1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp đồng tín dụng qua thực tiễn tại thành phố hồ chí minh

106 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về hợp đồng tín dụng qua thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Lữ Đăng Tuyết
Người hướng dẫn TS. Vũ Thế Hoài
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG (18)
    • 1.1. Một số vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng (18)
      • 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng (18)
      • 1.1.2. Phân loại hợp đồng tín dụng (22)
      • 1.1.3. Bản chất của hợp đồng tín dụng (27)
    • 1.2. Quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng (34)
      • 1.2.1. Hình thức và thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng (34)
      • 1.2.2. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng tín dụng (36)
      • 1.2.3. Nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng (39)
      • 1.2.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng tín dụng (44)
      • 1.2.5. Sử dụng hợp đồng tín dụng theo mẫu khi giao kết (48)
    • 1.3. Thực trạng quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng tại thành phố Hồ Chí Minh (52)
      • 1.3.1. Chủ thể của hợp đồng tín dụng (52)
      • 1.3.2. Đối tượng của hợp đồng tín dụng (56)
      • 1.3.3. Phạm vi áp dụng hợp đồng tín dụng (57)
      • 1.3.4. Sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng và các hậu quả pháp lý của sự vô hiệu (58)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG (62)
    • 2.1.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng tín dụng (62)
    • 2.1.2. Những bất cập trong việc áp dụng pháp luật về hợp đồng tín dụng (78)
    • 2.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tín dụng (85)
      • 2.2.1. Nhu cầu, định hướng và nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tín dụng (85)
      • 2.2.2. Xây dựng, tuân thủ quy định nội bộ về cho vay của tổ chức tín dụng (88)
      • 2.2.3. Bổ sung quy định nhằm bảo đảm quyền được giao kết, thực hiện hợp đồng của bên vay (91)
      • 2.2.4. Hoàn thiện quy định về áp dụng chế tài do vi phạm hợp đồng tín dụng 83 2.2.5. Kiến nghị bổ sung một số quy định để bảo vệ quyền lợi bên vay khi vay vốn nhằm mục đích tiêu dùng (94)
  • KẾT LUẬN (61)

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Một số vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng

1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng

Theo quy định pháp luật hiện hành, quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng (TCTD) và khách hàng được thiết lập và thực hiện thông qua hợp đồng tín dụng (HĐTD).

Theo Bộ luật Dân sự, hợp đồng vay tài sản là thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay, trong đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay Khi đến hạn, bên vay có trách nhiệm hoàn trả tài sản cùng loại, đúng số lượng và chất lượng Việc trả lãi chỉ thực hiện nếu có thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Theo Luật Các TCTD năm 2010, cho vay được định nghĩa là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay sẽ cung cấp cho khách hàng một khoản tiền nhất định để sử dụng cho mục đích đã được xác định, với thời gian và điều kiện hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận.

Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là thỏa thuận văn bản giữa tổ chức tín dụng (TCTD) và khách hàng, bao gồm tổ chức hoặc cá nhân Theo đó, TCTD cam kết ứng trước một khoản tiền cho bên vay trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện bên vay phải hoàn trả cả gốc và lãi dựa trên sự tín nhiệm giữa hai bên.

Với định nghĩa này, HĐTD bao gồm hai yếu tố:

Về phương diện hình thức: Sự thảo thuận giữa TCTD (bên cho vay) với khách hàng (bên đi vay) phải được thể hiện bằng văn bản

Bên cho vay đồng ý cho bên vay sử dụng một khoản tiền nhất định trong một khoảng thời gian cụ thể, với điều kiện phải hoàn trả và dựa trên sự tín nhiệm giữa hai bên.

1 Điều 463 BLDS năm 2015 và Điều 471 BLDS năm 2005

2 Khoản 16 Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010

Quan hệ tín dụng là mối quan hệ vay mượn vốn giữa các tổ chức tín dụng (TCTD) và tổ chức, cá nhân, được thể hiện qua hợp đồng tín dụng (HĐTD) Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã dẫn đến sự đa dạng hóa các hình thức tín dụng Đặc biệt, với sự xuất hiện của ngành nghề kinh doanh tiền tệ, tín dụng ngân hàng đã trở thành trụ cột chính trong hệ thống tín dụng, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa trên thị trường.

Quan hệ tín dụng là mối liên hệ giữa tổ chức tín dụng (TCTD) và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó TCTD đóng vai trò vừa là người cho vay vừa là người đi vay TCTD huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để tạo ra nguồn vốn tín dụng, kết hợp với vốn tự có để đáp ứng nhu cầu vốn của các đối tượng trong quan hệ tín dụng.

Các tổ chức tín dụng (TCTD) cấp vốn dựa trên niềm tin rằng khách hàng sẽ hoàn trả nợ vay Vì vậy, người cho vay yêu cầu người đi vay cam kết hoàn trả cả vốn lẫn lãi Cam kết này được thể hiện qua hợp đồng tín dụng (HĐTD), là cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm của hai bên trong quan hệ tín dụng.

Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là sự cam kết giữa người cho vay và người đi vay về việc trả nợ gốc và lãi, tuy nhiên, khái niệm này chưa phản ánh đầy đủ những phức tạp trong giao dịch Mỗi bên tham gia cần thận trọng và tỉ mỉ để đảm bảo hợp đồng tuân thủ đúng quy định pháp luật về nội dung và hình thức Sự gia tăng các tranh chấp liên quan đến HĐTD ngân hàng đang gây thiệt hại cho các bên liên quan Hiện tại, chưa có khái niệm pháp lý chính thức về HĐTD ngân hàng, mà chỉ liệt kê các nội dung chủ yếu như điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và các cam kết khác giữa các bên.

Khái niệm hợp đồng tín dụng (HĐTD) hiện nay chủ yếu chỉ được đề cập trong các giáo trình của các cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật Nhiều quan điểm khác nhau về HĐTD ngân hàng đã được đưa ra, trong đó HĐTD được định nghĩa là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (TCTD).

Hợp đồng tín dụng ngân hàng là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) và cá nhân hoặc tổ chức đủ điều kiện (bên vay) Theo đó, bên cho vay sẽ ứng trước một khoản tiền cho bên vay trong một thời gian nhất định, với điều kiện bên vay phải hoàn trả cả gốc và lãi khi hết hạn Sự tín nhiệm giữa hai bên là yếu tố quan trọng trong quá trình này.

Pháp luật thực định Việt Nam thống nhất định nghĩa hợp đồng tín dụng (HĐTD) nhằm đảm bảo giao dịch vay diễn ra hợp pháp Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, HĐTD cần được lập thành văn bản và phải bao gồm các nội dung cơ bản như số tiền cho vay, mục đích sử dụng vốn vay, đồng tiền cho vay và trả nợ, cũng như phương thức cho vay.

Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) và tổ chức hoặc cá nhân (bên vay) đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý Dựa trên sự tín nhiệm, bên cho vay sẽ cung cấp một khoản tiền nhất định cho bên vay trong một khoảng thời gian cụ thể Khi hết thời hạn, bên vay có trách nhiệm hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho bên cho vay.

3 Điều 51 Luật Các TCTD năm 1997

4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nhà xuất bản công an nhân dân,

5 Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa Luật (2005), Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội

6 Khoản 1 Điều 23 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016

1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng

So với các hợp đồng khác, HĐTD có một số đặc thù riêng được phân tích gắn với các yếu tố sau đây:

Trong hợp đồng tín dụng ngân hàng, một bên chủ thể bắt buộc phải là tổ chức tín dụng (TCTD) được thành lập và hoạt động hợp pháp, đóng vai trò bên cho vay, trong khi bên vay có thể là các tổ chức hoặc cá nhân đáp ứng đủ điều kiện vay vốn Ngoài ra, một số tổ chức khác có thể trở thành bên cho vay nếu được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép Việc quy định chặt chẽ về điều kiện chủ thể của hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo an toàn tài sản cho các bên tham gia và bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

Hợp đồng tín dụng (HĐTD) có đối tượng duy nhất là tiền, bao gồm tiền mặt hoặc bút tệ, điều này phân biệt HĐTD với các loại hợp đồng khác Trong khi các hợp đồng khác có thể liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ đa dạng, HĐTD chỉ tập trung vào việc chuyển giao một số tiền nhất định giữa các bên trong một khoảng thời gian cụ thể.

Quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng

1.2.1 Hình thức và thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng 1.2.1.1 Hình thức của hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng (HĐTD) cần được lập thành văn bản và bao gồm các nội dung quan trọng như điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và các cam kết khác giữa các bên Văn bản này không chỉ thể hiện giao dịch vay mà còn được pháp luật ngân hàng quy định rõ ràng, tạo cơ sở cho việc thực thi Ngoài ra, nếu tổ chức tín dụng (TCTD) không tuân thủ quy định, có thể bị phạt hành chính từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Các TCTD lớn có năng lực khác nhau tại các chi nhánh, trong đó hoạt động cấp tín dụng chủ yếu tập trung tại các chi nhánh và chỉ những khoản vay lớn mới được lãnh đạo hội sở phê duyệt Việc ban hành mẫu hợp đồng chung cho các đơn vị phụ thuộc của ngân hàng giúp đảm bảo an toàn và phù hợp với đặc thù của loại hợp đồng này Các yêu cầu về hình thức văn bản có ý nghĩa quan trọng, như hạn chế việc hợp đồng bị vô hiệu do vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền lợi của các bên khi giao kết, và tránh sai sót trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm TCTD có thể tập trung vào nghiệp vụ cho vay mà không phải tốn thời gian vào việc soạn thảo hợp đồng, đồng thời hợp đồng cũng là bằng chứng cho việc thực hiện và giải quyết tranh chấp Hơn nữa, việc công bố công khai mối quan hệ pháp lý giữa các bên lập ước giúp bên thứ ba có thông tin cần thiết để xử sự hợp lý Do đó, hình thức văn bản thỏa thuận chi tiết giữa các bên là cơ sở pháp lý duy nhất để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của họ được thực hiện đúng.

14 Điểm a Khoản 5 Điều 14 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP

15 Xem: Mẫu hợp đồng tín dụng của TCTD (Phụ lục 1)

Các bên có quyền tự do đàm phán và sửa đổi hợp đồng theo nhu cầu thực tiễn, nhưng mẫu hợp đồng mà ngân hàng cung cấp chỉ là bản thảo, không phải là hợp đồng mẫu theo quy định của Bộ luật Dân sự Thực tế, bên vay thường phải chấp nhận các điều khoản có lợi cho tổ chức tín dụng (TCTD), dẫn đến việc các tòa án thường đưa ra phán quyết có lợi cho TCTD mà không nhận ra những thỏa thuận này có thể trái pháp luật, gây thiệt hại cho bên vay Hiện nay, nếu TCTD không tuân thủ quy định về lập hợp đồng và thỏa thuận cấp tín dụng, có thể bị phạt hành chính từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng.

Việc giao kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản không chỉ giúp các cơ quan nhà nước quản lý tốt hơn các giao dịch tín dụng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thuế, kiểm tra và thanh tra tài chính Sự tồn tại của hợp đồng tín dụng bằng văn bản là yếu tố cần thiết để đảm bảo an toàn cho vay, yêu cầu hình thức pháp lý rõ ràng và thể hiện đầy đủ quyền lợi của các bên Thông tư số 39/2016/TT-NHNN tiếp tục kế thừa và phát huy những ưu điểm của các quy định trước đây, khẳng định rằng việc lập hợp đồng tín dụng bằng văn bản là phù hợp với đặc thù của quan hệ tín dụng.

1.2.1.2 Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng tín dụng

Hiện nay, có hai quan điểm khác nhau về thời điểm phát sinh hiệu lực của HĐTD, cụ thể như sau:

* Quan điểm thứ nhất: HĐTD là hợp đồng ưng thuận

Hợp đồng có hiệu lực khi các bên đã thống nhất các điều khoản và thực hiện việc ký tên, đóng dấu Điều này thể hiện sự tôn trọng quyền quyết định của các bên tham gia hợp đồng.

16 Điểm a Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP

Pháp luật cho phép tổ chức tín dụng và bên vay thỏa thuận về thời gian hiệu lực của hợp đồng Trách nhiệm pháp lý sẽ phát sinh khi các bên không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng đã ký.

* Quan điểm thứ hai: HĐTD là hợp đồng thực tế

Hợp đồng có hiệu lực khi các bên thực hiện việc chuyển giao đối tượng hợp đồng, và thời điểm hiệu lực phụ thuộc vào việc thực hiện nghĩa vụ giữa hai bên Điều này cho thấy rằng việc chuyển tiền từ TCTD sang người vay không phải là nghĩa vụ pháp lý mà TCTD bắt buộc phải thực hiện.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc quy định khác của pháp luật Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng được xác định theo ba cách: 1) Thời điểm do pháp luật quy định; 2) Thời điểm do các bên thỏa thuận; 3) Thời điểm giao kết hợp đồng Do đó, các bên tham gia hợp đồng cần lựa chọn loại hợp đồng phù hợp với mục đích của mình.

Tác giả ủng hộ quan điểm rằng, mặc dù hợp đồng tín dụng (HĐTD) là hợp đồng ưng thuận, nhưng thực tế nghĩa vụ giải ngân của tổ chức tín dụng (TCTD) luôn được thực hiện trước Thời điểm giải ngân không chỉ quan trọng trong việc xác định thời hạn vay mà còn là thời điểm bắt đầu tính lãi cho hợp đồng tín dụng Nếu TCTD không tiến hành giải ngân, họ sẽ không có quyền yêu cầu khách hàng thực hiện các nghĩa vụ của mình.

1.2.2 Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng tín dụng

Giao kết hợp đồng tín dụng (HĐTD) là một quá trình kỹ thuật và pháp lý mà tổ chức tín dụng (TCTD) và bên vay phải thực hiện theo trình tự quy định của pháp luật Quy trình này bắt đầu bằng việc bên vay gửi đề nghị giao kết hợp đồng.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, việc giao kết hợp đồng được định nghĩa là sự thể hiện rõ ràng ý định của bên đề nghị trong việc thiết lập hợp đồng và sự ràng buộc của bên này đối với bên đã được xác định hoặc công chúng.

Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng (HĐTD) là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn, và văn bản đề nghị chính là đơn xin vay kèm theo các tài liệu chứng minh tư cách chủ thể, khả năng tài chính và phương án sử dụng vốn vay Những tài liệu này được gửi đến tổ chức tín dụng (TCTD) để xem xét và thẩm định, đóng vai trò là bằng chứng cho việc đề nghị giao kết HĐTD Tuy nhiên, để nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng, các TCTD cũng chủ động đề xuất giao kết HĐTD với khách hàng tiềm năng, bao gồm các tổ chức và cá nhân có dự án kinh doanh khả thi, khả năng tài chính mạnh và uy tín.

Thẩm định hồ sơ tín dụng là quá trình nghiệp vụ - pháp lý do TCTD thực hiện để xác định khả năng đáp ứng các điều kiện vay vốn của bên vay TCTD dựa vào kết quả thẩm định để phân tích và điều tra tín dụng, từ đó quyết định có cho vay hay không Để đảm bảo tính khách quan trong thẩm định hồ sơ tín dụng và hoạt động cho vay, cần có quy định pháp luật rõ ràng giữa thẩm định và quyết định cho vay, được nêu trong Luật Các TCTD năm 2010: “TCTD phải tổ chức xét duyệt cấp tín dụng theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng.”

Trong quá trình giao kết hợp đồng tín dụng, việc thẩm định hồ sơ tín dụng có vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng Do đó, để nâng cao chất lượng tín dụng, việc cải thiện quy trình thẩm định hồ sơ tín dụng là điều cần thiết.

19 Khoản 2 Điều 49 Luật Các TCTD năm 2010 c Chấp nhận giao kết hợp đồng

Chấp nhận giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý quan trọng, thường do tổ chức tín dụng thực hiện qua văn bản chính thức gửi đến khách hàng, thể hiện sự đồng ý về hợp đồng tín dụng Việc giao kết hợp đồng tín dụng cần được thực hiện cẩn trọng và tính toán kỹ lưỡng, vì nó có ảnh hưởng dây chuyền đến hệ thống tín dụng và nền kinh tế quốc gia.

Thực trạng quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng tại thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, với hơn 2000 điểm giao dịch của các tổ chức tín dụng (TCTD) tính đến tháng 5 năm 2021 Mạng lưới TCTD tại đây được sắp xếp hợp lý, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường và chiếm 38% quy mô hoạt động ngành ngân hàng toàn quốc Các TCTD cũng chú trọng đến công tác quản lý rủi ro, sử dụng hệ thống cảnh báo sớm để phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề tín dụng, giúp giảm thiểu rủi ro Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD trên địa bàn chỉ chiếm 2,3% tổng nợ dư, cho thấy tình hình thanh toán của các tổ chức này đảm bảo.

Hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD) tại thành phố Hồ Chí Minh đang gặp phải một số vấn đề cần được thảo luận Bài viết này sẽ trình bày thực trạng quy định pháp luật liên quan đến TCTD qua thực tiễn tại địa phương.

1.3.1 Chủ thể của hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng (HĐTD) được ký kết giữa bên cho vay, thường là các tổ chức tín dụng (TCTD), và bên đi vay, bao gồm các tổ chức hoặc cá nhân đáp ứng các điều kiện luật định Để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của HĐTD, các bên tham gia cần thỏa mãn những yêu cầu cụ thể theo quy định pháp luật, từ đó nâng cao kỹ năng giao kết và củng cố kỷ luật hợp đồng trong các giao dịch tín dụng.

Các bên tham gia quan hệ HĐTD

33 Trang thông tin điện tử ngân hàng nhà nước Việt Nam, thống kê hệ thống các TCTD, https://www.sbv.gov.vn, truy cập ngày 15/8/2021

34 Anh Minh (2021), Cơ cấu tín dụng đang dịch chuyển, Báo điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/co- cau-tin-dung-dang-dich-chuyen-102291065.htm, truy cập ngày 15/8/2021

Các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đặc thù và phải tuân thủ các điều kiện kinh doanh được NHNN thẩm tra và chấp thuận trước khi thành lập Theo Luật Các TCTD năm 2010 và Nghị định 01/2021/NĐ-CP, các TCTD có hình thức sở hữu đa dạng và mục tiêu cho vay khác nhau, trong đó các ngân hàng thương mại nhà nước thường thực hiện tốt chức năng điều tiết vốn và chính sách cho vay Do đó, các hợp đồng tín dụng giữa các TCTD có những điều khoản khác biệt cơ bản.

Giao dịch cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD) thường được thực hiện thông qua các chi nhánh và phòng giao dịch, là những đơn vị phụ thuộc theo quy định tại khoản 1, Điều 84 Bộ luật Dân sự năm 2015, không phải là chủ thể của hợp đồng tín dụng Các đơn vị này thực hiện giao dịch theo ủy quyền của người đứng đầu pháp nhân trong phạm vi chức năng và quyền hạn đã được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Trong trường hợp có nhiều tổ chức tín dụng (TCTD) tham gia cho vay hợp vốn, quan hệ giữa các bên được thực hiện thông qua hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn Để đảm bảo nguyên tắc tự chủ giữa bên vay và bên cho vay, cũng như giữa các TCTD, pháp luật ngân hàng quy định hai hình thức giao kết hợp đồng: thứ nhất, hợp đồng hợp vốn giữa các TCTD, ký kết giữa các thành viên tham gia cấp tín dụng; thứ hai, hợp đồng tín dụng hợp vốn đối với khách hàng.

Theo Điều 11, 12 Thông tư số 42/2011/TT-NHNN, các thành viên tham gia ký kết có thể ủy quyền cho một thành viên đại diện cho bên cấp tín dụng hợp vốn ký với khách hàng, đồng thời cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD), bao gồm cả TCTD nước ngoài, tự chủ trong việc cấp tín dụng cho các dự án nước ngoài Pháp luật cũng cho phép các công ty tài chính thực hiện cho vay tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu vốn mua sắm hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, quy định này có thể gây hiểu nhầm rằng chỉ có các công ty tài chính mới được cho vay tiêu dùng, trong khi các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng có chức năng này Điều này dẫn đến việc các quy định về cho vay tiêu dùng bị giới hạn, không đảm bảo quyền lợi cho người vay Do đó, cần nghiên cứu và sửa đổi các quy định về chủ thể cho vay và phạm vi hoạt động cho vay tiêu dùng, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cả bên vay từ NHTM lẫn công ty tài chính.

- Đối với bên vay (tổ chức, cá nhân còn gọi là “khách hàng vay”):

Khách hàng là tổ chức có tư cách pháp nhân, bao gồm các loại hình như công ty trách nhiệm hữu hạn từ 02 đến 50 thành viên, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty hợp danh Hoạt động của các đơn vị này được thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền nhân danh đơn vị.

Quy định về thẩm quyền của các đơn vị phụ thuộc như chi nhánh và văn phòng đại diện hiện vẫn tuân theo pháp luật dân sự và doanh nghiệp Cụ thể, Điều 10 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định rõ về nội dung, phạm vi và các tài liệu liên quan như biên bản họp, quyết định bổ nhiệm người đứng đầu, cùng giấy tờ chứng thực cá nhân của người đứng đầu chi nhánh Những tài liệu này là minh chứng cho năng lực và thẩm quyền của người đứng đầu đơn vị phụ thuộc, đã được các cơ quan quản lý nhà nước thẩm tra và xác lập theo quy trình hợp pháp.

Khách hàng cá nhân là những người chưa thành niên trong độ tuổi từ 15 đến 18, không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự Khi thực hiện các giao dịch, họ cần tuân thủ những quy định pháp luật liên quan để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của hợp đồng.

35 Khoản 1 Điều 2 và Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN

Theo Điều 10 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN, khi thế chấp hoặc bảo lãnh tài sản bảo đảm là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký, giao dịch của cá nhân cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Đối với hộ gia đình và tổ chức không có tư cách pháp nhân, luật ngân hàng đã sửa đổi, không cho phép mở tài khoản đứng tên cá nhân cho tổ chức này Thông tư số 39/2016/TT-NHNN đã quy định rõ về trách nhiệm tài sản khi tham gia quan hệ hợp đồng tín dụng, giúp giải quyết vướng mắc trong việc cho vay hộ gia đình và tổ hợp tác Quy định mới này nhằm khắc phục tình trạng hợp đồng cho vay bị tuyên vô hiệu do thiếu đồng thuận giữa các thành viên, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của từng thành viên trong giao dịch.

Mặc dù các tổ chức không có tư cách pháp nhân theo pháp luật dân sự và kinh doanh, nhưng vẫn có khả năng tham gia vào quan hệ tín dụng và ký kết hợp đồng tín dụng Điều này xuất phát từ tính đồng bộ của pháp luật và nhu cầu mở rộng hoạt động kinh tế Người đứng đầu các tổ chức này có quyền ký kết hợp đồng tín dụng và sẽ chịu trách nhiệm liên quan.

Nghiên cứu của Phan Huy Hồng và Nguyễn Thanh Tú (2017) tập trung vào tư cách tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác và các tổ chức không có tư cách pháp nhân theo Bộ luật dân sự năm 2015 Bài viết được đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý, số 06, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến các chủ thể này trong bối cảnh pháp luật hiện hành.

(109), tr 4-5 nhiệm pháp lý (bên cạnh các quyền năng) tương tự như các chủ thể hợp đồng dân sự, kinh tế khác

1.3.2 Đối tượng của hợp đồng tín dụng

Vốn tiền tệ bao gồm tiền mặt (tiền Việt Nam và ngoại tệ) và bút tệ (số dư tài khoản hoặc ghi sổ), là công cụ thanh toán quan trọng trong nền kinh tế, liên quan đến nhiều chủ thể xã hội Hợp đồng tín dụng (HĐTD) khác với hợp đồng thương mại, khi đối tượng của HĐTD không phải là hàng hóa mà là các dịch vụ tài chính Do đó, quy định pháp luật cần phải phù hợp với đặc điểm của quan hệ này, như việc áp dụng chế tài phạt trong thương mại khác với việc tính lãi trên nợ gốc trong ngân hàng khi bên vay chuyển nợ quá hạn.

Đối tượng của hợp đồng tín dụng luôn là một số tiền vay xác định, được ghi rõ trong hợp đồng Bên vay chỉ chịu trách nhiệm về số tiền đã nhận, bất kể sự biến động giá trị của khoản vay tại thời điểm hoàn trả Khi sử dụng tiền vay, người vay phải tuân thủ mục đích đã được bên cho vay chấp thuận Đối với khoản vay tiêu dùng dạng thấu chi, do giá trị nhỏ, bên vay có thể sử dụng tiền vào bất kỳ mục đích nào trong hạn mức tín dụng cho phép, không bị ràng buộc bởi yêu cầu sử dụng vốn đúng mục đích.

39 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Luật Ngân hàng, Nxb Hồng Đức, Tp Hồ Chí Minh, tr 209

40 Khoản 2 Điều 292 Luật Thương mại năm 2005

41 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 158

Vấn đề pháp lý được đặt ra là, tiền vay sau khi được chuyển giao (còn gọi là

THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày đăng: 04/10/2023, 00:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Anh Minh (2021), Cơ cấu tín dụng đang dịch chuyển, Báo điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/co-cau-tin-dung-dang-dich-chuyen-102291065.htm,truy cập ngày 15/8/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu tín dụng đang dịch chuyển
Tác giả: Anh Minh
Nhà XB: Báo điện tử Chính phủ
Năm: 2021
16. Bản án số 258/2020/DS-ST ngày 08/5/2020 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, https://congbobanan.toaan.gov.vn, truy cập ngày 25/8/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 258/2020/DS-ST
Năm: 2020
17. Bản án số 127/2020/DS-ST ngày 04/6/2020 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, https://congbobanan.toaan.gov.vn, truy cập ngày 25/8/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 127/2020/DS-ST
Năm: 2020
18. Bản án số 633/2018/DS-PT ngày 28/6/2018 về việc Tranh chấp quyền sử dụng tài sản; Tiền thuê nhà và hợp đồng tín dụng, https://congbobanan.toaan.gov.vn, truy cập ngày 25/8/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 633/2018/DS-PT
Năm: 2018
19. Bản án số 147/2021/DS-ST ngày 01/02/2021 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng, https://congbobanan.toaan.gov.vn, truy cập ngày 25/8/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 147/2021/DS-ST ngày 01/02/2021 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Năm: 2021
20. Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa Luật (2005), Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa Luật
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
21. Đào Thị Thùy Linh (2022), Một số vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mẫu, https://luatminhkhue.vn/mot-so-van-de-phap-li-lien-quan-den-hop-dong-mau.aspx, truy cập ngày 24/01/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mẫu
Tác giả: Đào Thị Thùy Linh
Năm: 2022
22. Joel Bessis (2015), Risk Management in Banking, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk Management in Banking
Tác giả: Joel Bessis
Nhà XB: Nxb. Lao động xã hội
Năm: 2015
23. Lê Văn Tề (2007), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb. Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Tác giả: Lê Văn Tề
Nhà XB: Nxb. Thống Kê
Năm: 2007
24. Lò Thùy Linh (2010), Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập
Tác giả: Lò Thùy Linh
Năm: 2010
25. Lương Khải Ân (2019), Pháp luật Việt Nam về hợp đồng cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, Luận án tiến sĩ luật học, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về hợp đồng cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng
Tác giả: Lương Khải Ân
Năm: 2019
26. Phan Huy Hồng, Nguyễn Thanh Tú (2017), Tư cách tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân theo Bộ luật dân sự năm 2015, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 06 (109) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư cách tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân theo Bộ luật dân sự năm 2015
Tác giả: Phan Huy Hồng, Nguyễn Thanh Tú
Năm: 2017
27. Phùng Thế Đông (2019), Rào cản nào trong tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính, https://tapchitaichinh.vn/ngan-hang/rao-can-nao-trong-tiep-can-von-tin-dung-cua-doanh-nghiep-nho-va-vua-o-viet-nam-304876.html, truy cập ngày 20/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rào cản nào trong tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Tác giả: Phùng Thế Đông
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2019
28. Tổng cục Thống kê (2021), Thông báo cáo chí tình hình lao động, việc làm quý I/2021, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2021/04/thong-bao-cao-chi-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-i-2021/, truy cập ngày 01/9/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo cáo chí tình hình lao động, việc làm quý I/2021
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Năm: 2021
29. Trần Đức Sơn (2002), Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về pháp luật hợp đồng
Tác giả: Trần Đức Sơn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
30. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2014
31. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Luật Ngân hàng, Nxb. Hồng Đức, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Ngân hàng
Tác giả: Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2015
1. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 của Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Khác
2. Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Khác
3. Luật Các tổ chức tín dụng số 07/1997/QH10 ngày 12/12/1997 của Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm