công cho giáo dục Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng không đồng nhất để phân tích tác động của chi tiêu công cho giáo dục lên tăng trưởng kinh tế của 14 quốc gia trong khoản thời gian từ năm 1990 đến 2006 và phân chia thành hai nhóm: nhóm các nước phát triển (gồm 7 nước Anh, Mỹ, Canada, Đức, Pháp, Ý và Nhật Bản) và nhóm nước đang phát triển (bao gồm 7 nước Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ,
Ba Lan, Nga và Nam Phi) để phân tích và so sánh Tác giả đã kiểm tra tính dừng của
dữ liệu bảng, sử dụng kỹ thuật đồng liên kết của Kao và Pedroni để xác định định sự tồn tại của mối quan hệ dài hạn giữa chi tiêu giáo dục công và tổng sản phẩm trong nước (GDP), cuối cùng là áp dụng phương pháp hồi quy FMOLS để chỉ ra rằng chi phí giáo dục công có tác động tích cực và là yếu tố quyết định quan trọng của tăng
Trang 28trưởng kinh tế, 1 đô la tăng trong chi tiêu giáo dục mang lại 20,85 đô la tăng tổng sản phẩm trong nước ở các nước này Tác động của chi phí giáo dục công đối với tăng trưởng kinh tế trong các nước đang phát triển lớn hơn so với các nước phát triển Do đó, các nước đang phát triển được đề nghị bắt kịp các nước phát triển thông qua việc tăng đầu tư vào vốn con người Vì vậy, tác giả kết luận đầu tư vào giáo dục là chìa khóa để phát triển kinh tế
Nghiên cứu của Yardimcioğlu và các cộng sự (2014) cũng áp dụng phương pháp nghiên cứu tương tự như Idrees và Siddiqi (2013): cùng với kỹ thuật đồng liên kết, phương pháp DOLS, FMOLS và quan hệ nhân quả (Panel Causality) để phân tích mối quan hệ giữa chi tiêu giáo dục công bình quân đầu người và GDP bình quân mỗi lao động ở 25 nước OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) bao gồm cả Thổ Nhĩ kỳ (Turkey) Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biến chi tiêu giáo dục công và tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến nhau một cách tích cực như mong đợi Tuy nhiên, tác động của tăng trưởng kinh tế đến chi phí giáo dục công lớn hơn là tác động của chi phí giáo dục công đến tăng trưởng kinh tế Cụ thể,
hệ số hồi quy của biến chi cho giáo dục công theo phương pháp DOLS là 0,283 và FMOLS là 0,25, trong khi hệ số hồi quy của GDP là 2,931 theo phương pháp DOLS
và 2,82 theo phương pháp FMOLS Mặc dù ảnh hưởng của chi phí giáo dục công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế nhưng thực tế là đang ở mức thấp vì nghiên cứu xem xét chưa bao gồm chi giáo dục tư nhân Vì vậy, nghiên cứu đã đưa
ra kiến nghị các quốc gia mong muốn cung cấp một tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững cần phải phân bổ nhiều nguồn lực hơn cho giáo dục
Gökhan Umut (2012), sử dụng dữ liệu bảng của 14 quốc gia từ năm
1999-2008 và mô hình tăng trưởng nội sinh gồm các biến: tỷ lệ tăng trưởng GDP, tuyển sinh tiểu học, tuyển sinh trung học, học sinh nhập học đại học, chi tiêu công cho giáo dục và chi tiêu y tế để phân tích tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu sử dụng phương pháp GMM để phân tích và kết luận những tác động của chi tiêu công cho giáo dục và chi tiêu y tế đến tăng trưởng kinh tế là tích cực Điều này có nghĩa rằng, khi gia tăng chi tiêu công cho giáo dục và chi tiêu y tế, tăng trưởng kinh tế tăng lên Mặt khác, tuyển sinh trung học có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Trang 29Chi tiêu công cho giáo dục (chi tiêu ngân sách cho giáo dục) còn được các nhà kinh tế nghiên cứu dưới góc độ là thành phần chi tiêu trong tổng chi ngân sách, một số nghiên cứu cho kết quả ngược lại với các nghiên cứu trên như nghiên cứu của Devarajan và các cộng sự (1993 và 1996) sử dụng dữ liệu của các quốc gia trong giai đoạn 1970-1990 nghiên cứu các thành phần chi tiêu công đã tìm thấy mối quan
hệ tiêu cực giữa chi phí giáo dục và tăng trưởng kinh tế Hay nghiên cứu Shenggen Fan và Saurkar (2006), sử dụng phương pháp GMM để tìm hiểu xu hướng, thành phần và tác động của chi tiêu công của 44 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1980-2002, kết quả cho thấy tác động chi tiêu giáo dục công lên tăng trưởng kinh tế trái ngược nhau: có tác động tích cực lên tăng trưởng ở các nước khu vực Châu Phi
và Châu Á, có tác động tiêu cực lên tăng trưởng ở các nước khu vực Châu Mỹ La tinh
Ở Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm xem xét về tác động của chi NSNN nói chung (bao gồm cả chi tiêu cho giáo dục và đào tạo) đến tăng trưởng kinh tế, chẳng hạn các bài nghiên cứu chi NSNN ở các tỉnh, thành của Hoàng Thị Chinh Thon và các cộng sự (2010) dựa trên bộ số liệu của 31 địa phương năm 2005,
2006 để xem xét mối liên hệ giữa các thành phần chi tiêu ở các cấp (cấp tỉnh, cấp huyện) và tăng trưởng kinh tế Hay nghiên cứu của Nguyễn Khắc Minh (2008) phân tích số liệu của 34 tỉnh thành đã cho thấy tính hiệu quả trong chi tiêu công tồn tại trong cả chi tiêu công và đầu tư hàng năm Hay chủ yếu nghiên cứu vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố thông qua thước đo vốn con người như: chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục, số năm đi học bình quân như các nghiên cứu của Trần Thọ Đạt và các cộng sự (2007), Vũ Quang Huy (2012), Nguyễn đăng Khoa (2013)
Các nghiên cứu phân tích cụ thể riêng cho lĩnh vực chi NSNN cho giáo dục
và đào tạo hầu như rất ít Chỉ tìm thấy, nghiên cứu của Phạm Thế Anh (2008), thu thập số liệu 61 tỉnh thành của Việt Nam từ năm 2001 – 2005 và dựa trên mô hình lý thuyết của Barro chia chi ngân sách địa phương theo 05 ngành Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch khá lớn về tính hiệu quả giữa các khoản chi ngân sách khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế và đã đưa ra kết luận cả chi đầu tư và chi
Trang 30thường xuyên cho giáo dục và đào tạo của các tỉnh có vai trò tích cực lớn hơn đối với tăng trưởng kinh tế với hệ số hồi quy lần lượt là 0,50 và 0,47
Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã sử dụng đa dạng các dữ liệu (dữ liệu thời gian, bảng hay dữ liệu chéo), nhiều phương pháp (VAR, ECM, ARDL, OLS, DOLS, FMOLS và GMM ) để định lượng tác động của chi NSNN lên tăng trưởng kinh tế Đa số các nghiên cứu sử dụng biến chi tiêu giáo dục công như đại diện cho vốn nhân lực và đã chứng minh có tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa chi tiêu giáo dục của nhà nước và tăng trưởng kinh tế
Trong ngắn hạn, các kết quả không nhất quán: chi tiêu giáo dục có tác động cùng chiều hoặc không có tác động lên tăng trưởng Trong dài hạn, chiều hướng tác động của chi NSNN cho giáo dục lên tăng trưởng kinh tế trong hầu hết các nghiên cứu là tích cực, cùng chiều với tăng trưởng kinh tế Một vài nghiên cứu chi giáo dục như thành phần chi tiêu trong tổng chi NSNN cho kết quả ngược lại Tuy nhiên, không gian các nghiên cứu chủ yếu ở phạm vi quốc gia hoặc khu vực bao gồm nhiều quốc gia ở những thời điểm khác nhau, dữ liệu khác nhau, có thể cho các kết quả khác nhau; rất ít nghiên cứu thực hiện ở các vùng hoặc các tỉnh, thành trong một quốc gia Vấn đề này rất cần được quan tâm, nghiên cứu
Do đó, đề tài nghiên cứu: “Tác động của chi ngân sách nhà nước cho giáo
dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh, thành ở Việt Nam” để xem xét
tầm quan trọng của chi NSNN cho giáo dục đến tăng trưởng kinh tế ở các địa phương của Việt Nam, mang lại những thông tin định lượng có ích cho các địa phương về chi NS cho giáo dục – đào tạo và tăng trưởng kinh tế
Tóm tắt chương 2
Nội dung chương 2 đã trình bày các khái niệm về chi NSNN cho giáo dục đào tạo, tăng trưởng kinh tế và các yếu tố tác động đến tăng trưởng Đồng thời, nêu lên cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa chi NSNN cho giáo dục và đào tạo và tăng trường kinh tế Qua kết quả các nghiên cứu thực nghiệm trước có thể khẳng định có
sự tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa chi tiêu giáo dục công và tăng trưởng kinh
tế Dựa trên lý thuyết tăng trưởng nội sinh và các mô hình nghiên cứu thực nghiệm làm nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo
Trang 31CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này tập trung vào mô hình nghiên cứu, mô tả và đo lường các biến trong mô hình, trình bày dữ liệu nghiên cứu và và các bước trong phương pháp nghiên cứu mô hình dữ liệu bảng
3.1 Mô hình nghiên cứu
3.1.1 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết và xem xét các nghiên cứu trước ta thấy tăng trưởng kinh tế chịu ảnh hưởng của bốn nguồn cơ bản: vốn vật chất, lao động, tiến bộ công nghệ và vốn con người (hai yếu tố góp phần tạo nên vốn con người là giáo dục và y tế) Đề tài này chỉ giới hạn trong phạm vi các biến xuất phát từ các nguồn ảnh hưởng đến tăng trưởng nêu trên Trong đó, chi NSNN cho giáo dục và đào tạo như đại diện cho vốn nhân lực cùng tăng trưởng kinh tế là hai nhân tố cốt lõi của vấn đề nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết tăng trưởng nội sinh, mô hình nghiên cứu của Akpolat (2014) và các bài nghiên cứu về chi tiêu công gây ra tăng trưởng kinh tế của Idrees và Siddiqi (2013), của Yardimcioğlu (2014); Tác giả đề xuất mô hình tác động của chi tiêu ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo đến tăng trưởng kinh
tế của các tỉnh, thành phố của Việt Nam như sau:
GDP = f (EDU, CAP, IMR, LF) (3.1) Trong bài nghiên cứu Akpolat (2014) sử dụng các biến chi cho giáo dục (EDU) và tuổi thọ trung bình từ lúc sinh (LIF) làm đại diện cho vốn con người Trong đó, EDU là đại diện vốn giáo dục, tuổi thọ trung bình (LIF) đại diện cho tình trạng sức khỏe, còn biến CAP là sự hình thành vốn cố định như đại diện cho biến vốn vật chất Tuy nhiên, do các tỉnh, thành phố ở Việt Nam không có số liệu thống
kê tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh hàng năm và không có sẵn số liệu vốn vật chất Hơn nữa, đề tài nhằm mục đích đánh giá tác động của chi cho giáo dục và đạo tạo đến tăng trưởng kinh tế và dựa trên một số các nghiên cứu khác, tác giả sử dụng biến vốn đầu tư (CAP) như dẫn xuất của vốn vật chất và biến tỷ lệ tử vong cho trẻ sơ sinh đại diện cho tình trạng sức khỏe (theo các nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài, 2010, hai số liệu cơ bản mà các nhà kinh tế thường sử
Trang 32dụng như thước đo cơ bản để xem xét tình trạng sức khỏe của một quốc gia theo thời gian là tuổi thọ bình quân đầu người và tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh) và bổ sung thêm biến lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế (LF)
Bảng 3.1 Tóm tắt và đo lường biến các trong mô hình
3.1.2 Mô tả các biến trong mô hình
Các biến được sử dụng để đưa vào mô hình phân tích gồm biến độc lập (GDP)
và các biến phụ thuộc (chi NSNN cho giáo dục và đào tạo, vốn đầu tư, tỷ lệ tử vong
ở trẻ sơ sinh và lực lượng lao động đang làm việc) được trình bày cụ thể như sau:
- Biến phụ thuộc
GDP – Tổng sản phẩm trong nước hay còn gọi mức sản lượng của nền kinh tế
Kỳ vọng dấu
CAP Vốn đầu tư
Tỷ đồng Logarit tự nhiên của CAP
Trang 33Theo Tổng cục thống kê đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng, phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị thường trú trong nền kinh tế của một nước trong một thời kỳ nhất định; phản ánh các mối quan hệ trong quá trình sản xuất, phân phối thu nhập, sử dụng cuối cùng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân
Trong các nghiên cứu thường sử dụng GDP thực tế như biến đại diện cho tăng trưởng kinh tế: Akpolat (2014), Idrees và Siddiqi (2013), Trần Thọ Đạt và các cộng sự (2007), …Trong đề tài này tác giả sử dụng GDP thực tế theo giá so sánh năm 1994 (đơn vị tính tỷ đồng) như đại diện cho tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh, thành phố
- Biến độc lập:
+ EDU – Chi NSNN cho giáo dục và đào tạo
Đây là một khoản chi trong cơ cấu chi NSNN của các tỉnh, thành phố Chỉ tiêu này phản ánh quy mô và hiện trạng chi tiêu cho giáo dục và đào tạo của NS các
tỉnh, thành phố
Chi NSNN cho giáo dục và đào tạo trong nghiên cứu này là tổng số quyết toán chi cho giáo dục và đạo tạo (bao gồm cả chi thường xuyên và chi đầu tư) từ NS các tỉnh, thành phố hàng năm đã được Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố phê chuẩn (không bao gồm các khoản chi cho giáo dục và đào tạo từ nguồn thu để lại quản lý qua NSNN), được tính bằng đơn vị tỷ đồng Theo hầu hết các kết quả của nghiên trước như Akpolat (2014), Idrees và Siddiqi (2013), Yardimcioğlu (2014), Aminu (2011)…tác giả kỳ vọng biến này có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh
tế của các tỉnh, thành phố
+ CAP – Vốn đầu tư
Vốn đầu tư thực hiện là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định, bao gồm các khoản đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định không qua xây dựng cơ bản, sửa chữa, nâng cấp tài sản
cố định và đầu tư khác Không bao gồm những khoản đầu tư có tính chất chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu giữa các cá nhân, hộ dân cư, các doanh nghiệp, tổ chức…nhưng không làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động của toàn bộ
Trang 34nền kinh tế trong phạm vi cả nước, như: chuyển nhượng đất đai, nhà ở, cửa hàng, thiết bị máy móc và các tài sản cố định khác đã qua sử dụng Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động
Vốn đầu tư được tính bằng tỷ đồng và nó được xem như yếu tố cấu thành GDP nên kỳ vọng sẽ tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
+ LF – Lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế
“Là dân số có việc làm (làm việc) bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên trong khoảng thời gian tham chiếu (một tuần) ở mỗi tỉnh, thành (tính bằng người) Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), với hoạt động kinh tế hiện tại, thời gian tối thiểu để một người có thể được xem xét có việc làm (làm việc) là trong 07 ngày qua phải có ít nhất 01 giờ làm việc để tạo thu nhập chính đáng” (Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
2011, trang 59)
Phần lớn số người trong lực lượng lao động là những người đang làm việc Lực lượng đông đảo này trực tiếp cung cấp sức lao động cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ, là lực lượng chủ yếu quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia
Do vậy, số liệu về lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng, triển khai, đánh giá kết quả thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội tầm vĩ mô và vi mô
Lực lượng lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của quá trình sản xuất nên kỳ vọng lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế sẽ tạo ra tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
+ IMR – Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh
Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh hay còn còn gọi là tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là số đo mức độ chết của trẻ em trong năm đầu tiên của cuộc sống Tỷ suất này được định nghĩa là số trẻ em dưới 1 tuổi chết tính bình quân trên 1000 trẻ em sinh ra sống trong năm (tính bằng đơn vị: ‰)
Trang 35Công thức tính: D0
IMR = x 1000 (3.2)
Trong đó: IMR - Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi;
D0 - Số trẻ em chết ở độ tuổi dưới 1 tuổi trong năm;
B - Tổng số trường hợp sinh ra sống trong năm
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi
(ký hiệu là IMR) có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, vì các lý do sau: Thứ nhất, chỉ tiêu này
phản ánh tình hình cung cấp các dịch vụ và phương tiện chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em, đánh giá mức độ tử vong của nhóm dân số có mức độ chết cao và tác động mạnh đến
tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh Thứ hai, mọi biểu hiện của sự giảm mức độ chết đều
ảnh hưởng ngay đến IMR và thông qua đó nó tác động đến phân bố dân số theo độ tuổi
Thứ ba, luôn có mối liên hệ thống kê chặt chẽ giữa IMR và mức độ sinh đẻ, nên việc
tăng/giảm IMR có tác động đến sự tăng/giảm của mức độ sinh Thứ tư, IMR là một
trong những chỉ tiêu quan trọng của mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Thế giới và Việt Nam
Một số nghiên cứu thực nghiệm sử dụng biến tỷ lệ tử vong ở trẻ em như đại diện cho vốn sức khỏe và đánh giá tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế như: Papageorgiou và Stoytcheva (2007), Tolulope và Taiwa (2014), Sabina Noormamode (2008)…Đa số kết quả cho thấy có mối quan hệ có ý nghĩa và tiêu cực giữa tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và tăng trưởng kinh tế Do đó, kỳ vọng trong nghiên cứu này IMR có tác động âm (-) đến tăng trưởng
3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Trang 36hiện trong các quan sát theo thời kỳ, mô tả một nước, một tỉnh, một doanh nghiệp, một nhóm người hay một cá nhân theo thời gian
Theo Baltagi (2005), cho rằng dữ liệu bảng so với dữ liệu theo chuỗi thời gian hay không gian có những ưu điểm:
- Kỹ thuật ước lượng dữ liệu bảng có thể chính thức xem xét đến tính dị biệt (không đồng nhất) bằng cách xem xét các biến số có tính đặc thù theo từng cá nhân, doanh nghiệp, tiểu bang, quốc gia
- Cung cấp những dữ liệu có nhiều thông tin hơn, đa dạng hơn, ít cộng tuyến hơn giữa các biến số, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả hơn
- Thông qua nghiên cứu các quan sát theo không gian lặp lại, dữ liệu bảng phù hợp hơn để nghiên cứu tính động của thay đổi
- Dữ liệu bảng có thể phát hiện và đo lường tốt hơn những ảnh hưởng mà không thể quan sát trong dữ liệu chuỗi thời gian thuần túy hay dữ liệu chéo theo không gian thuần túy
- Dữ liệu bảng giúp ta nghiên cứu những mô hình hành vi phức tạp hơn, và với
số quan sát lớn khoảng vài ngàn đơn vị dữ liệu bảng có thể tối thiểu hóa sự thiên lệch có thể xảy ra nếu ta tổng hợp các quan sát chéo thành số liệu tổng
3.2.2 Nguồn dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp của 63 các tỉnh, thành phố của Việt Nam trong thời gian 10 năm, từ năm 2004 đến năm 2013 nên tổng cộng sẽ có 630 quan sát
Từ năm 2004 đến năm 2007, Việt Nam có 64 tỉnh thành phố nhưng từ năm
2008 đến nay còn lại 63 tỉnh, thành phố, do tỉnh Hà Tây nhập vào thành phố Hà Nội
Để thuận lợi trong phân tích, tác giả gộp số liệu từ năm 2004 đến năm 2007 của tỉnh
Hà Tây vào thành phố Hà Nội
Số liệu tập hợp từ nguồn sau:
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP), vốn đầu tư thực hiện (CAP) của các tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2004-2013 được lấy theo giá trị thực tế, đo bằng đơn vị tỷ đồng tại mức giá cố định năm 1994 lấy từ niên giám thống kê kinh tế - xã hội của 64 tỉnh, thành phố do Tổng cục Thống kê cung cấp
Trang 37- Lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế (đơn vị tính người) của các tỉnh, thành phố, được cung cấp bởi Tổng cục Thống kê
- Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh (đơn vị tính: Tỷ lệ phần ngàn (‰) lấy từ nguồn điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình hàng năm của Tổng cục Thống kê
- Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo của các tỉnh, thành phố (đơn vị tính tỷ đồng) được cung cấp bởi Vụ Ngân sách Nhà nước thuộc Bộ Tài chính Số liệu này được tác giả tính toán quy về giá trị thực tế theo mức giá cố định năm 1994 bằng chỉ số giảm phát GDP
Số liệu nghiên cứu của đề tài lấy từ các nguồn sẵn có đáng tin cậy của niên giám thống kê các tỉnh, thành phố và của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính Nhưng đối với số liệu GDP các tỉnh, thành phố theo một số đánh giá có xu hướng cao hơn so với số liệu GDP tính cho phạm vi toàn bộ nền kinh tế cả nước Đây là hạn chế về số liệu GDP các tỉnh, thành phố trong đề tài này Hiện nay, Tổng cục Thống kê đang xây dựng đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để khắc phục hạn chế của số liệu GDP trong thời gian tới Tuy nhiên, trong đề tài này không xét đến GDP tổng thể cả nước mà chỉ nhằm đánh giá tác động của chi NSNN cho giáo dục và đào tạo đến GDP các tỉnh, thành phố Do đó, tạm chấp nhận theo số liệu GDP sẵn có từ niên giám thống kê các tỉnh, thành phố để phân tích
3.3 Phương pháp ước lượng mô hình nghiên cứu
Hiện nay, các phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng cũng khá phong phú Tùy đặc tính của dữ liệu và mô hình nghiên cứu mà có phương pháp ước lượng phù hợp Trong trường hợp dữ liệu bảng, phương pháp động được biết đến là GMM, DOLS, FMOLS Phương pháp tĩnh thường được sử dụng là phương pháp ước lượng bảng tuyến tính cổ điển như phương pháp biến giả bình phương nhỏ nhất (LSVD), phương pháp hiệu ứng cố định (FEM) và phương pháp hiệu ứng ngẫu nhiên (REM)
Trong nghiên cứu thực nghiệm, các nhà nghiên cứu cũng đã xác định hầu hết các biến chuỗi thời gian kinh tế là không dừng, Nếu áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) cho các chuỗi không dừng có thể dẫn đến hồi quy giả mạo
Trang 38và kết luận sai khi sử dụng các kiểm định thống kê, vấn đề này đã được Engle & Granger (1987), Granger & Newbold (1974) đề cập đến Ngoài ra, phương pháp ước lượng bảng tĩnh (như FEM, REM cũng như phương pháp Pool OLS thông thường)
bỏ qua tính chất động của mô hình điều này có thể dẫn vấn đề về độ tin cậy (bị chệch), ảnh hưởng đến tính hiệu quả của kết quả ước lượng (Bond, 2002)
Ngoài dữ liệu bảng mang tính năng động, không dừng thì vấn đề các biến độc lập trong mô hình mang tính nội sinh và vấn đề tương quan chuỗi trong mô hình có thể khiến cho phương pháp OLS thông thường không nhất quán và có thể ước lượng
bị chệch Kỹ thuật phân tích hồi quy đồng liên kết dữ liệu bảng cũng như phương pháp ước lượng hồi quy bình phương bé nhất động (Dynamic Ordinary Least Square
- DOLS) và bình phương bé nhất đã được hiệu chỉnh hoàn toàn (Fully Modified Ordinary Least Square - FMOLS) được đề xuất bởi Perdroni (2000, 2001) sẽ khắc phục những vấn đề này
Do đó, với mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết tăng trưởng nội sinh tại mục 3.1.1 và dữ liệu bảng động, không dừng thì việc áp dụng phương pháp bảng tĩnh cổ điển như Pool OLS, FEM và REM sẽ có thể dẫn đến ước lượng bị chệch, không giải quyết được vấn đề nội sinh, tương quan chuỗi của mô hình như đã nêu ở trên
Vì vậy, để xem xét chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành của Việt Nam, đề tài áp dụng phương pháp phân tích hồi quy DOLS, FMOLS (Pedroni, 2000; 2001) trên cơ sở sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh và dữ liệu bảng cân đối của 63 tỉnh, thành của Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2013
Theo Pedroni và các nghiên cứu trước, ước lượng mối quan hệ trong dài hạn giữa biến độc lập và biến phụ thuộc theo phương pháp bình phương bé nhất động (DOLS) và bình phương bé nhất đã được hiệu chỉnh hoàn toàn (FMOLS) được tiến hành theo trình tự sau:
Bước 1: Kiểm định tính dừng của các biến bằng cách kiểm định nghiệm đơn
vị dữ liệu dạng bảng (Panel Unit Root Tests)
Trang 39Bước 2: Kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng (Panel cointegration test) để xác định mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến trong mô hình qua kiểm định tính dừng của phần dư bằng phương pháp của Kao và Pedroni
Bước 3: Phân tích tác động giữa các biến bằng phương pháp DOLS (Dynamic Ordinary Least Square) và FMOLS (Fully Modified Ordinary Least Square)
3.3.1 Kiểm định tính dừng của dữ liệu bảng
Theo GuJarati (2003) một chuỗi thời gian là dừng khi giá trị trung bình, phương sai và hiệp phương sai (tại các độ trễ khác nhau) giữ nguyên không đổi cho
dù chuỗi được xác định vào thời điểm nào đi nữa Một chuỗi thời gian không dừng sẽ có giá trị trung bình thay đổi theo thời gian, hoặc giá trị phương sai thay đổi theo thời gian hoặc cả hai
Khi ước lượng một mô hình với chuỗi thời gian mà trong đó có ít nhất một biến độc lập không dừng thì giả thuyết hồi quy thông thường sẽ bị vi phạm và có thể đưa đến kết quả là hồi quy giả mạo Hồi quy giả mạo có hệ số R2 cao giá trị thống kê
t có ý nghĩa thống kê nhưng thực sự không có ý nghĩa kinh tế (Granger & Newbold, 1974)
Vì vậy, trước khi thực hiện hồi quy thì việc kiểm tra tính dừng của biến chuỗi
là cần thiết và quan trọng Đề tài kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình dựa trên cơ sở kiểm định nghiệm đơn vị dữ liệu bảng bằng phương pháp Levin, Lin
và Chu (LLC), Im, Pesaran và Shin (IPS), ADF – Fisher Chi - square và PP- Fisher Chi - square
- Levin, Lin và Chu (2002) là một trong những kiểm định nghiệm đơn vị đầu tiên được phát triển cho dữ liệu dạng bảng Ông bắt đầu với phương trình
Trong đó: có thể là 0; 1; tác động cố định hoặc tác động cố định thêm xu hướng thời gian; là một véc tơ hồi quy Với có phân phối nghĩa là trung bình bằng 0 và phương sai ; pi = p cho tất cả mọi i
Phương trình (3.3) được viết lại dưới dạng:
Trang 40Với = p -1 Giả thuyết H0: = 0;
Giả thuyết thay thế H1: < 0
Levin, Lin và Chu đã thực hiện hồi quy ADF cho mỗi cá nhân (thêm vào biến trễ vào hồi quy), ước lượng phần dư, độ lệch chuẩn cho mỗi cá nhân trong bảng rồi tính toán thống kê t cho bảng Với phương pháp này Levin và cộng sự đã đề nghị kiểm tra nghiệm đơn vị bảng với giả thuyết chỉ ra tính không dừng của tất cả các đơn
vị riêng của bảng, giả thuyết thay thế cho thấy tất cả đơn vị riêng của bảng thì dừng
- Nghiên cứu nghiệm đơn vị bảng được áp dụng linh hoạt và đáng tin cậy hơn bởi Im, Pesaran và Shin (IPS) (2003) Kiểm tra IPS cho phép tính không đồng nhất qua các kiểm định đơn vị riêng, mỗi đơn vị chéo có một tiến trình dừng riêng biệt, giả thuyết giả định có sự hiện diện của nghiệm đơn vị Đặc điểm của kiểm tra IPS là kết hợp kiểm tra nghiệm đơn vị riêng lẻ để dẫn đến kết quả của đơn vị bảng Nói cách khác, phương pháp này cho phép các hệ số tự hồi quy khác nhau qua các đơn vị chéo (nó cho phép một hệ số hồi quy không đồng nhất dưới giả thuyết thay thế), điều này ngược lại với kiểm định của Levin, Lin và Chu (LLC )
Im, Pesaran và Shin (IPS), chọn một hồi quy ADF khác nhau cho mỗi đơn vị chéo (mỗi quốc gia), theo phương trình:
Với giả thuyết: H0: = 0 cho tất cả i
Giả thuyết thay thế:
Trong đó, N là tổng các đơn vị chéo (quốc gia, tỉnh, vùng) Kiểm định IPS dựa trên cơ sở tính toán của các thống kê ADF cho mỗi đơn vị chéo riêng biệt rồi sau
đó lấy trung bình của chúng để tìm trung bình thống kê t của toàn bộ bảng Việc gỡ
bỏ giả thuyết về nghiệm đơn vị không áp dụng cho tất cả các đơn vị chéo mà phụ thuộc vào tính không đồng nhất của giả thuyết thay thế như trên
Kiểm định IPS và LLC có giả thuyết là tương tự nhau nhưng giả thuyết thay thế của hai kiểm định này là khác nhau