Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương chính như sau: Chương 1: Lý luận chung về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm t
Trang 11
- ∞0∞ -
PHAN QUỐC TUẤN
NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA BÊN MUA
TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Tai Lieu Chat Luong
Trang 22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- ∞0∞ -
PHAN QUỐC TUẤN
NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA BÊN MUA
TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số chuyên ngành: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: PGS TS LÊ VŨ NAM
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài: "Nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam" tác giả đã gặp phải rất nhiều khó khăn Nhờ sự giúp đỡ của các thầy, cô và các chuyên gia nên tác giả đã hoàn thành được
đề tài theo đúng kế hoạch
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn, PGS.TS Lê Vũ Nam, đã tận tình hướng dẫn và chỉ dạy trong suốt quá trình thực hiện đề tài Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô khoa Sau đại học của trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình viết luận văn này
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Công ty cổ phần dịch vụ pháp lý bảo hiểm Tila và Văn phòng luật sư Tila đã tạo điều kiện và cung cấp tài liệu cho tác giả tìm hiểu
Trang 5TÓM TẮT
Cung cấp thông tin là một trong những nghĩa vụ quan trọng của các chủ thể tham gia bảo hiểm Tính chính xác của những thông tin đưa ra là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới tính hiệu lực của hợp đồng
Hành vi cố ý không cung cấp thông tin, cung cấp thông tin sai sự thật, hoặc khai báo không trung thực các thông tin của bên mua bảo hiểm trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm là một trong những hành vi trục lợi bảo hiểm Các doanh nghiệp bảo hiểm hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào những thông tin do người mua bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình trong việc có chấp nhận bảo hiểm hay không và nếu chấp nhận thì cách thức tính phí bảo hiểm như thế nào Pháp luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam đã quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin; các chế tài cho hành vi cung cấp thông tin sai sự thật nhằm tránh trục lợi bảo hiểm Trong phạm vi của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận
về hợp đồng bảo hiểm tài sản và nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua; thực trạng pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Qua đó, chỉ ra những bất cập chưa hợp lý và đưa ra hướng sửa đổi bổ sung cho phù hợp Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương chính như sau:
Chương 1: Lý luận chung về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và kiến nghị sửa đổi, bổ sung
TỪ KHÓA
Nghĩa vụ cung cấp thông tin; bên mua; hợp đồng bảo hiểm tài sản; bảo hiểm tài sản; bảo hiểm
Trang 6ABSTRACT
Providing information is one of the important obligations of the subjects participating in insurance The accuracy of the information given is one of the factors affecting the validity of the contract
The act of intentionally failing to provide information, providing false information
or false information about the policyholder in the process of entering into and performing
an insurance contract is one of the acts Proficient in insurance Insurance companies are almost entirely dependent on the information provided by an insurance buyer to assess the level of risk and to determine if they are willing to accept insurance and if so how to calculate the premium like Vietnamese law on insurance business has provided for the obligation to provide information; penalty for providing false information to avoid insurance fraud
Within the topic, the author focuses on research to clarify theoretical issues about property insurance contracts and the obligation to provide information of the buyer; Current status of the buyer's obligation to provide information in property insurance contracts Thereby, pointing out inadequacies and giving directions for appropriate amendments and supplements
In addition to the introduction, conclusion and references, the thesis includes two main chapters as follows:
Chapter 1: General theory of a buyer's obligation to provide information in a property insurance contract
Chapter 2: Current status of the obligation to provide information in the property insurance contract of the buyer and recommendations for amendments and supplements
KEY WORDS
Obligation to provide information; Buyer; Property insurance contracts; Property insurance; Insurance
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ……… i
Lời cám ơn……… ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Câu hỏi nghiên cứu 6
5 Đối tượng nghiên cứu 6
6 Phạm vi nghiên cứu 7
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
9 Nội dung của luận văn 8
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA BÊN MUA TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN 10
1.1 Khái niệm và đặc điểm Hợp đồng bảo hiểm tài sản 10
1.1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm tài sản 10
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản 12
1.1.2.1 Đặc điểm về đối tượng 12
1.1.2.2 Đặc điểm về chủ thể 14
1.1.2.3 Đặc điểm về nội dung 16
1.1.2.4 Đặc điểm về hình thức 20
1.2 Khái niệm và phân loại nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 22
1.2.1 Khái niệm nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua 22
1.2.2 Phân loại thông tin do bên mua cung cấp trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 25
Trang 81.2.2.1 Phân loại theo mức độ quan trọng của thông tin 25
1.2.2.2 Phân loại theo tính lịch sử của thông tin 27
1.2.2.3 Phân loại theo thời điểm cung cấp thông tin 28
1.2.3 Ý nghĩa của việc cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 30
Kết luận chương 1 ……… 32
Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA BÊN MUA TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN, VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG 33
2.1 Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn trước và trong khi giao kết hợp đồng 33
2.2 Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn thực hiện hợp đồng …… …… 47
2.3 Nghĩa vụ cung cấp thông tin khi sự kiện bảo hiểm xảy ra…… ……… 51
2.4 Nghĩa vụ cung cấp thông tin sau khi nhận tiền bồi thường……….55
2.5 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản……….………59
2.5.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản ……….……… 59
2.5.2 Những kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản ……… ……… 60
Kết luận chương 2.……… 66
KẾT LUẬN……….………70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….…… …… 72
CÁC PHỤ LỤC ……… 76
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường bảo hiểm việt Nam đã có hơn 25 năm ra đời và phát triển kể từ khi nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 ban hành Sau những gian đoạn đầu hình thành thị trường, đến nay ngành bảo hiểm thương mại đã bước sang gian đoạn hội nhập quốc tế mà bắt đầu từ việc gia nhập tổi chức thương mại thế giới (WTO), sau đó là Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Đến nay, quá trình hội nhập sẽ còn tiếp tục với mức độ sâu hơn khi Việt Nam tham gia hai Hiệp ước tự do thương mại đa phương (FTA) đặc biệt quan trọng, đó
là Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) Khi tham gia các FTA này thì việc thúc đẩy tự do hóa dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thành viên sẽ khuyến khích các hoạt động kinh doanh và đầu tư tăng trưởng mạnh Vì vậy, chắc chắn sẽ tác động đến thị trường tài chính nói chung và bảo hiểm nói riêng Ngoài việc nhận được cơ hội
và thách thức chung thì khi Việt Nam gia nhập CPTPP và EVFTA còn có nội dung cam kết mở cửa toàn diện thị trường bảo hiểm Nhằm thực thi CPTPP và EVFTA, Việt Nam phải hoàn thiện các yếu tố hình thành thị trường bảo hiểm đầy đủ Đó là lý do, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 14 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sở hữu trí tuệ Đối với phần Luật kinh doanh bảo hiểm thì chủ yếu bổ sung lĩnh vực phụ trợ bảo hiểm Công nhận và cho phép các cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước được phép kinh doanh ngành nghề như: Tư vấn bảo hiểm,
tư vấn quản trị rủi ro bảo hiểm và đề phòng, hạn chế tổn thất, v.v Lần sửa đổi này chưa
có sửa về nội dung các điều luật Đối vơi lĩnh vực non trẻ và phát triển nhanh như bảo hiểm thì một luật chuyên ngành được ra đời từ năm 2000 và sửa đổi năm 2010 về nội dung các điều luật thì cũng là một luật khá lâu trong hệ thống pháp luật Việt Nam Việc cần thiết ban hành một luật mới để cho phù hợp với quá trình phát triển và hội nhập là
Trang 10hoàn toàn phù hợp Hiện tại dự án luật kinh doanh bảo hiểm mới cũng đang được cơ quan nhà nước biên soạn và dự kiến có thể trình Quốc hội trong năm 2021
Việc phải tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm khiến cho Việt Nam phải hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này nói chung và pháp luật về bảo hiểm tài sản nói riêng, nhằm tạo lợi thế cho các doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh tại Việt Nam cạnh tranh với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo hiểm xuyên biên giới Muốn chiếm được thị phần của bảo hiểm cho khối lượng hàng hóa lưu thông lớn thì hợp đồng bảo hiểm về tài sản ngày càng phải chuẩn mực về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên để theo kịp sự phát triển của thị trường quốc tế
Hiện tại, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm chưa hoàn thiện, vẫn còn nhiều luật chưa đồng bộ và thống nhất với nhau Trong Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành cũng còn những điều luật không thông nhất gây tranh chấp
và gây khó xử cho cơ quan tài phán như Tòa án, Trung tâm trọng tài Trong đó có cả những điều luật quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của các chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm
Xuất phát từ thực trạng nói trên, với mong muốn làm rõ và tìm hiểu sâu hơn các bất cập, hạn chế liên quan đến việc áp dụng Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành đồng thời góp ý kiến cho dự thảo luật kinh doanh bảo hiểm mới, tác giả quyết định chọn đề tài: “Nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Như đã nói ở phần đầu, do thị trường bảo hiểm của Việt nam xuất hiện chưa lâu, các doanh nghiệp chủ yếu thành lập phát triển doanh thu nên cũng chưa có nhiều người nghiên cứu sâu về pháp luật bảo hiểm Nên việc nghiên cứu cũng ở dạng sách về lý thuyết và nguyên lý bảo hiểm, như :
Trang 11Nguyễn Tiến Hùng (2007), Nguyên lý và thực hành bảo hiểm, Nxb Tài chính;
Võ Thị Pha (2010), Giáo trình Lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính;
Học viện tài chính (2005), Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài Chính;
Nguyễn Văn Định(2015), Giáo trình bảo hiểm, Nxb ĐH Kinh tế quốc dân
Vì là tài liệu giảng dạy tại các Trường kinh tế cho sinh viên chuyên ngành bảo hiểm nên
có nững đặc điểm sau :
Một là, những thông tin chủ yếu theo hướng mô tả kỹ thuật bảo hiểm (nêu ra các
việc cần làm) chứ không đề cập trách nhiệm của các bên dưới khía cạnh pháp lý là một quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thể hiện bởi những nghĩa vụ
cơ bản của hai bên đối với nhau
Hai là, các thông tin cung cấp chưa làm nổi bật được tính chất và hậu quả pháp
lý của các bên nếu không thực hiện các công việc theo nghĩa vụ của mình Chưa thể hiện tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin của các bên trong hợp đồng song vụ
Bên cạnh các tài liệu mang nội dung về nguyên lý bảo hiểm để giảng dạy về lý thuyết bảo hiểm cho sinh viên các trường có đào tạo chuyên ngành bảo hiểm, thì cũng
có tác giả đã nghiên cứu và viết sách chuyên khảo về pháp luật của hợp đồng bảo hiểm tài sản, đó là:
Nguyễn Thị Thủy(2017), Pháp luật bảo hiểm tài sản Việt Nam, Nxb Hồng Đức Trong tài liệu này, tác giả đã nêu được những vấn đề pháp lý của bảo hiểm và những bất cập của pháp luật về bảo hiểm tài sản nói chúng, trong đó có một phần nhỏ nói về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua Tuy nhiên, vì là tài liệu viết về pháp luật bảo hiểm tài sản, nên tác giả đã viết nội dung bao quát, phạm vi rộng mà chưa chú trọng một nghĩa vụ cụ thể nào
Trang 12Trong quá trình làm việc và nghiên cứu để thực hiện luận văn này, tác giả cũng thu thập được nhiều bài viết của các cá nhân là những giảng viên, nhà nghiên cứu và các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật và bảo hiểm, thông qua các lần tham dự các hội thảo chuyên đề Tuy chỉ là bài tham luận tham dự các hội thảo chuyên ngành, nhưng các tài liệu này nghiên cứu sâu một vấn đề cụ thể, giúp cho người đọc hiểu rõ hơn Cụ thể:
Bài tham luận“Những vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn về bảo hiểm phi
nhân thọ nên có án lệ” của PGS.TS Đỗ Văn Đại, Trưởng khoa Luật dân sự, Trường Đại
học Luật Tp HCM trình bay tại “Hội Thảo Chuyên đề về Pháp luật kinh doanh bảo hiểm
và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ”, có đề cập đến hậu quả pháp lý của việc không khai báo thông tin của bên mua bảo hiểm do vô ý Bài tham luận này đã đưa ra một góc nhìn pháp lý cho việc phân biệt sự cố ý với vô ý khi bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật để doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng trong quá trình giải quyết bồi thường
Bài tham luận “Hoàn thiện các quy định pháp luật về loại trừ trách nhiệm bảo
hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ” của hai tác giả Lê Thị Hương Giang và Phạm Thị
Thúy Hằng trình bay tại “Hội Thảo Chuyên đề về Pháp luật kinh doanh bảo hiểm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo hiểm Phi nhân thọ”, có đề cập đến việc người mua bảo hiểm lợi dụng quy định của pháp luật về việc “Doanh nghiệp bảo hiểm không được
từ chối bồi thường trong trường hợp Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý” để đòi bồi thường, vì trách nhiệm chứng minh sự cố ý của bên mua là do doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện, mà việc này không phải lúc nào cũng thực hiện được Bài tham luận này nêu lên được khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật tại các doanh nghiệp bảo hiểm
Bài tham luận “Một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các tranh chấp về
bảo hiểm phi nhân thọ tại tòa án nhân dân” của tác giả Hoàng Ngọc Thành, Chánh Tòa
kinh tế, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, trình bay tại “Hội thảo chuyên đề về pháp luật kinh doanh bảo hiểm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo hiểm Phi nhân thọ”
Trang 13có đề cập những khó khăn, vướng mắc trong qua trình áp dụng Luật kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật dân sự 2005, 2015 cùng các văn bản pháp luật khác khi xét xử các tranh chấp về bảo hiểm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội Bài tham luận này đã nêu được nhiều vướng mắc trong thực tiễn xét xử tại Tòa án Tuy nhiên, vướng mắc về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua thì chưa được đề cập sâu
Bài Tham luận “Một số vấn đề pháp luật điều chỉnh vào hoạt động bảo hiểm của
Việt Nam trong quá trình thực hiện các nội dung cam kết trong TPP” của tác giả Phan
Phương Nam, trình bày tại “Hội thảo Gia nhập AEC, TPP cơ hội và thách thức cho thị trường bảo hiểm Việt Nam” có đề cập đến bất cập của pháp luật trong việc bên mua bảo hiểm không thực hiện việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm khi đã nhận được tiền bồi thường bài tham luận này nêu nên vướng mắc cụ thể, nhưng những kiến nghị để hoàn thiện vướng mắc thì chưa được hợp lý và dễ áp dụng
Trên đây là những bài viết và tài liệu mà tác giả thu thập được trong quá trình học, làm việc và nhận thấy rằng cho đến hiện nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu riêng biệt về trách nhiệm cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam để đưa ra những giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm giúp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nói riêng và Luật kinh doanh bảo hiểm nói chung
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về đề tài: “Trách nhiệm cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam” hướng đến các mục tiêu như sau:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về cơ sở hình thành nghĩa vụ cung cấp thông
tin trong giao kết hợp đồng bảo hiểm
Thứ hai, hệ thống hóa và đánh giá quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý của
việc vi phạm nghĩa vụ của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt
Trang 14Nam; chỉ ra những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn xét xử của Tòa án, Trung tâm trọng tài trong các vụ kiện tranh chấp bảo hiểm liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua
Thứ ba, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để sửa đổi, bổ sung pháp luật về nghĩa
vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm nói riêng và của các bên trong quan hệ cung cấp dịch vụ bảo hiểm Qua đó đóng góp ý kiến cho Luật kinh doanh bảo hiểm mới đang được các nhà làm luật soạn thảo, nhằm cho ra đời một Luật kinh doanh bảo hiểm mới phù hợp với tình hình mở cửa thị trường bảo hiểm toàn diện hiện nay
4 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam” nhằm hướng đến trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau :
Nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua có ý nghĩa như thế nào trong hợp đồng bảo hiểm tài sản? Pháp luật hiện hành tại Việt Nam có những quy định gì về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản?
Những vướng mắc, khó khăn gì khi áp dụng những quy định của pháp luật về nghĩa
vụ cung cấp thông tin của bên mua trong thực tiễn?
Từ những vướng mắc, bất cập của hiện tại thì pháp luật cần thay đổi thế nào để hoàn thiện nội dung về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản?
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung các chủ thể sau :
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản theo quy định của Luật kinh
Trang 15doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi bổ sung 2010, sửa đổi bổ sung 2019; Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010; Bộ luật dân sự 2015; Bộ luật hàng hải 2015; các Nghị định và các Thông
tư có quy định về hợp đồng bảo hiểm
Các sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, mà bên mua vi phạm nghĩa vụ khai báo thông tin Đặc biệt các vụ có tranh chấp cần phải có Bản án của tòa án hoặc Phán quyết trọng tài
6 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông
tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Phạm vi về thời gian: Kể từ khi Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 có hiệu lực Phạm vi về không gian: Các sự kiện được chọn để nghiên cứu trên toàn lãnh thổ
Việt Nam
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu và mục đích nghiên cứu, đối với từng nội dung cụ thể, đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử
Phương pháp phân tích được áp dụng phổ biến trong việc xây dựng các luận điểm trong từng nội dung của luận văn Thông qua việc phân tích từng khía cạnh của đối tượng nghiên cứu, luận văn sẽ xây dựng các khái niệm hoặc chứng minh các luận điểm đã được đưa ra
Phương pháp thống kê được áp dụng trong quá trình đánh giá thực tiễn về áp dụng pháp luật trong kinh doanh bảo hiểm nói chung và nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Bằng việc sử dụng các số liệu thực tế thông qua phương pháp thông kê sẽ chứng minh cho các nhận định được đưa ra
Trang 16Phương pháp so sánh luật học được áp dụng trong quá trình phân tích các luận điểm Nội dung so sánh chủ yếu bao gồm so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Luật kinh doanh bảo hiểm với các Luật khác và những quy định của pháp luật Việt Nam với quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và so sánh giữa quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam với các tiêu chuẩn, tập quán quốc tế
Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình phát triển của hệ thống pháp luật kinh doanh bảo hiểm gắn với bối cảnh phát triển kinh tế xã hội Việt Nam
8 Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu góp phần xây dựng hệ thống lý luận về pháp luật của hợp đồng bảo hiểm thông qua việc phân tích, đánh giá và kiến nghị về những quy định pháp luật về nghĩa vụ của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Do đó, luận văn sẽ góp phần bổ sung tri thức trong ngành khoa học pháp lý nói chung và chuyên ngành Luật kinh tế nói riêng về lĩnh vực pháp luật kinh doanh bảo hiểm Phi nhân thọ Kết quả nghiên cứu của luận văn có tính ứng dụng thực tiễn cao, cụ thể:
Thứ nhất, luận văn đóng góp những căn cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện
pháp luật về kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam
Thứ hai, luận văn sẽ góp phần đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để các cơ
quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm áp dụng các quy định của pháp luật một cách hiệu quả
Thứ ba, góp ý kiến cho dự thảo Luật kinh doanh bảo hiểm mới đang được soạn
thảo bới các cơ quan có thẩm quyền
9 Nội dung của luận văn
Để giải quyết những nhiệm vụ của luận văn, nội dung chính của luận văn sẽ bao gồm 2 chương là Chương 1 và Chương 2, cụ thể như sau:
Trang 17Chương 1 với tiêu đề “Lý luận chung về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên
mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản” Nội dung của chương này tập trung xây dựng
nội dung lý luận về hợp đồng bảo hiểm tài sản và nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên
mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản Các nguyên tắc, cấu trúc pháp luật kinh doanh bảo
hiểm và các yếu tố chi phối đến pháp luật kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm
tài sản nói chung
thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và kiến nghị sửa đổi, bổ
sung” Chương này phân tích, đánh giá hệ thống các quy định hiện hành về pháp luật
kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng có liên quan đến nghĩa vụ
cung cấp thông tin của bên mua Nêu những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng
pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
Kiến nghị những giải pháp sửa đổi và bổ sung để pháp luật hoàn thiện hơn
Trang 18Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA BÊN MUA TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN
1.1 Khái niệm và đặc điểm Hợp đồng bảo hiểm tài sản
1.1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm tài sản
Lịch sử ngành bảo hiểm thế giới ghi nhận bản hợp đồng cổ nhất năm 1347 và được
ký tại Gênes Theo giáo trình lý thuyết bảo hiểm của Học viện tài chính thì “có thể có
những hợp đồng bảo hiểm cổ hơn mà người ta không tìm thấy do chúng đã bị hủy ngay khi con tàu cập bến – đồng nghĩa với việc thực hiện xong bảo đảm”.1 Trải qua gần bảy thế kỷ, ngành bảo hiểm của thế giới đã phát triển, sự đóng góp của ngành vào GDP của mỗi quốc gia đều chiếm một tỷ trọng đáng kể Xã hội ngày càng phát triển, càng nhiều nghiệp vụ bảo hiểm ra đời, mỗi lại bảo hiểm ra đời lại cần có những quy tắc bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm để điều chỉnh quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm Việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản là một yêu cầu rất thiết yếu trong hiện tại, khi mà thế giới bước vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0,
sẽ có nhiều hình thức giao dịch giữa các chủ thể tham gia hợp đồng với nhau, đặc biệt là những hình thức giao dịch điện tử Muốn nghiên cứu sâu về hợp đồng bảo hiểm tài sản, trước hết chúng ta cũng cần hiểu khái niệm hợp đồng bảo hiểm tài sản Hiện tại, nhiều
tác giả cũng khái quát về hợp bảo hiểm tài sản Theo tác giả Nguyễn Thị Thủy (2017),
“Hợp đồng bảo hiểm tài sản là một trong những loại hợp đồng dân sự thông dụng và cũng là một trong những hợp đồng thương mại dịch vụ phổ biến trong pháp luật của tất
cả các quốc gia” 2 Pháp luật Việt Nam trong thời kỳ trước khi chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng đã biết đến hợp đồng bảo hiểm Cụ thể trong thời kỳ kinh tế tập trung, hợp đồng bảo hiểm tài sản được dùng khá phổ biến trong hoạt động vận tải và xuất nhập
1 Học viện tài chính (2005), Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, Hà Nội, tr.39
2 Nguyễn Thị Thủy(2017), Pháp luật bảo hiểm tài sản Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr.76
Trang 19khẩu hàng hóa Hiện nay trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế định hợp đồng bảo hiểm tài sản trở nên phổ biến và có ý nghĩa quan trọng Qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy hợp đồng bảo hiểm tài sản có những đặc trưng như sau:
Thứ nhất, ở góc độ kinh tế - xã hội, chúng ta có thể thấy rằng hợp đồng bảo hiểm
tài sản cũng là một hợp đồng dân sự, thương mại giống như hợp đồng trong bất cứ lĩnh vực nào, đều là công cụ pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia
Thứ hai, ở góc độ luật học, hợp đồng bảo hiểm tài sản là một trong các loại hợp
đồng bảo hiểm do Pháp luật quy định, bao gồm: Hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm con người và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm Thế nên hợp đồng bảo hiểm tài sản cũng có những nội dung, đặc trưng của một hợp đồng bảo hiểm Cụ thể trong trường hợp này là bên mua bảo hiểm phải trả phí bảo hiểm để nhận được những cam kết bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm Điều 12 Luật kinh
doanh bảo hiểm quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm
và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”3 Như vậy, hợp đồng bảo hiểm tài sản là
hợp đồng mà bên mua phải trả phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường khi có tổn thất xảy ra đối với tài sản đã mua bảo hiểm Bên cạnh đó, điều 303 Bộ
luật hàng hải quy định: “Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng bảo hiểm các rủi ro
hàng hải, theo đó người được bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận và người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng hải thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo cách thức và điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng”.4
3 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm ( số 06/VBHN-VPQH) ngày 25/6/2019, Điều 12
4 Bộ Luật hàng hải Việt Nam (luật số 95/2015/QH13), ngày 25/11/2015, Điều 303
Trang 20Trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải thì đối tượng bảo hiểm có thể gặp những rủi ro hàng hải như: bão, sóng thần, mắc cạn,… tài sản của bên mua bảo hiểm có thể bị tổn thất bất
cứ khi nào trong quá trình hành hải Người có tài sản có thể gặp rủi ro này cần phải có hợp đồng bảo hiểm hàng hải để phòng tránh rủi ro về tài chính bằng cách trả phí cho doanh nghiệp bảo hiểm
Như vậy, một cách khái quát dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể đưa ra khái niệm
hợp đồng bảo hiểm tài sản như sau: Hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm
thương mại có đối tượng bảo hiểm là tài sản mà theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm cam kết chi trả bồi thường cho người được bảo hiểm một khoản tiền để bù đắp những thiệt hại về tài chính khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm, với điều kiện bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản
1.1.2.1 Đặc điểm về đối tượng
Bảo hiểm tài sản là một loại hình bảo hiểm thương mại có đối tượng bảo hiểm là tài sản Tài sản ở đây bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền về tài sản
Tài sản có thể phân loại ra như sau: Dựa trên tiêu chí nhận biết của con người thì phân ra thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tài sản hữu hình là những tài sản tồn tại dưới hình thể vật chất nhất định như nhà cửa, phương tiện vận chuyển, v.v Tài sản
vô hình là những tài sản mà con người không thể nhận biết qua hình thể vật chất mà thông qua giá trị của nó đối với đời sống xã hội như phát minh, sáng chế, thương hiệu Dựa trên đặc tính rủi ro mà tài sản được phân thành các nhóm như: tài sản là những tài sản đang trong thời kì hình thành như các công trình xây dựng, máy móc trong thời kì chế tạo, lắp đặt, tài sản đang trong quá trình khai thác, sử dụng như nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị, tài sản đang nằm trong kho, quỹ như nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, tài sản trên đường vận chuyển như hàng hóa, phương tiện chuyên chở,.v.v
Trang 21Về nguyên tắc, tài sản chỉ có thể được bảo hiểm khi có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, phải xác định được giá trị của chúng Giá trị tài sản bảo hiểm là yếu tố
quyết định đến việc thỏa thuận về số tiền bảo hiểm, tức giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản Ngoài ra giá trị tài sản cùng với tính chất của tài sản bảo hiểm cũng là những căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm tính phí bảo hiểm Trong trường hợp nếu doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận bảo hiểm một phần giá trị tài sản thì sẽ phải nêu rõ là số tiền bảo hiểm chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm của giá trị tài sản, nhằm làm căn cứ bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Tổn thất của tài sản muốn được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường thì cũng phải là tổn thất tính toán được Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải bồi thường tương xứng với tổn thất thực tế từ tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu
Thứ hai, bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi được bảo hiểm đối với tài sản là đối
tượng bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm được ký kết để bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro Tuy nhiên, lý do giao kết hợp đồng bảo hiểm của các chủ thể không phải nhằm loại bỏ rủi ro mà là nhu cầu bảo đảm về mặt vật chất , tài chính của các lợi ích kinh
tế liên quan Vì vậy, mục đích cuối cùng của hợp đồng bảo hiểm là lợi ích kinh tế mà bên được bảo hiểm được bảo vệ bởi hợp đồng bảo hiểm
Theo giáo trình lý thuyết bảo hiểm của Học viện tài chính, “quyền lợi có thể được
bảo hiểm được tạo lập cho một người (tổ chức, cá nhân) nếu người đó có lợi ích kinh tế hợp pháp bị tổn hại khi đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra”.5
Quyền lợi có thể được bảo hiểm được hình thành từ các căn cứ như là: quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản Ví dụ: người có quyền sở
5 Học viện tài chính (2005), Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, Hà Nội, tr 52
Trang 22hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng tài sản là người có quyền ký kết hợp đồng bảo hiểm cho tài sản
1.1.2.2 Đặc điểm về chủ thể
Để một hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm tài sản nói riêng được giao kết thì cần trải qua nhiều giai đoạn, từ việc đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm giới thiệu, chào hàng sản phẩm đến việc đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên mua bảo hiểm và sau đó là việc đánh giá rủi ro đối tượng bảo hiểm, v.v cuối cùng là hai bên
đi đến việc giao kết hợp đồng bảo hiểm Quá trình trình này có thể được thực hiện bởi những chủ thể khác nhau Trong một giao dịch bảo hiểm thông thường có các chủ thể sau tham gia vào quá trình đàm phán, ký kết: Doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm
và đại lý bảo hiểm hoặc môi giới bảo hiểm Mỗi chủ thể đóng một vai trò khác nhau trong quá trình này
Doanh nghiệp bảo hiểm, là tổ chức được phép thực hiện hoạt động kinh doanh bảo
hiểm, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu luật định đối với việc tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm Kinh doanh bảo hiểm là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ có những doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện của luật định thì mới được kinh doanh Doanh nghiệp bảo hiểm, thường được gọi là người bảo hiểm, là người chấp nhận yêu cầu bảo
hiểm bằng việc giao kết hợp đồng bảo hiểm, “cấp cho bên mua bảo hiểm hợp đồng bảo
hiểm hoặc bằng chứng về hợp đồng bảo hiểm và vì thế có những nghĩa vụ và quyền theo thoả thuận của hợp đồng bảo hiểm”.6
Bên mua bảo hiểm, là người chấp nhận trả phí bảo hiểm để được nhận bồi thường
cho những tổn thất phát sinh trong tương lai mà họ không lường trước được Để có thể giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải đảm bảo quy định về năng lực hành
vi dân sự, năng lực pháp luật dân sự Bên cạnh điều kiện cơ bản đó, pháp luật về kinh
6 Học viện tài chính (2005), Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, Hà Nội, tr 47
Trang 23doanh bảo hiểm của các quốc gia đều chú ý đến điều kiện thứ hai rất đặc thù của hợp đồng bảo hiểm: bên mua bảo hiểm phải đảm bảo quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản chính là quyền của chủ sở hữu được chiếm hữu và định đoạt hoặc sử dụng tài sản Cơ sở để hình thành nên quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản gắn liền với sự tồn tại của tài sản, là quyền sở
hữu của chủ tài sản, quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản “Các quyền
này xuất phát từ quan niệm, tài sản khi đã thuộc về một tổ chức hay cá nhân thì những người đó có quyền sở hữu đối với tài sản thông qua việc họ được quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tài sản, trong đó có quyền bảo vệ lợi ích có được từ tài sản”.7
Đại lý bảo hiểm là cá nhân, tổ chức thực hiện công việc giới thiệu, chào bán sản
phẩm bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo uỷ quyển của doanh nghiệp bảo hiểm
Môi giới bảo hiểm, là tổ chức cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm
về sản phẩm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm về nhu cầu của bên mua và thực hiện các công việc liên quan đến việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm Môi giới bảo hiểm là đại diện của bên mua bảo hiểm và hoạt động môi giới phải xuất phát từ lợi ích của bên mua bảo hiểm
Ngoài những chủ thể tham gia đàm phán, giao kết hợp đồng như trên thì hợp đồng bảo hiểm tài sản đôi khi còn có những chủ thể khác, mà trong những trường hợp đặc biệt không cùng là bên mua bảo hiểm Đó là:
Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, là đối tượng được bảo hiểm
trong hợp đồng bảo hiểm Thông thường người được bảo hiểm cũng là bên mua bảo hiểm Tuy nhiên, những trường hợp bên mua bảo hiểm khác người được bảo hiểm cũng không hiếm
7 Nguyễn Thị Thủy (2017), Pháp luật bảo hiểm tài sản Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr 62
Trang 24Người thụ hưởng bảo hiểm là người được nhận bồi thường hoặc tiền trả bảo hiểm
của hợp đồng bảo hiểm Thông thường quyền lợi bảo hiểm thuộc về người được bảo hiểm Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người được hưởng quyền lợi bảo hiểm lại
là người khác
1.1.2.3 Đặc điểm về nội dung
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là một loại hợp đồng bảo hiểm, vì vậy nó phải có những
những điều khoản thông thường như: tên, địa chỉ của bên bảo hiểm, bên mua bảo hiểm; ngày, tháng, năm giao kết… Đây là những nội dung mà bất cứ một loại hợp đồng nào cũng phải có, nó nhằm mục đích xác định cụ thể các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng bảo hiểm Đồng thời, phải thể hiện những nội dung mang tính chất đặc thù của bảo hiểm tài sản Cụ thể, pháp luật quy định hợp đồng bảo hiểm tài sản có những nội dung
cơ bản sau đây:
Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng Theo quy định của pháp luật, để thực hiện hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải được thành lập hợp pháp Đối với chủ thể
là bên mua bảo hiểm, họ phải là chủ sở hữu đối với tài sản bảo hiểm hoặc là người đang
8 Điều 13 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm
1 Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây:
a) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng; b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;
d) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;
đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;
e) Thời hạn bảo hiểm;
g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;
h) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;
i) Các quy định giải quyết tranh chấp;
k) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng
2 Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, hợp đồng bảo hiểm có thể có các nội dung khác do các bên thỏa thuận
Trang 25quản lý tài sản bảo hiểm Trong hợp đồng bào hiểm tài sản, người thụ hưởng hợp đồng thường chính là người được bảo hiểm (tức là người mua bảo hiểm) Tuy nhiên, nếu người được bảo hiểm chỉ định một người khác thụ hưởng số tiền bồi thường (khi xảy ra sự kiện bảo hiểm) thì người thụ hưởng bảo hiểm sẽ nhận tiền bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản: Trong bảo hiểm tài sản, đối
tượng bảo hiểm chính là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, các giấy tờ có giá trị như tiền
và các quyền tài sản khác Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản phải đang tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng và phải định giá được bằng tiền Giá trị tài sản thông thường chính là số tiền bảo hiểm mà các bên thỏa thuận khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, tuy nhiên, cũng có trường hợp số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm Trong trường hợp này, pháp luật gọi là bảo hiểm dưới giá trị
Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm Đây là điều khoản
xác định mức phạm vi trách nhiệm bảo hiểm Tức là nếu có rủi ro trong phạm vi bảo hiểm xảy ra và người được bảo hiểm thuộc điều kiện bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm trả tiền bồi thường bảo hiểm theo cam kết trong hợp đồng Thông thường điều khoản này sẽ được dẫn chiếu các quy định trong quy tắc và điều khoản bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm ban hành sẵn, để áp dụng cho mọi khách hàng Đây là nội dung chính của hợp đồng bảo hiểm, nên cũng có thể hiểu hợp đồng bảo hiểm tài sản
là hợp đồng mẫu “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên
đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý, nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra ”9 Còn theo Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010, “Hợp đồng theo mẫu là
hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo để giao dịch với
9 Bộ luật dân sự (luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015, Điều 405, khoản 1
Trang 26người tiêu dùng”10 Theo pháp luật quy định, thì quy tắc bảo hiểm phải được Bộ tài chính phê duyệt trước khi đưa vào áp dụng, nên các doanh nghiệp bảo hiểm phải soạn sẵn nội dung này và trình Bộ tài chính Vì lẽ đó, bất cứ hợp đồng nào có đối tượng bảo hiểm giống nhau thì sẽ áp dụng cùng một quy tắc bảo hiểm Điều này không vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện vì bên mua vẫn có quyền quyết định giao kết hoặc không giao kết hợp đồng
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm Đây là điều khoản liệt kê cụ thể những
trường hợp mà nếu bên được bảo hiểm rơi vào một trong các trường hợp này thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường bảo hiểm Điều khoản này có ý nghĩa thu hẹp phạm vi bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, đây là một điều khoản cần thiết của bảo hiểm, luôn đi song song với các điều khoản về phạm vi bảo hiểm Sự cần thiết này xuất
phát từ một thực tế “có rất nhiều loại rủi ro, tổn thất, chi phí có thể ảnh hưởng đến sự
an toàn của đối tượng bảo hiểm nhưng những yêu cầu về kỹ thuật và pháp lý chỉ cho phép các nhà bảo hiểm bảo hiểm được một số trường hợp - những rủi ro có thể được bảo hiểm (insurable risk)” 11
Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm, đây là điều khoản quy định về
nghĩa vụ đóng phí của bên mua bảo hiểm Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, phí bảo hiểm được tính theo tỉ lệ phần trăm trên giá trị tài sản của bảo hiểm Tùy vào mức độ rủi
ro của đối tượng bảo hiểm (tài sản bảo hiểm) mà tỉ lệ phần trăm này có thể cao thấp khác nhau Phương thức đóng phí bảo hiểm là cách thức mà bên mua bảo hiểm tiến hành đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm: đóng một lần hay chia làm nhiều lần
Thời hạn trả tiền bồi thường, là điều khoản quy định khoảng thời gian mà doanh
nghiệp phải có nghĩa vụ trả tiền bồi thường bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi có
sự kiện bảo hiểm xảy ra Pháp luật quy định “trong trường hợp không có thỏa thuận về
10 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng(luật số: 59/2010/QH12) ngày 17/11/2010, Điều 3, khoản 5
11 Học viện tài chính (2005), Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, Hà Nội, tr 56
Trang 27thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn này là 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường”.12 Quy định này đã thể hiện rõ sự đảm bảo quyền lợi cho bên mua bảo hiểm trong pháp luật, để họ nhanh chóng nhận được khoản tiền bồi thường để kịp thời khắc phục hậu quả tài chính do rủi ro gây ra thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm
Các quy định về giải quyết tranh chấp là điều khoản mà các bên thỏa thuận về cách
giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp xảy ra Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi có tranh chấp xảy ra, các bên có thể tự thương lượng hoặc ra lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua con đường trọng tài thương mại hoặc bằng tòa án Trường hợp, các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì phải tuân thủ quy định của pháp luật
tố tụng
Các nội dung khác các bên có thể thỏa thuận, pháp luật quy định các bên có thể
thỏa thuận các nội dung khác, tuy nhiên, với đặc thù của hợp đồng bảo hiểm thì nội dung này rất hạn chế, thậm chí là không thể thỏa thuận nếu là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản thì các nội dung này cũng chỉ là thêm hoặc giảm số lượng điều khoản phụ làm mở rộng thêm hoặc thu hẹp phạm vi bảo hiểm
12 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm (số 06/VBHN-VPQH) ngày 25/6/2019, Điều 29
Trang 281.1.2.4 Đặc điểm về hình thức
Hợp đồng bảo hiểm là một dạng hợp đồng mẫu và phải được lập thành văn bản Trong một giao dịch dân sự thông thường khác, khi các bên đàm phán, giao kết hợp đồng thì tất cả các bên có thể cùng tham gia vào việc chỉnh sửa nội dung của hợp đồng Tuy nhiên, đối hợp đồng bảo hiểm thì hầu như bên mua bảo hiểm không thể tham gia soạn thảo nội dung chính của hợp đồng, mà chỉ có thể là có đồng ý tham gia hay
không Theo tác giả Nguyễn Tiến Hùng (2007),“Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo
mẫu Quy tắc bảo hiểm (nội dung chính của hợp đồng) do người bảo hiểm soạn thảo trước, bên mua bảo hiểm sau đọc thấy phù hợp với nhu cầu của mình thì gia nhập vào”.13
Vì tính chất bất cân xứng này mà pháp luật Việt Nam và các nước quy định về hình thức
hợp đồng bảo hiểm khá chặt chẽ Theo tài liệu của Học viện tài chính,“luật pháp các
quốc gia đòi hỏi mọi hợp đồng bảo hiểm phải thể hiện dưới dạng văn bản Ngay cả khi các giao dịch được thực hiện bằng hình thức thương mại điện tử, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn buộc phải soạn thảo, theo dõi và lưu trữ một khối lượng lớn các tài liệu liên quan đến hợp đồng bảo hiểm” 14 Các nội dung này cho thấy, hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng mẫu do doanh nghiệp bảo hiểm soạn ra, nó bao gồm nhiều tài liệu nhằm mục đích xác nhận thỏa thuận và tự do ý chí của các bên chủ thể tham gia hợp đồng như: giấy yêu cầu bảo hiểm, quy tắc bảo hiểm, điều khoản bổ sung, phụ lục hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm
Giấy yêu cầu bảo hiểm là tài liệu dành cho bên mua bảo hiểm cung cấp thông tin
cho doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời cũng chính là tài liệu xác nhận bên mua bảo hiểm đưa ra lời đề nghị giao kết sau khi đã tìm hiểu rõ về các nội dung khác Phần lớn giấy yêu cầu bảo hiểm được thiết kế dưới dạng một hệ thống câu hỏi do doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo Giấy yêu cầu bảo hiểm cũng có thể được lập dưới dạng đặc biệt, đối với
13 Nguyễn Tiến Hùng (2007), Nguyên lý và thực hành bảo hiểm, Nxb Tài chính, Hà Nội, tr 90
14 Học viện tài chính (2005), Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, Nxb Tài chính, Hà Nội, tr 44
Trang 29một số nghiệp vụ, bao gồm hầu hết các yếu tố cơ bản của một hợp đồng bảo hiểm trong tương lai Trường hợp này, hợp đồng bảo hiểm phải được ký ngay sau khi doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận đề nghị bảo hiểm của người yêu cầu bảo hiểm
Quy tắc bảo hiểm là tập hợp những điều khoản thuộc phần điều kiện chung của hợp
đồng bảo hiểm Ngoại trừ những dịch vụ bảo hiểm đơn lẻ đặc biệt, đối với hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm, phần lớn các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm như là phạm vi bảo hiểm, loại trừ bảo hiểm, nghĩa vụ của các bên được doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo và in sẵn trong tài liệu này
Điều khoản bổ sung là tài liệu thể hiện các điều khoản phụ nhằm mở rộng hoặc thu
hẹp phạm vi bảo hiểm, mà các bên lựa chọn để áp dụng cho từng hợp đồng bảo hiểm cụ thể Tuy nhiên, bên mua bảo hiểm cũng chi có thể tham gia vào việc lựa chọn điều khoản
có thể áp dụng chứ không thể tham gia soạn thảo nội dung điều khoản
Hợp đồng bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm là tài liệu thể hiện những
những thông tin về đối tượng bảo hiểm, người được bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm Tài liệu này không được doanh nghiệp bảo hiểm in sẵn như quy tắc bảo hiểm hay điều khoản phụ, nó chỉ được lập khi đã xác định được chính xác các thông tin trên Các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm lưu giữ như một bằng chứng hiện hữu về hợp đồng bảo hiểm đã giao kết
Những tài liệu khác: Ngoài những tài liệu cơ bản thông thường nói trên, hợp đồng
bảo hiểm còn có thể kèm theo những giấy tờ khác như là: văn bản sửa đổi hợp đồng bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm tạm thời Tất cả những tài liệu đó đều nhằm mục đích xác định rõ ràng, cụ thể quan hệ giữa các bên trong hợp đồng bảo hiểm bên cạnh sự điều chỉnh bằng các quy định chung của hệ thống luật pháp về bảo hiểm
Ngoài ra, pháp luật cho phép hợp đồng bảo hiểm được thể hiện bằng hình thức khác
do pháp luật quy định, quy định này xuất phát từ thực tế phát sinh những trao đổi giữa
Trang 30bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm trong thời đại công nghệ, những trao đổi, thương thảo giữa các bên thông qua mạng xã hội được phép hoạt động ở Việt Nam cũng được xem là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm
1.2 Khái niệm và phân loại nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong
hợp đồng bảo hiểm tài sản
1.2.1 Khái niệm nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua
Khái quát về nghĩa vụ
Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc
Khái quát về thông tin
Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp Một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện khác nhau như lời nói, văn bản
Đặc điểm của thông tin trong giao kết hợp đồng
Nhằm mục đích các bên hiểu rõ về nhau trước khi ký kết hợp đồng thì các thông tin của các chủ thể tham gia hợp đồng phải có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, thông tin phải chính xác để các bên đưa ra phương án thực hiện hợp đồng
hiệu quả nhất Đặc biệt, trong hợp đồng bảo hiểm tài sản thì những thông tin của bên
15 Bộ luật dân sự 2015 (luật số 91/2015/QH13), ngày 24/11/2015, Điều 274
Trang 31mua cung cấp chính xác sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm tính toán đúng tỷ lệ phí bảo hiểm, áp đụng đúng các điều kiện điều khoản của hợp đồng
Thứ hai, thông tin phải kịp thời nhằm giúp cho các bên có những điều chỉnh phù
hợp để hợp đồng đúng với thực tế hơn
Thứ ba, nội dung thông tin phải rõ ràng, tránh cho việc hiểu nhầm gây tranh chấp
hợp đồng về sau
Nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua
Từ xưa đến nay, để hoạt động kinh doanh trên thương trường được thực hiện một cách có hiệu quả, các tổ chức cá nhân, những chủ thể được hoạt động sản xuất kinh doanh và những chủ thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, đều phải thiết lập mối quan hệ trên cơ sở tin cậy lẫn nhau Trong thực tế, các luật
về hợp đồng của tất cả các quốc gia trên thế giới đều diễn đạt tinh thần này Đây là nguyên tắc áp dụng cho mọi quan hệ diễn ra trong lĩnh vực dân sự, thương mại, đặc biệt
là trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm thì nguyên tắc trung thực tuyệt đối phải được áp dụng một cách triệt để Xuất phát từ lý do trong bảo hiểm tài sản, chỉ có bên mua có khả năng có thể biết được gần như tất cả các yếu tố liên quan đến đối tượng bảo hiểm Do vậy, để tuân thủ nguyên tắc trung thực, người mua bảo hiểm phải có nghĩa vụ khai báo cho doanh nghiệp bảo hiểm biết về mọi yếu tố liên quan đến đối tượng bảo hiểm Pháp luật của Nhật Bản quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm như
sau: “Nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng, bên mua bảo hiểm không trung thực, không
cung cấp thông tin quan trọng, hoặc khai báo sai sự thật về những thông tin này thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền hủy hợp đồng, trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm biết hoặc buộc phải biết về những thông tin này” 16 Nghĩa là bất kỳ hành vi gian lận hay
âm mưu lừa đảo đều bị xem là vi phạm pháp luật Tương tự, pháp luật Đức cũng quy
16 Nguyễn Thị Thủy(2020), Pháp luật hợp đồng bảo hiểm con người, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr 203
Trang 32định: “bên mua bảo hiểm phải cung cấp thông tin về rủi ro bằng văn bản cho doanh
nghiệp bảo hiểm trước khi giao kết hợp đồng” 17 Sở dĩ, các nước đều có quy định này,
bởi vì, việc thiết lập nên các giao dịch dân sự hay kinh tế là phụ thuộc vào ý chí của các bên Ý chí này phải thể hiện sự tự nguyện của đôi bên và mục đích tham gia vào quan hệ
là nhằm đạt được những lợi ích hợp pháp Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm Việt Nam cũng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong quá trình đàm phán và giao kết hợp đồng, trong thời gian thực hiện hợp đồng và tại thời điểm xảy ra tổn thất.18
Tất cả thông tin này phải được cung cấp nhanh chóng và trung thực nhất Cơ sở hình thành nên quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của pháp luật bảo hiểm Việt Nam cũng giống như các nước khác trên thế giới Để có quy định này, pháp luật các nước và pháp luật Việt Nam dựa vào đặc trưng của kinh doanh bảo hiểm đó là đối tượng kinh doanh trong lĩnh vực này là rủi ro Rủi ro chính là điểm nút của quan hệ bảo hiểm, nhưng
nó là yếu tố không được định hình một cách rõ ràng Yếu tố này được hình dung qua suy đoán của các bên trong quan hệ bảo hiểm Sở dĩ các bên buộc phải dùng suy đoán để quyết định giao kết hợp đồng vì rủi ro là yếu tố có thể hình thành hoặc không hình thành trong tương lai Tại thời điểm giao kết hợp đồng rủi ro chỉ là dự đoán Tuy nhiên đã tham gia vào các giao dịch dân sự, các chủ thể đều nhắm đến những mục đích nhất định Trong khi đó để đạt được mục đích của mình, họ chỉ dựa vào sự suy đoán chủ quan là việc làm khó mang lại hiệu quả Chính vì lẽ đó, để có cơ sở cho sự dự đoán rủi ro các bên phải có
sự hợp tác một cách trung thực, thiện chí trong việc cung cấp những yếu tố liên quan đến
17 Nguyễn Thị Thủy(2020), Pháp luật hợp đồng bảo hiểm con người, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr 204
18 Khoản 2, Điều 18 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
2 Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:
Trang 33sự dự đoán này Muốn thực hiện điều này, việc tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin mà các bên được cung cấp đóng vai trò hết sức quan trọng Cụ thể dựa vào những thông tin
mà bên mua bảo hiểm cung cấp, doanh nghiệp bảo hiểm có thể nhận được rủi ro, đánh giá nguy cơ rủi ro đối với đối tượng bảo hiểm Qua việc đánh giá rủi ro, doanh nghiệp bảo hiểm có căn cứ để xác định trách nhiệm bảo hiểm của mình, đồng thời đây cũng là
cơ sở để định phí bảo hiểm Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng cũng vậy, phải dựa vào những thông tin mà bên mua cung cấp thì doanh nghiệp bảo hiểm mới có những điều chỉnh phù hợp với khả năng xảy ra rủi ro thực tế
Như vậy, một cách khái quát nhất, có thể nêu khái niệm nghĩa vụ cung cấp thông
tin của bên mua là việc mà bên mua bắt buộc phải khai báo cho doanh nghiệp bảo hiểm
biết tất cả những hiểu biết của mình về đối tượng bảo hiểm để nhằm mục đích cho doanh nghiệp bảo hiểm tính toán mức độ rủi ro và đưa ra quyết định chấp nhận giao kết bảo hiểm hay không Bên mua phải thực hiện việc này từ giai đoạn đàm phám, giao kết đến thời điểm kết thúc hợp đồng bảo hiểm
1.2.2 Phân loại thông tin bên mua cung cấp trong hợp đồng bảo hiểm tài sản
1.2.2.1 Phân loại theo mức độ quan trọng của thông tin
Thông tin quan trọng, bắt buộc phải cung cấp, là những thông tin do bên mua cung
cấp mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể dựa vào để tính toán tỷ lệ rủi ro có thể xảy ra qua
đó có thể đưa ra quyết định chấp nhận giao kết hợp đồng hay không? và khi chấp nhận giao kết thì tính toán mức phí bảo hiểm và áp dụng những điều kiện, điều khoản nào Thông thường theo tập quán của thị trường bảo hiểm thì đại diện của các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiếp xúc với bên mua bảo hiểm để chào mời dịch vụ Tuy nhiên, khi bên mua muốn đã chọn mua bảo hiểm cho tài sản của mình tại một doanh nghiệp bảo hiểm cụ thể thì lại là người ký vào giấy đề nghị bảo hiểm, khi đó, họ trở thành bên đưa
ra lời đề nghị giao kết hợp đồng Thông thường, bên đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng
Trang 34là bên sẽ cung cấp thông tin liên quan đến những nội dung chủ yếu của hợp đồng Bộ
luật dân sự 2015 quy định về thông tin trong giao kết hợp đồng như sau: “Trường hợp
một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết”19 Đặc thù của hợp đồng bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng là loại hợp đồng mẫu, do doanh nghiệp bảo hiểm soạn sẵn, thế nên doanh nghiệp bảo hiểm sẽ nắm được những nội dung cụ thể trong hợp đồng Vì vậy, tuy bên mua là người đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng nhưng cũng chỉ đưa những thông tin
do doanh nghiệp bảo hiểm đề nghị thông qua việc điền vào biểu mẫu “Giấy yêu câu bảo
hiểm” 20 được soạn sẵn Như vậy, có thể hiểu rằng những thông tin bắt buộc phải cung cấp theo biểu mẫu của doanh nghiệp bảo hiểm thì là những thông tin quan trọng bắt buộc phải cung cấp một cách trung thực Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản thì những thông tin dạng này gồm: Người được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, đặc tính lý hóa của đối tượng bảo hiểm, địa điểm bảo hiểm,.v.v
Thông tin tham khảo là những thông tin trong quá trình thương thảo hợp đồng bảo
hiểm tài sản thì các bên phải tìm hiểu lẫn nhau Bên mua tìm hiểu về doanh nghiệp bảo hiểm các thông tin như thị phần nói chung và thị phần bảo hiểm tài sản nói riêng, kinh nghiệm của các nhân sự phụ trách công việc liên quan đến việc thực hiện các cam kết chi trả khi có tổn thất xảy ra Ở phía ngược lại, doanh nghiệp ngoài việc tìm hiểu những thông tin quan trọng do bên mua cung cấp theo biểu mẫu thông qua việc khảo sát thực
tế, đánh giá tài sản về các phương diện như: giá thị trường, loại tài sản có rủi ro cao hay thấp, v.v thì còn phải tìm hiểu những thông tin khác có thể phục vụ cho việc quyết định
có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không Những thông tin không bắt buộc bên mua phải cung cấp thì được xem là thông tin tham khảo Nó không mang ý nghĩ quan trọng
là dựa vào để quyết định chấp nhận lời đề nghị giao kết hay không nhưng nó có thể hỗ trợ trong việc bảo đảm cho việc hạn chế rủi ro xảy ra Thông thường, những thông tin
19 Bộ luật dân sự 2015 (luật số 91/2015/QH13), ngày 24/11/2015, Điều 387
20 Xem thêm mẫu giấy yêu cầu bảo hiểm của Công ty TNHH bảo hiểm Liberty, tại phụ lục 5
Trang 35này có thể thay đổi được mà không ảnh hưởng đến giá trị hợp đồng hay trách nhiệm của các bên với nhau Nhưng nếu bên mua bảo hiểm cung cấp thêm được thì nó có thể có ích cho doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản thì những thông tin loại này gồm: Số lượng, trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên tham gia phòng cháy chữa cháy (bảo vệ), cách sắp xếp kho hàng khoa học hay không?, dễ dàng ứng cứu khi có sự cố không? v.v… Những thông tin dạng này thì thì doanh nghiệp bảo hiểm phải tự tìm hiểu thông qua quá trình đàm phán hợp đồng
1.2.2.2 Phân loại theo tính lịch sử của thông tin
Thông tin trong quá khứ là thông tin mang tính chất tham khảo, nó giúp cho doanh
nghiệp bảo hiểm nắm được thông tin về lịch sử tổn thất của bên mua và đưa ra tính toán
tỷ lệ tổn thất cho riêng khách hàng qua các thống kê và phân tích số liệu Nếu một khách hàng có lịch sử tổn thất thấp thì họ cũng có thể được hưởng một mức phí bảo hiểm ưu đãi Phân tích thống kê này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản quản lý rủi ro cho từng khách hàng cụ thể
Thông tin hiện tại là những thông tin do bên mua cung cấp theo đề nghị của doanh
nghiệp bảo hiểm, nhằm giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm dựa vào đó đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm và đưa ra quyết định có chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng của bên mua hay không Trong thực tế, những thông tin này chính là những thông tin đã phân
tích ở phần thông tin quan trọng bắt buộc phải cung cấp và thông tin tham khảo
Thông tin dự đoán trong tương lai là những thông tin do doanh nghiệp bảo hiểm tự
dự báo những rủi ro có thể có thể xảy ra trong tương lai với những bên mua cụ thể và địa điểm bảo hiểm cụ thể Ví dụ như địa điểm bảo hiểm gần sông có thể dễ bị sụt lún hoặc
ngập nước hơn những địa điểm khác
Trang 361.2.2.3 Phân loại theo thời điểm cung cấp thông tin
Thông tin cung cấp trước và trong giai đoạn giao kết hợp đồng
Trong các giai đoạn của hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm tài sản nói riêng, giai đoạn đàm phán và thực hiện giao kết hợp đồng là giai đoạn mà Bên mua phải cung cấp nhiều thông tin nhất, gồm những thông tin quan trong như: Đối tượng bảo hiểm, địa điểm bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, v.v Những thông tin này sẽ ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp bảo hiểm là có chấp nhận bảo hiểm hay không? định phí bảo hiểm như thế nào? v.v Đây là giai đoạn gần như phải cung cấp thông tin đầy đủ nhất trong quá trình thực hiện hợp đồng cho đến khi có tổn thất xảy ra
Thông tin cung cấp trong giai đoạn thực hiện hợp đồng
Sau khi doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua đã giao kết hợp đồng thì hai bên sẽ cùng nhau thực hiện hợp đồng Trong thời gian này thì bên mua chỉ phải cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm khi có sự thay đổi so với những thông tin đã cung cấp ban đầu Những thông tin của bên mua cung cấp có thể sẽ ảnh hưởng đến quyết định lại của doanh nghiệp bảo hiểm về việc thay đổi điều kiện điều khoản cho phù hợp, thay đổi phí bảo hiểm, thậm chí có thể sẽ phải chấm dứt hợp đồng Những thông tin này thông thường sẽ là: Tăng, giảm số tiền bảo hiểm, thay đổi mức độ rủi ro, thay đổi chủ sở hữu tài sản, v.v ngoài ra, nếu là loại hình bảo hiểm hàng hóa vận chuyển thì còn có thể là những thông tin như: thay đổi hành trình, sự xuất hiện bất ngờ của những rủi ro như bão đến bất ngờ, vùng biển xuất hiện cướp biển, v.v
Thông tin cung cấp khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, là lúc doanh nghiệp thể hiện lời cam kết của mình, bên mua bảo hiểm thực sự chỉ nhận thấy tác dụng của việc mua bảo hiểm nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra mà doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường thỏa đáng Thế nên, những thông tin cung cấp trong thời gian này đặc biệt quan trọng, nó quyết định việc doanh nghiệp
Trang 37bảo hiểm có bồi thường hay không? bồi thường bao nhiêu cho người được bảo hiểm? Vì thông tin là rất quan trọng với doanh nghiệp bảo hiểm nên họ thường đề nghị cung cấp
cụ thể những gì họ cần Bên mua hoặc người được bảo hiểm chỉ phải thực hiện yêu cầu
là thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm khi có sự cố xảy ra Do yêu cầu phải ứng phó kịp thời với sự kiện nên thông thường doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chấp nhận những thông báo đầu tiên qua điện thoại mà không cần văn bản Tuy nhiên, sau đó bên mua hoặc người được bảo hiểm vẫn phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm bằng văn bản cho đúng pháp luật
Thông tin cung cấp sau khi nhận tiền bồi thường
Đây là một nghĩa vụ đặc biệt của bên mua, thông thường nếu là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì mọi nghĩa vụ cung cấp thông tin cho một sự kiện bảo hiểm sẽ chấm dứt khi người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng đã nhận tiền chi trả Tuy nhiên, hợp đồng bảo hiểm tài sản thì không như vậy, trong trường hợp xác định tổn thất bị gây ra bởi một bên thứ ba nào đó thì bên mua bảo hiểm (được hiểu là bên thứ hai trong hợp đồng bảo hiểm) phải cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm (được xem là bên thứ nhất trong hợp đồng bảo hiểm) về bên thứ ba đó để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện việc truy đòi người thứ ba có lỗi theo quy định nghĩa vụ bồi thường ngoài hợp đồng của Bộ luật dân sự Những thông tin này thông thường là: Tên, địa chỉ, bên thứ ba, mức độ lỗi trong sự cố gây ra thiệt hại v.v Ngoài nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn này bên mua hoặc người được bảo hiểm còn phải thực hiện một nghĩa vụ quan trọng khác là
ủy quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm thay mặt người được bảo hiểm đòi bên thứ ba bồi thường những tổn thất của bên mua hoặc người được bảo hiểm tương ứng với phần lỗi của họ gây ra
Trang 381.2.3 Ý nghĩa của việc cung cấp thông tin của bên mua trong hợp đồng bảo
hiểm tài sản
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở doanh
nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm để đổi lại họ được quyền thu những khoản phí nhất định từ người mua bảo hiểm Các chủ thể tham gia vào hợp đồng bảo hiểm phải tuân thủ nguyên tắc “trung thực tuyệt đối” của bảo hiểm Tránh hành vi lợi dụng sự tin tưởng của doanh nghiệp bảo hiểm mà bên mua có thể trục lợi bảo hiểm
từ hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin Vì lẽ đó, nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua có những ý nghĩa sau:
Thứ nhất, giúp doanh nghiệp bảo hiểm tính toán chính xác được rủi ro để đưa ra phương án bảo hiểm phù hợp
Như đã phân tích, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đưa ra quyết định có giao kết hợp đồng bảo hiểm hay không? và khi chấp nhận giao kết thì áp dụng điều kiện, điều khoản nào đều dựa trên sự tính toán, phân loại thông tin mà bên mua cung cấp Nếu có những không tin không được chính xác trong trường thông tin thì kết quả sẽ không thể chính xác, từ đó có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm vì xác định sai tỷ lệ rủi ro, hậu quả là áp dụng sai nội dung điều khoản, điều kiện cần thiết cho hợp đồng bảo hiểm
Thứ hai, tránh được trục lợi bảo hiểm
Trục lợi bảo hiểm tài sản là việc các bên tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản nhằm thực hiện các hành vi lừa dối để được hưởng quyền lợi tài chính mà lẽ ra mình không được hưởng hoặc hưởng lợi lớn hơn quyền lợi tài chính mà mình được hưởng Các dấu hiệu để nhận dạng một hành vi trục lợi bảo hiểm nói chung và trục lợi bảo hiểm tài sản nói riêng là có hành vi lừa dối nhằm mục đích trục lợi, tức là để hưởng một quyền lợi mà lẽ ra mình không được hưởng, từ đó gây thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 39Theo tác giả Nguyễn Thị Thủy (2017), “tức là sự hưởng lợi này đã làm ảnh hưởng đến
quyền lợi tài chính của các chủ thể khác” 21 Trục lợi bảo hiểm làm mất đi sự tương trợ
mang tính cộng đồng của quan hệ bảo hiểm tài sản Cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tạo lập quỹ bảo hiểm trên cơ sở thu phí bảo hiểm của nhiều người tham gia bảo hiểm và
sử dụng quỹ này để bồi thường cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm Như vậy, nếu bên mua thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm thông qua hành vi trục lợi bằng cách vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin sẽ làm cho mất đi sự công bằng đối với các người mua bảo hiểm khác, hành vi này có thể dẫn đến tình trạng làm doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh thua lỗ dẫn đến việc mất khả năng tài chính Vậy, việc cung cấp thông tin chính xác của bên mua bảo hiểm sẽ quyết định giá trị của hợp đồng bảo hiểm tài sản Qua đó, góp phần phát huy vai trò của bảo hiểm tài sản trong nền kinh tế quốc dân
21 Nguyễn Thị Thủy (2017), Pháp luật bảo hiểm tài sản Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr.128
Trang 40Kết luận chương 1
Từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên
mua trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, có thể rút ra những kết luận sau:
Một cách khái quát dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể đưa ra khái niệm hợp
đồng bảo hiểm tài sản như sau: Hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm thương
mại có đối tượng bảo hiểm là tài sản, mà theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm cam kết chi
trả bồi thường cho người được bảo hiểm một khoản tiền để bù đắp những thiệt hại về tài
chính khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm, với điều kiện bên mua bảo
hiểm đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận
Một cách khái quát nhất, có thể nêu khái niệm nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên
mua là việc mà bên mua bắt buộc phải khai báo cho doanh nghiệp bảo hiểm biết tất cả
những hiểu biết của mình về đối tượng bảo hiểm để nhằm mục đích cho doanh nghiệp
bảo hiểm tính toán mức độ rủi ro và đưa ra quyết định chấp nhận giao kết bảo hiểm hay
không Bên mua phải thực hiện việc này từ giai đoạn đàm phám, giao kết đến thời điểm
kết thúc hợp đồng bảo hiểm
Ý nghĩa của nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua là sẽ giúp doanh nghiệp bảo
hiểm tính toán chính xác được rủi ro để đưa ra phương án bảo hiểm phù hợp và tránh
được trục lợi bảo hiểm Việc cung cấp thông tin chính xác của bên mua bảo hiểm sẽ
quyết định giá trị của hợp đồng bảo hiểm tài sản Qua đó, góp phần phát huy vai trò của
bảo hiểm tài sản trong nền kinh tế quốc dân
Những kết quả nghiên cứu lý luận về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua
trong hợp đồng bảo hiểm tài sản trong chương này sẽ làm cơ sở cho việc đánh giá thực
trạng pháp luật hiện hành quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua trong
hợp đồng bảo hiểm tài sản theo pháp luật Việt Nam ở chương 2 sau đây