TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các yếu tố chất lượng mối quan hệ là rất quan trọng để cải thiện tích hợp hậu cần và nâng cao hiệu suất chuỗi cung ứng tại công ty SPC ở Tp.HCM Các yếu tố này bao gồm sự tin cậy, giao tiếp hiệu quả và cam kết giữa các bên liên quan Việc tối ưu hóa những yếu tố này sẽ giúp công ty SPC tăng cường khả năng phối hợp, giảm thiểu chi phí và cải thiện dịch vụ khách hàng, từ đó nâng cao hiệu suất tổng thể của chuỗi cung ứng.
Nghiên cứu xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chất lượng mối quan hệ đến tích hợp hậu cần và hiệu suất chuỗi cung ứng tại công ty SPC ở Tp.HCM Bài viết cũng đề xuất những hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng mối quan hệ và cải thiện hiệu suất chuỗi cung ứng cho công ty SPC tại khu vực này.
Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố chất lượng mối quan hệ đóng vai trò quan trọng trong việc tích hợp hậu cần và nâng cao hiệu suất chuỗi cung ứng tại công ty SPC ở Tp.HCM Sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan giúp tối ưu hóa quy trình logistics, từ đó cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường Đặc biệt, việc xây dựng mối quan hệ tin cậy và minh bạch giữa nhà cung cấp và khách hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ thông tin và tài nguyên, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng.
Mức độ tác động của các yếu tố chất lượng mối quan hệ đến tích hợp hậu cần và hiệu suất chuỗi cung ứng tại công ty SPC ở Tp.HCM có sự khác biệt rõ rệt Nghiên cứu chỉ ra rằng một số yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu suất chuỗi cung ứng, trong khi những yếu tố khác lại không có tác động đáng kể Việc xác định yếu tố nào tác động mạnh nhất và yếu nhất sẽ giúp công ty tối ưu hóa quy trình logistics và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Để nâng cao chất lượng mối quan hệ và cải thiện hiệu suất chuỗi cung ứng tại công ty SPC ở Tp.HCM, cần áp dụng một số hàm ý quản trị như tăng cường giao tiếp giữa các bộ phận, tối ưu hóa quy trình làm việc, và xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược Bên cạnh đó, việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý chuỗi cung ứng cũng sẽ giúp tăng cường khả năng theo dõi và kiểm soát Cuối cùng, đào tạo nhân viên về kỹ năng làm việc nhóm và quản lý thời gian là rất quan trọng để đạt được hiệu quả tối ưu trong hoạt động kinh doanh.
1.4 Đôi tượng va phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là chất lượng mối quan hệ, tích hợp hậu cần, hiệu suất chuỗi cung ứng. Đối tượng khảo sát: là những khách hàng có trong danh sách của công ty SPC tại Tp.HCM có sử dụng dịch vụ hậu cần từ 1 năm trở lên Những khách hàng này là ngươi đại diện hợp pháp của công ty khách hàng.
Không gian khảo sát: khách hàng của SPC tại Tp.HCM.
Thơi gian khảo sát: 2 tháng.
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tai
Nghiên cứu này chỉ ra rằng việc xây dựng mối quan hệ bền vững với khách hàng mang lại lợi ích lớn về lợi nhuận cho doanh nghiệp, nhờ vào việc giảm chi phí quản lý và marketing, đồng thời tăng trưởng doanh số hiệu quả hơn so với cách tiếp cận giao dịch đơn lẻ Mục tiêu chính của doanh nghiệp là phát triển mối quan hệ chất lượng với khách hàng, từ đó tạo điều kiện cho sự tích hợp hậu cần hiệu quả và cải thiện chuỗi cung ứng.
Kết cấu của nghiên cứu bao gồm 5 chương Nội dung chính của từng chương như sau:
Chương 1: Giơi thiệu Phần này trình bày những nội dung sau: Tổng quan và lý do chon đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa đề tài.
Chương 2: Thảo luận và đánh giá tài liệu về: chất lượng mối quan hệ, tích hợp hậu cần, hiệu suất chuỗi cung ứng và các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề đang điều tra.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Phần này trình bày về quá trình và phương pháp thực hiện đề tài, gồm các phần: xây dựng thang đo, nghiên cứu định tính và định lượng, phân tích phương pháp.
Chương 4: Sẽ tập trung vào phân tích dữ liệu và bình luận kết quả nghiên cứu từ phần mềm SPSS và PLS-SEM
Chương 5: Phần kết luận của luận văn sẽ được trình bày tại chương này cũng như những hạn chế và hương nghiên cứu tương lai.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu này chỉ ra rằng việc xây dựng mối quan hệ thành công với khách hàng mang lại lợi ích lớn về lợi nhuận cho doanh nghiệp, nhờ vào việc giảm chi phí quản lý và marketing, đồng thời thúc đẩy doanh số bán hàng Mục tiêu chính của doanh nghiệp là phát triển mối quan hệ chất lượng với khách hàng để đảm bảo sự bền vững Khi có được mối quan hệ lâu dài, doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả tích cực trong việc tích hợp hậu cần và cải thiện chuỗi cung ứng.
Kết cấu luận văn
Kết cấu của nghiên cứu bao gồm 5 chương Nội dung chính của từng chương như sau:
Chương 1: Giơi thiệu Phần này trình bày những nội dung sau: Tổng quan và lý do chon đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa đề tài.
Chương 2: Thảo luận và đánh giá tài liệu về: chất lượng mối quan hệ, tích hợp hậu cần, hiệu suất chuỗi cung ứng và các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề đang điều tra.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Phần này trình bày về quá trình và phương pháp thực hiện đề tài, gồm các phần: xây dựng thang đo, nghiên cứu định tính và định lượng, phân tích phương pháp.
Chương 4: Sẽ tập trung vào phân tích dữ liệu và bình luận kết quả nghiên cứu từ phần mềm SPSS và PLS-SEM
Chương 5: Phần kết luận của luận văn sẽ được trình bày tại chương này cũng như những hạn chế và hương nghiên cứu tương lai.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory - RDT)
Nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu chiến lược và phát triển bền vững (Selznick, 1948) Từ những năm 1970 đến đầu những năm 1980, Pfeffer và Salancik (1978) trong tác phẩm “The External Control - Kiểm soát bên ngoài” đã hệ thống hóa nhiều ý tưởng về quản lý sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các tổ chức (Nyaga & Whipple, 2011) Họ đã phát triển giả thuyết phụ thuộc nguồn lực theo ba cấp độ, bắt đầu với việc nghiên cứu mối liên quan giữa việc sử dụng nguồn lực bên ngoài và sự gia tăng năng lực doanh nghiệp (Pfeffer và Salancik, 1974).
Từ năm 1962, các nghiên cứu đã chuyển hướng tập trung vào hoạt động trao đổi nguồn lực giữa các doanh nghiệp trong cùng mạng lưới, thay vì chỉ giữa hai doanh nghiệp riêng lẻ Đến năm 1984, quan điểm sinh thái dân số học đã bổ sung cho việc xây dựng lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (RDT) và làm rõ giá trị tương đối của hai lý thuyết (Ulrich và Barney, 1984) Ngay sau khi được công bố trên báo in, lý thuyết phụ thuộc vào nguồn lực đã trở thành một trong những lý thuyết có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực lý thuyết tổ chức và quản lý chiến lược (Hillman, Withers & Collins, 2009, trang 1404).
Sau tác phẩm của Pfeffer và Salancik (1978), lý thuyết phụ thuộc nguồn lực trải qua giai đoạn tạm lắng từ giữa những năm 1980 đến đầu những năm 2000 Tuy nhiên, trong lần tái bản năm 2003 của "The External Control", họ đã đề xuất các hướng nghiên cứu mới, khơi dậy sự phục hưng cho lý thuyết này (Katila và các cộng sự, 2008) Gần đây, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành, xác nhận các nội dung cốt lõi của lý thuyết phụ thuộc nguồn lực trong bối cảnh hiện tại.
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (RDT) nhấn mạnh rằng các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau để có được nguồn lực quan trọng, điều này ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp (Pfeffer & Salancik, 2003) Bài viết giới thiệu các khía cạnh chính của RDT, bao gồm sự phát triển lý luận, nghiên cứu thực nghiệm và ứng dụng trong thực tế Năm nội dung chính được thảo luận để giảm thiểu sự phụ thuộc bao gồm: sáp nhập theo chiều dọc, liên doanh, hội đồng quản trị, yếu tố chính trị và kế thừa điều hành (Pfeffer, 1976) Ngoài ra, tính chuyên môn hóa trong hợp tác và các chiến lược quản lý phụ thuộc cũng được xem xét, cho thấy sự hấp dẫn của RDT như một khung lý thuyết quan trọng trong việc giải thích các mối quan hệ giữa các tổ chức (Davis & Cobb, 2010; Hillman, Withers & Collins, 2009; Pfeffer & Salancik, 2003).
2.2 Chất lượng môi quan hệ trong bôi cảnh B2B (Doanh nghiệp va Doanh nghiệp)
Trong môi trường dịch vụ B2B, đặc biệt trong lĩnh vực logistics, việc tùy chỉnh dịch vụ, sản phẩm và cấu trúc giá cả theo nhu cầu của từng doanh nghiệp khách hàng là rất quan trọng Mỗi doanh nghiệp có cách sử dụng dịch vụ và sản phẩm khác nhau, do đó, phát triển mối quan hệ với khách hàng doanh nghiệp không chỉ giúp nhà cung cấp xây dựng được một lượng khách hàng trung thành mà còn mở ra cơ hội để đạt được lợi nhuận cao Nghiên cứu này tập trung vào việc điều tra chất lượng mối quan hệ trong bối cảnh B2B.
Trong mối quan hệ B2B, việc thiết lập mối quan hệ lâu dài giữa nhà cung cấp và khách hàng có thể tạo ra giá trị cao hơn cho cả hai bên (Leonidou, 2004) Tư tưởng tiếp thị đang chuyển từ những yếu tố hữu hình sang vô hình, từ giao dịch sang mối quan hệ (Vargo và Lusch, 2004) Tiếp thị mối quan hệ đã chuyển từ quyền lực và xung đột sang lòng tin, cam kết và định hướng dài hạn (Tadajewski, 2008) Morgan và Hunt (1994) nhấn mạnh rằng lòng tin và cam kết là hai yếu tố trung tâm của chất lượng mối quan hệ, được xem là cấu trúc chính cho chất lượng mối quan hệ thực sự Ulaga và Eggert (2006) chỉ ra rằng, ngoài lòng tin và cam kết, các yếu tố như sự hài lòng trong mối quan hệ cũng rất quan trọng để khách hàng đánh giá hiệu suất của nhà cung cấp Chất lượng mối quan hệ khách hàng được mô tả qua kỳ vọng của khách hàng về lợi ích từ mối quan hệ, dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ của họ (Ulaga và Eggert, 2006).
Chất lượng mối quan hệ được định nghĩa dựa trên lý thuyết và nghiên cứu trong lĩnh vực tiếp thị mối quan hệ, như đã được chỉ ra bởi Crosby và các cộng sự (1990) cũng như Dwyer, Schurr và những người khác Những nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và duy trì mối quan hệ bền vững giữa các bên liên quan trong môi trường kinh doanh.
Chất lượng mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng được xác định qua sự tin tưởng và hài lòng, với mục tiêu củng cố mối quan hệ và chuyển đổi khách hàng thơ ơ thành khách hàng trung thành (Crosby và cộng sự, 1990) Đây là một cấu trúc tổng hợp phản ánh bản chất của mối quan hệ, mặc dù chưa có sự đồng thuận về khái niệm này (Hennig-Thurau, Gwinner và Gremler, 2002) Sự tin tưởng và hài lòng là hai yếu tố chính trong mối quan hệ, trong đó sự tin tưởng là yếu tố nội sinh và sự hài lòng phản ánh trải nghiệm tương tác hiện tại (Crosby và cộng sự, 1990) Các nghiên cứu đã sử dụng nhiều biến số để đo lường chất lượng mối quan hệ, bao gồm sự tin tưởng, cam kết, sự hài lòng và xung đột tình cảm (Roberts và cộng sự, 2003) Nghiên cứu của Prajogo và Olhager (2012) đã điều tra sự tích hợp thông tin và hậu cần giữa nhà cung cấp và nhà sản xuất, trong khi Lai và cộng sự (2013) tập trung vào ba yếu tố chính để hỗ trợ tích hợp hậu cần hiệu quả Kim, Lee và Hwang (2020) đã kết hợp các yếu tố tin cậy, hài lòng và cam kết để nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đến quyết định tích hợp hậu cần và hiệu suất chuỗi cung ứng.
Chất lượng mối quan hệ là một cấu trúc phức tạp bao gồm các yếu tố chính như sự tin tưởng, sự hài lòng với người bán và cam kết trong mối quan hệ (Woo và Ennew, 2004; Athanasopoulou, 2009; Lai và cộng sự, 2013) Ba yếu tố này xuất phát từ nghiên cứu về thị trường tiêu dùng, mặc dù cũng được áp dụng trong bối cảnh B2B Woo và Ennew (2002) đã chỉ ra rằng vẫn còn nhiều tranh luận về tính phù hợp của chúng trong bối cảnh này Athanasopoulou (2009) đã thực hiện phân tích tổng hợp 64 bài báo từ năm 1987 đến tháng 3 năm 2007, cho thấy rằng ba khía cạnh chính: sự tin tưởng, sự hài lòng và cam kết, đã được thống nhất và xác nhận trong nhiều nghiên cứu khác nhau.
Sự tin cậy thương hiệu là yếu tố then chốt cho thành công của tiếp thị mối quan hệ, vì nó tạo ra nền tảng vững chắc cho mối quan hệ lâu dài giữa người tiêu dùng và công ty (Berry và Parasuraman, 1991) Khi sự tin tưởng được duy trì, người mua sẽ tiếp tục gắn bó với mối quan hệ này Lòng tin được định nghĩa là kỳ vọng rằng tổ chức có khả năng thực hiện những gì đã hứa (Hennig-Thurau và Klee, 1997; Jonsson và Zineldin, 2003; Morgan và Hunt, 1994) Trong một mối quan hệ tổ chức, sự tin cậy thể hiện qua việc người bán không hành động theo cách mà người mua coi là rủi ro (Koeszegi, 2004; Kim, Lee và Hwang, 2020).
Sự hài lòng trong mối quan hệ được hiểu là đánh giá nhận thức và tình cảm của khách hàng dựa trên kinh nghiệm cá nhân trong tất cả các giai đoạn dịch vụ (Woo và Ennew, 2004; Palmatier và cộng sự, 2009; Kim, Lee và Hwang, 2020) Nó tích lũy qua các tương tác trong suốt quá trình diễn ra mối quan hệ và phản ánh sức mạnh tổng thể của mối quan hệ (Shankar và cộng sự, 2003) Theo Lai và cộng sự (2013), có hai loại hài lòng: hài lòng trong giao dịch và hài lòng trong mối quan hệ, trong đó hài lòng trong giao dịch liên quan đến một giao dịch đơn lẻ, còn hài lòng trong mối quan hệ phụ thuộc vào trải nghiệm giao dịch trước đó.
Khách hàng có xu hướng hài lòng hơn với nhà cung cấp khi họ cảm thấy được xem xét và lắng nghe Một khách hàng hài lòng mang lại giá trị lớn cho tổ chức dịch vụ so với những khách hàng không hài lòng (Jonsson và Zineldin, 2003; Lai và cộng sự, 2013) Do đó, mục tiêu hàng đầu của tổ chức là làm hài lòng khách hàng Khi khách hàng hài lòng, họ có khả năng thể hiện hành vi tích cực đối với nhà cung cấp dịch vụ, như quảng cáo tích cực qua truyền miệng, sẵn sàng giới thiệu và có ý định mua lại (Crosby và cộng sự, 1990; Blodgett, Granbois và Walters).
Nghiên cứu năm 1993 chỉ ra rằng một khách hàng không hài lòng sẽ chia sẻ trải nghiệm tiêu cực của họ với trung bình 9 người khác Thêm vào đó, các tổ chức dịch vụ thường mất khoảng 12% khách hàng hàng năm do chất lượng dịch vụ không đạt yêu cầu.
Cam kết trong các mối quan hệ với khách hàng là một yếu tố quan trọng trong lý thuyết tiếp thị mối quan hệ, theo Morgan và Hunt (1994), cam kết bao hàm nghĩa vụ làm cho mối quan hệ đôi bên cùng thỏa mãn và có lợi Nó phản ánh sự sẵn lòng của người tiêu dùng để duy trì mối quan hệ, như được chỉ ra bởi Anderson và Weitz (1992) cùng với Lai và cộng sự (2013) và Kim, Lee và Hwang (2020) Cam kết khuyến khích các bên trao đổi lợi ích ngắn hạn để đạt được lợi ích dài hạn khi duy trì mối quan hệ Theo Ou và cộng sự (2011), cam kết có thể đến từ gắn bó tình cảm hoặc tính toán nhận thức, trong đó cam kết tình cảm dựa trên cảm xúc thân thuộc, còn cam kết tính toán dựa trên phân tích chi phí và lợi ích Nghiên cứu cho thấy cam kết mối quan hệ là cốt lõi của các mối quan hệ làm việc thành công và đóng vai trò quan trọng trong các mối quan hệ lâu dài giữa nhà cung cấp và người mua (Anderson và Narus, 1990; Lai và cộng sự, 2013).
Nghiên cứu này thực hiện phân tích thực nghiệm về cam kết, sự tin tưởng và sự hài lòng trong mối quan hệ B2B, đồng thời xem xét tác động của chúng đến tích hợp hậu cần và hiệu suất chuỗi cung ứng Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các công ty nhận diện lợi ích từ việc tạo ra và cung cấp giá trị trong mối quan hệ với các nhà cung cấp chính.
Các khái niệm
Sự cạnh tranh gia tăng đã buộc các công ty cải thiện hoạt động nội bộ và tích hợp các nhà cung cấp, khách hàng vào chuỗi giá trị Trong lĩnh vực logistics, tích hợp hậu cần được hiểu là sự hợp tác chiến lược giữa công ty và nhà cung cấp dịch vụ để quản lý các quy trình nội bộ và liên tổ chức (Flynn, Huo và Zhao, 2010) Theo Chang và Ku (2009), tích hợp hậu cần hiện bao gồm các hoạt động liên chức năng giữa logistics và các bộ phận khác như tiếp thị và công nghệ thông tin Các quy trình logistics tích hợp hiệu quả liên quan đến việc phối hợp linh hoạt cả bên trong và bên ngoài tổ chức (Prajogo và Olhager, 2012) Vai trò của logistics trong doanh nghiệp đã thay đổi đáng kể, từ một khái niệm mơ hồ và được coi là trung tâm chi phí vào những năm 1970 đến một phần quan trọng trong chiến lược kinh doanh hiện đại.
Vào những năm 1980, các công ty bắt đầu thuê ngoài hoạt động hậu cần, với các nhà cung cấp dịch vụ hậu cần đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chuỗi cung ứng của khách hàng thông qua các hoạt động như thu mua, kiểm soát hàng tồn kho, kho bãi và vận chuyển Sự chuyển biến này chủ yếu xuất phát từ việc xem nhà cung cấp dịch vụ hậu cần là đối tác chiến lược trong việc nâng cao hiệu suất chuỗi cung ứng Quan điểm này nhấn mạnh rằng tích hợp hậu cần không chỉ đơn thuần là chia sẻ thông tin giữa các bên liên quan, mà còn là một quá trình chiến lược hơn Ngày nay, thuê ngoài hậu cần đã trở nên phổ biến, khi nhiều công ty nhận thấy những lợi ích mà nhà cung cấp dịch vụ hậu cần mang lại, giúp họ chuyển mình từ việc chỉ giảm chi phí sang việc tạo ra giá trị và áp dụng các chiến lược hiệu quả hơn trong chuỗi cung ứng.
Dịch vụ hậu cần mang lại lợi ích về thời gian và không gian cho doanh nghiệp bằng cách cung cấp hàng hóa đúng lúc và đúng địa điểm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chất lượng, giao hàng, tính linh hoạt và chi phí Việc tích hợp các hoạt động hậu cần giúp giảm thiểu sự không chắc chắn trong chuỗi cung ứng do thiếu thông tin và kiến thức.
Tích hợp hậu cần là quá trình điều phối dòng nguyên vật liệu từ nhà cung cấp đến khách hàng, giúp các công ty duy trì quy trình sản xuất hiệu quả và linh hoạt Việc áp dụng tích hợp hậu cần cho phép doanh nghiệp thực hiện hệ thống sản xuất tinh gọn, giảm hàng tồn kho và đảm bảo chu kỳ đặt hàng đáng tin cậy Nghiên cứu cho thấy rằng tích hợp hậu cần vững chắc giúp cải thiện hiệu suất toàn chuỗi cung ứng bằng cách cho phép các công ty hoạt động như một thực thể thống nhất, mang lại lợi ích về chất lượng, độ tin cậy, chi phí thấp hơn, thời gian thực hiện đơn hàng nhanh hơn và cải thiện dịch vụ khách hàng.
Hiệu suất là kết quả của các hoạt động và chiến lược trong tổ chức (Wheelen và cộng sự, 2017), và việc đo lường hiệu suất chính xác là cần thiết để phát triển kế hoạch và đánh giá thành công Chen và Paulraj (2004) nhấn mạnh rằng hiệu quả tài chính là thước đo chính của hiệu suất chuỗi cung ứng, tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông Mặc dù khái niệm hiệu quả tài chính đã được công nhận là lý thuyết chủ yếu về hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng (Boyer, 1999), nhưng một số nhà nghiên cứu chỉ ra rằng việc chỉ dựa vào hiệu suất tài chính có những hạn chế Beamon (1999) cho rằng hiệu suất số có thể không phản ánh đầy đủ hiệu suất của hệ thống và có thể gây khó khăn cho các đánh giá định tính.
Nghiên cứu của Huo (2012) đã xác định ba loại khái niệm hiệu suất lớn, bao gồm hiệu suất hướng đến khách hàng, hiệu suất hướng đến nhà cung cấp và hiệu suất tài chính Trong đó, hiệu suất hướng đến khách hàng được định nghĩa là khả năng của nhà sản xuất trong việc phục vụ khách hàng, thể hiện qua các yếu tố như chất lượng, tính linh hoạt và phân phối.
Hiệu suất hương đến nhà cung cấp là nhận thức của nhà sản xuất về khả năng phục vụ của nhà cung cấp chính, bao gồm các yếu tố như chất lượng, tính linh hoạt và giao hàng Huo (2012) định nghĩa hiệu suất tài chính là đánh giá lợi nhuận và sự tăng trưởng thị trường của công ty.
Theo Huo (2012), hiệu suất hương đến khách hàng và nhà cung cấp tập trung vào hoạt động của công ty, trong khi hiệu suất tài chính phản ánh hiệu suất tổng thể Cụ thể, hiệu suất hướng đến nhà cung cấp liên quan đến mối liên kết với nhà cung cấp và quy trình tạo ra, còn hiệu suất hướng đến khách hàng liên quan đến mối liên kết với khách hàng và quy trình sản xuất, giao hàng Hiệu suất tài chính kết nối công ty với các đối tác chuỗi cung ứng bên ngoài và các chức năng nội bộ Phân loại ba khía cạnh này phù hợp với bản chất của hiệu suất chuỗi cung ứng từ nhà cung cấp đến khách hàng, bao gồm các quy trình từ nguồn đến thực hiện và giao hàng.
Nghiên cứu này nhằm khám phá nhận thức của khách hàng về các nhà sản xuất trong hệ thống logistics của công ty SPC, với mục tiêu nâng cao hiệu suất chuỗi cung ứng giữa công ty và các nhà sản xuất tại Tp.HCM Tác giả sẽ tiến hành đánh giá hiệu suất liên quan đến nhà cung cấp dựa trên mô hình của Huo (2012).
2.2.3 Khái niệm chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là một mạng lưới chuỗi giá trị, bao gồm các thực thể chức năng riêng lẻ, có nhiệm vụ cung cấp nguồn lực và thông tin nhằm đạt được mục tiêu quản lý hiệu quả các nhà cung cấp và dòng chảy của các bộ phận.
Chuỗi cung ứng được định nghĩa bởi Simchi-Levi và cộng sự (2008) là tập hợp các phương pháp nhằm tích hợp hiệu quả các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho hàng và cửa hàng Mục tiêu của chuỗi cung ứng là sản xuất và phân phối hàng hóa với số lượng phù hợp, đến đúng địa điểm và vào đúng thời điểm, từ đó giảm thiểu chi phí toàn hệ thống trong khi vẫn đáp ứng yêu cầu về mức độ dịch vụ.
Theo Vickery và cộng sự (2003), chuỗi cung ứng bao gồm việc tích hợp các quy trình từ cung ứng, sản xuất, phân phối đến dịch vụ vận tải, nhằm phân phối hàng hóa và nguyên vật liệu đến tay người tiêu dùng Quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến sự hợp tác giữa các đối tác như nhà cung cấp, bên trung gian và khách hàng (Lenny-Koh và cộng sự, 2007; Gimenez và cộng sự, 2012), nhằm quản lý hiệu quả nhu cầu và cung cầu Với sự phát triển của công nghệ thông tin và chiến lược vận tải, quản trị chuỗi cung ứng đã trở thành một chiến lược cạnh tranh quan trọng, giúp tổ chức cải thiện dịch vụ, tăng tính linh hoạt và giảm chi phí trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu khốc liệt (Chen và cộng sự, 2012; Rahman và cộng sự, 2011).
Các nghiên cứu liên quan trươc
2.3.1 Nghiên cứu của Kim, Lee va Hwang (2020)
Nghiên cứu của Kim, Lee và Hwang (2020) áp dụng lý thuyết phụ thuộc nguồn lực để phân tích ảnh hưởng của niềm tin, sự hài lòng và cam kết đến quyết định tích hợp hậu cần của các công ty Dữ liệu được thu thập từ 250 nhà sản xuất Hàn Quốc cho thấy rằng niềm tin và sự hài lòng có tác động tích cực đến sự tích hợp hậu cần giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra rằng xây dựng mối quan hệ chiến lược trong dịch vụ hậu cần có thể cải thiện hiệu suất hoạt động kinh doanh và chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất.
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu của Kim, Lee & Hwang (2020)
2.3.2 Nghiên cứu của Lai va cộng sự (2013)
Nghiên cứu của Lai và cộng sự (2013) dựa trên lý thuyết phụ thuộc nguồn lực cho thấy rằng tích hợp hậu cần và mối quan hệ giữa các tổ chức là hai phương pháp hiệu quả giúp khách hàng sử dụng dịch vụ 3PL giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhà cung cấp và đạt hiệu quả tài chính tốt hơn Mô hình đã được kiểm nghiệm với dữ liệu từ 134 nhà sản xuất tại Trung Quốc, cho thấy sự phụ thuộc tích cực ảnh hưởng đến tích hợp hậu cần và chất lượng mối quan hệ Chất lượng mối quan hệ và tích hợp hậu cần có tác động tích cực lẫn nhau, đồng thời cả hai yếu tố này đều ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động.
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu của Lai va cộng sự (2013)
2.3.3 Nghiên cứu của Prajogo va Olhager (2012)
Nghiên cứu của Prajogo và Olhager (2012) chỉ ra rằng chất lượng mối quan hệ và sự tích hợp thông tin, hậu cần giữa nhà cung cấp dịch vụ và nhà sản xuất có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng Dữ liệu từ 232 công ty sản xuất tại Úc cho thấy tích hợp hậu cần tác động đáng kể đến hiệu suất Bên cạnh đó, khả năng công nghệ thông tin và chia sẻ thông tin cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tích hợp hậu cần Hơn nữa, mối quan hệ lâu dài với nhà cung cấp có tác động trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả hoạt động thông qua tích hợp thông tin và tích hợp hậu cần.
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu của Prajogo va Olhager (2012)
Nghiên cứu của Huo (2012) phân tích tác động của ba loại tích hợp chuỗi cung ứng (SCI) đến hiệu suất tổ chức, dựa trên dữ liệu từ 617 công ty tại Trung Quốc và áp dụng mô hình hóa phương trình cấu trúc SEM Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa tích hợp nội bộ, tích hợp khách hàng, tích hợp nhà cung cấp, cùng với hiệu quả hoạt động theo định hướng nhà cung cấp, định hướng khách hàng và hiệu quả tài chính từ góc độ năng lực tổ chức Kết quả cho thấy tích hợp nội bộ không chỉ cải thiện tích hợp bên ngoài mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty, cả trực tiếp lẫn gián tiếp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tác động giữa SCI và hiệu quả hoạt động có thể toàn bộ hoặc một phần, giải thích những bất nhất trong các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ này.
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Huo (2012)
Thảo luận vấn đề đang nghiên cứu
Nhiều công ty cung cấp dịch vụ và bán hàng đang nỗ lực đáp ứng nhu cầu của khách hàng doanh nghiệp, nhận thấy tầm quan trọng của việc quản lý chất lượng mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng Việc tham gia vào các mối quan hệ này là cần thiết để cải thiện sự hài lòng và tăng cường hiệu quả kinh doanh (Lai và cộng sự, 2013; Prajogo và Olhager).
Chất lượng mối quan hệ giữa các doanh nghiệp là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng thành công trên thị trường Việc giữ chân khách hàng lâu dài không chỉ giúp tăng cường sự trung thành mà còn mang lại lợi nhuận lớn hơn cho doanh nghiệp Tuy nhiên, sự phát triển của chất lượng mối quan hệ giữa các cơ sở kinh doanh vẫn chưa được nghiên cứu một cách sâu rộng, đặc biệt trong lĩnh vực hậu cần.
Đại dịch COVID-19 đã gây ra sự gián đoạn nghiêm trọng cho chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến nhiều công ty phải đối mặt với tác động tiêu cực Nhiều hoạt động sản xuất bị giảm thiểu hoặc ngừng hoàn toàn, đặc biệt là những nhà sản xuất chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng toàn cầu hóa (Jacobides và Reeves, 2020) Các hoạt động quan trọng cũng không tránh khỏi sự gián đoạn này.
Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết
2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất va các giả thuyết
2.5.1.1 Sự tin tưởng tác động tích cực đến tích hợp hậu cần giữa các công ty khách hang va nha cung cấp dịch vụ hậu cần SPC.
Nghiên cứu này dựa trên lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (RDT) để xác định ba yếu tố chính của tích hợp hậu cần: sự tin tưởng, cam kết và sự hài lòng RDT đã được áp dụng để giải thích xu hướng ngày càng tăng của các công ty tham gia vào các thỏa thuận liên tổ chức, vì trong môi trường kinh doanh hiện đại, không một công ty nào có thể sở hữu toàn bộ nguồn lực cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững Thông qua việc thiết lập các liên minh và liên doanh, các công ty có thể tiếp cận kiến thức và nguồn lực của đối tác, từ đó bù đắp cho những thiếu hụt nguồn lực cụ thể của mình RDT chỉ ra rằng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các công ty là cần thiết để tạo ra các tài sản bổ sung.
Nghiên cứu chỉ ra rằng ba yếu tố mối quan hệ quan trọng, bao gồm sự tin cậy, sự hài lòng và cam kết, có ảnh hưởng tích cực đến tích hợp hậu cần Sự tin cậy thương mại là khả năng phụ thuộc vào một bên khi bên đó có niềm tin vào hành động của bên còn lại, tạo ra một môi trường hỗ trợ và giảm thiểu sự không chắc chắn Niềm tin này không chỉ mang lại cảm giác an toàn mà còn giúp các công ty tin tưởng rằng đối tác của họ sẽ thực hiện những hành động mang lại kết quả tích cực.
Niềm tin đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa các tổ chức, đặc biệt trong bối cảnh tích hợp hậu cần Sự tin tưởng này thể hiện sự sẵn sàng của công ty khách hàng trong việc phụ thuộc vào hệ thống chuỗi cung ứng mà họ tin tưởng về khả năng tín nhiệm, năng lực và lòng nhân từ Nghiên cứu cho thấy, công ty khách hàng có mức độ tin cậy cao trong mối quan hệ chuỗi cung ứng sẽ tích hợp các dịch vụ của chuỗi cung ứng vào quy trình hậu cần một cách hiệu quả hơn Từ đó, tác giả đề xuất giả thuyết rằng niềm tin là yếu tố then chốt trong sự thành công của việc tích hợp dịch vụ chuỗi cung ứng.
Giả thuyết H1(+): Sự tin tưởng tác động đồng biến với tích hợp hậu cần giữa các công ty khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ hậu cần SPC.
2.5.1.2 Sự cam kết tác động tích cực đến tích hợp hậu cần giữa các công ty khách hang va nha cung cấp dịch vụ hậu cần SPC.
Cam kết là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ làm việc lâu dài và có ảnh hưởng tích cực đến thái độ của các đối tác trong chuỗi cung ứng bền vững Trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ hậu cần, cam kết giúp xác định hiệu quả của các mối quan hệ chuỗi cung ứng Khi một công ty cung cấp dịch vụ hậu cần thể hiện cam kết cao, khách hàng có khả năng tiếp tục hợp tác lâu dài hơn Công ty dịch vụ nào hiểu rõ nhu cầu của khách hàng sẽ dễ dàng đạt được sự tích hợp bền vững giữa các đối tác trong chuỗi cung ứng Nghiên cứu cho thấy rằng sự cam kết mạnh mẽ từ công ty dịch vụ hậu cần có thể thúc đẩy khách hàng tích hợp các dịch vụ vào quy trình hậu cần của họ.
Giả thuyết H2(+): Sự cam kết tác động đồng biến với tích hợp hậu cần giữa các công ty khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ hậu cần SPC.
2.5.1.3 Sự hai lòng tác động tích cực đến tích hợp hậu cần giữa các công ty khách hang va nha cung cấp dịch vụ hậu cần SPC.
Sự hài lòng là yếu tố quan trọng trong các tổ chức, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa người mua và nhà cung cấp (Ritter & Walter, 2003) Thái độ của người mua hình thành từ kinh nghiệm với nhà cung cấp (Barry, Dion & Johnson, 2008), và sự hài lòng cao hơn có thể tạo ra cảm giác an toàn và tự tin cho khách hàng (Rahimi & Kozak, 2017) Trong bối cảnh tích hợp hậu cần, mức độ hài lòng của khách hàng với chuỗi cung ứng là rất quan trọng (Chu & Wang, 2012), vì sự hài lòng cao giúp tăng cường sự hợp tác giữa các công ty Ritter & Walter (2003) khẳng định rằng sự hài lòng là yếu tố then chốt trong việc xây dựng mối quan hệ doanh nghiệp hiệu quả.
Nghiên cứu năm 1994 chỉ ra rằng sự hài lòng và giao tiếp là những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ chất lượng cao Nó cho thấy rằng các công ty có mức độ hài lòng cao từ khách hàng về dịch vụ hậu cần sẽ có khả năng tích hợp các dịch vụ doanh nghiệp hiệu quả hơn Tác giả đã đưa ra giả thuyết này để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hài lòng trong mối quan hệ khách hàng.
Giả thuyết H3(+): Sự hài lòng tác động đồng biến với tích hợp hậu cần giữa các công ty khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ hậu cần SPC.
Tích hợp hậu cần tác động tích cực đến hiệu suất chuỗi cung ứng giữa các công ty khách hang va nha cung cấp dịch vụ hậu cần SPC.
Một công ty khách hàng có thể nâng cao khả năng xử lý thông tin bằng cách tận dụng dữ liệu từ chuỗi cung ứng thông qua việc hợp tác với nhà cung cấp dịch vụ hậu cần (Sodero, Jin và Barratt, 2019) Tích hợp hoạt động hậu cần giữa các tổ chức giúp giảm thiểu sự kém hiệu quả trong lập kế hoạch, sản xuất và phân phối (Kim, Lee và Hwang, 2020) Hơn nữa, tích hợp hậu cần hiệu quả có thể khắc phục các rủi ro trong chuỗi cung ứng như hàng tồn kho dư thừa và thời gian giao hàng kéo dài (Danese và Bortolotti, 2014) Điều này dẫn đến một chuỗi cung ứng được điều phối tốt, mang lại lợi ích cho các bên liên quan như thị phần lớn và lợi nhuận thỏa đáng (Ataseven và Nair, 2017) Do đó, tích hợp hậu cần là yếu tố then chốt để cải thiện hiệu suất chuỗi cung ứng Nghiên cứu của Sheu và cộng sự (2006) cho thấy mức độ hợp tác cao thúc đẩy hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng, trong khi Li và cộng sự (2009) nhấn mạnh mối liên hệ đáng kể giữa tích hợp hậu cần và hiệu suất chuỗi cung ứng.
Giả thuyết H4(+) cho rằng việc tích hợp hậu cần có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất chuỗi cung ứng, đặc biệt giữa các công ty khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ hậu cần SPC Sự kết hợp này không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn cải thiện mối quan hệ giữa các bên liên quan trong chuỗi cung ứng.
Dựa trên các nghiên cứu trước đây được tổng hợp trong chương 2, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của chất lượng mối quan hệ đến tích hợp hậu cần và hiệu suất chuỗi cung ứng, cụ thể là trường hợp của công ty CP bảo vệ thực vật Sài Gòn, TP.HCM Các thang đo được điều chỉnh theo nghiên cứu của Kim, Lee và Hwang (2020) để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, trong khi thang đo hiệu suất chuỗi cung ứng được kế thừa từ nghiên cứu của Huo (2012).
Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm ba biến độc lập là sự tin tưởng, sự hài lòng và sự cam kết, tác động đến tích hợp hậu cần và hiệu suất chuỗi cung ứng.
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Chương này làm rõ các yếu tố chất lượng mối quan hệ như sự tin tưởng, sự hài lòng và sự cam kết, ảnh hưởng đến tích hợp hậu cần và hiệu suất chuỗi cung ứng tại công ty SPC Tp.HCM Dựa trên các nghiên cứu trước đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết để đo lường mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu cùng với quy trình thu thập và xử lý dữ liệu.