1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng tín dụng tại việt nam

80 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về hợp đồng tín dụng tại Việt Nam
Tác giả Trịnh Văn Lợi
Người hướng dẫn TS. Lâm Tố Trang
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để bù đắp cho nhau, hai bên phải đi đến một thoả thuận, bên cho vay giao cho bên đi vay được quyền sử tiền vay trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả lại, kèm với một khoản lãi nếu c

Trang 1

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Tai Lieu Chat Luong

Trang 2

TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số chuyên ngành: 8 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn: TS LÂM TỐ TRANG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 5

TÓM TẮT Phần mở đầu của luận văn: Người viết nêu lý do chọn đề tài nghiên cứu,

tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, đặt ra câu hỏi để nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu của luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận và quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng Người

viết nêu khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng tín dụng; chủ thể của giao kết hợp đồng tín dụng, hình thức, hiệu lực của hợp đồng tín dụng; quy định pháp luật về lãi suất, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng

Nội dung chương này tác giả nêu cơ sở lý luận và làm rõ các quy định về hợp đồng tín dụng

Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng và một

số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật

Đối với chương này tác giả nêu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng; đồng thời, chỉ ra một số bất cập quy định có liên quan đến hợp đồng tín dụng, việc xử lý tài sản thế chấp Từ đó, tác giả đưa ra một vài kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật với mong muốn góp phần tạo điều kiện thuận lợi, hạn chế thiệt thòi khi các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn tại các tổ chức tín dụng

và tổ chức tín dụng hạn chế được rủi ro

Trang 6

THERIS SUMMARY

Thesis introduction: The writer gives the reasons for choosing the research

topic, the research context related to the topic, research questions, subjects of the research, scope, research methods, scientific significance, practical significance and structure of the thesis

Chapter 1: Rationale and legal provisions on facility agreements The writer

states the concept, characteristics, and classification of facility agreements; subjects

of facility agreements, form and validity of facility agreements; legal provisions on interest rates, rights and obligations of parties in a facility agreement In this chapter, the writer presents the rationale and clarifies the legal provisions on facility agreements

Chapter 2: Practical application of legal provisions on facility agreements

and some recommendations on improving legal provisions In this chapter, the writer gives the practical application of legal provisions on facility agreements, and

at the same time, points out some regulatory shortcomings related to facility agreements, disposition of collateral The writer then gives a few recommendations

on completing the legal provisions with the hope of contributing to creating favorable conditions to limit disadvantages when organizations and individuals need to borrow capital from credit institutions and that credit institutions can reduce risks

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Câu hỏi nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

8 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 7

1.1 Khái quát hợp đồng tín dụng 7

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng 7

1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng 7

1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng 8

1.1.2 Phân biệt giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng vay tài sản 9

1.1.3 Các nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng 10

1.1.4 Phân loại hợp đồng tín dụng 10

1.1.4.1 Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn có các loại hợp đồng sau 10

1.1.4.2 Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay 11

1.1.4.3 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn 11

1.1.4.4 Căn cứ vào phương thức cho vay 12

1.2 Giao kết hợp đồng tín dụng 13

1.2.1 Chủ thể giao kết hợp đồng tín dụng 13

1.2.1.1 Điều kiện chung về chủ thể giao kết hợp đồng tín dụng 13

1.2.1.2 Điều kiện riêng đối với bên cho vay 15

1.2.1.3 Điều kiện riêng đối với bên vay 16

1.2.2 Hình thức hợp đồng tín dụng 17

1.2.3 Hiệu lực hợp đồng tín dụng 19

1.3 Quy định về lãi suất trong hợp đồng tín dụng 21

1.3.1 Khái niệm lãi suất 21

1.3.2 Quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản qua các thời kỳ 23

1.3.2.1 Quy định pháp luật về lãi suất trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật 23

1.3.2.2 Quy định pháp luật về lãi suất từ khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành 34

1.3.3 Lãi suất cho vay trong hạn 36

1.3.4 Lãi quá hạn và lãi chậm trả 36

1.3.5 Phạt vi phạm 38

1.4 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng 38

1.4.1 Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay 38

Trang 8

1.4.2 Quyền và nghĩa vụ của bên vay 40

1.5 Sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng 42

1.6 Chấm dứt hợp đồng tín dụng 43

1.7 Kết luận 45

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 46

2.1 Thực tiễn xét xử trong hợp đồng tín dụng 46

2.2 Vướng mắc, bất cập quy định pháp luật hợp đồng tín dụng 59

2.2.1 Về lãi suất 59

2.2.1.1 Về lãi suất tối đa 59

2.2.1.2 Lãi suất chậm trả nợ gốc 61

2.2.1.3 Lãi suất chậm trả nợ lãi 62

2.2.1.4 Thời hiệu khởi kiện 64

2.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng 66

2.3.1 Về lãi suất 66

2.3.2 Về thời hiệu khởi kiện 67

2.4 Kết luận 68

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Việt Nam đã và đang có những bước tiến trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nên kinh tế thị trường; tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng; các doang nghiệp trong và ngoài nước mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh; nhu cầu

về vốn ngày càng cao Trong bối cảnh đó, tài chính, ngân hàng được xem là một lĩnh vực sôi động Những năm qua, hàng loạt các ngân hàng ra đời, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng mãnh liệt hơn Tuy nhiên, hoạt động của các ngân hàng nhất là hoạt động cấp tín dụng được xem là hoạt động có tiềm ẩn rủi ro, tác động đến nền kinh tế, tình hình an ninh trật tự đất nước Trong bối cảnh đó, đã không ít những ngân hàng rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt hay sự sát nhập ngân hàng Chính vì vậy, đã đặt ra sự cần thiết tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa pháp luật về ngân hàng nói chung và đặc biệt pháp luật về hợp đồng tín dụng nói riêng

Có thể nói, hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng có tính kinh tế khách quan, đa số khách hàng có nhu cầu

sử dụng vốn trong sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng đi vay (bên đi vay) tại các tổ chức tín dụng nhưng chủ yếu là các ngân hàng (bên cho vay) Để bù đắp cho nhau, hai bên phải đi đến một thoả thuận, bên cho vay giao cho bên đi vay được quyền sử tiền vay trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả lại, kèm với một khoản lãi nếu

có thỏa thuận, cùng với đó thì bên đi vay phải thế chấp một tài sản nào đó hoặc có bảo lãnh của tổ chức, cá nhân cho tổ chức tín dụng để bảo đảm việc trả nợ sau này, đặc biệt cũng có trường hợp không có tín chấp Hầu hết trong cuộc đời mỗi đời người, hay thời gian tồn tại của mỗi doanh nghiệp đều từng trải qua thỏa thuận hợp đồng vay tại các tổ chức tín dụng, nhưng chủ yếu là các hệ thống ngân hàng Việc thỏa thuận giao kết hợp đồng tín dụng bình thường đơn giản, đến hạn là bên đi vay trả nợ gốc và lãi suất cho bên cho vay, nhưng cũng có trường hợp đến hạn mà bên

đi vay không trả dẫn đến thu hồi nợ, xử lý nợ quá hạn, lãi suất quá hạn, xử lý các tài sản thế chấp gặp nhiều khó khăn dẫn đến phát sinh tranh chấp

Trang 10

Trong hợp đồng vay có quy định về lãi suất, việc xử lý tài sản thế chấp đối với các trường hợp có thế chấp tài sản Tuy nhiên, vấn đề quy định về lãi suất, lãi suất quá hạn; xử lý tài sản thế chấp còn một số bất cập mà tác giả thấy cần thiết phải

có quy định chặt chẽ, minh bạch, nhằm đảm bảo cho việc thu hồi vốn của các tổ chức tín dụng

Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Thương mại đều có quy định về lãi suất, thẩm quyền

xử lý tài sản thế chấp nhưng còn chưa đồng bộ, còn có những hạn chế nhất định mà tác giả thấy cần thiết phải bình luận, phân tích những vấn đề đó để có hướng đề xuất hoàn thiện hơn

Từ nhu cầu thực tiễn đó, tác giả chọn Đề tài “PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM” để nghiên cứu viết Luận văn

Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn thật khó để tránh khỏi những sai sót trong cách hiểu, lập luận, cách giải quyết vấn đề, vì lẽ đó, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn, của Hội đồng góp ý

đề cương, Hội đồng chấm Luận văn để tác giả hoàn thành Luận văn tốt nghiệp một cách tốt nhất

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tác giả cũng có nghiên cứu một số công trình nghiên cứu như: Luận án tiến

sỹ, Luận văn thạc sỹ, bài viết của các tác giả khác về những vấn đề có liên quan đến hợp đồng vay tài sản và lãi suất để viết những vấn đề mới hơn, làm rõ hơn một số vấn đề trong luận văn này

Luận văn Thạc sỹ luật học “PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM”,năm 2008, của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thuý Luận văn này trình bày về hợp đồng tín dụng ngân hàng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 hiện đã hết hiệu lực thi hành, chưa so sánh giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng vay tài sản thông thường để làm rõ sự khác nhau

Luận văn Thạc sỹ Luật kinh tế “HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN”, năm 2018 của tác Nguyễn Nông Phú Tác giả viết về lãi xuất cho vay theo

Trang 11

quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, nhưng chưa đánh giá những bất cập trong quy định lãi suất tối đa; việc xử lý tài sản thế chấp của các tổ chức tín dụng

Luận án Tiến sỹ luật học “HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM”, năm 2010, của tác giả Lê Minh Hùng Tác giả viết về hiệu lực của hợp đồng nói chung, thời điểm viết theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 hiện đã hết hiệu lực thi hành, chưa viết cụ thể về hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng cũng như về lãi suất

Bài viết trên Tạp chí Tòa án “MỘT SỐ LƯU Ý KHI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015”1, năm 2018, của đồng tác giả Nguyễn Xuân Bình - Lê Thị Xuân, viết về những lưu ý về tố tụng và một số nội dung khi giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường, không viết về hợp đồng tín dụng

Bài viết “LÃI SUẤT THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM

2015 VÀ KIẾN NGHỊ”2, năm 2016, của tác giả Phạm Thị Hồng Đào Tác giả phân tích về lãi suất theo quy định tại các Điều 357, 466, 467, 468, 469, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng có một số điểm chưa đúngvới tinh thần quy định của luật cho nên cần phải phân tích để có cách hiểu đúng

Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách viết chuyên về lĩnh vực Ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng, tổ chức tín dụng… Trong đó, cũng có khái niệm hợp đồng tín dụng nhưng tác giả chưa đưa ra căn cứ quy định của pháp luật để phân tích làm rõ vì sao có được khái niệm đó

Các công trình nghiên cứu, bài viết, án lệ, bản án nêu trên cùng với những tài liệu tham khảo có nhiều thông tin hữu ích, có giá trị cho việc nghiên cứu viết luận văn, nhưng những tài liệu đó chưa tổng hợp phân tích chung giữa hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng và lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành để làm rõ mối liên hệ gắn bó giữa chúng với nhau Các tác giả cũng đưa ra khái niệm

1 Tạp chí Tòa án nhân dân Số 7 (kỳ I tháng 4/2018)

2 Phạm Thị Hồng Đào (2016), “Lãi suất theo quy định của BLDS năm 2015 và kiến nghị” tại http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2074 truy cập ngày 10/3/2018

Trang 12

“hợp đồng tín dụng” nhưng chưa phân tích quy định pháp luật vì sao có được khái niệm đó và được nhiều người đồng tình Chưa có tác giả nào phân tích để phân biệt hợp đồng vay vốn của ngân hàng, với hợp đồng vay tài sản, thẩm quyền xử ý tài sản thế chấp Với luận văn này tác giả mong muốn làm sáng tỏ được những vấn đề vừa nêu, phân tích được những vấn đề còn vướng mắc và đưa ra giải pháp kiến nghị xử

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá, tổng hợp các quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng, nêu lên thực trạng áp dụng các quy định hiện hành về mặt pháp luật hiện hành trong hợp đồng tín dụng như việc xác định lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả, thực tiễn áp dụng quy định

Những khó khăn vướng mắc trong việc xử ký các vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng Từ đó có thể tìm ra hướng giải quyết phù hợp đúng quy định pháp luật Bên cạnh đó, trong luận văn, tác giả còn đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật phù với thực tiễn

4 Câu hỏi nghiên cứu

Pháp luật quy định như thế nào về hợp đồng tín dụng và lãi suất trong hợp đồng tín dụng?

Thực tiễn giải quyết tranh chấp trong hợp đồng tín dụng ra sao?

Cần phải hoàn thiện những quy định pháp luật nào về hợp đồng tín dụng và lãi suất trong hợp đồng tín dụng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hợp đồng tín dụng, đặc biệt là hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng với tổ chức, cá nhân; tranh chấp liên quan đến hoạt động tín dụng, thực tiễn áp dụng trong hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp của Tòa án nhân dân; phân tích án lệ và một số bản án có liên quan đến hợp đồng tín dụng của ngân hàng Từ đó đề xuất hoàn thiện hơn quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng, cách tính lãi suất, thẩm quyền trong việc xử lý tài sản thế chấp

Trang 13

Tác giả sử dụng số liệu, tài liệu báo cáo, bản án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho; báo cáo việc thực hiện Quy chế phối hợp giữa Cục thi hành án Dân sự

và Ngân hàng Nhà nước tỉnh Tiền Giang để minh họa về tính phổ biến của hợp đồng vay vốn của ngân hàng địa phương Đối với nghiên cứu về áp dụng pháp luật, các bài viết của các tác giả khác là trên cả nước

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn tác giả dùng các phương pháp phân tích, so sánh, suy luận, logic, lịch sử, tổng hợp để nghiên cứu giải quyết từng vấn đề được đề cập đến trong luận văn

Trong phần lý thuyết, tác giả thường dùng phương pháp lịch sử để tìm nguồn gốc, quá trình phát triển của hợp đồng tín dụng và lãi suất, lãi suất quá hạn; thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp của các tổ chức tín dụng Từ đó, rút ra được tính hợp lý hay chưa hợp lý của pháp luật hiện tại theo quy luật của sự phát triển Tác giả dùng phương pháp phân tích nghiên cứu các tài liệu, quy định pháp luật theo từng bộ phận để làm rõ những vấn đề cụ thể

Tác giả cũng thường xuyên phối hợp dùng cùng lúc nhiều phương pháp để hỗ trợ nhau, kiểm tra lẫn nhau và để khẳng định kết quả nghiên cứu, như vừa so sánh vừa phân tích quy định của một hay nhiều điều luật cũ với quy định của một hay nhiều điều luật mới để thấy được điểm tiến bộ hơn hay điểm hạn chế của điều luật; vừa bình luận, vừa suy luận, vừa tổng hợp để tìm ra phương án tối ưu nhất cho một vấn đề phải áp dụng pháp luật như thế nào là hợp lý; vừa phân tích, vừa logic pháp lý

để chứng minh được tính hợp lý hay không hợp lý, đúng hay sai của vấn đề…

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Luận văn là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và các chủ thể có quan tâm về hợp đồng tín dụng, lãi suất, làm rõ một số khó khăn, vướng mắc để hoàn thiện pháp luật

Trang 14

Ý nghĩa thực tiễn: Có giải pháp áp dụng pháp luật thống nhất trong việc thực hiện quy định về lãi suất, lãi suất quá hạn và lãi suất chậm trả trong hợp đồng tín dụng và việc xử lý nợ của các tổ chức tín dụng để thu hồi vốn

8 Kết cấu luận văn

Luận văn được kết cấu thành 2 chương như sau: Chương 1 - Cơ sở lý luận và quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng; Chương 2 - Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng và một số kiến nghị hoàn thiện Bên cạnh đó luận văn cũng có các phần thông thường như: mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,

Chương I: Cơ sở lý luận và quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng

Chương II: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng và một số kiến nghị hoàn thiện

Trang 15

Tín dụng là hình thức cho vay khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động tín dụng từng bước hoàn thiện và phát triển thành hình thức cho vay bằng tiền tệ Trong đó, bên cho vay cung cấp nguồn tài chính cho bên vay trong một thời hạn do hai bên thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất

Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng

Hợp đồng tín dụng là hợp đồng vay có sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các tổ chức tín dụng (bên cho vay) với pháp nhân, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay) Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Theo thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng Theo đó tại Điều 23 của Thông tư không còn quy định bắt buộc với tên gọi “hợp đồng tín dụng” nữa mà là quy định “Thỏa thuận

Trang 16

cho vay” theo Khoản 1 của điều này có quy định về thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản và phải đảm bảo một số nội dung Như vậy, hợp đồng tín dụng có thể dùng tên gọi khác như hợp đồng vay, khế ước vay tiền chứ không bắt buộc phải dùng tên gọi “hợp đồng tín dụng” nhưng khi nói đến hợp đồng tín dụng tức là đang nói đến hợp đồng vay có một bên là tổ chức tín dụng Sau đây gọi chung là hợp đồng tín dụng

Như vậy, ta có thể hiểu “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm”

1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng

“Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp

đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận.” 3 Theo quy định này thì hợp đồng tín dụng sẽ có một số đặc điểm sau đây:

Về hình thức: hợp đồng tín dụng luôn được lập thành văn bản và hầu hết là hợp đồng theo mẫu với nhiều điều khoản chặt chẽ do các tổ chức tín dụng chuẩn bị sẵn

Về đối tượng: hợp đồng tín dụng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ Vốn tiền tệ trong hợp đồng tín dụng có thể là tiền đồng Việt Nam hoặc một số ít trường hợp vay ngoại tệ như để thanh toán tiền mua hàng quốc tế, tồn tại dưới dạng tiền mặt, vật hiện hữu hoặc bút tệ

Về chủ thể: bên cho vay trong hợp đồng tín dụng bắt buột phải là tổ chức tín dụng (bao gồm ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng), có đủ điều kiện theo luật định Còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có đủ điều kiện vay vốn do pháp luật quy định

3 Điều 17, Quyết định 20/VBHN-NHN ngày 22 tháng 5 năm 2014 của Ngân hàng Nhà nước

Trang 17

1.1.2 Phân biệt giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng vay tài sản

01 Chủ thể Một bên tham gia hợp đồng phải là tổ

chức tín dụng có đủ điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định

Các tổ chức, cá nhân có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, một bên không nhất định phải là tổ chức tín dụng

tượng

Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền (bao gồm tiền mặt và bút tệ) Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải

là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng

Có thể là một số tiền nhất định, hoặc hàng hóa, dịch vụ, tài sản khác

Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thường xảy ra với

số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác

Nguy cơ rủi ro chia đều cho cả hai bên, thường ít rủi ro hơn

Trang 18

sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ của bên đi vay Chỉ khi nào bên cho vay chứng minh họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng thì mới có quyền yêu cầu bên đi vay thực hiện nghĩa vụ đối với mình

trước hay sau do hai bên tự thỏa thuận; việc chậm thực hiện nghĩa vụ của một bên không được dùng làm cơ sở dễ chậm thực hiện; từ chối thực hiện nghĩa vụ của bên còn lại

1.1.3 Các nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của

tổ chức tín dụng

Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng: trong hoạt động ngân hàng thường có tính rủi ro rất cao và thường mang tính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội

Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích: đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từ bên vay, đồng thời đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạm nguyên tắc này thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sự điều chỉnh theo pháp luật

Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận: bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này Trường hợp bên vay có thể trả chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được bên cho vay chấp thuận nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả gốc và lãi theo đúng thời gian

đã gia hạn

1.1.4 Phân loại hợp đồng tín dụng

1.1.4.1 Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn có các loại hợp đồng sau

Hợp đồng cho vay ngắn hạn: là hợp đồng cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng với thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là từ một năm trở xuống Hợp đồng cho vay này chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong một thời gian ngắn (thường là dưới 1 năm)

Trang 19

Hợp đồng cho vay trung và dài hạn: là hợp đồng cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng với thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là trên một năm Người đi vay sử dụng hình thức này để đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tư sản xuất kinh doanh, phục vụ cho sinh hoạt, tiêu dùng như nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, mua ô tô…

1.1.4.2 Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay

Hợp đồng cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hợp đồng cho vay trong đó hình thức cho vay là có bảo đảm bằng tài sản trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba Việc cho vay này phải được bảo đảm dưới hình thức ký kết cả hai loại hợp đồng, bao gồm hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh) Pháp luật cũng cho các bên có thể thỏa thuận lập một hợp đồng nên trong trường hợp này các thỏa thuận về bảo đảm tiền vay được xem là một bộ phận hợp thành của hợp đồng có bảo đảm bằng tài sản

Hợp đồng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong

đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản cụ thể, xác định của khách hàng vay hoặc của người thứ ba Thông thường các bên chỉ giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng Trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay

có bảo đảm bằng tín chấp thì vẫn phải xác lập một văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhận cho vay

1.1.4.3 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn

Hợp đồng cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: là việc ngân hàng cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn hợp pháp ngoài nhu cầu vốn phục vụ đời sống, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân vay vốn là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân, là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền vay sử dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình Nếu

Trang 20

bên vay sử dụng vốn sai mục đích, sử dụng vốn vào những mục đích khác thì bên cho vay có quyền áp dụng các chế tài thích hợp như đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc thu hồi vốn vay trước thời hạn

Hợp đồng cho vay phục vụ nhu cầu đời sống: là việc ngân hàng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt

cá nhân, gia đình của cá nhân, theo đó bên tham gia vay cam kết số tiền vay sẽ được

sử dụng vào việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, mua sắm nhà cửa hoặc phương tiện đi lại, hay sử dụng vào mục đích học tập

1.1.4.4 Căn cứ vào phương thức cho vay4

Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng tổ chức tín dụng áp dụng phương thức cho vay này khi khách hàng vay có nhu cầu vay vốn không thường xuyên Mỗi lần có nhu cầu vay vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định

Cho vay theo hạn mức: Là việc tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng nhất định Trong hạn mức cho vay, tổ chức tín dụng nơi cho vay thực hiện cho vay từng lần Một năm ít nhất một lần, tổ chức tín dụng nơi cho vay xem xét xác định lại hạn mức cho vay tối đa và thời gian duy trì hạn mức Hạn mức cấp tín dụng bao gồm hạn mức cho vay ngắn hạn (hạn mức vay vốn), hạn mức các hình thức cấp tín dụng khác (bảo lãnh, mở L/C)

Cho vay theo dự án đầu tư: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống

Cho vay hợp vốn: theo phương thức này, một nhóm tổ chức tín dụng cùng thực hiện cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp Cho vay hợp vốn được thực hiện theo quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành

4 Điều 27, Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước

Trang 21

Cho vay trả góp: khi vay, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay

Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: tổ chức tín dụng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiềm mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Việc cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng theo quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu

tư cho dự án Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức trả phí cho hạn mức tín dụng dự phòng

Cho vay theo hạn mức thấu chi: đây là hình thức cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán Là một hình thức cho vay tiêu dùng ngắn hạn thông qua thẻ, đây là hình thức cho vay phổ biến hiện nay được các tổ chức tín dụng áp dụng cho cán bộ, công chức và người lao động có tài khoản và có hợp đồng chi trả lương của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

1.2 Giao kết hợp đồng tín dụng

1.2.1 Chủ thể giao kết hợp đồng tín dụng

1.2.1.1 Điều kiện chung về chủ thể giao kết hợp đồng tín dụng

Chủ thể giao kết hợp đồng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định Để hợp đồng có hiệu lực đòi hỏi chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng phải thỏa mãn các điều kiện này (Điểm a, Khoản 1, Điều 117 của Bộ luật Dân

sự năm 2015)

Trang 22

Đối với các pháp nhân thương mại là tổ chức cần phải chú ý, người giao kết hợp đồng phải là người đại diện hợp pháp của tổ chức đó Người đại diện hợp pháp

có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền Nếu việc giao kết hợp đồng không do người đại diện hợp pháp thực hiện sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý là làm cho hợp đồng vô hiệu Chẳng hạn như một tổ chức tín dụng thỏa thuận cho hợp tác xã vay tiền, người đại diện cho hợp tác xã là giám đốc hợp tác xã ký kết hợp đồng, không được ủy quyền Theo quy định Luật Hợp tác xã ngày 20 tháng 11 năm 2012, người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã là chủ tịch hội đồng quản trị còn giám đốc chỉ được nhân danh hợp tác xã ký kết hợp đồng theo ủy quyền của chủ tịch hội đồng quản trị Như vậy, giám đốc hợp tác xã ký kết hợp đồng mà không được chủ tịch hội đồng quản trị ủy quyền là không có giá trị pháp lý đối với hợp tác xã

Chủ thể nào giao kết hợp đồng cùng với điều kiện mục đích lợi nhuận hoặc không vì mục đích lợi nhuận, là hợp đồng vay tài sản hoặc hợp đồng tín dụng thuộc lĩnh vực dân sự Chủ thể nào giao kết hợp đồng cùng với điều kiện mục đích lợi nhuận là hợp đồng vay tài sản hoặc hợp đồng tín dụng thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại mà khi có phát sinh tranh chấp là những tranh chấp về kinh doanh,

thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký

Để trở thành hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại phải thỏa mãn hai điều kiện: các chủ thể giao kết hợp đồng đều phải có đăng ký kinh doanh và các chủ thể đều phải có mục đích lợi nhuận Như vậy, bên cho vay và bên vay đều không phải tổ chức tín dụng là hợp đồng vay tài sản Nếu các chủ thể thỏa mãn có đầy đủ hai điều kiện nêu trên là hợp đồng thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại Nếu có tranh chấp là tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo quy định (khoản 1 Điều 30

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015)

Ngược lại nếu thiếu một trong hai điều kiện, bên cho vay hoặc bên vay hoặc cả hai bên không có đăng ký kinh doanh Bên cho vay hoặc bên vay hoặc cả hai bên đều

5 Khoản 1, Điều 30, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Trang 23

không có mục đích lợi nhuận là hợp đồng thuộc lĩnh vực dân sự Nếu có tranh chấp là tranh chấp về dân sự theo quy định (khoản 3, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015)

1.2.1.2 Điều kiện riêng đối với bên cho vay

Hợp đồng vay tài sản không quy định có chủ thể đặc biệt nhưng đối với hợp đồng tín dụng, một bên bắt buộc phải là một tổ chức tín dụng Tổ chức tín dụng này phải đảm bảo đầy đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác có liên quan

Vấn đề đặt ra, có phải mọi trường hợp trong hợp đồng vay tài sản có ít nhất một bên là tổ chức tín dụng, bất kể là bên cho vay hay bên vay đều là hợp đồng tín dụng có phải không, nếu tổ chức tín dụng huy động vốn không phải là hợp đồng tín dụng mà hợp đồng tiền gửi

Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Quyết định số NHNN1 ngày 25 tháng 8 năm 2000, Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước đều có quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín

284/2000/QĐ-dụng Cụ thể theo quy định Luật Các tổ chức tín dụng “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền

để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với

tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng nhà nước quy định “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo

là hợp đồng mà bên cho vay là tổ chức tín dụng mới thuộc phạm vi điều chỉnh và

6 Khoản 16, Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng

7 Khoản 1, Điều 2 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng nhà nước

Trang 24

phải lập hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải được hiểu là hợp đồng vay mà bên cho vay bắt buộc phải là các tổ chức tín dụng

Ngược lại, nếu bên cho vay là tổ chức, cá nhân và bên vay là tổ chức tín dụng (như khách hàng gửi tiền tiết kiệm cho ngân hàng hay tổ chức tín dụng khác), thì đó không phải là hợp đồng tín dụng mà chỉ là hợp đồng vay tài sản Hay nói cách khác nếu bên cho vay không phải là tổ chức tín dụng là hợp đồng vay tài sản

Trong trường hợp, nếu bên cho vay là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh

sẽ là hợp đồng vay tài sản trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại vì bên cho vay và tổ chức tín dụng đều có mục đích lợi nhuận (đối với khách hàng là tiền lãi nhận được, còn tổ chức tín dụng sẽ dùng tiền vốn huy động được để cho vay lại thu lãi)

Các tổ chức tín dụng phải được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng hợp tác xã, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, Tổ chức tài chính vi mô, Quỹ tín dụng nhân dân, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

1.2.1.3 Điều kiện riêng đối với bên vay

Theo quy định Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng nhà nước, khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng (sau đây gọi là

khách hàng) là pháp nhân, cá nhân, bao gồm: “Pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp

Theo quy định này, không phân biệt pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh hay không đăng ký kinh doanh

Bên vay có đăng ký kinh doanh, có thể là tổ chức, cá nhân được thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, gọi chung là các doanh nghiệp; hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã; hộ kinh doanh, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh theo quy định tại Điều 66 Nghị định

số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký doanh

8 Khoản 3, Điều 2, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước

Trang 25

nghiệp, giao kết hợp đồng vay với tổ chức tín dụng là hợp đồng tín dụng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại Còn đối với chủ thể không có đăng ký kinh doanh giao kết hợp đồng vay với tổ chức tín dụng là hợp đồng tín dụng trong lĩnh vực dân sự

Tuy nhiên, theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 có quy định về Hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp:

“1 Người thành lập doanh nghiệp được ký hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp

2 Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết quy định tại khoản 1 Điều này và các bên phải thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp trong hợp đồng có thỏa thuận khác

3 Trường hợp doanh nghiệp không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng; trường hợp có người khác tham gia thành lập doanh

Do đó, tuy lúc chủ thể giao kết hợp đồng chưa thực hiện xong thủ tục thành lập doanh nghiệp, chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng đã có các hoạt động trước đó mà khi doanh nghiệp được thành lập mới phát sinh tranh chấp vẫn coi là tranh chấp kinh doanh, thương mại

9 Điều 18 của Luật Doanh nghiệp năm 2020

Trang 26

Các tổ chức tín dụng thường sử dụng hợp đồng theo mẫu10 cho từng nhóm khách hàng vì lượng khách hàng đông đảo, mẫu hợp đồng này không bắt buộc, do từng tổ chức tín dụng chuẩn bị nhưng phải đảm bảo đầy đủ các nội dung theo Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng

12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Các hợp đồng mẫu này thường được soạn dài dòng, nhiều điều khoản không cần thiết Khách hàng thông thường trong các hợp đồng tín dụng trong lĩnh vực dân sự như người dân vay tiền để sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp ít có ai xem hết tất cả các điều khoản trong hợp đồng, thậm chí họ chỉ nghe theo “cán bộ tín dụng” và ký tên vay tiền mà không đọc hợp đồng Tuy nhiên, đối với những khách hàng am hiểu vẫn có thể thỏa thuận lại các điều khoản với tổ chức tín dụng Hợp đồng ngày nay được sửa dễ dàng trên máy tính rồi in ra chứ không như trước đây chỉ điền vào mẫu đã in sẵn, khách hàng muốn vay tiền bắt buộc phải điền vào mẫu in sẵn, hiếm khi có việc tổ chức tín dụng làm lại hợp đồng khác

Việc quy định hình thức bằng văn bản đối với các hợp đồng quan trọng là phù hợp để cho các chủ thể giao kết hợp đồng không thể “quên” những gì mình đã thỏa thuận, vì “bút sa gà chết” Do vậy, trong những mối quan hệ có tính chất quan trọng, các luật thường quy định hình thức hợp đồng bằng văn bản là bắt buộc

Ngoài ra, hình thức của hợp đồng không phải bằng văn bản nhưng vẫn được coi là văn bản, đó là quy định tại Khoản 1, Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015,

chấp nhận “Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản” Theo Luật Thương mại năm 2005, quy định “các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các

được công nhận là hợp đồng

10 “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra.Hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng.”(Khoản 1 Điều 405 BLDS 2015)

11 Khoản 15, Điều 3, Luật Thương mại năm 2005

Trang 27

Theo Luật Giao dịch điện tử quy định về thông điệp dữ liệu có giá trị như văn

bản “Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đáp ứng được các dữ kiện sau:

1 Nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông đuệp dữ liện hoàn chỉnh

2 Nội dung của thông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa

bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gử, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu;

3 Nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng dưới dạng hoàn

Giao kết hợp đồng trong thương mại điện tử được quy định tại Chương 2, từ Điều 9 đến Điều 23 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về thương mại điện tử Và một khi luật quy định hình thức hợp đồng bắt buộc bằng văn bản, có nghĩa là không được chọn những hình thức khác, mà chủ thể giao kết hợp đồng không tuân thủ thực hiện sẽ là một trong những điều kiện làm cho hợp đồng vô hiệu

Trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, hình thức của hợp đồng được

thực hiện theo quy định Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công

12 Điều 13, Luật Giao dịch điện tử

13 Khoản 7, Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 28

2 Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa

vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa

Về thời điểm giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 400 của Bộ luật dân

sự năm 2015, theo đó:

Thứ nhất, “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được

mại cổ phần (TMCP) B vay tiền Ngân hàng TMCP B chấp nhận cho Nguyễn Văn

A vay và hai bên thỏa thuận ký kết hợp đồng tín dụng Như vậy, hợp đồng đã được giao kết vào thời điểm Ngân hàng TMCP B chấp nhận cho vay, chứ không phải lúc Ngân hàng TMCP B giao tiền cho Nguyễn Văn A Nếu sau khi ký kết hợp đồng mà Ngân hàng TMCP B không giải ngân cho Nguyễn Văn A vay tiền là vi phạm nghĩa

vụ trong hợp đồng

Thứ hai, “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng” Hợp đồng được giao kết bằng lời nói chỉ có

thể là hợp đồng vay tài sản thông thường chứ không thể là hợp đồng tín dụng

Thứ ba,“Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó” Việc thỏa thuận này có thể lập thành văn bản hoặc thỏa

thuận bằng lời nói vì luật không quy định rõ Tuy nhiên, nếu không lập thành văn bản sẽ rất khó để chứng minh được việc đã thỏa thuận im lặng là chấp nhận

Chẳng hạn như, hợp đồng vay tài sản của Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) A

và Hộ kinh doanh cầm đồ B, DNTN A thường xuyên vay tiền của Hộ kinh doanh B Hai bên có thỏa thuận bằng lời nói, nếu DNTN A nhắn tin mà Hộ kinh doanh B không trả lời tức là chấp nhận cho DNTN A vay Hai bên đã thực hiện theo thỏa thuận được rất nhiều lần Đến lần sau cùng, B không trả lời nhưng khi DNTN A đến nhận tiền vay, Hộ kinh doanh B lại không cho vay Việc Hộ kinh doanh B không cho vay tiền làm cho DNTN A bị thiệt hại do chậm thanh toán tiền cho đối tác nên bị hủy

14 Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015

15 Khoản 1, Điều 400, Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 29

hợp đồng DNTN A khởi kiện B đòi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, khi không lập thành văn bản, DNTN A muốn chứng minh việc thỏa thuận của hai bên là rất khó khăn

Nếu giao kết hợp đồng bằng văn bản, thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trong văn bản Còn trường hợp giao kết hợp đồng bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định như giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng Và hợp đồng có hiệu lực khi hợp đồng không bị vô hiệu theo quy định tại các Điều 407, 408 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Hợp đồng vô hiệu được áp dụng tương tự như giao dịch dân

sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Đảm bảo các điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, đó là:

- Về chủ thể giao kết hợp đồng, như đã đề cập ở phần trên

- Sự tự nguyện hoàn toàn của chủ thể, không bị ép buộc, đe dọa, cưỡng ép…

- Mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức

xã hội Ví dụ, biết rõ bên vay tiền để dùng vào việc bất hợp pháp như đánh bạc, buôn lậu nhưng vẫn cho vay

- Về hình thức như đã trình bày ở phần hình thức của hợp đồng

Đối với hợp đồng tín dụng, hiệu lực của thỏa thuận cho vay còn phải được ghi trong hợp đồng theo quy định tại Điểm o, Khoản 1, Điều 23 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước

1.3 Quy định về lãi suất trong hợp đồng tín dụng

1.3.1 Khái niệm lãi suất

Trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa “lãi suất” là “Tỉ lệ phần trăm giữa lãi so với vốn.”; còn “lãi” là “Khoản tiền người vay nợ phải trả thêm cho người chủ nợ

ngoài số tiền đã vay.”16

16 Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng- Trung tâm Từ điển học,

Hà Nội - Đà Nẵng, trang 537

Trang 30

Theo trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, lãi suất được định nghĩa “Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử dụng tiền mà họ vay

được nhưng không dẫn Bách khoa toàn thư mở)

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 của Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17 tháng 5 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy định phương pháp tính và hạnh toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, định nghĩa “Lãi: Là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoặc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất”

Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Ngân hàng Nhà nước quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng

giữa tổ chức tín dụng với khách hàng “Số tiền lãi: là khoản tiền tổ chức tín dụng phải trả cho khách hàng gửi tiền hoặc khách hàng nhận cấp tín dụng phải trả cho tổ chức

Như vậy, khi một người vay tiền để sử dụng, đáp ứng cho nhu cầu của mình phải trả tiền lãi (trừ trường hợp vay không có lãi hay lãi suất 0%) Để tính số tiền lãi phải trả, người ta tính theo tỉ lệ phần trăm giữa lãi so với tiền vốn gốc trong một thời gian nhất định, cái đó gọi là lãi suất Ví dụ, lãi suất 1%/ tháng, 12%/năm

Nhiều người thường bị nhầm lẫn, không phân biệt giữa lãi với lãi suất, cho

rằng “lãi suất chính là khoản tiền hoặc lợi ích vật chất khác mà bên vay phải trả thêm ngoài số tiền hoặc vật đã vay để có thể sử dụng tài sản vay của bên cho vay” hay “lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định

mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn” Trong khi đó phải phân biệt:

Lãi hay tiền lãi là số tiền hay vật phải trả thêm ngoài số tiền hay vật đã vay, còn lãi suất là một trong những căn cứ để tính lãi Chăng hạn, muốn biết số tiền lãi phải trả

17 https://vi.wikipedia.org/wiki/Lãi_suất (truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2018)

18 Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Ngân hàng Nhà nước

Trang 31

trong 01 tháng của số tiền vốn vay 150.000.000đ, ta phải biết lãi suất là bao nhiêu, như 12%/năm, mới tính được số tiền lãi phải trả 150.000.000đ x 12%/năm : 12 tháng

là 1.500.000đ Vậy, trong ví dụ này lãi suất là 12%/năm, còn lãi phải trả trong tháng

là 1.500.000đ

1.3.2 Quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản qua các thời kỳ

1.3.2.1 Quy định pháp luật về lãi suất trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật

Trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ trong giai đoạn này, Nhà nước ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để quy định về lãi suất

* Quy định pháp luật về lãi suất đối với tiền:

- Nghị định số 87-VP/NGĐ ngày 28 tháng 7 năm 1959 của Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam về ban hành thể lệ gửi tiền vào quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa đã có quy định về lãi suất, nhưng lúc này gọi là “lợi suất” Theo đó, lãi suất được quy định cho từng loại hình gửi, lãi suất thấp nhất là 0,3%/tháng và cao nhất là 1%/tháng Nghị định này được sửa đổi bởi Nghị định số 205-VP/NGĐ ngày 17 tháng

12 năm 1959 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam về cải tiến một số điểm cụ thể trong các thể thức gửi tiền tiết kiệm đã ban hành do Nghị định số 77-NGĐ/NH ngày 18 tháng 3 năm 1958 và số 87-VP/NGĐ ngày 28 tháng 7 năm 1959, lãi suất cũng được quy định tương tự cho từng loại hình gửi, thấp nhất là 0,3%/tháng - cao nhất 1%/tháng

- Nghị định số 94-TTg-TN ngày 10 tháng 10 năm 1964 của Hội đồng Chính phủ quy định lãi suất cho vay, tiền gửi và tiền tiết kiệm của ngân hàng nhà nước Trong đó, có quy định lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn, lãi suất thấp nhất là 0,12%/tháng và cao nhất (quá hạn) là 1,8%/tháng, tùy theo chủ thể, lãi suất cho vay, loại hình tiền gửi… Nghị định này được điểu chỉnh bởi Quyết định điều chỉnh một số mức lãi suất cho vay, tiền gửi và tiền tiết kiệm số 108-TTg ngày 06 tháng 10 năm

1969 của Thủ tướng Chính phủ, theo đó điều chỉnh lãi suất từ 0,21%/tháng cho đến 0,42%/tháng tùy loại vay

Trang 32

- Quyết định số 115-QĐ ngày 08 tháng 03 năm 1965 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành thể lệ gửi tiền tiết kiệm “gửi gọn lấy gọn,

có thời hạn, có lãi” Quy định lãi suất thấp nhất là 0,3%/tháng và cao nhất là 0,51%/tháng tùy loại hình gửi

- Quyết định số 179-CP ngày 18 tháng 09 năm 1972 của Hội đồng Chính phủ

về lãi suất tiền gửi tiết kiệm của nhân dân, lãi suất dao động từ 3 - 5,2%/năm, tùy loại vay

- Quyết định quy định mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm số 29-NH/QĐ ngày 16 tháng 3 năm 1989 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước, mức lãi suất được quy định rất cao: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn 9%/tháng; kỳ hạn 3 tháng 12%/tháng

- Quyết định về việc sửa đổi chính sách lãi suất tiền gửi và cho vay ngân hàng nhà nước Việt Nam số 148-CT ngày 30 tháng 5 năm 1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, lãi suất được điều chỉnh lại: Lãi suất bình quân tiền gửi 4%/tháng, lãi suất bình quân cho vay 5%/tháng

“Trách nhiệm do chậm thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền; trong trường hợp thời hạn trả tiền đã hết mà một bên chưa trả tiền hoặc trả chưa đầy đủ, thì bên kia có quyền yêu cầu trả ngay và đầy đủ cùng lãi suất do các

Có thể nói, quy định này rất chung chung và trong Pháp lệnh này chưa quy định cụ thể về các loại hợp đồng thông dụng như hợp đồng vay tài sản Tuy nhiên,

với quy định “lãi suất do các bên thoả thuận” đã tạo tiền đề cho các quy định về tự

do thỏa thuận lãi suất giữa các bên trong giao dịch dân sự

- Theo Bộ luật Dân sự số 44-L/CTN ngày 28 tháng 10 năm 1995 (có hiệu lực

từ ngày 01 tháng 7 năm 1996 đến ngày 31 tháng 12 năm 2005) là một bước tiến bộ trong giao dịch dân sự, đây là Bộ luật Dân sự đầu tiên của nước ta, trong bộ luật này cũng đã quy định cụ thể hơn về lãi suất, với 38 từ “lãi” và “lãi suất” Lãi suất trong hợp đồng vay được quy định như sau:

19 Điều 50 Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 52-LCT/HĐNN8 ngày 29 tháng 4 năm 1991 về hợp đồng dân sự

Trang 33

“1- Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng

2- Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi trong việc vay, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất, thì áp dụng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời hạn

Theo quy định trên, việc áp dụng luật sẽ gặp khó khăn vì phải tìm kiếm văn bản quy định về lãi suất cao nhất và lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước ban hành để áp dụng trong từng thời điểm thực hiện hợp đồng vay Trong giai đoạn này, Tòa án giải quyết vụ án thường tính lãi suất không chính xác do việc cập nhật văn bản của Ngân hàng Nhà nước không kịp thời Và ngay cả khi có được văn bản của Ngân hàng, việc tính lãi suất theo từng thời điểm có hiệu lực của các văn bản

đó cũng là việc hết sức rắc rối, Tòa án phải tính toán như những người làm công tác

kế toán chuyên nghiệp

- Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 đến ngày 31 tháng 12 năm 2016) thêm một bước tiến bộ

nữa, đã quy định cụ thể hơn về lãi suất, với 37 từ “lãi”, “lãi suất” và lãi suất trong

hợp đồng vay được quy định:

“1 Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng

2 Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân

Như vậy, có tiến bộ hơn là không cần tìm hai cái lãi suất cao nhất và lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn nữa, chỉ còn lại lãi suất cơ bản, nhưng việc tính lãi vẫn phải tính theo từng thời điểm có hiệu lực của các văn bản quy định mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước

20 Điều 473, Bộ luật Dân sự năm 1995

21 Điều 476, Bộ luật Dân sự năm 2005

Trang 34

Trong giai đoạn này các Tòa án áp dụng lãi suất theo các văn bản sau:

Ghi chú: Chỉ lấy các văn bản đại diện có thay đổi về lãi suất, còn các văn bản ban

hành ở giai đoạn giữa mốc thời gian quy định lãi suất mà không thay đổi mức lãi suất

cơ bản không liệt kê và các văn bản về lãi suất quá cũ không liệt kê

Trang 35

Có thể thấy, tùy theo tình hình kinh tế, biến động thị trường… mà Nhà nước đưa ra mức lãi suất cho phù hợp theo từng thời điểm Tuy có lúc cũng chưa phù hợp nhưng nhìn chung là phù hợp vì tình hình kinh tế của đất nước đã và đang phát triển theo hướng tích cực

Đó là lãi suất cơ bản, còn đối với các tổ chức tín dụng, lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận theo quy định tại Điều 11 Quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25 tháng 8 năm 2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Điều 11 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng

Trong thực tiễn có những quan điểm, những cách hiểu, những lập luận khác nhau dẫn đến việc vận dụng pháp luật khác nhau, ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật có liên quan đến lãi suất khác hoàn toàn so với Bộ luật Dân sự năm

1995, cùng nghiên cứu qua hai văn bản sau:

- Thông tư liên tịch số 01/TTLT của Toà án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Tài chính ngày 19 tháng 6 năm 1997 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản, quy định:

“b) Nếu mức lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều 473 Bộ luật Dân sự năm 1995 buộc bên vay phải trả lãi bằng 150% mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với

Ví dụ: A vay của B 10.000.000 đồng vào ngày 30 tháng 12 năm 1995 với thời hạn vay là 6 tháng và với lãi suất là 4%/tháng Hàng tháng A đã phải trả lãi cho

B Tháng 7 năm 1996 A ngừng trả lãi cho B Do đòi nhiều lần không được, nên tháng 11 năm 1996 B khởi kiện yêu cầu toà án buộc bên A phải trả cả nợ gốc và lãi

22 Tại tiểu mục 4, mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT của Toà án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Tài chính ngày 19 tháng 6 năm 1997 hướng dẫn việc xét xử và thi hành

án về tài sản

Trang 36

cho B Khi giải quyết vụ kiện này, toà án buộc A trả cho B tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi theo cách tính như sau:

- Thời điểm A vay B là tháng 12 năm 1995 Theo Quyết định số QĐ/NH1 ngày 28 tháng 12 năm 1995 thì lãi suất cao nhất của loại vay trung hạn và dài hạn là 1,7%/tháng Như vậy toà án chỉ chấp nhận mức lãi suất của hợp đồng vay

381-nợ là 2,55%/tháng (1,7% + 1,7% x 50% = 2,55%/tháng)

- Số tiền lãi A đã trả B trước tháng 7 năm 1996 toà án không xem xét đến nữa

- Toà án buộc A trả B khoản tiền lãi từ tháng 7 năm 1996 đến hết ngày xét xử

sơ thẩm (giả sử là đầu tháng 2 năm 1997) là 7 tháng Như vậy số tiền lãi mà A còn phải trả B là 1.785.000 đồng (2,55% x 7 tháng x 10.000.000 đồng = 1.785.000 đồng).”

Quy định này hướng dẫn cho Bộ luật Dân sự năm 1995 và hướng dẫn rất chi tiết kèm theo ví dụ minh họa Tuy nhiên, nội dung của quy định này rất không ổn,

không ổn ở chỗ: Tại sao khi “mức lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định” phải “buộc bên vay phải trả lãi bằng 150% mức lãi suất cao nhất” ? Hết sức mâu thuẫn và không hợp logic Trong khi Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng”

Như vậy, theo quy định của luật là 50% còn theo văn bản dưới luật là 150%, gây thiệt thòi quyền lợi của người vay tiền Và trên thực tiễn xét xử, Tòa án đều căn

cứ vào văn bản này để tính lãi Một cách nào đó, tùy theo từng thời điểm khi lãi suất không phù hợp mà quá cao sẽ mang tính chất bóc lột, như là một hình thức cho vay lãi nặng mà hợp pháp vậy Nếu bộ luật đã quy định như vậy mà có sai cần phải được sửa đổi, bổ sung theo quy định mới phù hợp, còn văn bản dưới luật hướng dẫn

để sửa luật là một sai lầm Điều đáng nói là hiện nay văn bản này vẫn còn hiệu lực

Trang 37

mà chưa có văn bản nào “khai tử” nó Từ đó, sau khi nghiên cứu có tác giả đã đưa

ra phân tích23:

(Trích nguyên văn)

Khoản 1 Điều 473 BLDS 1995 Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005

Qui định “Lãi suất vay do các bên

thỏa thuận nhưng không được vượt quá

50% của lãi suất cao nhất (nay là lãi

suất cơ bản) do Ngân hàng nhà nước

quy định (công bố) đối với các loại cho

vay tương ứng”

Qui định “Lãi suất vay do các bên

thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do

Ngân hàng nhà nước công bố đối với các loại cho vay tương ứng”

Ví dụ: Thời điểm C vay D là tháng

12-1995 Theo Quyết định số

381-QĐ/NH1 ngày 28-12-1995 thì lãi suất

cao nhất của loại vay trung hạn và dài

hạn là 1,7%/tháng Như vậy toà án chỉ

chấp nhận mức lãi suất của hợp đồng

vay nợ là 2,55%/tháng (1,7% + 1,7% x

50% = 2,55%/tháng) Từ Ví dụ trên, áp

dụng toán học ta có công thức tính lãi

suất cho vay, như sau: Gọi A: là lãi suất

cơ bản; B: là Lãi suất cho vay tối đa Ta

21,875/năm) Từ Ví dụ trên, áp dụng

toán học ta có công thức tính lãi suất cho vay như sau: Gọi A: là Lãi suất cơ bản; B: là Lãi suất cho vay tối đa Ta

có: B= A + A x 150% = A (1+150%) [Qui đổi 1=100%] = A (100%+150%)

= A x 250% hay B = A x 2,5 lần

Tóm lại: Theo BLDS 1995, nếu mức

lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá

50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng

Theo BLDS 2005, nếu mức lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân

23 Dương Thu Phương (2009), “Qui định của pháp luật Việt Nam về lãi suất trong hợp đồng vay tiền

và một số khuyến nghị”, tại ve-lai-suat-trong-hop-dong-vay-tien-va-mot-so-khuyen-nghi.aspx truy cập ngày 10/3/2020

Trang 38

https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-luat-dat-dai/qui-dinh-cua-phap-luat-viet-nam-Nhà nước quy định đối với loại vay

tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án

áp dụng khoản 1 Điều 473 BLDS1995

buộc bên vay phải trả lãi bằng 150%

mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà

nước quy định đối với loại vay tương

ứng

hàng Nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều BLDS

2005 buộc bên vay phải trả lãi bằng 250% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng

Theo đó, khi áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định lãi suất 150% phải cộng thêm 100% nữa là 250% Điều này hoàn toàn không phù hợp với tinh thần luật định Đưa ra hướng dẫn này có lẽ nhà làm luật muốn lãi suất trong dân phải tương đương với lãi suất của các tổ chức tín dụng nhưng họ lại không để ý đến nhiều chi phí mà tổ chức tín dụng phải chịu Trong thực tiễn xét xử, Tòa án chỉ tính 150%, vì Thông tư liên tịch này chỉ hướng dẫn cho Bộ luật Dân sự năm 1995 không thể áp dụng cho Bộ luật dân sự năm 2005, vì Bộ luật Dân sự năm 2005 có giá trị pháp lý cao hơn và ban hành sau

- Theo Khoản 3, Điều 9 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 17 tháng 5 năm 2001 về việc ban hành quy định phương pháp tính và hạnh toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng,

quy định “Thời gian để tính lãi tiền gửi, tiền vay có thể là ngày, tháng, quý, hoặc năm và có loại tính theo giờ… Thời gian chuẩn tính theo lãi năm, tháng, ngày, giờ

quy ước như sau:… Một năm có 360 ngày;…”

Vấn đề đặt ra là: Tại sao “Một năm có 360 ngày” Trong thực tế, một năm

Dương lịch có 365 ngày, còn năm nhuận là 366 ngày Như vậy, việc đưa ra quy định “Một năm có 360 ngày” có phù hợp không và căn cứ vào đâu? Và quy định như vậy là trái luật, điểm a, Khoản 1, Điều 160, Bộ luật Dân sự năm 1995 (có trước khi ban hành Quyết định 652), điểm a, Khoản 1, Điều 151, Bộ luật Dân sự năm

2005 và điểm a, khoản 1, Điều 146, Bộ luật Dân sự năm 2015 đều quy định một

năm là 365 ngày

Trang 39

Trong thực tế, “hiện nay các ngân hàng kinh doanh ở Việt Nam đều tính tiền lãi chia bình quân 360 ngày, còn tiền vay lại tính 365 ngày hoặc 366 ngày, nghĩa là

số lượng khách hang nhiều nên số tiền chênh lệch ngày giữa cho vay và vay sẽ mang đến lợi nhuận rất lớn cho Ngân hàng Đó là một thực trạng không công bằng giữa các tổ chức tín dụng đối với khách hàng

Quyết định 652/2001/QĐ-NHNN của ngân hàng Nhà nước có hiệu lực một thời gian rất dài, từ ngày 01 tháng 7 năm 2001 cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, tức 16 năm 06 tháng Sự không công bằng này có phải các nhà làm luật không biết trong một thời gian dài như thế? Tác giả không thể tìm được câu trả lời chắc chắn,

có thể liên quan đến vấn đề hết sức nhạy cảm đó là lợi ích nhóm Vấn đề này ngoài giới hạn của đề tài, nên tác giả không bình luận gì thêm

Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng có hiệu lực từ ngày 15 tháng 3 năm 2017 như sau

“ trong thỏa thuận cho vay phải có nội dung về mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ

làm cho Quyết định 652/2001/QĐ-NHNN hết hiệu lực mà chỉ hết hiệu lực, được trả

về “đúng giá” “một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày” theo quy định tại khoản 1,

Điều 4, Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Ngân hàng Nhà nước quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm

25 Khoản 3 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước

Trang 40

- Việc áp dụng lãi suất cho vay vàng được đánh dấu bằng Quyết định số 42/QĐ-NH1 ngày 21 tháng 2 năm 1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, về việc huy động vốn và cho vay bảo đảm giá trị theo giá vàng, có hiệu lực từ ngày ký,

quy định “Lãi suất huy động áp dụng theo lãi suất quốc tế, vận dụng thích hợp vào điều kiện kinh tế trong nước Lãi suất cho vay bằng lãi suất huy động cộng thêm tỷ

lệ chi phí của ngân hàng (không quá 2%/năm)” Theo Quyết định số 57-QĐ/NH1

ngày 31 tháng 3 năm 1992 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đã công bố các mức lãi suất huy động vốn và cho vay bảo đảm giá trị theo giá vàng theo Quyết định 42/QĐ-NH1, theo đó: Lãi suất huy động tối thiểu: 4%/năm; lãi suất cho vay tối đa: 7%/năm Hai Quyết định này hết hiệu lực từ ngày 18/10/2000

Trong thực tiễn xét xử, từ khi có hai Quyết định trên, Tòa án đã áp dụng mức lãi suất 7%/năm để tính lãi các tranh chấp phát sinh trong giao dịch cho vay vàng trong nhiều năm sau đó

- Quyết định số 432/2000/QĐ-NHNN1 ngày 03 tháng 10 năm 2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (được sửa đổi bởi Quyết định số 1019/2001/QĐ-NHNN ngày 14 tháng 8 năm 2001), về nghiệp vụ huy động và sử dụng vốn bằng vàng, bằng VNĐ bảo đảm giá trị theo giá vàng của các Tổ chức tín dụng (thay thế Quyết định số 42/QĐ-NH1 và Quyết định số 57/QĐ-NH1) không còn ấn định lãi suất mà quy định giao cho Tổ chức tín dụng quy định, cụ thể như sau:

“1 Tổ chức tín dụng quy định mức lãi suất huy động vốn bằng vàng, lãi suất huy động VNĐ bảo đảm giá trị theo giá vàng, lãi suất cho vay vàng, lãi suất cho vay VNĐ bảo đảm giá trị theo giá vàng phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh doanh của mình để đảm bảo bù đắp chi phí, bù đắp rủi ro và có lãi

2 Tổ chức tín dụng có trách nhiệm công bố công khai và niêm yết tại nơi huy động vốn và cho vay vốn các mức lãi suất huy động, mức lãi suất cho vay, giá mua

- Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29 tháng 10 năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước, quy định về huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín

26 Điều 4 Quyết định số 432/2000/QĐ-NHNN1 ngày 03 tháng 10 năm 2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Ngày đăng: 04/10/2023, 01:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Luật Dân sự năm 2005 (Luật số: 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Dân sự năm 2005
Năm: 2005
2. Bộ Luật Dân sự năm 2015 (Luật số: 91/2015/QH13 24 tháng 11 năm 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Dân sự năm 2015
Năm: 2015
3. Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 (Luật số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật tố tụng dân sự 2015
Năm: 2015
4. Luật Ngân hàng nhà nước 2010 (Luật số :46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng nhà nước 2010
Năm: 2010
5. Luật tổ chức tín dụng 2010 (Luật số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức tín dụng 2010
Năm: 2010
6. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Tổ chức tín dụng 2014 (Luật số 17/2017/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2017);7. Luật Doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Tổ chức tín dụng 2014 (Luật số 17/2017/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2017)
Năm: 2017
11. Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2006
14. Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nhà nước đối với khách hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nhà nước đối với khách hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2016
16. Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2019
18. Công văn số 152/TANDTC-PC ngày 19/7/2017 về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý nợ xấu.B. SÁCH Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý nợ xấu
Tác giả: Công văn số 152/TANDTC-PC
Năm: 2017
19. Nguyễn Văn Cừ; Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2017
20. Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2016
21. Trần Vũ Hải (2010), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Trần Vũ Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
22. Vũ Thị Hồng Yến (2017), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, NXB Chính trị Quốc gia sự thật.C. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015
Tác giả: Vũ Thị Hồng Yến
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia sự thật
Năm: 2017
12. Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 163/2012/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của chính phủ về giao dịch bảo đảm Khác
15. Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Khác
17. Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn một số quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w