1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại

134 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Tác giả Nguyễn Đông Hồ
Người hướng dẫn TS. Cao Minh Trí
Trường học Trường Đại Học Mở TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (13)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (14)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (15)
    • 1.4. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 1.5. Phạm vi nghiên cứu (15)
    • 1.6. Phương pháp nghiên cứu (15)
    • 1.7. Cấu trúc luận văn (16)
  • CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN (18)
    • 2.1. Các khái niệm trong nghiên cứu (18)
      • 2.1.1. Khởi nghiệp (khởi sự kinh doanh – entrepreneurship) (18)
      • 2.1.2. Ý định khởi nghiệp (19)
    • 2.2. Cơ sở lý thuyết (19)
      • 2.2.1. Thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) (19)
      • 2.2.2. Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) (20)
      • 2.2.3. Mô hình dự đoán hành vi của Shapero và Sokol (1982) (0)
      • 2.2.4. Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Krueger và cộng sự, 2000) (23)
    • 2.3. Các nghiên cứu trước (23)
      • 2.3.1. Nghiên cứu của Zahariah Mohd Zain và cộng sự (2010) (0)
      • 2.3.2. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011) (24)
      • 2.3.3. Nghiên cứu của Hoàng Thị Phương Thảo và Bùi Thị Thanh Chi (2013) 12 2.3.4. Nghiên cứu của Kristandya và Aldiantob (2015) (24)
      • 2.3.5. Nghiên cứu của Linh và cộng sự (2016) (0)
      • 2.3.6. Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) (0)
      • 2.3.7. Nghiên cứu của Lê Thị Trang Đài và Nguyễn Thị Phương Anh (2016) 15 2.3.8. Nghiên cứu của Hutasuhut (2018) (0)
    • 2.4. Đề xuất mô hình nghiên cứu (30)
      • 2.4.1. Đặc điểm cá nhân (30)
      • 2.4.2. Kiến thức khởi nghiệp (31)
      • 2.4.3. Thái độ khởi nghiệp (32)
      • 2.4.4. Môi trường khởi nghiệp (33)
      • 2.4.5. Kinh nghiệm khởi nghiệp (34)
      • 2.4.6. Tố chất cá nhân (0)
      • 2.4.7. Nguồn vốn (35)
    • 2.5. Tóm tắt chương 2 (37)
  • CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.1. Quy trình nghiên cứu (38)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (39)
    • 3.3. Xây dựng thang đo (40)
      • 3.3.1. Kết quả nghiên cứu định tính (44)
      • 3.3.2. Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ (50)
    • 3.4. Phương pháp chọn mẫu và xử lý số liệu (52)
      • 3.4.1. Xác định kích thước mẫu (52)
      • 3.4.2. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu (53)
      • 3.4.3. Phương pháp phân tích dữ liệu (54)
    • 3.5. Tóm tắt chương 3 (55)
  • CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG (57)
    • 4.1. Thống kê mô tả (0)
      • 4.1.1. Thống kê đặc trưng mẫu nghiên cứu (0)
      • 4.1.2. Thống kê mẫu định lượng (0)
    • 4.2. Phân tích độ tin cậy của thang đo (59)
    • 4.3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) (0)
    • 4.4. Phân tích tương quan Pearson (65)
    • 4.5. Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính (66)
    • 4.6. Kiểm định phần dư có phân phối chuẩn (69)
    • 4.7. Đánh giá ảnh hưởng của các biến kiểm soát (71)
      • 4.7.1. Kiểm định T-Test (Independent Samples Test) (71)
      • 4.7.2. Kiểm định Anova-one-way cho biến tuổi (72)
      • 4.7.3. Kiểm định Anova-one-way cho biến trình độ học vấn (73)
    • 4.8. Kiểm đinh giả thuyết nghiên cứu (73)
    • 4.9. Thảo luận kết quả nghiên cứu (74)
    • 4.10. Tóm tắt chương 4 (78)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (79)
    • 5.1. Kết luận (79)
    • 5.2. Khuyến nghị (80)
    • 5.3. Các hạn chế của nghiên cứu (83)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (84)

Nội dung

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, cụm từ “khởi nghiệp” trở nên phổ biến hơn bao giờ hết, phản ánh nhu cầu thực tiễn mạnh mẽ Năm 2016, Chính phủ Việt Nam đã công nhận là Năm quốc gia khởi nghiệp, đánh dấu một bước tiến tích cực cho cộng đồng khởi nghiệp trong nước và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Tinh thần khởi nghiệp không chỉ nằm ở tư duy sáng tạo mà còn ở sự đổi mới không ngừng của mỗi doanh nghiệp và cá nhân Năng lượng sáng tạo và ý chí kiên cường là động lực thiết yếu giúp quốc gia, doanh nghiệp và cá nhân phát triển bền vững, tránh tụt hậu.

Khởi nghiệp luôn là một thách thức lớn, và tại Việt Nam, chưa có thống kê chính xác về tỷ lệ thất bại của các công ty khởi nghiệp Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê đã công bố số liệu cho thấy tình hình khởi nghiệp có thể khó khăn hơn nhiều so với mong đợi.

Năm 2015, 93% doanh nghiệp phá sản là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ Trong 6 tháng đầu năm 2017, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, có 7.300 doanh nghiệp đóng cửa mỗi tháng Theo CB Insights (Anh), tỷ lệ thất bại của các công ty khởi nghiệp vượt quá 90%, với hầu hết trong số đó đóng cửa sau 20 tháng Tuy nhiên, tinh thần khởi nghiệp đang được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ trong thời điểm hiện tại.

Khởi nghiệp hiện nay không chỉ dành riêng cho sinh viên hay người trẻ tuổi, mà đang thu hút sự quan tâm của mọi lứa tuổi Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thành công trong khởi nghiệp không nhất thiết phụ thuộc vào trình độ học vấn, vì nhiều người khởi nghiệp có học vấn thấp vẫn có thể đạt được thành công Tuy nhiên, tại Việt Nam, có không ít người khởi nghiệp thất bại, dẫn đến cảm giác nản lòng và từ bỏ Khởi nghiệp đã trở thành nhu cầu thiết yếu cho nhiều cá nhân, vì vậy cần có thêm nghiên cứu về khởi nghiệp và khởi nghiệp lại Hiện tại, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào ý định khởi nghiệp, trong khi nghiên cứu về khởi nghiệp lại vẫn còn hạn chế.

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp lại của những người từng thất bại còn rất hạn chế Những người khởi nghiệp thất bại thường là những cá nhân có kinh nghiệm và kiến thức phong phú hơn, do đó họ có khả năng thành công cao hơn so với những sinh viên mới ra trường hoặc những người mới đi làm Thực tế cho thấy, sự thành bại trong khởi nghiệp lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm hoàn cảnh khởi nghiệp, thời điểm không phù hợp, vốn không đủ mạnh để duy trì hoạt động, và sự thiếu hụt về kiến thức.

Người khởi nghiệp thường có cá tính mạnh mẽ và tinh thần kiên cường, nên sau mỗi thất bại, họ thường nuôi dưỡng ý định khởi nghiệp lại Để hỗ trợ những cá nhân này, cần thiết phải thực hiện nghiên cứu về ý định khởi nghiệp lại của các nhóm đã từng khởi nghiệp nhưng gặp thất bại Mục tiêu chính là tìm hiểu nguyên nhân thất bại và đưa ra khuyến nghị nhằm giảm thiểu rủi ro, từ đó giúp cộng đồng khởi nghiệp duy trì động lực và hy vọng khởi nghiệp lại Đây chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại” để thực hiện nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu

Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, nghiên cứu đã đặt ra bốn mục tiêu chính sau đây:

Thứ nhất, xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp lại;

Thứ hai, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp lại;

Kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính và trình độ học vấn của người khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp lại là một bước quan trọng trong nghiên cứu khởi nghiệp Điều này giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của cá nhân và từ đó có thể xây dựng các chiến lược hỗ trợ phù hợp.

Thứ tư, đưa ra các khuyến nghị giúp những người có ý định khởi nghiệp lại giảm các rủi ro và nâng cao khả năng thành công.

Câu hỏi nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu được đặt ra như vậy thì nghiên cứu có các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:

Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp lại của những người đã từng khởi nghiệp nhưng thất bại?

Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp lại là như thế nào?

Có hay không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn với ý định khởi nghiệp lại?

Những khuyến nghị nào để giúp người có ý định khởi nghiệp lại hạn chế được những rủi ro thất bại?

1.4 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp lại Đối tượng khảo sát là những người (cá nhân) đã từng khởi nghiệp nhưng thất bại

Nghiên cứu được thực hiện trong tháng 04 năm 2020 tại thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Giai đoạn sơ bộ áp dụng cả phương pháp định tính và định lượng để điều chỉnh mô hình nghiên cứu và làm rõ các khái niệm Nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn tay đôi với ba chuyên gia và phỏng vấn nhóm mười người đã từng khởi nghiệp nhưng thất bại Nghiên cứu định lượng sơ bộ với mẫu 100 người, trong khi nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp phỏng vấn qua Google, email và bảng hỏi giấy, phát ra 450 bảng hỏi và thu về 378 bảng hợp lệ.

Luận văn gồm 5 chương như sau:

Chương 1 – Giới thiệu nghiên cứu Nghiên cứu trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tế của nghiên cứu, và kết cấu của luận văn này

Chương 2 – Cơ sở lý luận Nghiên cứu trình bày các khái niệm trong nghiên cứu, các lý thuyết nền, các nghiên cứu trước có liên quan, và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất

Chương 3 – Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu trình bày quy trình của nghiên cứu này Mục tiêu của chương này là đưa ra các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Thang đo lường cho các khái niệm nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, kích cỡ mẫu cũng sẽ được xây dựng trong chương này

Chương 4 – Kết quả nghiên cứu định lượng Trong chương này sẽ trình bày kết quả phân tích và xử lý dữ liệu đã thu thập bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 Nghiên cứu đánh giá độ tin cậy của thang đo lường các khái niệm trong mô hình lý thuyết thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, sau đó phân tích nhân tố khám phá, và phân tích mô hình hồi quy tuyến tính, sau cùng là thảo luận kết quả nghiên cứu đạt được

Chương 5 – Kết luận và khuyến nghị Chương này sẽ tổng hợp lại các kết quả đạt được từ mục tiêu nghiên cứu đã đưa ra trong chương 1 Sau đó dựa trên kết quả phân tích được từ chương 4, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị dành cho những người có ý định khởi nghiệp lại Và cuối cùng là trình bày các hạn chế mà nghiên cứu này gặp phải.

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong tháng 04 năm 2020 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Giai đoạn sơ bộ sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng để điều chỉnh mô hình nghiên cứu và làm rõ bảng thang đo các khái niệm Nghiên cứu định tính bao gồm hai bước: phỏng vấn tay đôi với ba chuyên gia có kiến thức về khởi nghiệp và phỏng vấn nhóm mười người đã từng khởi nghiệp nhưng thất bại, hiện có ý định khởi nghiệp lại Nghiên cứu định lượng sơ bộ với kích thước mẫu 100 đã được thực hiện Trong giai đoạn nghiên cứu chính thức, phương pháp định lượng được áp dụng thông qua phỏng vấn trực tuyến qua Google, email và bảng hỏi giấy Tổng số bảng hỏi phát ra là 450, trong đó thu về 378 bảng hợp lệ.

Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm 5 chương như sau:

Chương 1 – Giới thiệu nghiên cứu Nghiên cứu trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tế của nghiên cứu, và kết cấu của luận văn này

Chương 2 – Cơ sở lý luận Nghiên cứu trình bày các khái niệm trong nghiên cứu, các lý thuyết nền, các nghiên cứu trước có liên quan, và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất

Chương 3 – Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu trình bày quy trình của nghiên cứu này Mục tiêu của chương này là đưa ra các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Thang đo lường cho các khái niệm nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, kích cỡ mẫu cũng sẽ được xây dựng trong chương này

Chương 4 – Kết quả nghiên cứu định lượng Trong chương này sẽ trình bày kết quả phân tích và xử lý dữ liệu đã thu thập bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 Nghiên cứu đánh giá độ tin cậy của thang đo lường các khái niệm trong mô hình lý thuyết thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, sau đó phân tích nhân tố khám phá, và phân tích mô hình hồi quy tuyến tính, sau cùng là thảo luận kết quả nghiên cứu đạt được

Chương 5 – Kết luận và khuyến nghị Chương này sẽ tổng hợp lại các kết quả đạt được từ mục tiêu nghiên cứu đã đưa ra trong chương 1 Sau đó dựa trên kết quả phân tích được từ chương 4, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị dành cho những người có ý định khởi nghiệp lại Và cuối cùng là trình bày các hạn chế mà nghiên cứu này gặp phải.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Các khái niệm trong nghiên cứu

2.1.1 Khởi nghiệp (khởi sự kinh doanh – entrepreneurship)

Khởi nghiệp là quá trình bắt đầu một sự nghiệp hoặc doanh nghiệp mới, thường diễn ra sau khi tốt nghiệp và có thể bắt đầu từ vị trí làm thuê Nó không chỉ đơn thuần là việc làm chủ doanh nghiệp mà còn bao gồm việc quản lý và điều hành một doanh nghiệp mới, thường là doanh nghiệp vừa và nhỏ, với khả năng thuê lao động Nghiên cứu này định nghĩa khởi nghiệp như là sự khởi sự kinh doanh và quản lý một doanh nghiệp mới (Hoàng Thị Phương Thảo và Bùi Thanh Chi, 2013).

Theo Kirzner (1973), khả năng phát hiện và khai thác lợi thế từ sự khác biệt giá giữa các thị trường được coi là một hình thức khởi nghiệp Bên cạnh đó, Shapero và Sokol (1982) định nghĩa tinh thần khởi nghiệp là quá trình mà cá nhân chủ động nắm bắt những cơ hội kinh doanh hấp dẫn và khả thi mà họ nhận diện.

Khởi nghiệp là hành động kinh doanh đánh dấu sự khởi đầu của những thay đổi, khi nó phát triển cơ hội đổi mới để mở rộng thị trường hiện tại hoặc tạo ra các thị trường mới (Henley và cộng sự, 2017).

Trong nghiên cứu này, khởi nghiệp được định nghĩa là hoạt động khởi nghiệp được thực hiện lại sau khi lần khởi nghiệp trước đó không thành công.

2.1.2 Ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự liên quan ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Vangelis Souitaris và cộng sự, 2007), là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta và Bhawe, 2007) Ý định khởi nghiệp của một cá nhân bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Andreas Kuckertz và Wagner, 2010) Ý định khởi nghiệp đã được nghiên cứu từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Một trong những cách phổ biến nhất là xem các ý định mạo hiểm kinh doanh là hành vi có kế hoạch, phụ thuộc vào sự kiểm soát hành động của con người (Fishbein và Ajzen,

Theo Thuyết Hành vi Lý trí (TPB), ý định khởi nghiệp là yếu tố quan trọng nhất trong việc thực hiện hành động khởi nghiệp Ý định này phụ thuộc vào ba yếu tố chính: thứ nhất, sự mong muốn được nhận thức, thể hiện thái độ tích cực đối với khởi nghiệp; thứ hai, tính khả thi được nhận thức, liên quan đến năng lực tự nhận thức của cá nhân để thực hiện khởi nghiệp; và thứ ba, các chuẩn mực xã hội, phản ánh mức độ nhận thức về áp lực từ xã hội và niềm tin về việc thực hiện hành vi khởi nghiệp.

Theo Gartner (1988), ý định khởi nghiệp được định nghĩa là quá trình tìm kiếm thông tin và các nguồn lực cần thiết để bắt đầu một doanh nghiệp Krueger và cộng sự (2000) nhấn mạnh rằng ý định là yếu tố dự báo quan trọng cho hành vi khởi nghiệp của cá nhân.

Cơ sở lý thuyết

2.2.1 Thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)

Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein,

Năm 1975, lý thuyết TRA đã được phát triển từ cuối thập niên 60 và mở rộng trong thập niên 70, nhấn mạnh rằng quyết định hành vi là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi tiêu dùng Quyết định này chịu ảnh hưởng từ hai yếu tố chính: thái độ và ảnh hưởng xã hội Thái độ phản ánh niềm tin tích cực hoặc tiêu cực của người tiêu dùng đối với sản phẩm, trong khi ảnh hưởng xã hội đề cập đến tác động của các mối quan hệ xã hội lên quyết định của cá nhân.

Hình 2.1 Mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA

2.2.2 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB)

Thuyết hành vi dự định (TPB) do Ajzen phát triển vào năm 1991, xuất phát từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA) của Ajzen và Fishbein TPB cho rằng hành vi có thể được dự đoán hoặc giải thích thông qua các xu hướng hành vi liên quan đến việc thực hiện hành vi đó Những xu hướng này bao gồm các yếu tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi, được định nghĩa là mức độ nỗ lực mà cá nhân sẵn sàng bỏ ra để thực hiện hành vi.

Xu hướng hành vi được xác định bởi ba yếu tố chính: đầu tiên là thái độ, thể hiện đánh giá tích cực hoặc tiêu cực về hành vi Thứ hai là ảnh hưởng xã hội, liên quan đến sức ép xã hội mà cá nhân cảm nhận để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi Cuối cùng, thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen bổ sung yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA, làm tăng tính chính xác trong việc dự đoán hành vi con người.

Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận ảnh hưởng đến mức độ dễ dàng hay khó khăn trong việc thực hiện hành vi, phụ thuộc vào nguồn lực và cơ hội sẵn có Ajzen chỉ ra rằng yếu tố kiểm soát hành vi có tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi Nếu cá nhân nhận thức đúng về mức độ kiểm soát của mình, thì yếu tố này còn có thể dự đoán hành vi một cách chính xác.

Hình 2.2 Mô hình lý thuyết hành vi dự định

2.2.3 Mô hình dự đoán hành vi của Shapero và Sokol (1982)

Mô hình "Sự kiện Doanh nhân" của Shapero và Sokol (1982) thể hiện ý định ngầm trong lĩnh vực kinh doanh, cho thấy rằng những ý định khởi nghiệp xuất phát từ nhận thức về mong muốn và tính khả thi, cùng với khuynh hướng hành động theo cơ hội.

Mô hình của Shapero cho rằng quán tính có thể dẫn dắt hành vi của con người cho đến khi có một yếu tố nào đó làm thay đổi quán tính đó Những yếu tố này thường là tiêu cực, như mất việc làm hoặc ly hôn, nhưng cũng có thể là tích cực, chẳng hạn như nhận thừa kế hoặc trúng xổ số Sự thay đổi này thúc đẩy người ra quyết định tìm kiếm cơ hội tốt nhất từ nhiều lựa chọn khác nhau (J A Katz, 1992).

Việc lựa chọn hành vi phụ thuộc vào sự tin cậy của các hành vi thay thế và khuynh hướng hành động của người ra quyết định "Sự tin cậy" yêu cầu hành vi được xem là mong muốn và khả thi Do đó, để bắt đầu một doanh nghiệp, cần có uy tín và khuynh hướng hành động trước khi thực hiện các bước tiếp theo.

Hình 2.3 Mô hình dự đoán hành vi SEE

Ngoại sinh, giống như TPB, không tác động trực tiếp đến ý định hoặc hành vi, mà ảnh hưởng thông qua nhận thức về tình hình và tính khả thi của con người Một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng tính khả thi, mong muốn được nhận thức và xu hướng hành động giải thích một cách khác biệt nửa phương sai trong ý định hướng tới tinh thần kinh doanh, trong đó tính khả thi đóng vai trò giải thích phương sai nhiều nhất (Krueger).

Shapero và Sokol (1982) nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức trong quá trình khởi nghiệp Các sự kiện cuộc sống đáng chú ý, như mất việc làm hoặc di cư, có thể kích thích sự gia tăng hoạt động kinh doanh Những người sáng lập không thay đổi, nhưng nhận thức về hoàn cảnh mới đã thay đổi Khả năng kinh doanh tiềm ẩn đã tồn tại, nhưng cần phải được khai thác và phát triển.

Năm 1982, đã có những ví dụ về việc thành lập công ty, trong đó các hoàn cảnh chủ quan đã thay đổi, chẳng hạn như việc kỷ niệm sinh nhật thứ 40 của một cá nhân.

2.2.4 Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Krueger và cộng sự, 2000)

Mô hình sự kiện khởi nghiệp (EEM) được phát triển bởi Krueger và cộng sự (2000) dựa trên mô hình SEE của Shapero và Sokol (1982) Mô hình này xác định ba yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp: thứ nhất là mong muốn khởi nghiệp, thứ hai là cảm nhận về tính khả thi, và thứ ba là khuynh hướng hành động, thể hiện xu hướng thực hiện các hành động phù hợp với quyết định của cá nhân.

(2000) không có sự thay đổi nhiều so với mô hình cũ trước đó của Shapero và Sokol

(1982), xu hướng hành động được thay thế cho biến thay đổi trong cuộc sống.

Các nghiên cứu trước

2.3.1 Nghiên cứu của Zahariah Mohd Zain và cộng sự (2010)

Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Zahariah Mohd Zain (2010)

Theo nghiên cứu của Zahariah Mohd Zain và cộng sự (2010), các yếu tố như việc tham gia các khóa học kinh doanh, ảnh hưởng từ truyền thống kinh doanh trong gia đình và đặc điểm cá nhân đều có tác động đáng kể đến khởi nghiệp doanh nghiệp (KSDN) của sinh viên kinh tế tại Malaysia.

2.3.2 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011)

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011), sự sẵn sàng kinh doanh, tính cách cá nhân và đam mê kinh doanh là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Ngoài ra, yếu tố nguồn vốn cũng đóng vai trò quan trọng, nhưng thực tế cho thấy sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn và thường ngần ngại vay vốn để khởi nghiệp, dẫn đến nguồn vốn có tác động sâu sắc đến ý định khởi sự doanh nghiệp trong sinh viên.

Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011)

(Nguồn: Nguyễn Thị Yến và cộng sự, 2011)

2.3.3 Nghiên cứu của Hoàng Thị Phương Thảo và Bùi Thị Thanh Chi (2013)

Hoàng Thị Phương Thảo và Bùi Thị Thanh Chi (2013) đã tiến hành nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp của họ, bao gồm rào cản gia đình, nguồn vốn, sự hỗ trợ từ gia đình, đặc điểm môi trường, động cơ đẩy, động cơ kéo và các đặc điểm cá nhân.

Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của H.T.P Thảo và B.T.T Chi (2013)

(Nguồn: Hoàng Thị Phương Thảo và Bùi Thị Thanh Chi, 2013)

Nghiên cứu chỉ ra rằng đặc điểm cá nhân là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến ý định khởi nghiệp của nhóm đối tượng Bên cạnh đó, nguồn vốn khởi nghiệp, động cơ đẩy, sự hỗ trợ từ gia đình, động cơ kéo và rào cản gia đình cũng đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, môi trường không tác động đến ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại thành phố Hồ Chí Minh, do vai trò hạn chế của các hoạt động tuyên truyền và hiệp hội trong việc thúc đẩy khởi nghiệp.

2.3.4 Nghiên cứu của Kristandya và Aldiantob (2015)

Kristandya và Aldiantob (2015) đã tiến hành nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh nhượng quyền dịch vụ của sinh viên tại Bandung, thành phố lớn thứ tư của Indonesia Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định trong việc lựa chọn khởi nghiệp của sinh viên, từ đó giúp hiểu rõ hơn về môi trường kinh doanh nhượng quyền tại khu vực này.

Nghiên cứu của Kristandya và Aldiantob (2015) chỉ ra rằng sở thích cá nhân, cơ hội kinh doanh, môi trường kinh doanh và sự tự tin đều có tác động tích cực đến ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên tại Indonesia.

Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của Kristandya và Aldiantob (2015)

2.3.5 Nghiên cứu của Linh và cộng sự (2016)

Nghiên cứu của Linh và cộng sự (2016) chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố thúc đẩy khởi nghiệp, nhận thức rủi ro và hành vi có chủ định trong việc trở thành chủ doanh nghiệp Cụ thể, nhận thức mong muốn và khả thi trong khởi nghiệp có tác động đáng kể đến ý định khởi nghiệp của cá nhân.

Hình 2.8 Mô hình nghiên cứu của Linh và cộng sự (2016)

(Nguồn: Linh và cộng sự, 2016)

2.3.6 Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016)

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại các trường đại học và cao đẳng ở thành phố Cần Thơ.

Hình 2.9 Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016)

(Nguồn: Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự, 2016)

Nghiên cứu cho thấy, kinh nghiệm làm việc và nguồn vốn không ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại Cần Thơ Trong khi đó, thái độ và đam mê được xác định là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến ý định khởi nghiệp Các yếu tố như sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan và giáo dục cũng có ảnh hưởng tích cực, nhưng ở mức độ thấp hơn.

2.3.7 Nghiên cứu của Lê Thị Trang Đài và Nguyễn Thị Phương Anh (2016)

Lê Thị Trang Đài và N.T.P Anh (2016) đã thực hiện nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế và kỹ thuật tại Đại học Lạc Hồng Mô hình nghiên cứu chỉ ra rằng có năm yếu tố chính tác động đến ý định khởi nghiệp, bao gồm thái độ cá nhân, nhận thức xã hội, nhận thức kiểm soát hành vi, cảm nhận cản trở tài chính, và giáo dục.

Hình 2.10 Mô hình nghiên cứu của Lê Thị Trang Đài và N.T.P Anh (2016)

(Nguồn: Lê Thị Trang Đài và N.T.P Anh, 2016)

Nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các yếu tố trong mô hình đều tác động đến ý định khởi nghiệp, với cảm nhận cản trở tài chính có ảnh hưởng tiêu cực, trong khi yếu tố giáo dục lại thể hiện ảnh hưởng mạnh mẽ nhất.

Hình 2.11 Mô hình nghiên cứu của Hutasuhut (2018)

Nghiên cứu của Hutasuhut (2018) về vai trò của kiến thức khởi nghiệp, tố chất cá nhân, gia đình và giáo dục đối với ý định khởi nghiệp đã khảo sát 349 sinh viên khoa kinh tế tại Đại học Negeri Medan, Indonesia Kết quả cho thấy tố chất cá nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến ý định khởi nghiệp, trong khi kiến thức khởi nghiệp và nền tảng gia đình cũng có tác động nhất định Tuy nhiên, yếu tố giáo dục không có ảnh hưởng đáng kể đến ý định khởi nghiệp.

Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu trước

STT Tác giả Chủ đề nghiên cứu Nội dung

Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên Malaysia

+ Tham gia các khóa học kinh doanh

+ Ảnh hưởng từ truyền thống kinh doanh + Môi trường kinh doanh + Đặc điểm cá nhân + Ý định khởi nghiệp

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ĐHQG TP.HCM

+ Sự sẵn sàng kinh doanh + Tính cách cá nhân + Sự đam mê

+ Nguồn vốn + Ý định khởi nghiệp

Phương Thảo và Bùi Thị

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại thành phố Hồ Chí Minh

+ Rào cản của gia đình + Nguồn vốn

+ Hỗ trợ từ gia đình + Đặc điểm môi trường + Động cơ đẩy

+ Động cơ kéo + Đặc điểm cá nhân + Ý định khởi nghiệp

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của sinh viên trong việc khởi nghiệp kinh doanh nhượng quyền dịch vụ ở Bandung

+ Sở thích cá nhân + Cơ hội kinh doanh + Môi trường kinh doanh + Sự tự tin

STT Tác giả Chủ đề nghiên cứu Nội dung

Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa các yếu tố thúc đẩy khởi nghiệp, nhận thức về rủi ro và hành vi có chủ đích trong việc trở thành chủ doanh nghiệp Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành quyết định khởi nghiệp của cá nhân Sự hiểu biết về rủi ro có thể ảnh hưởng đến hành vi khởi nghiệp, trong khi các yếu tố thúc đẩy như động lực cá nhân và môi trường kinh doanh cũng góp phần quyết định.

+ Nhận thức mong muốn trong khởi nghiệp

+ Nhận thức khả thi trong khởi nghiệp

Quốc Nghi và cộng sự

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại các trường đại học và cao đẳng ở thành phố Những yếu tố này có thể bao gồm động lực cá nhân, môi trường học tập, sự hỗ trợ từ giảng viên và các chương trình khởi nghiệp Kết quả nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên, từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ phát triển tinh thần khởi nghiệp trong cộng đồng sinh viên.

+ Thái độ + Nguồn vốn + Sự sẵn sàng kinh doanh + Sự đam mê kinh doanh + Kinh nghiệm làm việc + Quy chuẩn chủ quan + Giáo dục

Lê Thị Trang Đài và

Nghiên cứu năm 2016 tại trường Đại học Lạc Hồng tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế và kỹ thuật Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố chính thúc đẩy sinh viên trong việc khởi nghiệp, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc phát triển chương trình đào tạo và hỗ trợ khởi nghiệp tại trường.

+Giáo dục + Nhận thức xã hội + Thái độ cá nhân + Nhận thức kiểm soát hành vi

+ Cảm nhận cản trở tài chính

Nghiên cứu về vai trò của kiến thức khởi nghiệp, tố chất cá nhân, gia đình, giáo dục đối với ý định khởi nghiệp

+ Nền tảng giáo dục + Nền tảng gia đình + Tố chất cá nhân + Kiến thức khởi nghiệp + Ý định khởi nghiệp

(Nguồn: tác giả tổng hợp)

Đề xuất mô hình nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu dựa trên mô hình của Ajzen (1991) cho thấy rằng các đặc điểm cá nhân như tính sáng tạo, mức độ chấp nhận rủi ro, khả năng chịu đựng và nền tảng gia đình có ảnh hưởng đáng kể đến ý định khởi nghiệp (Gurel và cộng sự, 2010; Matlay và cộng sự, 2013).

Nghiên cứu của Sullivan và Meek (2012) chỉ ra rằng phụ nữ có mức ảnh hưởng cao hơn nam giới trong ý định khởi nghiệp, trong khi Nicolaou và Shane (2010) lại không tìm thấy sự khác biệt giữa hai giới Maes và cộng sự (2014) cho thấy thái độ cá nhân và sự kiểm soát hành vi của phụ nữ trong khởi nghiệp yếu hơn so với nam giới, do phụ nữ thường ưu tiên cân bằng các giá trị xã hội như gia đình Điều này dẫn đến việc phụ nữ ít đạt được thành tựu hơn trong khởi nghiệp so với nam giới Sự mâu thuẫn trong các nghiên cứu về giới tính và ý định khởi nghiệp cho thấy cần xem xét vai trò của giới tính trong "ý định khởi nghiệp lại" của những người đã từng thất bại trong kinh doanh.

Theo nghiên cứu của Zain và cộng sự (2010), ngoài các đặc điểm tính cách, yếu tố nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính và học vấn cũng ảnh hưởng đến tinh thần kinh doanh Mazzarol và cộng sự (1999) chỉ ra rằng phụ nữ có khả năng trở thành người sáng lập doanh nghiệp thấp hơn so với nam giới Nhiều nghiên cứu, chẳng hạn như của Mazzarol và Kolvereid (1996), cho thấy nam giới có ý định kinh doanh cao hơn đáng kể so với nữ giới.

Theo Wu và cộng sự (2008), giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các kết quả tích cực, bao gồm thay đổi thái độ và khả năng cá nhân cũng như tác động xã hội Họ cho rằng giáo dục là yếu tố then chốt trong việc cải thiện khả năng quản lý, từ đó làm tăng ý định tự kinh doanh Hơn nữa, nghiên cứu của Webb và cộng sự (1982) chỉ ra rằng sinh viên tham gia các khóa học khởi nghiệp có ý định kinh doanh cao hơn so với những sinh viên khác.

Nghiên cứu về ý định hành vi đã có một lịch sử phong phú trong tâm lý học, bắt đầu từ các khái niệm của Ajzen và Fishbein (1980) và được mở rộng qua nhiều nghiên cứu khác như Bird (1988), Katz và Gartner (1988), cùng với Krueger Jr và Brazeal (1994) Các nghiên cứu thực nghiệm cũng đã được thực hiện, như Krueger Jr (1993), nhằm làm rõ hơn về ý định hành vi trong các bối cảnh khác nhau.

Nghiên cứu của Scott và Twomey (1988) cho thấy rằng ý định kinh doanh là yếu tố cốt lõi trong việc hiểu quy trình kinh doanh, vì chúng tạo nền tảng cho các tổ chức mới Krueger (1993) nhấn mạnh rằng ý định kinh doanh không chỉ quan trọng mà còn là bước đầu tiên trong quá trình phát triển lâu dài, khi mà kinh doanh diễn ra theo thời gian (Gartner và cộng sự, 1994).

Theo Aronsson (2004), việc dạy người khác cách trở thành doanh nhân và đào tạo họ làm việc như một doanh nhân là rất quan trọng Robinson và Sexton (1994) cho rằng kinh nghiệm làm việc có ảnh hưởng đến khả năng sở hữu doanh nghiệp nhỏ, tuy nhiên, tác động này không mạnh mẽ bằng giáo dục.

Giả thuyết H1(+) được đề xuất: “Kiến thức khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại.”

Ajzen và Fishbein (1975) khẳng định rằng thái độ là yếu tố dự đoán đáng tin cậy cho hành vi tương lai Kolvereid và Isaksen (2006) chỉ ra rằng niềm tin có mối liên hệ chặt chẽ với thái độ tự làm chủ Ý định hành vi được định nghĩa là xác suất chủ quan mà một người sẽ thực hiện một số hành vi (Fishbein và Ajzen, 1975) Cả hai lý thuyết hành động lý luận và lý thuyết hành vi hoạch định đều liên kết thái độ, hành vi và ý định Nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi bao gồm thái độ, giáo dục, đào tạo, giới tính và chủng tộc (Delmar và Davidsson, 2000), và những yếu tố này có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến ý định khởi sự một doanh nghiệp mới.

Sự đam mê kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong quyết định khởi sự doanh nghiệp và góp phần vào thành công của doanh nghiệp, theo nghiên cứu của Alsos và Kolvereid (1998) Các nghiên cứu trước đó của Krueger (1993) và Devonish cùng cộng sự cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố này trong việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp.

Nhận thức mong muốn bao gồm thái độ cá nhân và nhận thức khả thi, liên quan đến sự tự tin vào năng lực bản thân cũng như khả năng kiểm soát hành vi nhận thức.

Giả thuyết H2(+) được đề xuất: “Thái độ khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại.”

Môi trường khởi nghiệp bao gồm môi trường thể chế, nơi xác định các chuẩn mực hành vi mà cá nhân cần tuân thủ và những giá trị được xã hội công nhận (Bruton và cộng sự, 2010) Môi trường thể chế ảnh hưởng đến việc các hoạt động khởi nghiệp có được hỗ trợ và khuyến khích hay không Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng xã hội tạo ra các chuẩn mực, cả một cách có chủ ý lẫn vô tình, có thể thúc đẩy hoặc cản trở các giao dịch kinh doanh (Minniti, 2008).

Năm 1996, đã ghi nhận một số trường hợp cho thấy khía cạnh quy chuẩn của môi trường thể chế ảnh hưởng đến nỗ lực của doanh nhân trong sản xuất, từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế De Clercq và cộng sự (2010) chỉ ra rằng ở một số quốc gia, xã hội không luôn coi tài sản là hiện tượng tích cực, điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh mới.

Theo Prahalad (2005), hệ sinh thái khởi nghiệp là một môi trường cho phép cá nhân, doanh nghiệp và xã hội hợp tác hiệu quả nhằm tạo ra của cải và thịnh vượng kinh tế Đặc trưng nổi bật của hệ sinh thái này là sự kết nối giữa các bên liên quan, thường có những mục tiêu và kỳ vọng khác nhau Môi trường khởi nghiệp không chỉ là chất xúc tác cho sự phát triển kinh tế xã hội ổn định mà còn là động lực quan trọng trong việc phục hồi các nền kinh tế đang đối mặt với suy thoái.

Van de Ven (1993) đã mô tả cơ sở hạ tầng công nghiệp là yếu tố quan trọng vừa hỗ trợ vừa hạn chế sự khởi nghiệp Cơ sở hạ tầng này bao gồm các sắp xếp thể chế để điều chỉnh và tiêu chuẩn hóa công nghệ mới, cung cấp nguồn lực công cộng về kiến thức khoa học cơ bản, cơ chế tài chính, nguồn lao động có năng lực, cùng với các chức năng nghiên cứu và phát triển, sản xuất, tiếp thị và phân phối độc quyền.

Giả thuyết H3(+) cho rằng môi trường khởi nghiệp có tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp lại của những người đã từng khởi nghiệp nhưng không thành công.

Tóm tắt chương 2

Trong chương 2, bài viết đã trình bày các lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu trước liên quan, tạo cơ sở cho việc phát triển mô hình nghiên cứu và bảng thang đo Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm sáu yếu tố chính tác động trực tiếp lên ý định khởi nghiệp lại, bao gồm: Kiến thức khởi nghiệp, Thái độ khởi nghiệp, Môi trường khởi nghiệp, Kinh nghiệm, Tố chất cá nhân và Nguồn vốn Đồng thời, nghiên cứu cũng trình bày các giả thuyết nghiên cứu dựa trên mô hình này.

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo quy trình được tóm tắt trong Hình 3.1

Hình 3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra tính cấp thiết của đề tài và lý do cần thiết để tiến hành nghiên cứu Dựa trên các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước, nghiên cứu đã đề xuất một mô hình nghiên cứu sơ bộ cùng với bảng thang đo.

Sau khi hoàn thiện mô hình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu định tính qua hai bước Bước đầu tiên là phỏng vấn tay đôi với ba chuyên gia có kiến thức sâu về khởi nghiệp nhằm điều chỉnh mô hình Bước thứ hai là phỏng vấn nhóm mười người đã từng khởi nghiệp nhưng không thành công, để kiểm tra sự hiểu biết của họ về các câu hỏi trong bảng thang đo Qua đó, chúng tôi điều chỉnh bảng hỏi cho rõ ràng và dễ hiểu, nhằm tránh những nhầm lẫn có thể làm sai lệch thông tin thu thập.

Sau khi điều chỉnh mô hình nghiên cứu và bảng hỏi, nghiên cứu đã tiến hành một nghiên cứu sơ bộ định lượng với mẫu gồm 100 cá nhân từng khởi nghiệp thất bại Bảng hỏi được phát trực tiếp và dữ liệu thu thập được phân tích bằng SPSS 20.0 nhằm kiểm tra tính hội tụ của thang đo và mức độ phù hợp của dữ liệu Kết quả phân tích này giúp điều chỉnh thang đo cho hợp lý, tạo thành thang đo chính thức cho nghiên cứu.

Bảng hỏi chính thức đã được phát triển để khảo sát 450 cá nhân từng khởi nghiệp nhưng không thành công Kết quả khảo sát được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0, từ đó viết báo cáo, đưa ra kết luận và khuyến nghị cho những người có ý định tái khởi nghiệp hoặc khởi nghiệp mới.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này trải qua hai giai đoạn: nghiên cứu định tính và định lượng Giai đoạn đầu tiên, nghiên cứu định tính, bao gồm phỏng vấn chuyên sâu với 03 ứng viên là chuyên gia khởi nghiệp thành công, nhằm điều chỉnh mô hình nghiên cứu cho phù hợp với bối cảnh Tiếp theo là phỏng vấn nhóm với 10 doanh nhân đã trải qua thất bại trong khởi nghiệp, giúp làm rõ các vấn đề liên quan và xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp lại Dựa trên góp ý từ phỏng vấn nhóm, bảng thang đo đã được hoàn chỉnh trước khi tiến hành khảo sát định lượng Giai đoạn nghiên cứu định lượng chia thành hai bước: nghiên cứu định lượng sơ bộ với mẫu 100 và nghiên cứu định lượng chính thức với mẫu 378, sử dụng phương pháp phát bảng hỏi trực tiếp.

Xây dựng thang đo

Dựa trên cơ sở lý luận trong chương 2, nghiên cứu xác định bảy khái niệm quan trọng trong mô hình lý thuyết khởi nghiệp Đầu tiên, "kiến thức khởi nghiệp" là tập hợp kiến thức mà người khởi nghiệp tích lũy từ học tập, làm việc và từ những thất bại trước đó Thứ hai, "thái độ khởi nghiệp" phản ánh tâm lý của người khởi nghiệp sau khi trải qua thất bại Thứ ba, "môi trường khởi nghiệp" đề cập đến các yếu tố xung quanh ảnh hưởng đến quá trình khởi nghiệp Thứ tư, "kinh nghiệm" là những bài học rút ra từ quá trình làm việc và các lần khởi nghiệp không thành công Thứ năm, "tố chất cá nhân" là những phẩm chất của người khởi nghiệp có tác động trực tiếp đến thành công Thứ sáu, "nguồn vốn" là tài chính mà người khởi nghiệp có sẵn hoặc có khả năng huy động để khởi nghiệp Cuối cùng, "ý định khởi nghiệp lại" là mong muốn của người đã thất bại trong khởi nghiệp muốn thử sức lần nữa.

Bảng 3.10 trình bày các khái niệm nghiên cứu được chọn lọc từ những nghiên cứu trước đó và đã được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh nghiên cứu hiện tại.

Bảng 3.1 Thang đo lường các khái niệm trong nghiên cứu

STT Khái niệm nghiên cứu Thang đo lường Nguồn tham khảo

1 Nắm bắt được kiến thức về môi trường khởi nghiệp

2 Hiểu rõ những khả năng cần thiết để trở thành một nhà khởi nghiệp

3 Nhận diện được thời cơ để khởi nghiệp

4 Sử dụng phần mềm quản trị

12 Đàm phán và kêu gọi vốn

13 Phát triển được mạng lưới quan hệ

1 Bạn sẵn sàng làm mọi thứ để trở thành một nhà khởi nghiệp

Krueger Jr (1993); Maes và cộng sự

2 Mục tiêu tối thượng của bạn là khởi nghiệp

3 Bạn sẽ dồn hết tất cả tâm huyết để thành lập và vận hành doanh nghiệp của bạn

4 Bạn đã chắc chắn về dự định thành lập doanh nghiệp của bạn trong tương lai

5 Bạn có một suy nghĩ nghiêm túc về việc thành lập một doanh nghiệp

STT Khái niệm nghiên cứu Thang đo lường Nguồn tham khảo

6 Bạn đã có sẵn một ý tưởng về công ty mà bạn sẽ phát triển mới trong tương lai

7 Bạn rất chắc chắn về bản thân mình

8 Bạn rất thích làm việc đó

1 Khi bạn quyết định mở một doanh nghiệp, những người xung quanh luôn ủng hộ bạn?

Zahariah Mohd Zain (2010) Kristandya và Aldiantob (2015) Hutasuhut (2018)

2 Nhận được nhiều sự hỗ trợ vật chất lẫn tinh thần từ phía gia đình và người thân?

3 Tôi không bị vướng bận về mặt thời gian với người thân khi quyết định khởi nghiệp?

4 Cơ chế pháp luật hiện nay ủng hộ cho các hoạt động khởi nghiệp rất tốt

5 Chính phủ luôn có những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp

6 Nhận được nhiều sự hỗ trợ từ các hiệp hội doanh nghiệp

1 Tôi có kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch kinh doanh

2 Tôi có kinh nghiệm để xử lý các rủi ro trong khởi nghiệp

3 Tôi có kinh nghiệm trong việc huy động vốn cho một kế hoạch kinh doanh

4 Tôi có kinh nghiệm để làm việc nhóm đạt hiệu quả tốt nhất

5 Tôi có kinh nghiệm trong việc giải quyết các xung đột nội bộ

6 Tôi có kinh nghiệm quản lý

5 1 Tôi có cảm giác tốt trước những cơ hội tiềm năng

STT Khái niệm nghiên cứu Thang đo lường Nguồn tham khảo

2 Tôi có khả năng hòa đồng với mọi người

(1988) Krueger Jr và Brazeal (1994) Matlay và cộng sự

3 Tối mong muốn quyền lực

4 Tôi có khả năng đổi mới bản thân mình bằng việc nâng cao kiến thức

5 Tôi hứng thú với việc đối mặt và vượt qua các rào cản để biến ý tưởng thành hiện thực

6 Tôi chấp nhận rủi ro khi thử làm một điều gì đó mới mẻ

7 Tôi thường lắng nghe và cân nhắc khi nhận được một lời khuyên từ người khác

8 Tôi có trách nhiệm với việc bạn đang làm và nhẫn nại thực hiện nó cho đến khi đạt được như mong đợi

9 Tôi có thể nhận biết những cơ hội tốt trước những người khác

10 Tôi thích ứng nhanh với sự thay đổi

11 Tôi hiểu rõ về khả năng, điểm mạnh, và điểm yếu của bản thân cũng như cách khắc phục chúng

1 Tôi có nguồn vốn tích lũy cho khởi nghiệp trở lại

2 Tôi được người thân hỗ trợ vốn cho khởi nghiệp lại

3 Tôi có khả năng vay được vốn vay từ các ngân hàng để khởi nghiệp lại

4 Tôi có các nguồn vốn khác để huy động cho khởi nghiệp lại

STT Khái niệm nghiên cứu Thang đo lường Nguồn tham khảo

1 Tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì để khởi nghiệp trở lại

Zahariah Mohd Zain (2010) Hutasuhut (2018) Krueger và cộng sự

2 Mục tiêu của tôi là trở thành một doanh nhân

3 Tôi luôn cố gắng để công ty của tôi sớm được thành lập trở lại

4 Tôi đã suy nghĩ rất nghiêm túc trong việc khởi nghiệp lại

5 Tôi đã chuẩn bị mọi thứ để khởi nghiệp lại

3.3.1 Kết quả nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được thực hiện qua hai bước, bắt đầu bằng việc phỏng vấn ba chuyên gia trong lĩnh vực khởi nghiệp Mục đích của bước này là hoàn thiện mô hình nghiên cứu đề xuất trong chương 2 Sau khi xem xét ý kiến từ các chuyên gia, tác giả quyết định giữ nguyên mô hình ban đầu vì hầu hết đều cho rằng các yếu tố phụ thuộc trong mô hình có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Trong bối cảnh nghiên cứu khởi nghiệp, các yếu tố này vẫn giữ vai trò quan trọng Một số chuyên gia đề xuất thêm biến phụ thuộc như Giáo dục khởi nghiệp và Sự đam mê kinh doanh, nhưng tác giả nhận thấy rằng Giáo dục khởi nghiệp là bước đệm cho kiến thức khởi nghiệp, còn Sự đam mê kinh doanh thuộc về yếu tố Tố chất cá nhân và Thái độ khởi nghiệp Do đó, trong bối cảnh và hạn chế của nghiên cứu, tác giả mong muốn khảo sát các yếu tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu để đánh giá mức độ ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp.

Trong bước hai của nghiên cứu định tính, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn nhóm

Kết quả phỏng vấn nhóm 10 người đã dẫn đến việc điều chỉnh bảng thang đo, bao gồm: (1) thang đo Kiến thức khởi nghiệp với 13 biến quan sát, (2) thang đo Thái độ khởi nghiệp có 8 biến quan sát, (3) thang đo Môi trường khởi nghiệp với 6 biến quan sát, (4) thang đo Kinh nghiệm gồm 6 biến quan sát, (5) thang đo Tố chất cá nhân với 11 biến quan sát, và (6) thang đo Nguồn vốn.

Nghiên cứu này bao gồm 53 biến quan sát cho 7 khái niệm, trong đó có 4 biến quan sát và 5 biến quan sát cho thang đo Ý định khởi nghiệp Các biến quan sát được đánh giá bằng thang đo Likert 5 điểm, từ 1 (Rất không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý) Kết quả hiệu chỉnh thang đo được trình bày dưới đây.

Kiến thức khởi nghiệp được đánh giá thông qua 13 biến quan sát, được tổng hợp từ các thang đo trong các nghiên cứu trước đây (Bảng 3.1) Các biến quan sát này được ký hiệu từ KTKN1 đến KTKN13, với kết quả hiệu chỉnh được trình bày trong Bảng 3.2.

Bảng 3.2 Kết quả hiệu chỉnh thang đo Kiến thức khởi nghiệp

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

KTKN1 1 Nắm bắt được kiến thức về môi trường khởi nghiệp 1 Bạn nắm bắt được kiến thức về môi trường khởi nghiệp KTKN2

2 Hiểu rõ những khả năng cần thiết để trở thành một nhà khởi nghiệp

2 Bạn hiểu rõ những khả năng cần thiết để trở thành một nhà khởi nghiệp

KTKN3 3 Nhận diện được thời cơ để khởi nghiệp

3 Bạn đã trang bị kiến thức để có khả năng nhận diện được thời cơ khởi nghiệp

KTKN4 4 Sử dụng phần mềm quản trị 4 Sử dụng tốt các phần mềm hỗ trợ cho quản trị

KTKN5 5 Lập thời gian biểu 5 Có kiến thức lập thời gian biểu KTKN6 6 Phỏng vấn 6 Có kiến thức trong phỏng vấn

Phân tích thị trường là một kỹ năng quan trọng giúp hiểu rõ xu hướng và nhu cầu của khách hàng Năng lực giải quyết vấn đề cho phép cá nhân tìm ra giải pháp hiệu quả trong các tình huống khó khăn Ngoài ra, việc ra quyết định dựa trên kiến thức vững chắc sẽ giúp đưa ra những lựa chọn tốt nhất cho sự phát triển bền vững.

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

KTKN10 10 Giải quyết xung đột 10 Có kiến thức để giải quyết xung đột

KTKN11 11 Làm việc nhóm 11 Có kiến thức để làm việc nhóm hiệu quả

KTKN12 12 Đàm phán và kêu gọi vốn 12 Có kiến thức trong đàm phán và kêu gọi vốn

KTKN13 13 Phát triển được mạng lưới quan hệ

13 Có kiến thức để phát triển được mạng lưới quan hệ

Thái độ khởi nghiệp được đánh giá thông qua 8 biến quan sát, được ký hiệu từ TDKN1 đến TDKN8 Kết quả này đã được hiệu chỉnh dựa trên khảo sát định tính nhóm, như được trình bày trong Bảng 3.3.

Bảng 3.3 Kết quả hiệu chỉnh thang đo Thái độ khởi nghiệp

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

TDKN1 1 Bạn sẵn sàng làm mọi thứ để trở thành một nhà khởi nghiệp

1 Bạn đã sẵn sàng làm mọi thứ để khởi nghiệp lại

TDKN2 2 Mục tiêu tối thượng của bạn là khởi nghiệp 2 Mục tiêu tối thượng của bạn là phải khởi nghiệp lại TDKN3

3 Bạn sẽ dồn hết tất cả tâm huyết để thành lập và vận hành doanh nghiệp của bạn

3 Bạn sẽ dồn hết tất cả tâm huyết để khởi nghiệp lại lần nữa TDKN4

4 Bạn đã chắc chắn về dự định thành lập doanh nghiệp của bạn trong tương lai

4 Bạn đã lên các kế hoạch cho việc khởi nghiệp lại của bạn trong tương lai

5 Bạn có một suy nghĩ nghiêm túc về việc thành lập một doanh nghiệp

5 Bạn có một suy nghĩ nghiêm túc về việc khởi nghiệp lại TDKN6

6 Bạn đã có sẵn một ý tưởng về công ty mà bạn sẽ phát triển mới trong tương lai

6 Bạn luôn nổ lực để tìm ra các ý tưởng để khởi nghiệp lại trong tương lai

TDKN7 7 Bạn rất chắc chắn về bản thân mình

7 Bạn rất chắc chắn về bản thân mình

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

TDKN8 8 Bạn rất thích làm việc đó 8 Bạn rất thích làm công việc mà bạn đã chọn để khởi nghiệp

Thang đo Môi trường khởi nghiệp gồm có 6 biến quan sát được ký hiệu từ MTKN1 đến MTKN6 Kết quả hiệu chỉnh thang đo cho trong Bảng 3.4

Bảng 3.4 Kết quả hiệu chỉnh thang đo Môi trường kinh doanh

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

1 Khi bạn quyết định mở một doanh nghiệp, những người xung quanh luôn ủng hộ bạn?

1 Khi bạn quyết định khởi nghiệp lại, những người xung quanh luôn ủng hộ bạn

2 Nhận được nhiều sự hỗ trợ vật chất lẫn tinh thần từ phía gia đình và người thân?

2 Bạn nhận được nhiều sự hỗ trợ vật chất lẫn tinh thần từ phía gia đình và người thân

3 Tôi không bị vướng bận về mặt thời gian với người thân khi quyết định khởi nghiệp?

3 Bạn không bị vướng bận về mặt thời gian với người thân khi quyết định khởi nghiệp lại

4 Cơ chế pháp luật hiện nay ủng hộ cho các hoạt động khởi nghiệp rất tốt

4 Cơ chế pháp luật liên quan đến khởi nghiệp hiện nay là rất cần thiết cho cộng đồng khởi nghiệp

MTKN5 5 Chính phủ luôn có những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp

5 Chính phủ luôn có những chính sách hỗ trợ khởi nghiệp

MTKN6 6 Nhận được nhiều sự hỗ trợ từ các hiệp hội doanh nghiệp

6 Sự hỗ trợ từ các hiệp hội doanh nghiệp cũng như cộng đồng khởi nghiệp là rất quan trọng

Thang đo lường khái niệm Kinh nghiệm bao gồm 6 biến quan sát, được ký hiệu từ KN1 đến KN6 Kết quả hiệu chỉnh của thang đo này được trình bày trong Bảng 3.5.

Bảng 3.5 Kết quả hiệu chỉnh thang đo Kinh Nghiệm

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

KN1 1 Tôi có kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch kinh doanh 1 Bạn có kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch kinh doanh

KN2 2 Tôi có kinh nghiệm để xử lý các rủi ro trong khởi nghiệp

2 Bạn có kinh nghiệm để xử lý các rủi ro trong khởi nghiệp KN3

3 Tôi có kinh nghiệm trong việc huy động vốn cho một kế hoạch kinh doanh

3 Bạn có kinh nghiệm trong việc huy động vốn cho một kế hoạch kinh doanh

KN4 4 Tôi có kinh nghiệm để làm việc nhóm đạt hiệu quả tốt nhất

4 Bạn có kinh nghiệm để làm việc nhóm đạt hiệu quả tốt nhất

Tôi có kinh nghiệm trong việc giải quyết các xung đột nội bộ và quản lý hiệu quả Bạn cũng có kinh nghiệm trong những lĩnh vực này, cho thấy sự hiểu biết và khả năng xử lý tình huống phức tạp.

Thang đo lường Tố chất cá nhân bao gồm 11 biến quan sát, và được ký hiệu từ TCCN1 đến TCCN11 Kết quả hiệu chỉnh thang đo cho trong Bảng 3.6

Bảng 3.6 Kết quả hiệu chỉnh thang đo Tố chất cá nhân

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

TCCN1 1 Tôi có cảm giác tốt trước những cơ hội tiềm năng 1 Bạn có cảm giác tốt trước những cơ hội tiềm năng

TCCN2: Tôi có khả năng hòa đồng với mọi người, và bạn cũng có thể hòa đồng với họ TCCN3: Tôi mong muốn có quyền lực, và bạn cũng có khát khao tương tự.

4 Tôi có khả năng đổi mới bản thân mình bằng việc nâng cao kiến thức

4 Bạn có khả năng đổi mới bản thân mình bằng việc nâng cao kiến thức

5 Tôi hứng thú với việc đối mặt và vượt qua các rào cản để biến ý tưởng thành hiện thực

5 Bạn hứng thú với việc đối mặt và vượt qua các rào cản để biến ý tưởng thành hiện thực

TCCN6 6 Tôi chấp nhận rủi ro khi thử làm một điều gì đó mới mẻ 6 Bạn chấp nhận rủi ro khi thử làm một điều gì đó mới mẻ

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

7 Tôi thường lắng nghe và cân nhắc khi nhận được một lời khuyên từ người khác

7 Bạn thường lắng nghe và cân nhắc khi nhận được một lời khuyên từ người khác

8 Tôi có trách nhiệm với việc bạn đang làm và nhẫn nại thực hiện nó cho đến khi đạt được như mong đợi

8 Bạn có trách nhiệm với việc bạn đang làm và nhẫn nại thực hiện nó cho đến khi đạt được như mong đợi

TCCN9 9 Tôi có thể nhận biết những cơ hội tốt trước những người khác

9 Bạn có khả năng nhận biết những cơ hội kinh doanh tốt hơn những người khác

TCCN10 10 Tôi thích ứng nhanh với sự thay đổi

10 Bạn có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi từ môi trường kinh doanh

11 Tôi hiểu rõ về khả năng, điểm mạnh, và điểm yếu của bản thân cũng như cách khắc phục chúng

11 Bạn hiểu rõ về khả năng, điểm mạnh, và điểm yếu của bản thân cũng như cách kiểm soát chúng

Thang đo lường cho khái niệm Nguồn vốn bao gồm 4 biến quan sát, được ký hiệu từ NV1 đến NV4 Kết quả hiệu chỉnh của thang đo này được trình bày trong Bảng 3.7.

Bảng 3.7 Kết quả hiệu chỉnh thang đo Nguồn vốn

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

NV1 1 Tôi có nguồn vốn tích lũy cho khởi nghiệp trở lại 1 Bạn có nguồn vốn tích lũy để khởi nghiệp trở lại

NV2 2 Tôi được người thân hỗ trợ vốn cho khởi nghiệp lại 2 Bạn được người thân hỗ trợ vốn để khởi nghiệp lại NV3

3 Tôi có khả năng vay được vốn vay từ các ngân hàng để khởi nghiệp lại

3 Bạn có khả năng vay vốn từ các ngân hàng để khởi nghiệp lại

NV4 4 Tôi có các nguồn vốn khác để huy động cho khởi nghiệp lại

4 Bạn có các nguồn vốn khác để huy động cho khởi nghiệp lại

Thang đo khái niệm Ý định khởi nghiệp lại được xây dựng với 5 biến quan sát, được ký hiệu từ YD1 đến YD5 Kết quả hiệu chỉnh của thang đo này được trình bày chi tiết trong Bảng 3.8.

Bảng 3.8 Kết quả hiệu chỉnh thang đo Ý định khởi nghiệp lại

Biến quan sát Thang đo lường ban đầu Thang đo lường hiệu chỉnh

YD1 1 Tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì để khởi nghiệp trở lại

1 Bạn sẵn sàng làm bất cứ điều gì để khởi nghiệp trở lại

YD2 2 Mục tiêu của tôi là trở thành một doanh nhân 2 Mục tiêu của bạn là trở thành một doanh nhân YD3

3 Tôi luôn cố gắng để công ty của tôi sớm được thành lập trở lại

3 Bạn luôn cố gắng để công ty của mình sớm được thành lập trở lại

YD4 4 Tôi đã suy nghĩ rất nghiêm túc trong việc khởi nghiệp lại

4 Bạn đã suy nghĩ rất nghiêm túc trong việc khởi nghiệp lại

YD5 5 Tôi đã chuẩn bị mọi thứ để khởi nghiệp lại

5 Bạn đã chuẩn bị mọi thứ để khởi nghiệp lại

3.3.2 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng sơ bộ để đánh giá lại độ tin cậy của thang đo, đồng thời kiểm tra khả năng đảm bảo tính hội tụ và tính phân biệt của thang đo.

Kết quả phân tích cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy tốt với hệ số Cronbach’s alpha ≥ 0.7, và các biến quan sát chủ yếu nhóm lại theo từng khái niệm nghiên cứu, ngoại trừ biến MTKN2 Mặc dù vậy, tác giả vẫn quyết định giữ lại biến MTKN2 trong nghiên cứu chính thức Điều này khẳng định rằng thang đo đảm bảo tính hội tụ và phân biệt, với các biến quan sát đủ khả năng đo lường các khái niệm nghiên cứu.

Bảng 3.9 Kết quả phân tích định lượng sơ bộ

Ma trận xoay nhân tố Hệ số

Ma trận xoay nhân tố Hệ số

Phương pháp trích: Principal Component Analysis

Hệ số KMO = 0.902, với Sig = 0.000

Eigenvalue = 1.388, tổng phương sai trích = 71.232%

(Nguồn: Phân tích SPSS từ số liệu sơ bộ)

Phương pháp chọn mẫu và xử lý số liệu

3.4.1 Xác định kích thước mẫu

Theo Nguyễn Đình Thọ (2013), kích thước mẫu trong nghiên cứu định lượng ảnh hưởng đến độ tin cậy và độ chính xác của kết quả Kích thước mẫu càng lớn sẽ mang lại độ tin cậy cao hơn Các nhà nghiên cứu hiện nay thường sử dụng công thức kinh nghiệm để xác định kích thước mẫu, như EFA yêu cầu n ≥ 50 (Hair và cộng sự, 2009) và n ≥ 5m (Hair và cộng sự, 1998; Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008), trong khi phân tích hồi quy yêu cầu n ≥ 50 + 8k (Green, 1991) Trong nghiên cứu này, tác giả tính toán kích thước mẫu theo công thức của Green (1991) là n = 50 + 8*53 = 474 và theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) là n ≥ 5m = 5*53 = 265 Cuối cùng, mẫu sử dụng trong nghiên cứu có kích thước là 378.

3.4.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Tác giả sẽ sử dụng phương pháp tiếp cận mẫu phi xác suất thuận tiện để khảo sát những người đã từng khởi nghiệp nhưng thất bại, hiện đang sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh Dự kiến, hơn 450 bảng câu hỏi khảo sát sẽ được phát ra trong khoảng thời gian 15 đến 20 ngày vào giữa tháng 04/2020 Phương pháp khảo sát trực tiếp này hứa hẹn mang lại kết quả rõ ràng và độ tin cậy cao.

Chi tiết số lượng bảng hỏi phát ra và thu về được tổng hợp lại trong Bảng 3.10

Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả bảng hỏi khảo sát

STT Nội dung Số lượng bảng hỏi

1 Số lượng bảng hỏi phát ra 450

2 Số lượng bảng hỏi thu về 450

3 Số lượng bảng hỏi không đạt yêu cầu 72

4 Số lượng bảng hỏi đạt yêu cầu 378

(Nguồn: tác giả tổng hợp)

3.4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

Sau khi thu thập dữ liệu, tác giả sẽ kiểm tra và loại bỏ các bảng khảo sát không đạt yêu cầu trước khi tiến hành phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS Dữ liệu sẽ được mã hóa để thực hiện các phân tích tiếp theo.

Thống kê mô tả cung cấp cái nhìn tổng quan về đặc điểm của mẫu nghiên cứu, thể hiện giá trị trung bình của các thang đo được đánh giá bởi người khảo sát Để đánh giá độ tin cậy của thang đo, hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng nhằm loại bỏ các biến có hệ số tương quan tổng dưới 0.3 Các thang đo sẽ được chấp nhận khi Cronbach’s alpha đạt từ 0.6 trở lên đối với các yếu tố mới và từ 0.7 trở lên đối với các yếu tố không mới Hệ số Cronbach’s alpha càng cao cho thấy độ tin cậy của thang đo càng tốt.

> 0,95 thì có khả năng các biến quan sát bị lặp lại hoặc dư thừa không cần thiết (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)

Khám phá EFA yêu cầu kiểm định sự tương quan giữa các biến đo lường bằng kiểm định Barlett với mức ý nghĩa 5% Kiểm định KMO cần thỏa mãn điều kiện 0,5 ≤ KMO ≤ 1 và Sig ≤ 0,05 để xác nhận rằng các biến không có tương quan và sẵn sàng cho phân tích nhân tố Qua việc kiểm tra hệ số tải nhân tố (factor loading) và phương sai trích (TVE), các biến có hệ số tải nhỏ hơn 0,5 sẽ bị loại bỏ (Nguyễn Đình Thọ, 2013) Hệ số tải nhân tố cũng được dùng để đánh giá mức độ ý nghĩa của EFA, với hệ số tải ≥ 0,3 là tối thiểu, ≥ 0,4 là quan trọng, và ≥ 0,5 là có ý nghĩa thực tiễn Để đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính, hệ số R² hiệu chỉnh càng gần 1 thì mô hình càng phù hợp (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

Xây dựng mô hình hồi quy bằng cách sử dụng các hệ số β đã chuẩn hóa giúp đánh giá mức độ tác động của các yếu tố Mức độ tác động tỷ lệ thuận với giá trị tuyệt đối của hệ số β: giá trị càng lớn thì tác động càng cao Nếu hệ số β lớn hơn 0, tác động là thuận, trong khi nếu hệ số β nhỏ hơn 0, tác động là nghịch.

Phương trình hồi quy được thiết lập từ kết quả nghiên cứu và phân tích số liệu hồi quy tuyến tính, chỉ ra mối tương quan giữa Ý định khởi nghiệp lại (YDKN) và các yếu tố như Kiến thức khởi nghiệp (KT), Thái độ khởi nghiệp (TD), Môi trường khởi nghiệp (MT), Kinh nghiệm (KN), Tố chất cá nhân (TCCN) và Nguồn vốn (NV).

YD = 0 + 1*KTKN + 2*TDKN + 3*MTKN + 4*KN + 5*TCCN + 6*NV

Các yếu tố độc lập trong nghiên cứu bao gồm Kiến thức khởi nghiệp (KTKN), Thái độ khởi nghiệp (TDKN), Môi trường khởi nghiệp (MTKN), Kinh nghiệm (KN), Tố chất cá nhân (TCCN), và Nguồn vốn (NV).

Biến phụ thuộc là Ý định khởi nghiệp lại (YD) β k là hệ số hồi quy riêng phần (k = 0,1,2,3,4,5,6)

Phân tích hồi quy đa biến được thực hiện bằng phương pháp Enter, cho phép xác định mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc Hệ số hồi quy riêng phần chuẩn hóa càng lớn, ảnh hưởng của biến độc lập đến biến phụ thuộc càng cao; nếu cùng dấu, ảnh hưởng là tích cực, ngược lại là tiêu cực Để kiểm tra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của các đặc điểm cá nhân trong mô hình nghiên cứu, nghiên cứu áp dụng các kiểm định Anova một chiều và T-test.

Tóm tắt chương 3

Trong chương 3, quy trình nghiên cứu được trình bày rõ ràng, bao gồm các bước nghiên cứu định tính và kết quả đạt được để xây dựng bảng thang đo hoàn chỉnh Ngoài ra, chương này cũng đề cập đến phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu.

4 sẽ trình bày chi tiết phần phân tích định lượng và các kết luận về giả thuyết nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

Ngày đăng: 04/10/2023, 01:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.3. Mô hình dự đoán hành vi SEE - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Hình 2.3. Mô hình dự đoán hành vi SEE (Trang 22)
Hình 2.4. Mô hình nghiên cứu của Zahariah Mohd Zain (2010) - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Hình 2.4. Mô hình nghiên cứu của Zahariah Mohd Zain (2010) (Trang 23)
Hình 2.5. Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011) - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Hình 2.5. Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến và cộng sự (2011) (Trang 24)
Hình 2.7. Mô hình nghiên cứu của Kristandya và Aldiantob (2015) - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Hình 2.7. Mô hình nghiên cứu của Kristandya và Aldiantob (2015) (Trang 25)
Hình 2.8. Mô hình nghiên cứu của Linh và cộng sự (2016) - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Hình 2.8. Mô hình nghiên cứu của Linh và cộng sự (2016) (Trang 26)
Hình 2.9. Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Hình 2.9. Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2016) (Trang 27)
Hình 2.11. Mô hình nghiên cứu của Hutasuhut (2018) - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Hình 2.11. Mô hình nghiên cứu của Hutasuhut (2018) (Trang 28)
Hình 2.12. Mô hình nghiên cứu đề xuất - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Hình 2.12. Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 36)
Bảng 3.1. Thang đo lường các khái niệm trong nghiên cứu - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Bảng 3.1. Thang đo lường các khái niệm trong nghiên cứu (Trang 41)
Bảng 3.3. Kết quả hiệu chỉnh thang đo Thái độ khởi nghiệp - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Bảng 3.3. Kết quả hiệu chỉnh thang đo Thái độ khởi nghiệp (Trang 46)
Bảng 3.7. Kết quả hiệu chỉnh thang đo Nguồn vốn - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Bảng 3.7. Kết quả hiệu chỉnh thang đo Nguồn vốn (Trang 49)
Bảng 4.4. Kết quả phân tích hệ số KMO - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Bảng 4.4. Kết quả phân tích hệ số KMO (Trang 62)
Hình 4.3. Biểu đồ Scatter Plot - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Hình 4.3. Biểu đồ Scatter Plot (Trang 71)
Bảng 4.10. Kết quả kiểm định T-test - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Bảng 4.10. Kết quả kiểm định T-test (Trang 72)
Bảng 4.13. Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu - Nghiên cứu ý định khởi nghiệp lại của những người đã khởi nghiệp nhưng thất bại
Bảng 4.13. Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm