Tình hình nghiên cứu
Hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án là một chủ đề được nhiều người quan tâm, dẫn đến việc xuất hiện nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
Hòa giải trong vụ án kinh doanh thương mại là một chủ đề quan trọng được nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của Đặng Ngọc Hưng tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Nghiên cứu này đã khái quát các vấn đề lý luận liên quan đến hòa giải và việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng năm 2016 Luận văn không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về hòa giải mà còn nhấn mạnh vai trò của nó trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống tư pháp.
3 giải trong giải quyết các vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Bài luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Như Bình, được thực hiện tại Trường đại học Luật – Đại học Huế vào năm 2017, tập trung vào việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Tòa án cấp sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định pháp luật liên quan đến quy trình, thủ tục và thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết những tranh chấp này.
Luận văn thạc sĩ của Trương Thị Hai (2018) tại Trường đại học Luật – Đại học Huế đã nghiên cứu một cách hệ thống các quy định pháp luật liên quan đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng Bài viết phân tích thực tiễn áp dụng các quy định này tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, đồng thời luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong lĩnh vực này.
Luận văn thạc sĩ của Trần Võ Hữu Chánh, nghiên cứu về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo pháp luật Việt Nam, tập trung vào thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 Nghiên cứu này đã phân tích các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
Nhiều tác giả đã đăng bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Công thương, và tạp chí Tòa án nhân dân, đề cập đến các vấn đề liên quan đến chuyên đề này.
- Bài viết trên tạp chí Công thương ngày 31/10/2017 về “Giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng” của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh
- Bài viết trên tạp chí Tòa án nhân dân ngày 21/3/2018 về “Tiêu chí xác định hòa giải thành” của tác giả Ngọc Trâm
Các nghiên cứu trước đây đã tạo nền tảng lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về thủ tục hòa giải trong tranh chấp hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, vẫn thiếu một công trình tổng hợp lý luận và chuyên sâu về thực tiễn hòa giải trong lĩnh vực này Luận văn này sẽ tiếp thu các vấn đề lý luận từ các nghiên cứu trước và thực tiễn giải quyết vụ án tại Tòa án, nhằm chỉ ra những bất cập trong hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục hòa giải trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại liên quan đến hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân Bài viết phân tích thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hòa giải, chỉ ra những bất cập hiện tại trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng Từ đó, tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng công tác hòa giải tại Tòa án.
Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án – Pháp luật và thực tiễn” nhằm giải quyết một số vấn đề quan trọng liên quan đến quy trình hòa giải, hiệu quả của pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp tín dụng, và thực tiễn áp dụng các quy định pháp lý hiện hành.
Hòa giải và hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng là những vấn đề lý luận quan trọng, giúp giải quyết mâu thuẫn một cách hiệu quả Hòa giải tại Tòa án có vai trò đáng kể trong việc giảm thiểu căng thẳng giữa các bên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạt được thỏa thuận hợp lý Sự can thiệp của Tòa án không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên mà còn thúc đẩy sự ổn định trong quan hệ tín dụng.
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án đã phù hợp, đúng quy định hay chưa?
- Cần đề ra phương hướng, giải pháp gì nhằm nâng cao chất lượng hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án?
Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo luận văn đạt hiệu quả và có những đóng góp khoa học, tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp.
Luận văn áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng để phân tích mối quan hệ biện chứng giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng Đặc biệt, người viết sử dụng quy luật bản chất – hiện tượng để làm rõ vấn đề, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự tương tác giữa lý thuyết và thực hành trong lĩnh vực pháp luật.
Phương pháp phân tích luật viết trong luận văn này nhằm làm rõ các quy định pháp luật hiện hành, từ đó giải thích các lý luận chung liên quan đến việc áp dụng pháp luật trong quá trình hòa giải các tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng tại Tòa án.
Phương pháp so sánh được áp dụng trong luận văn nhằm phân tích và đối chiếu các quy định pháp luật trong những văn bản khác nhau Qua đó, bài viết chỉ ra những quy định hợp lý và không hợp lý, đồng thời đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn đóng vai trò quan trọng trong việc áp dụng quy định pháp luật về hòa giải cho các tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án Luận văn sẽ đi sâu vào việc phân tích và triển khai những vụ án cụ thể, từ đó rút ra những bài học và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải trong lĩnh vực này.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn phân tích các quy định pháp luật về thủ tục hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án, nhằm tìm ra những quy định hợp lý và chỉ ra những điểm chưa phù hợp với thực tiễn Qua việc khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật trong hòa giải, luận văn nêu bật những bất cập trong việc thực hiện các quy định hiện hành Đồng thời, bằng cách viện dẫn một số bản án và quyết định không có giá trị thi hành, luận văn đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan.
Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm hai chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về hòa giải và hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
- Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án và một số kiến nghị hoàn thiện
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Khái quát tranh chấp và hòa giải trong tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.1.1 Khái niệm tranh chấp, hòa giải và hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tòa Công lý Quốc tế, tiền thân là Tòa Thường trực Công lý Quốc tế, đã định nghĩa tranh chấp là “một sự bất đồng về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên.” Định nghĩa này không chỉ rộng rãi mà còn bao quát mọi bất đồng giữa các quốc gia, và đến nay vẫn được sử dụng, trở thành một trong những ý kiến pháp lý nổi tiếng nhất của Tòa Công lý Quốc tế.
Tranh chấp trong tiếng Việt được định nghĩa là sự giành giật một cách căng thẳng về một vấn đề không rõ ràng thuộc về bên nào, hoặc là cuộc đấu tranh giữa hai bên khi có ý kiến khác nhau, thường liên quan đến quyền lợi của họ.
Tranh chấp là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều loại như tranh chấp chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp dân sự, và tranh chấp kinh doanh, thương mại Khái niệm chung về tranh chấp có thể được định nghĩa là sự mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợi dẫn đến việc tranh giành giữa các bên.
Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) là một cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc, được thành lập vào năm 1945, kế thừa từ Toà án Thường trực Công lý Quốc tế ra đời năm 1922 ICJ có nhiệm vụ giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên và cung cấp tư vấn pháp lý cho Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, cùng các ủy ban khác theo quy định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc từ năm 1946.
2 https://iuscogens-vie.org/category/phan-quyet-moi/
3 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Tranh_ch%E1%BA%A5p
Hợp đồng tín dụng (HĐTD) ghi nhận thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, là hình thức pháp lý cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD) Trong quá trình thực hiện HĐTD, các bên cần tôn trọng và thực hiện đúng các điều khoản đã giao kết Tuy nhiên, mâu thuẫn và bất đồng về quyền và nghĩa vụ là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng (TCHĐTD) TCHĐTD được định nghĩa là những tranh chấp phát sinh từ mâu thuẫn giữa TCTD và các bên liên quan trong quá trình thực hiện HĐTD Các dạng TCHĐTD phổ biến bao gồm tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi, lãi suất, phí, tiền phạt, và xử lý tài sản bảo đảm Sự phát triển của nền kinh tế xã hội cũng làm gia tăng và phức tạp hóa các tranh chấp từ HĐTD.
TCHĐTD được chia thành hai loại: tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh, thương mại Tranh chấp kinh doanh, thương mại xảy ra giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và nhằm mục đích lợi nhuận, được Tòa án có thẩm quyền giải quyết như một vụ án kinh doanh, thương mại Ngược lại, tranh chấp dân sự liên quan đến HĐTD giữa tổ chức tín dụng với hộ gia đình, cá nhân để cho vay tiêu dùng không nhằm mục đích sinh lợi, sẽ được Tòa án giải quyết như một vụ án dân sự Sự khác biệt giữa hai loại hợp đồng tín dụng trong các vụ án này là yếu tố quan trọng cần lưu ý.
4 Khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015 quy định: “Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại thường xảy ra giữa các cá nhân hoặc tổ chức có đăng ký kinh doanh, với mục đích chính là tạo ra lợi nhuận.
Khi áp dụng thủ tục hòa giải theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các vụ án dân sự có sự khác biệt về nội dung, hình thức và chủ thể tham gia giao kết hợp đồng.
Hòa giải, theo Từ điển Tiếng Việt, là hành vi thuyết phục các bên chấm dứt xung đột một cách ổn thỏa Mặc dù pháp luật Việt Nam không định nghĩa rõ ràng về hòa giải, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là quá trình điều chỉnh quan hệ giữa các bên tranh chấp với giá trị xã hội cao Hòa giải không chỉ tăng cường sự hòa hợp mà còn giúp giảm căng thẳng giữa các bên Được thực hiện với sự hỗ trợ của bên thứ ba trung lập, hòa giải cho phép các bên tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật và đạo đức xã hội Trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, hòa giải là việc Thẩm phán phối hợp với tổ chức, cá nhân khác để giúp các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận một cách tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật và đạo đức xã hội, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc tiến hành tố tụng hiệu quả.
Theo quy định pháp luật hiện hành, hòa giải bao gồm ba loại hình chính: hòa giải ngoài Tòa án, hòa giải tại Tòa án và hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài Hòa giải ngoài Tòa án được chia thành hai trường hợp: hòa giải tiền tố tụng và hòa giải cơ sở Hòa giải tiền tố tụng là trường hợp mà pháp luật yêu cầu các bên tranh chấp phải hòa giải qua cơ quan hòa giải, và kết quả hòa giải, dù không thành công, vẫn có giá trị pháp lý.
6 Từ điển tiếng Việt (1995), NXB Khoa học Xã hội
7 Đặng Hoàng Oanh (2009), pháp luật và thực tiễn của Australia về hòa giải – một số kiến nghị áp dụng cho Việt Nam, Hà Nội
TS Dương Quỳnh Hoa (2015) đã nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế trong các quan hệ thương mại tại Việt Nam, phân tích cả lý luận và thực tiễn Công trình này được xuất bản bởi NXB Chính trị Quốc gia, đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về quy trình và phương pháp giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam.
Hòa giải tiền tố tụng là thủ tục bắt buộc trước khi các bên có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân (TAND) Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, hòa giải tiền tố tụng áp dụng cho tranh chấp quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã/phường/thị trấn và tranh chấp lao động cá nhân, lao động tập thể Hoạt động hòa giải tại cơ sở được thực hiện bởi các tổ hòa giải tự quản ở thôn, tổ dân phố nhằm giải quyết mâu thuẫn và tranh chấp, khuyến khích các bên đạt được thỏa thuận Việc này không chỉ giúp duy trì tình làng nghĩa xóm mà còn giảm thiểu số vụ việc phải đưa ra Tòa án, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên liên quan.
Hòa giải tại Tòa án bao gồm hòa giải qua Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án và hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự Hòa giải viên thực hiện hòa giải cho tất cả các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và việc thuận tình ly hôn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Hòa giải qua Trung tâm diễn ra sau khi người khởi kiện nộp đơn nhưng chưa được thụ lý, theo quy định của Luật hòa giải, đối thoại có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 Hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự là một phần trong quy trình giải quyết vụ án dân sự, diễn ra công khai và tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ theo BLTTDS năm 2015.
9 Điều 202 Luật đất đai năm 2013
10 Khoản 1 Điều 188 và khoản 2 Điều 191 Bộ luật lao động năm 2019
11 Điều 2 Luật hòa giải cơ sở năm 2013
12 Khoản 2 Điều 1 Luật hòa giải, đối thoại năm 2020
Trong hòa giải theo thủ tục tố tụng trọng tài, các bên có quyền tự do thương lượng và thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp, bao gồm cả các tranh chấp kinh doanh, thương mại Nếu đã có thỏa thuận trọng tài, Tòa án sẽ từ chối thụ lý vụ việc Trọng tài viên phải giữ bí mật về tranh chấp Luật Trọng tài thương mại cho phép các bên lựa chọn ngôn ngữ, địa điểm giải quyết, và trong trường hợp có yếu tố nước ngoài, các bên có thể chọn luật áp dụng và trọng tài viên Các quyết định của trọng tài được công nhận quốc tế qua Công ước New York năm 1958.
Khái niệm hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Hòa giải trong tranh chấp hợp đồng tín dụng (TCHĐTD) là quá trình mà thẩm phán giải thích pháp luật và tạo điều kiện cho các bên liên quan trình bày ý kiến, nhằm giải quyết mâu thuẫn và đạt được thỏa thuận về các vấn đề tranh chấp Hoạt động này diễn ra tại Tòa án, giúp các bên, bao gồm bên cho vay, bên vay và bên thứ ba (nếu có), xác định quyền và nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong HĐTD Thẩm phán, với vai trò là trung gian, sẽ hỗ trợ các đương sự thương thảo dựa trên quy định pháp luật, xác định bên vi phạm nghĩa vụ và ảnh hưởng của sự vi phạm đó đến quyền lợi của bên còn lại.
1.1.2 Đặc điểm của hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Bộ luật tố tụng dân sự
13 Điều 6 Luật trọng tài thương mại năm 2010
14 Công ước New York ngày 10/6/1958 là công ước “Về việc công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài”
Pháp luật về hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án
Hoạt động hòa giải tại Tòa án nhằm tạo điều kiện cho các đương sự đạt được thỏa thuận trong việc giải quyết vụ án Việc Thẩm phán áp dụng hiệu quả các quy định pháp luật trong quá trình hòa giải là vô cùng cần thiết Do đó, cần nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định pháp luật liên quan đến nguyên tắc, thành phần, thủ tục hòa giải và những kết quả mà hoạt động này mang lại.
Nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự là một yếu tố quan trọng trong tố tụng dân sự, theo đó không được sử dụng vũ lực hay đe dọa để buộc các bên phải thỏa thuận trái với ý chí của họ Điều này xuất phát từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự, được quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó pháp luật công nhận và bảo đảm quyền thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự.
21 Điểm a khoản 2 Điều 205 BLTTDS năm 2015
Trong vụ án dân sự, chỉ khi có yêu cầu khởi kiện từ chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, Tòa án mới can thiệp và giải quyết Tòa án không thể thụ lý vụ án nếu không có đơn khởi kiện hợp lệ Trong quá trình giải quyết, các đương sự có quyền tự do thể hiện ý chí, đưa ra yêu cầu và thỏa thuận về cách giải quyết tranh chấp Tòa án cần tôn trọng sự thỏa thuận tự nguyện của các bên, và chỉ chấp nhận thỏa thuận này khi nó được thực hiện hoàn toàn tự nguyện, không bị đe dọa hay ép buộc.
Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự phải tuân thủ quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Tòa án chỉ chấp nhận thỏa thuận khi không vi phạm điều cấm của luật và các chuẩn mực ứng xử xã hội Điều cấm của luật là những quy định ngăn cản hành vi nhất định, trong khi đạo đức xã hội phản ánh chuẩn mực được cộng đồng công nhận Mọi thỏa thuận vi phạm các điều này sẽ không được pháp luật công nhận Hoạt động hòa giải trong giải quyết tranh chấp cũng phải tuân theo nguyên tắc này, với điều kiện thỏa thuận giữa các đương sự phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
1.3.2 Thành phần và trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là một loại hợp đồng dân sự, do đó, khi xảy ra tranh chấp, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự sẽ được áp dụng để giải quyết, bao gồm cả các quy định về hòa giải Hoạt động hòa giải trong vụ án HĐTD tại Tòa án nhằm hỗ trợ các bên đương sự đạt được thỏa thuận về việc giải quyết vụ án Pháp luật Tố tụng dân sự cũng quy định rằng Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự thương thảo với nhau.
22 Điểm b khoản 2 Điều 205 BLTTDS năm 2015
Theo quy định của Bộ luật, có 21 quyết vụ việc dân sự cần được giải quyết Bên cạnh nguyên tắc hoạt động hòa giải, pháp luật cũng quy định rõ ràng về thành phần tham gia, trình tự và thủ tục tiến hành hòa giải tại Tòa án.
Hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm:
Trước khi tiến hành hòa giải theo Điều 208 của Bộ BLTTDS năm 2015, Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự về thời gian và địa điểm phiên hòa giải Việc thông báo cần đảm bảo các đương sự nhận được trước một thời gian nhất định để có thể sắp xếp tham gia Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều đương sự không nhận được thông báo hoặc nhận quá sát ngày tổ chức, dẫn đến việc họ không thể có mặt Điều này gây cản trở cho quá trình hòa giải, vì phiên hòa giải không thể diễn ra nếu có đương sự vắng mặt Do đó, Thẩm phán cần chú trọng đến việc cấp, tống đạt thông báo để tránh hoãn phiên hòa giải nhiều lần.
Thành phần phiên hòa giải được quy định tại Điều 209 của BLTTDS năm
Vào năm 2015, trong quá trình hòa giải, Thẩm phán giữ vai trò chủ trì phiên hòa giải, với Thư ký tòa án ghi biên bản Thẩm phán phụ trách vụ án là người chủ động trong việc sắp xếp thời gian và nội dung làm việc, đồng thời chịu trách nhiệm trước cấp trên và nhà nước về kết quả giải quyết Do đó, trong phiên hòa giải chính thức, Thẩm phán phải đảm nhận vai trò chủ trì, vì họ nắm rõ toàn bộ vấn đề cần giải quyết Với vai trò là người trung gian hòa giải, sự có mặt của Thẩm phán là cần thiết để đưa ra các đề nghị hợp lý, giúp các bên đương sự đạt được sự hòa giải.
Trong phiên hòa giải, Thư ký có trách nhiệm ghi lại toàn bộ nội dung và đảm bảo tính khách quan, trung thực của biên bản hòa giải Sự hiện diện của Thư ký là cần thiết để tránh việc Thẩm phán ghi biên bản theo ý chí chủ quan của mình Do đó, việc có Thư ký trong phiên hòa giải không chỉ là yêu cầu mà còn là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính chính xác của quá trình hòa giải.
Trong quá trình hòa giải, bên cạnh Thẩm phán và Thư ký, các đương sự, người đại diện hợp pháp, người phiên dịch và người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cũng tham gia Theo Điều 68 BLTTDS năm 2015, đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyên đơn khởi kiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và có vai trò chủ động trong tố tụng, có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ vụ án Bị đơn tham gia để trả lời về việc kiện và thường mang tính bị động, nhưng có thể ảnh hưởng đến quá trình giải quyết khi đưa ra yêu cầu phản tố Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tham gia tố tụng theo yêu cầu hoặc tự nguyện, bao gồm cả người tham gia độc lập và không độc lập, với khả năng khởi kiện trong trường hợp có tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan cần tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vì nếu không, việc bảo vệ sẽ gặp khó khăn hơn Quyền và lợi ích của họ phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị đơn, do đó, sự tham gia của họ trong tố tụng cũng phụ thuộc vào các bên này Tuy nhiên, khi tham gia, họ vẫn giữ quyền quyết định trong phạm vi quyền hạn của mình.
Tại phiên hòa giải, tất cả các đương sự và thành phần tiến hành hòa giải cần có mặt đầy đủ Nếu có đương sự vắng mặt nhưng các đương sự có mặt đồng ý tiến hành hòa giải mà không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, Thẩm phán vẫn có thể tiến hành hòa giải Nếu các đương sự có mặt đạt được thỏa thuận, thỏa thuận này có giá trị và sẽ được Thẩm phán công nhận nếu không ảnh hưởng đến đương sự vắng mặt Tuy nhiên, nếu thỏa thuận ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, cần có sự đồng ý bằng văn bản của họ Trong thực tế, việc hòa giải trong trường hợp này gặp khó khăn, vì các đương sự đều có quyền, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến nội dung tranh chấp Ví dụ, trong vụ kiện giữa Ngân hàng X và Công ty TNHH A, nếu E, con của bà B, vắng mặt nhưng vẫn đồng ý trả nợ thông qua đơn tình bày, thì việc ghi nhận kết quả hòa giải trở nên phức tạp hơn.
Công ty TNHH A không có ý kiến từ E về tài sản thế chấp, dẫn đến việc Thẩm phán không thể công nhận thỏa thuận Nếu Công ty TNHH A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay, tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà sẽ được sử dụng để đảm bảo thi hành án, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ tố tụng của E.
Khi có đơn đề nghị hoãn phiên hòa giải để đảm bảo sự có mặt của tất cả các đương sự, thẩm phán phải thông báo việc hoãn và thời gian, địa điểm mở lại phiên hòa giải Hoạt động hòa giải tại Tòa án giúp các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt và nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án mà không cần xét xử Theo quy định của BLTTDS, người tiến hành hòa giải là Thẩm phán được phân công, trong khi thư ký chỉ đóng vai trò hỗ trợ và ghi biên bản hòa giải Quy định này là cần thiết, vì khi hòa giải thành, cần có quyết định công nhận của Tòa án, có giá trị bắt buộc và yêu cầu sự tôn trọng từ các bên đương sự và xã hội.
Trình tự tiến hành phiên hòa giải bắt đầu bằng việc thư ký báo cáo với Thẩm phán về sự có mặt của các bên tham gia hòa giải Thẩm phán sẽ xác nhận sự có mặt và căn cước của những người tham gia, đồng thời phổ biến các quy định pháp luật liên quan đến vụ án để các đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình Thẩm phán cũng sẽ phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành, khuyến khích các bên tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết vụ án Theo quy định, hòa giải được thực hiện trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tức là sau khi tòa án thụ lý vụ án và trước khi đưa vụ án ra xét xử.
27 Điểm a khoản 4 Điều 210 BLTTDS năm 2015