Với việc được tổ chức quản lý theo những mô hình quy định trong Luật Doanh nghiệp mô hình công ty TNHH MTV theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 hoặc mô hình công ty TNHH, công ty cổ phần theo
Trang 11
- ∞0∞ -
VÕ ĐÔNG HIẾU
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC QUA THỰC TIỄN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- ∞0∞ -
VÕ ĐÔNG HIẾU
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC QUA THỰC TIỄN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số chuyên ngành: 8 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Giảng viên hướng dẫn: TS TRẦN HUỲNH THANH NGHỊ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 3Y ruNN CHO PHEP NAO VE LUAN VAN THAC Si
CUA GIANG VIEN HU6XG DAN
Gi6ng vi€n hu6ng d6n: TS TrAn Huj,nh Thanh Nghi
Hoc vi6n thUc hiqn: V6 D6ng Hi6u
Ngdy sinh: 2511111991
Lcrp: MLAWO18A
Noi sinh: Ti0n Giang T€n dC tdi: Ph6p lu{t vO qu6n ly vd ho4t dOng cria doanh nghiQp nhi nudc qua thgc tiSn tr6n dia bdn tinh Ti€n Giang.
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, ủng hộ quý báu của các thầy, cô giáo, gia đình và bạn bè Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Thầy giáo hướng dẫn khoa học: TS Trần Huỳnh Thanh Nghị - người đã gợi mở
để tôi chọn được đề tài nghiên cứu cho mình và luôn tận tâm giúp đỡ, động viên tôi
cố gắng hoàn thành luận văn
Đồng thời, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, các Cô tham gia giảng dạy hoặc làm việc tại Khoa Sau đại học, trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã luôn nhiệt tình giảng dạy, chỉ bảo và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Ngoài ra, tôi cũng xin cảm ơn gia đình tôi đã luôn bên cạnh, đồng hành và chia
sẻ những khó khăn với tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu Cảm ơn những người bạn đã thay phiên động viên, nhắc nhở, cũng như hỗ trợ lẫn nhau thực hiện và hoàn thành luận văn
Trang 5TÓM TẮT
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước như: Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước, vai trò, ý nghĩa của doanh nghiệp nhà nước đối với nền kinh tế Đồng thời luận văn cũng nghiên cứu, làm rõ các quy định của pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng như lịch sử phát triển của những quy định này tại Việt Nam
Với những cơ sở lý luận đã nghiên cứu, đối chiếu với thực tiễn trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, tác giả đưa ra những đánh giá về tình hình áp dụng các quy định pháp luật trong quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước tại địa phương nhằm chỉ ra những bất cập, hạn chế còn tồn tại; cũng như nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những bất cập, hạn chế ấy
Từ đó, tác giả mạnh dạn đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật
về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Trang 6THESIS SUMMARY
The thesis studies theoretical issues about the management and operation of state-owned enterprises, such as: The concept and characteristics of state-owned enterprises, the role and significance of state-owned enterprises over the economy
At the same time, the thesis also studies and clarifies about legal provisions on the management and operation of state-owned enterprises as well as the historical development of these regulations in Vietnam
With the researched theoretical bases, comparing with the reality in Tien Giang province, the author gives an assessment on the application of legal regulations in the management and operation of state-owned enterprises locally to point out the shortcomings and research the causes leading to these shortcomings
Since then, the author boldly proposesto improve the provisions of law on the management and operation of state-owned enterprises and some solutions to enhance the management efficiency and operation of state-owned enterprisesin Tien Giang province
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh mục từ viết tắt vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 6
1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhà nước 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước 6
1.1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam 12
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế 15
1.2 Quy định của pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước 16
1.2.1 Quy định về quản lý của doanh nghiệp nhà nước 16
1.2.2 Quy định về hoạt động của doanh nghiệp nhà nước 32
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 48
2.1 Thực trạng quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 48
2.1.1 Tổng quan về tỉnh hình doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 48
2.2.2 Đánh giá chung về tình hình quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 50
Trang 82.2 Giải pháp đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 62 2.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước 65 2.4 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 71 2.4.1 Đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu là Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang 71 2.4.2 Đối với các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 74
KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Qua các giai đoạn hình thành và phát triển, doanh nghiệp nhà nước luôn đồng hành với quá trình xây dựng nền kinh tế đất nước Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, doanh nghiệp nhà nước nắm vai trò chủ yếu trong nền kinh
tế Khi đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ vững vai trò quan trọng, góp phần giúp kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Sau khi trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ký kết các hiệp định thương mại với EU, tham gia CPTPP thì việc phải tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, cùng sự cạnh tranh gay gắt của kinh tế tư nhân, kinh tế quốc doanh tuy vẫn chiếm một tỷ trọng đáng kể nhưng đã giảm so với trước đây Các doanh nghiệp nhà nước bộc lộ nhiều khiếm khuyết dẫn đến việc thiếu hiệu quả trong kinh doanh Vì vậy, pháp luật đã có nhiều điều chỉnh để hạn chế, khắc phục những yếu kém của doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình này
Trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, hiện có bốn doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động bao gồm: Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Tiền Giang, Công ty TNHH MTV Cấp nước Tiền Giang, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Tiền Giang và Công ty TNHH MTV Công trình Đô thị Mỹ Tho Các doanh nghiệp này được Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ra quyết định thành lập nhằm góp phần thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhà nước còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập trong công tác tổ chức quản lý và hoạt động Từ năm 2016 đến nay, cả bốn doanh nghiệp nhà nước này đều bị Thanh tra tỉnh Tiền Giang tiến hành thanh tra và kết luận có nhiều hạn chế, sai phạm Tiêu biểu nhất là ở Công ty TNHH MTV Công trình Đô thị Mỹ Tho Chỉ trong vòng ba năm, doanh nghiệp này đã bị thanh tra hai lần, trong
đó một lần do có đơn tố cáo từ người lao động Nhiều nội dung sai phạm rất nghiêm
Trang 11trọng phải chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra để khởi tố vụ án, đồng thời, doanh nghiệp phải khắc phục hàng chục tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính, uy tín của đơn vị và thu nhập của người lao động
Xuất phát từ thực trạng nói trên, với mong muốn làm rõ và tìm hiểu sâu hơn các bất cập, hạn chế liên quan đến việc tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại địa phương, cũng như đưa ra giải pháp để góp phần khắc phục
những vấn đề tồn tại, tác giả quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về quản lý và hoạt
động của doanh nghiệp nhà nước qua thực tiễn trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” làm
Luận văn tốt nghiệp cho mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc làm thế nào để nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước luôn là một vấn đề được xã hội quan tâm Do đó, đề tài về doanh nghiệp nhà nước nói chung và
về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể:
Vũ Ngọc Quỳnh Trang (2016), Pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp
nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã
hội Luận văn nghiên cứu về các quy định của pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước để đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
Lê Na (2019), Pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện
nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viên Khoa học Xã hội.Luận án nghiên cứu các
cơ sở lý luận và những vấn đề thực tiễn về quản trị doanh nghiệp nhà nước để hướng tới nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp nhà nước, đồng thời giảm thiểu hậu quả kinh tế - xã hội phát sinh từ hạn chế, yếu kém trong quản trị doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
Phạm Hoài Huấn (2019), Luật doanh nghiệp Việt Nam, tình huống – dẫn giải
– bình luận, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách đã phân tích để trả lời
hai vấn đề: Tại sao chỉ trong vài năm trở lại đây, số lượng doanh nghiệp nhà nước
Trang 12lại có biến động mạnh; với tình trạng thua lỗ, yếu kém hiện hữu của doanh nghiệp nhà nước, có cần thiết phải tiếp tục duy trì doanh nghiệp nhà nước hay không? Đồng thời, tác giả cũng làm rõ mục tiêu sở hữu của doanh nghiệp nhà nước và cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên cho đến hiện nay, chưa có công trình khoa học nghiên cứu riêng biệt về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang để đưa ra những giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm giúp hoàn thiện pháp luật
về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cho phù hợp với thực tiễn tại địa phương tỉnh Tiền Giang
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về đề tài: “Pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh
nghiệp nhà nước qua thực tiễn trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” hướng đến các mục
tiêu như sau:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật
Thứ hai, đánh giá quy định của pháp luật về việc quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; chỉ ra những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn quản lý và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Thứ ba, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về quản lý
và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng như để nâng cao hiệu quả hoạt của các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Tiền Giang nói riêng trong thời gian tới
4 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh
nghiệp nhà nước qua thực tiễn trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” nhằm hướng đến trả
lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Pháp luật hiện hành tại Việt Nam có những quy định gì về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước?
Trang 13- Doanh nghiệp nhà nước hiện nay được tổ chức quản lý theo những mô hình nào? Sự khác biệt cũng như ưu, nhược điểm của những mô hình đó là gì?
- Việc áp dụng các quy định của pháp luật về tổ chức quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang còn gặp phải những khó khăn, hạn chế nào?
- Để khắc phục những khó khăn, hạn chế trên, cần hoàn thiện pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở những nội dung gì?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là những quy định của pháp luật về quản lý
và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được quy định chủ yếu tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản pháp luật khác có liên quan
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu về những vấn đề trong tổ chức quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang trong thời gian từ năm 2015 đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu mà luận văn đề ra, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp lịch sử: được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước qua các giai đoạn khác nhau tại Việt Nam
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để phân chia những vấn đề lớn về mặt lý luận thành những vấn đề cụ thể; cũng như tổng hợp từ thực tiễn để khái quát hóa nhằm có thể đánh giá một cách toàn diện thực trạng của pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
- Phương pháp thống kê, so sánh: được sử dụng để làm rõ những vướng mắc giữa quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định này tại địa phương
Trang 14Từ đó, có thể đánh giá những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó nhằm đưa ra giải pháp hoàn thiện phù hợp
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nghiên cứu từ những vấn đề thực tiễn nhằm đề xuất một số giải pháp giúp hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý điều hành, cũng như giải quyết những khó khăn trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 02 Chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
Chương 2: Thực trạng quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và một số kiến nghị hoàn thiện
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhà nước
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước là một mô hình không thể thiếu đối với tất cả mọi quốc gia trên thế giới Dù trong lịch sử phát triển có nhiều giai đoạn thăng trầm, DNNN vẫn giữ vai trò chủ yếu, nòng cốt ở nhiều nền kinh tế Sự tồn tại của DNNN bắt nguồn từ nhu cầu phải giải quyết những mục tiêu về kinh tế, xã hội đảm bảo cân đối nền kinh tế, cũng như thể hiện vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường Theo thống kê, DNNN đóng góp khoảng 10% GDP của thế giới Ở những nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), các doanh nghiệp mà trong đó Nhà nước có cổ phần chi phối nắm giữ tài sản trị giá lên đến 2.000 tỷ USD và tạo ra hơn sáu triệu việc làm cho xã hội1
Đúng như tên gọi của nó, “doanh nghiệp nhà nước” là những doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước hay còn được gọi là sở hữu công Ngân hàng Thế giới
đã đưa ra khái niệm về DNNN như sau: “DNNN là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay quyền kiểm soát thuộc về Chính phủ, và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc bán hàng hóa và dịch vụ” Khái niệm này được định nghĩa dựa trên lý thuyết quyền sở hữu và chi phối nói chung2 Theo đó, DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước giữ quyền sở hữu và chịu sự chi phối của Nhà nước dưới ba góc độ:
Thứ nhất, là quyền của Nhà nước đối với những khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động của DNNN Chẳng hạn, CODELCO là một DNNN khai thác đồng lớn nhất tại Chilê mang lại cho Chính phủ khoảng 7 tỷ USD mỗi năm và tất cả lợi nhuận này đều thuộc về Nhà nước
1 Xem Trần Huỳnh Thanh Nghị (2019), Giáo trình Luật Doanh nghiệp, Nxb Lao Động, Hà Nội, trang 240
2 Theo Lê Na (2019), Pháp luật về quản trị DNNN ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện
Khoa học Xã hội
Trang 16Thứ hai, Nhà nước nắm quyền kiểm soát và sử dụng tài sản tại DNNN Chẳng hạn, Tập đoàn khí đốt GAZPROM (Nga) chiếm hơn 15% sản lượng khí đốt
tự nhiên toàn thế giới do Chính phủ Nga nắm giữ 50,002% cổ phần và Giám đốc điều hành của GAZPROM do Chính phủ Nga bổ nhiệm
Thứ ba, Nhà nước nắm quyền quyết định chuyển nhượng hoặc bán tài sản tại doanh nghiệp nhà nước
Dù không nêu định nghĩa trực tiếp về DNNN, tuy nhiên, Liên minh Châu Âu (EU) đã công bố bốn dạng thức tồn tại của DNNN như sau: (1) DNNN là các công
ty thuộc sổ hữu hoàn toàn bởi Nhà nước; (2) DNNN là các công ty mà Nhà nước có
cổ phần đa số (cổ phần chi phối); (3) DNNN là các công ty mà Nhà nước nắm giữ
tỷ lệ cổ phần thiểu số nhưng Nhà nước có những quyền năng đặc biệt mà pháp luật cho phép; (4) DNNN là các công ty mà nhà nước có cổ phần thiểu số và không có quyền năng đặc thù Các công ty này không được gọi là DNNN Tuy nhiên, chúng phần nào phản ánh vai trò then chốt của Chính phủ đối với nền kinh tế3
Tại Việt Nam, loại hình DNNN đã hình thành từ thập niên 40 của thế kỷ XX trong Sắc lệnh số 104/SL ngày 01/01/1948 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa Thời kỳ này, DNNN được gọi là doanh nghiệp quốc gia – "là doanh nghiệp
thuộc sở hữu quốc gia và do quốc gia điều khiển"4 Hình thức tồn tại của các doanh nghiệp quốc gia là các xí nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực công nghiệp, các cửa hàng quốc doanh trong lĩnh vực thương nghiệp và các nông trường, lâm trường quốc doanh trong lĩnh vực nông nghiệp
Đến năm 1991, khái niệm DNNN được định nghĩa lần đầu tiên tại Điều 1 Quy chế về thành lập và giải thể DNNN ban hành kèm theo Nghị định số 388-
HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng Theo đó, "DNNN là tổ chức kinh
doanh do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu" Đồng
3 Xem Trần Huỳnh Thanh Nghị (2019), Giáo trình Luật Doanh nghiệp, Nxb Lao Động, Hà Nội, trang 241
4 Theo Điều 2 Sắc lệnh số 104/SL ngày 01/01/1948
Trang 17thời, "DNNN cũng được xác định là một pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp
luật và bình đẳng trước pháp luật"5
Khi Luật DNNN năm 1995 ban hành, khái niệm DNNN được xác định lại tại
Điều 1 như sau: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ
chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao" Vào thời điểm này, cả nước có đến
6.052 DNNN Đến Luật DNNN năm 2003, các nhà lập pháp lại đưa ra cách tiếp cận
khác Theo đó, "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ
hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH"6 Như vậy, doanh nghiệp được xem là DNNN nếu Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ Cách tiếp cận này tương đồng với định
nghĩa "DNNN là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ" tại
Luật Doanh nghiệp năm 20057
Hiện tại, Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 định nghĩa "DNNN là
doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ" Với khái niệm này, tính đến
cuối năm 2018, cả nước chỉ còn 490 DNNN với tổng tài sản ước tính đạt 1.843,3 nghìn tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt 1.040,5 nghìn tỷ đồng8
Sắp tới đây, vào ngày 01/01/2021, Luật Doanh nghiệp năm 2020 sẽ có hiệu lực thi hành Khái niệm DNNN được Luật Doanh nghiệp năm 2020 định nghĩa lại
như sau: "DNNN được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty TNHH, công ty cổ
phần, bao gồm doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết"9 Có thể thấy, khái niệm này trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã được mở rộng hơn so với Luật Doanh nghiệp năm 2014 và tương đối giống với khái niệm DNNN trong Luật Doanh nghiệp năm 2005
5 Theo Điều 1 Quy chế về thành lập và giải thể DNNN ban hành kèm theo Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991
6 Theo Điều 1 Luật DNNN năm 2003
7 Theo Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005
9 Theo Khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp năm 2020
Trang 181.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản pháp luật hiện hành thì DNNN có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập và đầu tư toàn bộ
vốn điều lệ
DNNN chỉ có một chủ sở hữu đặc biệt và duy nhất là Nhà nước Nhà nước đầu tư 100% vốn tại doanh nghiệp và nắm quyền quyết định toàn bộ mọi vấn đề liên quan đến sự tồn tại, quản lý và hoạt động của DNNN Nguồn vốn đầu tư vào DNNN có thể từ vốn ngân sách nhà nước hoặc vốn từ các quỹ do Nhà nước quản lý
để đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, vì vậy, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao Tuy nhiên, sau khi Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực, đặc
điểm này sẽ không còn nữa vì khái niệm DNNN sẽ bao gồm thêm các "doanh
nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết"10
Thứ hai, DNNN tồn tại và hoạt động dưới hình thức công ty TNHH MTV
Bản chất của DNNN theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là doanh nghiệp có duy nhất một chủ sở hữu là Nhà nước Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và thực hiện vai trò chủ sở hữu thông qua các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ (gọi chung là Bộ quản lý ngành), UBND cấp tỉnh hoặc
tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật (như Ủy ban Quản lý vốn nhà nước) Các cơ quan trên được gọi chung là cơ quan đại diện chủ sở hữu11 Vì vậy, DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH MTV và hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 2014 Cơ quan đại diện chủ sở hữu giữ vai trò quyết định trong việc bổ nhiệm các chức danh quản lý chủ chốt như thành viên HĐTV/Chủ tịch công
ty, Kiểm soát viên Đồng thời, các quyết định liên quan đến tổ chức lại, giải thể công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, thông qua các hợp đồng vay, cho vay, bán
10 Theo Điểm b Khoản 1 Điều 88 Luật Doanh nghiệp năm 2020
11 Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị định 91/2015/NĐ-CP
Trang 19tài sản có giá trị lớn hơn 50% giá trị tài sản của công ty, cũng chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở có sự chấp thuận của cơ quan đại diện chủ sở hữu tại DNNN
Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực thi hành cũng sẽ làm thay đổi đặc điểm này Khi đó, DNNN không chỉ tồn tại dưới một hình thức là công ty TNHH MTV nữa mà có thể dưới nhiều hình thức khác như công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần Tuy nhiên, với việc Nhà nước vẫn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết thì gần như các quyết định quan trọng của doanh nghiệp đều phải có sự chấp thuận của đại diện sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì mới có thể được thực hiện
Với việc được tổ chức quản lý theo những mô hình quy định trong Luật Doanh nghiệp (mô hình công ty TNHH MTV theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 hoặc mô hình công ty TNHH, công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2020), DNNN trở nên bình đẳng với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như một doanh nghiệp được quy định tại Điều 7 và Điều 8 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (từ năm 2021 là Luật Doanh nghiệp năm 2020)
Thứ ba, DNNN thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội do Nhà nước giao
Không chỉ là đối tượng quản lý của Nhà nước như những loại hình doanh nghiệp khác mà DNNN còn là công cụ để Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế -
xã hội cũng như điều tiết nền kinh tế vĩ mô theo định hướng đã đề ra Do đó, khác với các doanh nghiệp dân doanh - chủ yếu chỉ tập trung vào mục đích tối đa hóa lợi nhuận, DNNN được thành lập và hoạt động theo các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nhà nước giao Để đảm bảo cho DNNN thực hiện đúng mục tiêu đặt ra và tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính của mình, Chính phủ cũng không cho phép các
DNNN "sử dụng tài sản, tiền vốn, quyền sử dụng đất thuê để góp vốn hoặc đầu tư
vào lĩnh vực bất động sản (trừ DNNN có ngành nghề kinh doanh chính là các loại bất động sản theo quy định của Luật kinh doanh bất động sản), không được góp vốn, mua cổ phần tại ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ đầu
Trang 20tư mạo hiểm, quỹ đầu tư chứng khoán hoặc công ty đầu tư chứng khoán, trừ những trường hợp đặc biệt theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ"12
Đối với các DNNN hoạt động vì lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng thì phải thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội, hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, xã hội
do Nhà nước giao Hoạt động của các DNNN này phải góp phần đảm bảo văn minh
đô thị, an ninh quốc phòng, dịch vụ thiết yếu cho xã hội, mà ở những lĩnh vực này, việc tham gia của những thành phần kinh tế tư nhân bị hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau
Có thể nói, việc thành lập và duy trì một số lượng đáng kể DNNN tại nhiều nền kinh tế luôn gắn liền với các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ Sự tồn tại của DNNN là một sự đảm bảo quan trọng, thể hiện sự điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế không những tại Việt Nam mà còn tại nhiều quốc gia khác trên thế giới
Thứ tư, DNNN có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm tài
sản đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác phát sinh trong phạm vi vốn điều
lệ
DNNN được tổ chức quản lý dưới loại hình công ty TNHH MTV (theo Luật Doanh nghiệp năm 2014) hoặc công ty TNHH và công ty cổ phần (theo Luật Doanh nghiệp năm 2020) là những loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân do hội đủ bốn điều kiện để trở thành một pháp nhân quy định tại Điều 74 BLDS năm 2015 DNNN có tài sản độc lập và chủ sở chỉ chịu trách nhiệm tài sản hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của DNNN phát sinh trong phạm vi vốn điều lệ của DNNN Nếu giá trị các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản vượt quá phạm vi tài sản mà DNNN có thì chủ sở hữu cũng không phải đầu tư thêm để trả các khoản nợ đó cho DNNN Đây là một đặc điểm quan trọng, phản ánh DNNN là một thực thể kinh doanh độc lập, có tài sản độc lập, bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động đầu tư, kinh doanh như tất cả loại hình doanh nghiệp khác và đồng thời cũng là đối tượng
áp dụng của Luật Phá sản năm 2014 Trường hợp lâm vào tình trạng mất khả năng
12 Theo Điều 7 Nghị định 32/2018/NĐ-CP
Trang 21thanh toán, DNNN hoàn toàn vẫn có thể bị Tòa án tuyên bố phá sản Khi đó, tài sản của DNNN sẽ được thanh lý cho các chủ nợ theo thứ tự ưu tiên quy định tại Luật Phá sản năm 2014 Nếu các khoản nợ vượt quá giá trị tài sản của DNNN thì các chủ
nợ phải gánh chịu rủi ro, Nhà nước sẽ không bù đắp tài chính cho các chủ nợ
1.1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam
1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 1995
Không tính đến giai đoạn thời phong kiến, các DNNN (dưới tên gọi lúc bấy giờ là doanh nghiệp quốc gia) quy định tại Sắc lệnh số 104/SL ngày 01/01/1948 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ được phân loại thành hai hạng: Hạng thứ nhất gồm các doanh nghiệp có tính cách "Doanh nghiệp hoàn toàn" và hạng thứ hai gồm các doanh nghiệp có tính cách "Công sở đặc biệt" do Sắc lệnh thành lập doanh nghiệp ấn định13 Tuy nhiên, những văn bản pháp luật về DNNN thời điểm này còn rất sơ sài, chưa có các quy định, hướng dẫn cụ thể về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp Nghị định số 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy chế thành lập và giải thể DNNN cũng không quy định về tổ chức quản lý doanh nghiệp mà chỉ quy định Điều lệ tổ chức quản lý doanh nghiệp là một thành phần của hồ sơ thành lập DNNN của cơ quan đề nghị thành lập
1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2004
Khi Luật DNNN năm 1995 ra đời, những nội dung về tổ chức quản lý các doanh nghiệp có vốn nhà nước bắt đầu được hình thành và được luật hóa rõ ràng hơn Theo quy định tại Luật DNNN năm 1995, DNNN được tổ chức quản lý theo hai mô hình: (1) Mô hình có HĐQT gồm HĐQT, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc và bộ máy giúp việc dành cho Tổng công ty nhà nước và các DNNN độc lập quy mô lớn; (2) Mô hình không có HĐQT gồm có Giám đốc và bộ máy giúp việc14
13 Theo Điều 4 Sắc lệnh số 104/SL ngày 01/01/1948
14 Theo Điều 28 Luật DNNN năm 1995
Trang 22Luật DNNN năm 1995 quy định Chính phủ là đại diện chủ sở hữu nhà nước, thực hiện các quyền của chủ sở hữu DNNN15 Tuy nhiên, Chính phủ không trực tiếp thực hiện quyền sở hữu mà phân cấp hoặc ủy quyền cho các Bộ hoặc UBND cấp tỉnh thực hiện quyền sở hữu đối với doanh nghiệp trong phạm vi quản lý
Tại các Tổng công ty và các DNNN độc lập quy mô lớn, HĐQT được thiết lập và các nội dung liên quan đến thiết chế này như địa vị pháp lý, nhiệm vụ và quyền hạn, chế độ làm việc, cơ cấu tổ chức, cũng như điều kiện và tiêu chuẩn, thù lao, cũng đã được Luật DNNN năm 1995 quy định Về địa vị pháp lý, HĐQT được quy định là cơ quan quản lý doanh nghiệp16 nhưng xét về chức năng, nhiệm
vụ thì đây là cơ quan tham mưu cho chủ sở hữu về chiến lược, kế hoạch phát triển dài hạn của doanh nghiệp; đồng thời phê duyệt những đề xuất, kiến nghị của Tổng giám đốc trong các vấn đề như: phương án sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn; phương án sử dụng lợi nhuận sau thuế; quyết toán tài chính hằng năm; phương án huy động vốn; phương án tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh, biên chế bộ máy quản lý doanh nghiệp; kiểm tra, giám sát Tổng giám đốc trong việc sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước
Tổng Giám đốc do Thủ tướng hoặc Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm và là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Tổng giám đốc vừa chịu trách nhiệm trước HĐQT, vừa phải chịu trách nhiệm với người bổ nhiệm trong việc quản lý, điều hành doanh nghiệp Tổng giám đốc có quyền hạn và trách nhiệm rất lớn, là người xây dựng và thực hiện các chiến lược, về cơ bản kiểm soát tài chính và nhân sự tại doanh nghiệp
Ban Kiểm soát do HĐQT bổ nhiệm và thay mặt HĐQT giám sát Tổng giám đốc trong quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp
Đến Luật DNNN năm 2003, DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần hoặc công ty TNHH17 cũng theo hai mô hình giống Luật DNNN năm 1995 Tuy nhiên, Luật DNNN năm 2003 quy định chi tiết, cụ thể hơn
15 Theo Khoản 1 Điều 27 Luật DNNN năm 1995
16 Theo Điều 29 Luật DNNN năm 1995
17 Theo Điều 1 Luật DNNN năm 2003
Trang 23rất nhiều về nhiệm vụ, quyền hạn, cũng như tiêu chuẩn, điều kiện của Chủ tịch và thành viên HĐQT, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, Ban kiểm soát Ngoài ra, Luật DNNN năm 2003 cũng mở rộng hơn về quy định hình thức và nội dung tham gia quản lý công ty nhà nước của người lao động
1.1.2.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013
Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999
và Luật DNNN năm 2003 để thống nhất quy định áp dụng chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp Đây được xem là một bước tiến lớn, tạo ra một sự thay đổi cơ bản trong quá trình hoàn thiện tổ chức quản lý doanh nghiệp nước ta nói chung và DNNN nói riêng Từ thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực, DNNN không còn được xem là một thành phần kinh tế đặc biệt nữa Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, các công ty nhà nước thành lập theo quy định của
Luật DNNN năm 2003 "phải thực hiện chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu
hạn hoặc công ty cổ phần theo lộ trình chuyển đổi hằng năm, chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006"18 Như vậy, DNNN được tổ chức quản lý và hoạt động trên mô hình công ty TNHH và công ty cổ phần được quy định chặt chẽ tại Chương III và Chương IV của Luật Doanh nghiệp năm 2005 Các quy định về việc chuyển đổi DNNN trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 nhằm đảm bảo tính cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng đã xuất hiện nhiều DNNN hoạt động yếu kém mà nguyên nhân xuất phát từ bộ máy quản lý của doanh nghiệp Điều này đặt ra một yêu cầu cấp thiết, đó là cần quy định
rõ ràng, chặt chẽ hơn về quản trị nội bộ của các DNNN trong Luật Doanh nghiệp theo hướng áp dụng những tiêu chuẩn cao hơn so với các doanh nghiệp khác19
1.1.2.4 Giai đoạn từ năm 2014 đến nay
Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển tinh thần của Luật Doanh nghiệp năm 2005 DNNN theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã bị
18 Theo Khoản 1 Điều 166 Luật Doanh nghiệp năm 2005
19 Theo Báo cáo số 761/BC-UBTVQH13 ngày 28/10/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tiếp thu, chỉnh
lý, giải trình dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)
Trang 24thu hẹp phạm vi hơn, Nhà nước giữ tỷ lệ 100% vốn điều lệ, so với tỷ lệ 50% vốn điều lệ ở Luật Doanh nghiệp năm 2005 Sự thay đổi khái niệm DNNN trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã làm số lượng DNNN ở Việt Nam biến động mạnh, từ 3.239 DNNN vào năm 201220 giảm xuống còn 652 DNNN vào cuối năm 201521 Đồng thời, với việc Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất, DNNN chỉ còn được tổ chức quản lý và hoạt động dưới một hình thức duy nhất là công ty TNHH MTV Khác với Luật Doanh nghiệp năm 2003, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã dành hẳn Chương IV để quy định riêng các nội dung về DNNN theo hướng đặt ra các tiêu chuẩn cao hơn, rõ ràng và cụ thể hơn
Vào ngày 17/6/2020 vừa qua, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2021 Trong Luật mới này, khái niệm DNNN được điều chỉnh lại cho phù hợp với Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017, đồng thời, có bổ sung và điều chỉnh một số nội dung liên quan đến quyền và trách nhiệm của Chủ tịch và thành viên HĐTV, Ban Kiểm soát, Kiểm soát viên Ngoài ra, các quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có nhiều thay đổi so với Luật Doanh nghiệp năm 2014 về quản lý và hoạt động của DNNN
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế
DNNN tồn tại ở tất cả mọi quốc gia trên thế giới, không phụ thuộc vào việc quốc gia đó thuộc hệ thống chính trị nào Sự tồn tại của DNNN xuất phát từ các lý
do lịch sử cũng như yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường
Đối với những quốc gia bị chiến tranh tàn phá nặng nề cơ sở hạ tầng như Việt Nam, Chính phủ lập ra các DNNN với sứ mệnh khôi phục lại nền kinh tế cũng như khắc phục những thiệt hại, hậu quả mà chiến tranh để lại Với bối cảnh như vậy, các DNNN tập trung vào những lĩnh vực quan trọng, thiết yếu cho đời sống xã hội Ngoài ra, việc thành lập DNNN cũng nhằm xóa bỏ những doanh nghiệp do chế
20 Theo Báo cáo tổng quan tình hình doanh nghiệp và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2014-2015 của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư
21 Theo Báo cáo số 428/BC-CP ngày 17/10/2016 của Chính phủ về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2015
Trang 25độ thực dân dựng lên, tiến hành quốc hữu hóa tư liệu sản xuất, xác lập chế độ công hữu Trong suốt quá trình này, DNNN giữ vai trò đáng kể trong xã hội
Hiện nay, trong giai đoạn cách mạng công nghệ 4.0 bùng nổ trên phạm vi toàn cầu, Việt Nam đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Với vai trò là bộ phận quan trọng, chính yếu của kinh tế nhà nước, DNNN là công cụ vật chất để Nhà nước có thể thực hiện có hiệu quả các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, đối phó với những biến động thị trường, góp phần quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh và đảm bảo an sinh xã hội Vì vậy, tại Điều 10 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 đã quy định các ngành, lĩnh vực mà Nhà nước đầu tư thành lập DNNN Theo đó, DNNN hoạt động trong những ngành, những lĩnh vực kinh doanh mang lại ít lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận mà các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư nhằm phục vụ nhu cầu chung của nền kinh tế, đảm bảo lợi ích cộng đồng DNNN còn thể hiện vai trò quan trọng của mình khi đầu tư vào những lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn, công nghệ phức tạp mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư Ngoài ra, DNNN còn đảm nhận các lĩnh vực hoạt động có tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế, xã hội như cung ứng hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, nhất là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng (giao thông, thủy lợi, năng lượng, ) và an ninh quốc phòng
Tóm lại, DNNN vừa là chủ thể tham gia kinh doanh, trực tiếp sản xuất, tạo ra của cải vật chất cho xã hội giống như tất cả loại hình doanh nghiệp dân doanh khác, vừa là công cụ của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là lực lượng xung kích tạo ra sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhanh việc ứng dụng khoa học - công nghệ nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2 Quy định của pháp luật về quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
1.2.1 Quy định về quản lý của doanh nghiệp nhà nước
Hiện tại, theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, DNNN được tổ chức quản lý theo mô hình công ty TNHH MTV có chủ sở hữu là tổ chức Cơ cấu tổ
Trang 26chức quản lý của DNNN do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định theo một trong hai mô hình: Mô hình có HĐTV hoặc Mô hình có Chủ tịch công ty
Việc lựa chọn mô hình để quản lý DNNN phụ thuộc vào quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu khi cử một hay nhiều người đại diện mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ ở DNNN Thông thường, mô hình có HĐTV sẽ thích hợp hơn đối với những DNNN có quy mô lớn, đa ngành nghề, đòi hỏi phải có nhiều người
am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, ở cả hai mô hình, hầu hết các quy định về điều kiện, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh trong DNNN đều đặt ra những chuẩn mực cao và khắt khe hơn so với công ty TNHH MTV không phải là nhà nước
1.2.1.1 Mô hình có Hội đồng thành viên
Đây là mô hình mà cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm nhiều người thay mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ ở DNNN Mô hình này có sơ đồ tổng quát như sau:
Ghi chú:
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Kiểm soát
Hội đồng thành viên: là cơ quan quản lý, có quyền nhân danh công ty thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm
2014 HĐTV bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác làm việc theo chế độ chuyên
CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU
HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN
Trang 27trách, số lượng không quá 07 người do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức Nhiệm kỳ của Chủ tịch và thành viên khác của HĐTV không quá 05 năm Họ có thể được bổ nhiệm lại nhưng chỉ được bổ nhiệm làm thành viên HĐTV của một công ty không quá 02 nhiệm kỳ22
Quy định về Hội đồng thành viên trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 có một
số thay đổi so với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là không còn quy định thành viên HĐTV phải làm việc theo chế độ chuyên trách; đồng thời, thêm quy định một cá nhân có thể được bổ nhiệm làm thành viên HĐTV quá 02 nhiệm kỳ tại một công ty trong trường hợp đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu23
Thành viên của HĐTV phải đáp ứng các tiêu chuẩn và điều kiện như sau:
"(1) Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế trong quản trị kinh doanh hoặc
trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp (2) Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột,
em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên HĐTV; Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty (3) Không phải là cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc không phải là người quản lý, điều hành tại doanh nghiệp thành viên (4) Chưa từng bị cách chức Chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của DNNN (5) Các tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty"24
Quy định về tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên HĐTV tại Luật Doanh
nghiệp năm 2020 có bổ sung thêm hai nội dung: "Không phải là người quản lý
doanh nghiệp thành viên" và "Trừ Chủ tịch HĐTV, thành viên khác của HĐTV có
22 Theo Khoản 3 Điều 90 Luật Doanh nghiệp năm 2014
23 Theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 91 Luật Doanh nghiệp năm 2020
24 Theo Điều 92 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 28thể kiêm Giám đốc, Tổng giám đốc công ty đó hoặc công ty khác không phải là doanh nghiệp thành viên theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu"25
HĐTV nhân danh công ty thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, thành viên đối với công ty do công ty làm chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần, phần vốn góp Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định các quyền và nghĩa vụ của
HĐTV như sau: "Quyết định các nội dung theo quy định tại Luật quản lý, sử dụng
vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc; quyết định kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm, chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ của công ty; tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ của công ty; quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, pháp luật có liên quan và Điều lệ công ty"26 Nội dung này tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có thay đổi so với Luật Doanh nghiệp 2014 Tuy nhiên, có thay đổi thứ tự ưu tiên áp dụng Điều lệ công ty lên trước quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan27 Sự thay đổi này theo tác giả có thể nhằm nhấn mạnh vai trò quan trọng của Điều lệ công ty của nhà làm luật
Đứng đầu HĐTV là Chủ tịch HĐTV do cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm Chủ tịch HĐTV không được kiêm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc công ty mình và các doanh nghiệp khác Quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch HĐTV được quy
định tại Khoản 2 Điều 94 Luật Doanh nghiệp năm 2014, cụ thể như sau: "(1) Xây
dựng kế hoạch hoạt động hằng quý và hằng năm của HĐTV; (2) Chuẩn bị chương trình, tài liệu cuộc họp hoặc lấy ý kiến HĐTV; (3) Triệu tập và chủ trì cuộc họp HĐTV hoặc lấy ý kiến các thành viên HĐTV; (4) Tổ chức thực hiện các nghị quyết của cơ quan đại diện chủ sở hữu và nghị quyết HĐTV; (5) Tổ chức giám sát, trực tiếp giám sát và đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu chiến lược, kết quả hoạt động của công ty, kết quả quản lý điều hành của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty;
25 Theo Khoản 4 và Khoản 5 Điều 93 Luật Doanh nghiệp năm 2020
26 Theo Khoản 2 Điều 91 Luật Doanh nghiệp năm 2014
27 Theo Điểm đ Khoản 2 Điều 92 Luật Doanh nghiệp năm 2020
Trang 29(6) Tổ chức công bố, công khai thông tin về công ty theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, chính xác, trung thực và tính hệ thống của thông tin được công bố; (7) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, pháp luật có liên quan và Điều lệ công ty" Luật Doanh nghiệp
năm 2020 đã bỏ đi quy định "quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh
nghiệp, pháp luật có liên quan và Điều lệ công ty" Theo đó, quyền và nghĩa vụ của
Chủ tịch HĐTV chỉ còn bao gồm sáu nội dung được quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật Doanh nghiệp năm 2020
Chủ tịch và các thành viên khác của HĐTV có trách nhiệm "tuân thủ pháp
luật, Điều lệ công ty, các quyết định của chủ sở hữu công ty; thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm đảm bảo tối đa lợi ích hợp pháp của công ty và Nhà nước; phải trung thành với lợi ích của công ty và Nhà nước; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức vụ, tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; phải thông báo kịp thời, đầy đủ và chính xác cho công ty về các doanh nghiệp
mà mình và người có liên quan làm chủ sở hữu hoặc có cổ phần, phần vốn góp Thông báo này được niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty; chấp hành các nghị quyết của HĐTV; chịu trách nhiệm cá nhân khi lợi dụng danh nghĩa công
ty thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác; thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn khi có nguy cơ rủi ro tài chính có thể xảy ra đối với công ty Trong trường hợp phát hiện thành viên HĐTV có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao thì thành viên khác của HĐTV có nghĩa vụ báo cáo bằng văn bản với cơ quan đại diện chủ sở hữu; yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả"28 Nội dung này tại Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng không có nhiều thay đổi, chỉ thay đổi thứ tự ưu tiên đặt Điều lệ công ty, các quyết định của chủ sở hữu công ty lên trước quy định của pháp luật Đồng thời, những thông báo về các doanh nghiệp mà Chủ tịch hoặc các
28 Theo Điều 96 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 30thành viên HĐTV và người có liên quan làm chủ sở hữu hoặc có cổ phần, phần góp vốn không cần phải niêm yết tại trự sở chính và chi nhánh của công ty nữa, mà chỉ cần được tập hợp, lưu giữ tại trụ sở chính của công ty29
Nếu Chủ tịch hoặc thành viên HĐTV vi phạm trách nhiệm của mình, cơ quan đại diện chủ sở hữu sẽ căn cứ theo quy định tại Điều 93 Luật Doanh nghiệp năm
2014 (Điều 94 Luật Doanh nghiệp năm 2020) để miễn nhiệm, cách chức
Về chế độ làm việc, điều kiện và thể thức tiến hành họp HĐTV của DNNN được quy định tại Điều 97 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 98 Luật Doanh nghiệp năm 2020), cụ thể như sau:
HĐTV làm việc theo chế độ tập thể; họp ít nhất một lần trong một quý để xem xét và quyết định những vấn đề thuộc quyền, nghĩa vụ của mình Đối với những vấn đề không yêu cầu thảo luận thì HĐTV có thể lấy ý kiến các thành viên bằng văn bản theo quy định tại Điều lệ công ty Ngoài ra, HĐTV có thể họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ
sở hữu công ty hoặc theo đề nghị của Chủ tịch HĐTV hoặc trên 50% tổng số thành viên HĐTV hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
Chủ tịch HĐTV hoặc thành viên được Chủ tịch HĐTV ủy quyền có trách nhiệm chuẩn bị chương trình, nội dung tài liệu, triệu tập và chủ trì cuộc họp HĐTV Thông báo mời họp Hội đồng thành viên có thể bằng giấy mời, điện thoại, fax hoặc các phương tiện điện tử khác và được gửi trực tiếp đến từng thành viên HĐTV và đại biểu khác được mời dự họp Nội dung thông báo mời họp phải xác định rõ thời gian, địa điểm và chương trình họp Hình thức họp trực tuyến có thể được áp dụng khi cần thiết
Cuộc họp của HĐTV hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên HĐTV tham dự Nghị quyết của HĐTV được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên tham dự biểu quyết tán thành; trường hợp có số phiếu ngang nhau thì nội dung có phiếu tán thành của Chủ tịch HĐTV hoặc người được Chủ tịch HĐTV ủy quyền chủ trì cuộc họp là nội dung được thông qua Thành viên HĐTV có quyền
29 Theo Khoản 4 Điều 97 Luật Doanh nghiệp năm 2020
Trang 31bảo lưu ý kiến của mình và kiến nghị lên cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty Trường hợp lấy ý kiến các thành viên HĐTV bằng văn bản thì nghị quyết của HĐTV được thông qua khi có hơn một nửa tổng số thành viên tán thành
HĐTV có quyền hoặc có trách nhiệm mời đại diện có thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức có liên quan tham dự và thảo luận các vấn đề cụ thể trong chương trình cuộc họp Đại diện các cơ quan, tổ chức được mời dự họp có quyền phát biểu
ý kiến nhưng không tham gia biểu quyết
Nội dung các vấn đề thảo luận, các ý kiến phát biểu, kết quả biểu quyết, các quyết định được HĐTV thông qua và kết luận của các cuộc họp của HĐTV phải được ghi biên bản Chủ tọa và thư ký cuộc họp phải liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác và tính trung thực của biên bản họp HĐTV Biên bản họp HĐTV phải làm xong và thông qua trước khi kết thúc cuộc họp
Thành viên HĐTV có quyền yêu cầu Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý, điều hành trong công ty, công ty con do công ty nắm 100% vốn điều lệ, người đại diện phần vốn góp của công ty tại các doanh nghiệp khác cung cấp các thông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoạt động của doanh nghiệp theo quy chế thông tin do HĐTV quy định hoặc theo nghị quyết của HĐTV Người được yêu cầu cung cấp thông tin phải cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác các thông tin, tài liệu theo yêu cầu của thành viên HĐTV, trừ trường hợp HĐTV có quyết định khác
Trong trường hợp cần thiết, HĐTV tổ chức việc lấy ý kiến các chuyên gia tư vấn trong nước và ngoài nước trước khi quyết định các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của HĐTV Chi phí lấy ý kiến chuyên gia được quy định tại quy chế quản lý tài chính của công ty
Nghị quyết của HĐTV có hiệu lực kể từ ngày được thông qua hoặc từ ngày
có hiệu lực ghi trong nghị quyết đó, trừ các trường hợp phải được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận
Như vậy, HĐTV của DNNN được Luật Doanh nghiệp năm 2014 (cũng như Luật Doanh nghiệp năm 2020) quy định rõ ràng, chi tiết và chặt chẽ hơn so với
Trang 32công ty TNHH MTV nói chung Trong đó, nổi bật là những tiêu chuẩn, điều kiện cao hơn đối với thành viên HĐTV; quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch và các thành viên khác của HĐTV; chế độ làm việc, điều kiện và thể thức tiến hành cuộc họp của HĐTV được quy định chi tiết, cụ thể hơn
Giám đốc/Tổng giám đốc công ty: Do HĐTV hoặc Chủ tịch công ty bổ
nhiệm hoặc thuê theo phương án nhân sự đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận Bên cạnh đó, công ty có thể có một hoặc một số Phó Tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc quy định tại Điều lệ Công ty Quyền và nghĩa vụ của Phó Tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc do Điều lệ công ty hoặc hợp đồng lao động quy định
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, Giám đốc/Tổng giám đốc
có nhiệm vụ điều hành các hoạt động hàng ngày của công ty và có các quyền và
nghĩa vụ như: "Tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch, phương
án kinh doanh, kế hoạch đầu tư của công ty, các nghị quyết của HĐTV, Chủ tịch công ty và của cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty; quyết định các công việc hằng ngày của công ty; ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty đã được HĐTV hoặc Chủ tịch công ty chấp thuận; ký hợp đồng, thỏa thuận nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch HĐTV hoặc Chủ tịch công ty; bổ nhiệm, thuê, miễn nhiệm, cách chức, chấm dứt hợp đồng đối với các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của HĐTV hoặc Chủ tịch công ty; tuyển dụng lao động; lập và trình HĐTV hoặc Chủ tịch công ty báo cáo định kỳ hằng quý, hằng năm về kết quả thực hiện mục tiêu kế hoạch kinh doanh và báo cáo tài chính hằng năm; kiến nghị phương án tổ chức lại công ty, khi xét thấy cần thiết; kiến nghị phân bổ và sử dụng lợi nhuận sau thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty; quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty"30 Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có thay đổi so với Luật Doanh nghiệp năm
2014 ở quy định này
Để có thể đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ nói trên, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng đặt ra các tiêu chuẩn và điều kiện đối với Giám đốc/Tổng giám đốc
30 Theo Khoản 2 Điều 99 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 33DNNN như sau: "(1) Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế trong quản trị
kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty (2) Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu (3) Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của thành viên HĐTV (4) Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của Phó Tổng giám đốc, Phó Giám đốc và Kế toán trưởng của công ty (5) Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Kiểm soát viên công ty (6) Không đồng thời là cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (7) Chưa từng bị cách chức Chủ tịch HĐTV, thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc tại công ty hoặc ở DNNN khác (8) Không được kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác Ngoài
ra, Giám đốc/Tổng giám đốc DNNN còn phải thỏa mãn các tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty"31 Các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với Giám đốc/Tổng giám đốc DNNN trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có thay đổi so với Luật Doanh nghiệp năm 2014
Giám đốc/Tổng giám đốc bị cách chức trong trường hợp doanh nghiệp không bảo toàn được vốn theo quy định của pháp luật hoặc không hoàn thành các mục tiêu
kế hoạch kinh doanh hằng năm hoặc không có đủ trình độ, năng lực để đáp ứng yêu cầu của chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh mới của doanh nghiệp Ngoài
ra, khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật hoặc có hoạt động kinh doanh trái với quy định của pháp luật, hoặc khi vi phạm một trong các nghĩa vụ của người quản lý quy định tại Điều 96 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 97 và Điều 100 Luật Doanh nghiệp năm 2020) và các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty thì Giám đốc/Tổng giám đốc cũng có thể bị cách chức
31 Theo Điều 100 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 34Ban kiểm soát: Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, tùy thuộc
vào quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu sẽ quyết định bổ nhiệm 01 Kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát gồm 03 đến 05 Kiểm soát viên với nhiệm kỳ không quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng mỗi cá nhân chỉ được bổ nhiệm làm Kiểm soát viên của một công ty không quá 02 nhiệm kỳ32
Luật Doanh nghiệp năm 2020 có thay đổi so với Luật Doanh nghiệp năm
2014, dù quy mô công ty thế nào thì cơ quan đại diện chủ sở hữu cũng đều thành lập Ban Kiểm soát có từ 01 đến 05 Kiểm soát viên Trường hợp Ban kiểm soát chỉ
có một Kiểm soát viên thì Kiểm soát viên đó đồng thời là Trưởng Ban kiểm soát và phải đáp ứng tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát Có thể thấy, quy định này đòi hỏi Kiểm soát viên trong trường hợp là Kiểm soát viên duy nhất tại DNNN phải có tiêu chuẩn cao hơn
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 102 Luật Doanh nghiệp năm 2014, Ban
kiểm soát có các quyền và nghĩa vụ như sau: "(1)Giám sát việc tổ chức thực hiện
chiến lược phát triển, kế hoạch kinh doanh, thực hiện các mục tiêu chiến lược và mục tiêu kế hoạch của công ty; (2)Giám sát và đánh giá việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của thành viên HĐTV và HĐTV, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty; (3)Giám sát và đánh giá hiệu lực và mức độ tuân thủ quy chế kiểm toán nội bộ, quy chế quản lý và phòng ngừa rủi ro, quy chế báo cáo và các quy chế quản trị nội bộ khác của công ty; (4)Giám sát tính hợp pháp, tính hệ thống và trung thực trong công tác kế toán, sổ kế toán, trong nội dung báo cáo tài chính, các phụ lục và tài liệu liên quan; (5)Giám sát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan; (6)Giám sát thực hiện các dự án đầu tư lớn, giao dịch mua, bán và giao dịch kinh doanh khác có quy mô lớn hoặc giao dịch kinh doanh bất thường của công ty; (7)Lập và gửi báo cáo đánh giá, kiến nghị về các nội dung quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và HĐTV; (8)Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc quy định tại Điều lệ công ty"
32 Theo Khoản 1 Điều 102 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 35Các quy định tại Khoản 2 Điều 102 Luật Doanh nghiệp năm 2014 được Luật Doanh nghiệp năm 2020 tách hẳn ra thành một Điều luật riêng và thay đổi thành
"Nghĩa vụ của Ban Kiểm soát" để xác định rõ đây là nghĩa vụ mà Ban Kiểm soát phải đảm bảo (chứ không còn là quyền như tại Luật Doanh nghiệp năm 2014) Đồng thời, Luật Doanh nghiệp năm 2020 bổ sung thêm một nghĩa vụ của Ban Kiểm
soát đó là "giám sát, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh, thực trạng tài
chính của công ty"33
Tiền lương, thưởng của Kiếm soát viên do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định và chi trả
Như vậy, DNNN có thể có một hoặc nhiều Kiểm soát viên Tiêu chuẩn và điều kiện đối với Kiểm soát viên được quy định tại Điều 103 Luật Doanh nghiệp
năm 2014 như sau: "(1) Được đào tạo một trong các chuyên ngành về tài chính, kế
toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh và có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc; Trưởng Ban kiểm soát phải có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc liên quan đến chuyên ngành tài chính, kế toán, kiểm toán, luật, quản trị kinh doanh được đào tạo (2) Không phải là người lao động của công ty (3) Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của đối tượng như: Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty; thành viên HĐTV của công ty; Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên khác của công ty (4) Không được kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác (5) Không được đồng thời là Kiểm soát viên, thành viên HĐTV, thành viên HĐQT của doanh nghiệp không phải là DNNN (6) Các tiêu chuẩn và điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty" Luật Doanh nghiệp
năm 2020 chỉ quy định về tiêu chuẩn của Kiểm soát viên cụ thể và cao hơn so với
Luật Doanh nghiệp năm 2014 là Kiểm soát viên phải "có bằng tốt nghiệp đại học
trở lên" Ngoài ra, nội dung này trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có thay
đổi so với Luật Doanh nghiệp năm 2014
33 Theo Điểm b Khoản 1 Điều 104 Luật Doanh nghiệp năm 2020
Trang 36Có thể thấy rằng, tiêu chuẩn và điều kiện của Kiểm soát viên trong DNNN được Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định cụ thể, chi tiết hơn so với Kiểm soát viên trong các công ty TNHH MTV nói chung, nhất là về chuyên môn và kinh nghiệm làm việc
Đồng thời, nhằm đảm bảo cho Ban Kiểm soát và Kiểm soát viên thực hiện chức năng giám sát của mình, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định các quyền của Ban kiểm soát và Kiểm soát viên như sau:
"- Tham gia các cuộc họp của HĐTV, các cuộc tham vấn và trao đổi chính
thức và không chính thức của cơ quan đại diện chủ sở hữu với HĐTV; có quyền chất vấn HĐTV, thành viên HĐTV và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty về các
kế hoạch, dự án hay chương trình đầu tư phát triển và các quyết định khác trong quản lý điều hành công ty
- Xem xét sổ sách kế toán, báo cáo, hợp đồng, giao dịch và tài liệu khác của công ty; kiểm tra công việc quản lý điều hành của HĐTV, thành viên HĐTV, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu
- Xem xét, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của công ty, thực trạng vận hành và hiệu lực các quy chế quản trị nội bộ công ty
- Yêu cầu thành viên HĐTV, Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và những người quản lý khác báo cáo, cung cấp thông tin về bất cứ việc gì trong phạm vi quản lý và hoạt động đầu tư, kinh doanh của công ty
- Yêu cầu những người quản lý công ty báo cáo về thực trạng tài chính, thực trạng và kết quả kinh doanh của công ty con khi xét thấy cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty
- Trường hợp phát hiện có thành viên HĐTV, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
và những người quản lý khác làm trái các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ hoặc có nguy cơ làm trái các quy định đó; hoặc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, làm trái các quy định về quản lý kinh tế, trái quy định Điều lệ công
Trang 37ty hoặc các quy chế quản trị nội bộ công ty phải báo cáo ngay cho cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty, các thành viên khác của Ban kiểm soát và cá nhân có liên quan
- Đề nghị cơ quan đại diện chủ sở hữu thành lập đơn vị thực hiện nhiệm vụ kiểm toán tham mưu và trực tiếp hỗ trợ Ban kiểm soát thực hiện các quyền và nghĩa
vụ được giao
- Thực hiện các quyền khác quy định tại Điều lệ công ty"34
Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã lược bỏ 02 nội dung mà Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định là "Quyền của Ban Kiểm soát và Kiểm soát viên"35 Một nội dung được quy định thành "Nghĩa vụ của Ban Kiểm soát"36 và một nội dung được quy định thành "Trách nhiệm của Kiểm soát viên"37 Sự thay đổi này trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo đánh giá của tác giả là hoàn toàn hợp lý vì giúp làm
rõ hơn đâu là quyền, đâu là trách nhiệm, nghĩa vụ của Ban Kiểm soát và Kiểm soát viên
Về chế độ làm việc của Ban Kiểm soát và Kiểm soát viên: Luật Doanh nghiệp
năm 2014 quy định Trưởng Ban kiểm soát làm việc chuyên trách tại công ty, còn các thành viên khác có thể tham gia Ban kiểm soát của không quá 04 DNNN nhưng phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan đại diện chủ sở hữu Kiểm soát viên độc lập và chủ động thực hiện các nhiệm vụ và công việc được phân công; đề xuất, kiến nghị thực hiện các nhiệm vụ, công việc kiểm soát khác ngoài kế hoạch, ngoài phạm vi được phân công khi xét thấy cần thiết
Ban kiểm soát họp ít nhất mỗi tháng một lần để rà soát, đánh giá, thông qua báo cáo kết quả kiểm soát trong tháng để trình cơ quan chủ sở hữu, đồng thời thảo luận và thông qua kế hoạch hoạt động tiếp theo của Ban kiểm soát Quyết định của Ban kiểm soát được thông qua khi có đa số thành viên dự họp tán thành
Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bỏ quy định Trưởng Ban kiểm soát phải làm việc chuyên trách lại DNNN
34 Theo Điều 104 Luật Doanh nghiệp năm 2014
35 Khoản 3 và Khoản 6 Điều 104 Luật Doanh nghiệp năm 2014
36 Được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 104 Luật Doanh nghiệp năm 2020
37 Được quy định tại Khoản 6 Điều 107 Luật Doanh nghiệp năm 2020
Trang 38Về trách nhiệm của Kiểm soát viên: Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định
Kiểm soát viên phải tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty, quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu và đạo đức nghề nghiệp trong thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều lệ công ty Đồng thời, Kiểm soát viên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất để bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích hợp pháp của các bên tại công ty; phải trung thành với lợi ích của Nhà nước và công ty, không được sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, lạm dụng địa vị, chức vụ, tài sản của công ty
để tư lợi hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác và các nghĩa vụ khác theo quy định tại Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty Trường hợp vi phạm mà gây thiệt hại cho DNNN thì Kiểm soát viên phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường thiệt hại đó Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và thiệt hại, Kiểm soát viên còn có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Mọi thu nhập và lợi ích mà Kiểm soát viên trực tiếp hoặc gián tiếp có được do vi phạm đều phải trả lại công ty Ngoài
ra, khi phát hiện có Kiểm soát viên vi phạm nghĩa vụ trong thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao thì phải báo cáo bằng văn bản đến cơ quan đại diện chủ sở hữu, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và có biện pháp khắc phục hậu quả38
Luật Doanh nghiệp năm 2020 bổ sung thêm một nội dung là trách nhiệm của
Kiểm soát viên là phải "báo cáo kịp thời cho cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty,
Kiểm soát viên khác và cá nhân có liên quan, đồng thời yêu cầu cá nhân đó chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả trong trường hợp sau: Phát hiện có thành viên HĐTV, Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc và người quản lý khác làm trái quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ hoặc có nguy cơ làm trái quy định đó; Phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, trái quy định Điều lệ công ty hoặc quy chế quản trị nội bộ công ty"39 Nội dung này được quy định là
"Quyền của Ban Kiểm soát và Kiểm soát viên" tại Khoản 6 Điều 104 Luật Doanh
38 Theo Điều 106 Luật Doanh nghiệp năm 2014
39 Theo Khoản 6 Điều 107 Luật Doanh nghiệp năm 2020
Trang 39nghiệp năm 2014 đã được Luật Doanh nghiệp năm 2020 chuyển sang thành "Trách nhiệm của Kiểm soát viên" như đã nêu ở trên
Kiểm soát viên bị cách chức trong các trường hợp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 như sau: Không hoàn thành nhiệm vụ, công việc được phân công hoặc không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong 03 tháng liên tục (ngoại trừ trường hợp bất khả kháng) hoặc vi phạm nhiều lần nghĩa vụ của Kiểm soát viên quy định tại Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty và các trường hợp khác
do Điều lệ công ty quy định40 Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ quy định cụ thể hơn đối với trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ, công việc được phân công là trong vòng một năm thì Kiểm soát viên sẽ bị cách chức Ngoài ra không có thay đổi
so với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về nội dung này
1.2.1.2 Mô hình có Chủ tịch công ty
Đây là mô hình mà cơ quan đại diện chủ sở hữu chỉ bổ nhiệm một người thay mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ ở DNNN Mô hình này chỉ khác mô hình có HĐTV ở vai trò Chủ tịch công ty, các cơ quan còn lại đều có chức năng, tiêu chuẩn, điều kiện, quyền lợi và trách nhiệm tương tự như mô hình có HĐTV Mô hình này
có sơ đồ tổng quát như sau:
Ghi chú:
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Kiểm soát
40 Theo Khoản 2 Điều 107 Luật Doanh nghiệp năm 2014
CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU
CHỦ TỊCH
GIÁM ĐỐC/
TỔNG GIÁM ĐỐC
Trang 40Chủ tịch công ty: Do cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm, nhiệm kỳ không
quá 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ (Luật Doanh nghiệp năm 2020 cho phép loại trừ trường hợp người được bổ nhiệm đã có trên 15 năm làm việc liên tục tại công ty đó trước khi được bổ nhiệm lần đầu)
Chủ tịch công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại công ty theo quy định của Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu
tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều 91 và Điều 96 Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 92 và Điều 97 Luật Doanh nghiệp năm 2020) Tiền lương, thưởng và các quyền lợi khác của Chủ tịch công ty do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định và được tính vào chi phí quản lý công ty
Chủ tịch công ty sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và con dấu của công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trường hợp cần thiết, Chủ tịch công ty tổ chức việc lấy ý kiến các chuyên gia tư vấn trong và ngoài nước trước khi quyết định các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty Quyết định của Chủ tịch công ty có hiệu lực kể từ ngày ký hoặc từ ngày ghi trong quyết định đó, trừ trường hợp phải được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận Trường hợp Chủ tịch công ty vắng mặt ở Việt Nam trên 30 ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện một số quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch công ty; việc ủy quyền phải được thông báo kịp thời bằng văn bản đến cơ quan đại diện chủ sở hữu Các trường hợp ủy quyền khác thực hiện theo quy định tại quy chế quản lý nội bộ của công ty Nhìn chung, các quy định về Chủ tịch công
ty tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 là giống nhau
Ngoài ra, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác, Chủ tịch công ty là người đại diện theo pháp luật của DNNN41
41 Suy ra theo Khoản 2 Điều 78 Luật Doanh nghiệp năm 2014