Chính vì vậy, việc nghiên cứu về những quy định pháp luật của Việt Nam về quản trị trường ĐHTT là cần thiết, để thấy được những điểm thay đổi trong sự quản lý của Nhà nước đối với hệ thố
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- ∞0∞ -
ĐÀO THÙY DƯƠNG
QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- ∞0∞ -
ĐÀO THÙY DƯƠNG
QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số chuyên ngành: 8 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Giảng viên hướng dẫn: TS DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 3Tôi tên là: ĐÀO THÙY DƯƠNG
Ngày sinh: 08/06/1984 Nơi sinh: Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành: Luật kinh tế Mã học viên: 1983801072036
Tôi đồng ý cung cấp toàn văn thông tin luận văn tốt nghiệp hợp lệ về bản quyền cho
Thư viện trường đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh Thư viện trường đại học Mở
Thành phố Hồ Chí Minh sẽ kết nối toàn văn thông tin luận văn tốt nghiệp vào hệ thống
thông tin khoa học của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Quản trị trường Đại học tư thục theo pháp luật Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022
Đào Thùy Dương
Trang 6LỜI CÁM ƠN
Luận văn “Quản trị trường Đại học tư thục theo pháp luật Việt Nam” hoàn thành với sự giúp đỡ, hỗ trợ, hướng dẫn tận tình của các thầy/cô tại Trường Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh, đặc biệt là của Thầy hướng dẫn khoa học
Tác giả trân trọng cảm ơn Quý Thầy/Cô đã truyền đạt kiến thức, hướng dẫn về cách tiếp cận đề tài hết sức khoa học, chỉ dẫn, dành thời gian trao đổi định hướng cho tác giả thực hiện các phương pháp nghiên cứu để hoàn thành Luận văn
Do điều kiện khách quan và chủ quan, luận văn sẽ có một số thiếu sót, tác giả rất mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp quý báu để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng của luận văn
Trang 7TÓM TẮT
Giáo dục đại học là một hoạt động rất lớn và có ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước Với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghệ thông tin ngày càng phát triển thì sự đa dạng, hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục đại học ngày càng được quan tâm sâu sắc và đặt ra yêu cầu bức thiết trong
sự đa dạng đối với cơ sở giáo dục đại học Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của trường ĐHTT
Sự đổi mới về cơ chế quản lý cũng như áp lực cạnh tranh của trường ĐHTT dẫn đến những yêu cầu bức thiết trong sự ổn định và hiệu quả của cơ cấu tổ chức, của hệ thống quản trị tại trường ĐHTT Điều chỉnh nội dung này, một trong những văn kiện quan trọng nhất đó chính là sự ra đời của Luật Giáo dục đại học đã được Quốc Hội thông qua ngày 18/06/2012 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013 Tuy nhiên, trải qua nhiều năm áp dụng, những vấn đề quản trị trường ĐHTT đã bộc lộ nhiều điểm chưa hiệu quả, hạn chế và bất cập dẫn đến nhiều trường ĐHTT có dấu hiệu sai phạm, bị cấm tuyển sinh trong nhiều năm, ảnh hưởng đến người học Quốc Hội vào ngày 19/11/2018, tại kỳ họp lần thứ 6 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học, có hiệu lực từ ngày 01/07/2019 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn cho sự phát triển và kiện toàn mô hình quản trị của trường ĐHTT với sự thay đổi mô hình từ HĐQT sang HĐT Hệ thống quản trị luôn đóng một vai trò quan trọng
vì dẫn dắt định hướng, chiến lược, hoạch định kế hoạch cho tổ chức phát triển một cách bền vững Chính vì vậy, việc nghiên cứu về những quy định pháp luật của Việt Nam về quản trị trường ĐHTT là cần thiết, để thấy được những điểm thay đổi trong sự quản lý của Nhà nước đối với hệ thống quản trị của trường ĐHTT, bên cạnh đó, tìm hiểu và nghiên cứu những quy định về mô hình quản trị trường ĐHTT mà các nước trên thế giới (Mỹ, Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc) đã vận hành và đạt hiệu quả cao; ngoài ra, tác giả phân tích thực tế của một số trường ĐHTT tại khu vực phía Nam trong việc áp dụng quy định pháp luật về quản trị trường hiện hành Từ đó, đưa ra một số ý kiến về việc bổ sung thêm cũng như sửa đổi những quy định pháp luật hiện nay nhằm kiện toàn, thúc
Trang 8đẩy sự ổn định trong tổ chức trường ĐHTT, gia tăng tính hiệu quả và đảm bảo chất lượng đào tạo của trường, khắc phục những điểm chưa chặt chẽ, tạo nên một hệ thống đồng bộ trong cách vận hành quản trị của các trường ĐHTT
Trang 9Abstracts - Governance of a private universities according to
Vietnamese law
Higher education is a vast and influential activity for any country's development Diversity and efficiency in higher education are increasingly concerned within the socialist-oriented market economy and the growing development of information technology Hence the appearance of private universities (PUs)
The innovation in management mechanisms and the competitive pressure of PUs lead to urgent requirements in the stability and effectiveness of the organizational structure and management system For this need, the most crucial document is the Higher Education Law, passed by the National Assembly on June 18, 2012, and took effect on January 1, 2013 However, after many years of application, the governance issues of PUs have revealed many inefficiencies, limitations, and inadequacies Many PUs show signs of violations and affecting learners Taking that into consideration, the National Assembly, on November 19, 2018, in its 6th session, passed the Law amending and supplementing several articles of the Higher Education Law, effective from July 1, 2019, marking a significant step The new Law helps develop and consolidate the governance model of PUs with the change of the model from the Board of Directors to the School Council The management system always plays an essential role because it guides the organization's direction, strategy, and planning to develop sustainably Therefore, it is necessary to study Vietnam's legal regulations on the governance of PUs to see the changes in the State's management of the university's governance system Private study In addition, the author also studies the regulations on the highly effective PUs governance model in some countries around the world and how some PUs in the Southern Vietnam apply the principles On current school governance From there, give some opinions on amending the existing legal regulations to strengthen and promote the stability of the private university organization, increase the effectiveness and ensure the safety the training quality of the
Trang 10university, overcome the shortcomings, and create a synchronous system in the management of PUs
Trang 11MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Câu hỏi nghiên cứu 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
8 Bố cục của luận văn 9
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC 10
1.1 Tổng quan về trường đại học tư thục 10
1.1.1 Khái niệm trường đại học tư thục 10
1.1.2 Phân loại trường đại học tư thục 11
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của trường ĐHTT 15
1.2 Khái niệm quản trị trường ĐHTT 16
1.2.1 Định nghĩa quản trị trường ĐHTT 16
1.2.2 Vai trò quản trị trường ĐHTT 18
1.3 Những đặc thù của quản trị đại học so với với quản trị công ty 19
1.3.1 Định nghĩa quản trị công ty 19
1.3.2 So sánh giữa quản trị trường đại học tư thục và quản trị công ty 21 1.4 Một số quan điểm, quy định pháp luật về quản trị trường đại học trên thế giới 25
Kết luận Chương I 29
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ TỤC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 30
2.1 Sự phát triển quy định pháp luật về quản trị trường đại học tư thục 30 2.1.1 Giai đoạn từ 1986 đến 1996: Nhà nước có sự đột phá trên các lĩnh vực theo cơ chế mới 30
Trang 122.1.2 Giai đoạn 1997 đến 2004: giai đoạn này Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chủ trương xã hội hóa giáo dục, tiếp tục xây dựng cơ
chế, chính sách hợp lý hơn 31
2.1.3 Giai đoạn từ 2005 – 2008: giai đoạn đánh dấu những thay đổi lớn liên quan đến trường ĐHTT 31
2.1.4 Giai đoạn từ năm 2009 đến nay: giai đoạn này hình thành khuôn khổ pháp lý của trường ĐHTT có nhiều bước phát triển hơn so với giai đoạn trước, nhiều chính sách quan trọng liên quan đến nguyên tắc, cơ chế tổ chức và hoạt động của trường ĐHTT 32
2.2 Thực trạng quy định pháp luật về quản trị trường ĐHTT 36
2.2.1 Chủ thể đầu tư vào trường ĐHTT 37
2.2.2 Quy định pháp luật về HĐT của trường ĐHTT 42
2.2.3 Quy định pháp luật về kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý và điều hành tại trường ĐHTT 48
2.2.4 Quy định pháp luật về Hiệu trưởng thể hiện vai trò quan trọng trong quản trị trường ĐHTT 51
2.2.5 Quy định pháp luật về quyền của thành viên góp vốn 52
2.3 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về quản trị trường ĐHTT 55 2.3.1 Bất cập cơ chế quản trị theo quy định pháp luật Việt Nam 56
2.3.2 Bất cập công tác quản trị tại trường Đại học Hùng Vương 60
Kết luận Chương II 63
CHƯƠNG III HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC 64
3.1 Nền kinh tế thị trường trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 64 3.2 Đề xuất kiện toàn hệ thống quy định pháp luật về quản trị trường đại học tư thục trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 64
3.2.1 Tăng cường chất lượng thành viên Hội đồng trường để tăng tính hiệu quả và tính độc lập trong quyết định của Hội đồng trường 64 3.2.2 Quy định hóa hoạt động của Hội đồng trường mang tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản trị tại trường đại học tư thục 65 3.2.3 Tăng cường tính kiểm soát công tác quản trị điều hành tại trường đại học tư thục 66
3.2.4 Tăng tính chủ động hoàn thiện các quy chế quản trị nội bộ tại trường đại học tư thục 67
Trang 133.3 Trách nhiệm thực hiện tăng cường tính quản trị tại trường đại học
tư thục 67
3.3.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước 67
3.3.2 Đối với người học 68
3.3.3 Đối với hiệp hội các trường đại học 68
Kết luận Chương III 70
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 15DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Diễn giải Từ viết tắt Giáo dục đại học GDĐH
Giáo dục và Đào tạo GD&ĐT
Cơ sở giáo dục đại học CSGDĐH
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”1, sự phát triển nguồn nhân lực có chất lượng và có trình độ là một trong ba đột phá chiến lược quan trọng hàng đầu của đất nước, đặc biệt trong giai đoạn, thời kỳ có sự chuyển biến mạnh mẽ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay, đặt ra các yêu cầu đối với các trường đại học theo mô hình truyền thống – quản lý và điều hành mang tính hành chính phải thay đổi, giá trị đầu tư cho lĩnh vực giáo dục đòi hỏi ngày càng quy mô hơn, phạm vi rộng lớn hơn Trong bối cảnh này,
đã tạo điều kiện cho việc phát triển giáo dục tư thục
C Mác trong bộ Tư Bản đã từng thể hiện “Một nghệ sĩ chơi đàn thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có người chỉ huy, người nhạc trưởng”, điều này cho thấy một hệ thống quản trị trường đại học tốt sẽ khơi dậy và khuyến khích cái tốt phát triển, tạo ra nguồn vốn trí tuệ, chính là bí quyết hay nói cách khác là tạo ra lợi thế cạnh tranh của một trường đại học so với trường đại học khác
Theo số liệu thống kê năm 2019 của Bộ GD&ĐT, hiện nay Việt Nam có 237 trường đại học gồm 172 trường công lập và 65 trường NCL, số trường NCL chiếm gần 27.5% trong tổng số trường đại học tại Việt Nam, chiếm hơn ¼ tổng số cơ sở giáo dục tạo Việt
hỏi hệ thống quản trị về trách nhiệm giữa NĐT, HĐT, Ban Giám hiệu và các bên có lợi ích liên quan trong việc tổ chức nhiệm vụ chuyên môn, tổ chức và nhân sự, tài chính, tài sản,
1 Theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXb CTQG- Sự thật H 2011, tr 131.
2 Dữ liệu: Cổng thông tin Bộ giáo dục và đào tạo, hoc.aspx , truy cập ngày 31/05/2021
Trang 17https://moet.gov.vn/thong-ke/Pages/thong-ko-giao-duc-dai-huy động vốn và sử dụng các nguồn lực, …tạo nền tảng và phát triển ổn định của trường phải được củng cố và tăng tính hiệu quả hơn
Thực tiễn đã có nhiều buổi hội thảo, nghiên cứu, buổi tọa đàm về việc nghiên cứu quy định pháp luật của Việt Nam liên quan đến trường ĐHTT, mổ xẻ nhiều vấn đề mà xã hội quan tâm về chính sách đầu tư của Nhà nước, về cơ chế đầu tư vào lĩnh vực giáo dục,
cơ chế tự chủ của trường ĐHTT, … để có thể vận hành và thúc đẩy sự phát triển trường đại học NCL trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 Tuy nhiên, về cơ chế pháp lý quy định quản trị trường ĐHTT, là một trong những yếu tố giúp trường ĐHTT tăng tính tự chủ một cách toàn diện hơn, tăng tính minh bạch thông tin, vận hành, nhưng liệu rằng quản trị trường ĐHTT có thể vận hành hoặc áp dụng như đối với loại hình doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề khác hay không, hay có tính đặc thù riêng biệt và đặc thù Việc rà soát những quy định của pháp luật tại Việt Nam để từ đó xem xét thực trạng và có nhìn nhận những điểm phù hợp với xu hướng xã hội, kiện toàn hơn quy định pháp luật để góp phần phát triển khu vực trường tư đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội Vì vậy, đề tài
“Quản trị trường ĐHTT theo pháp luật Việt Nam” là cấp thiết trong thời điểm hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản trị trường ĐHTT được nhiều chuyên gia, nhiều nhà khoa học, các diễn giả, các
tổ chức, cơ quan nhà nước quan tâm và chú trọng nghiên cứu, trong số đó có thể kể đến các đề tài, công trình nghiên cứu khoa học, cụ thể như sau:
- Bài viết “Tổ chức quản lý trong trường đại học trước yêu cầu đổi mới quản trị đại học và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” của tác giả Đinh Văn Toàn, được đăng trên Cổng thông tin điện tử Học viện Cảnh sát nhân dân ngày 09 tháng 06 năm 2020 Trong bài viết này, tác giả bước đầu làm rõ vai trò của quản trị đại học, đây được coi là nhân tố quyết định tạo nên thành công của tổ chức Quản trị tốt tạo ra một hệ thống các thiết chế, nguyên tắc quản trị tốt cho tổ chức, trong đó có cơ cấu bộ máy và phối hợp các nguồn lực khác nhau để đạt được các mục tiêu chiến lược phát triển của tổ chức Nhìn chung, quản trị đại học có vai trò, tính chất quyết định đối với vận mệnh của một trường đại học Ngày nay, mục tiêu quản trị đại học được tiến đến mô hình quản trị đại học tiên tiến, mô hình đại học
Trang 18sáng tạo, đại học 4.0 vai trò trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức đối với xã hội càng trở nên quan trọng và có thể coi là các nhiệm vụ chủ yếu của các trường đại học ngày nay Sứ mệnh của GDĐH là đổi mới và tạo ra các giá trị mới nhờ không gian đổi mới sáng tạo, liên kết vạn vật, xuyên ngành và học tập mọi nơi Sản phẩm đại học tạo ra lúc này còn là những doanh nhân và nhà khởi nghiệp gắn với đổi mới sáng tạo - đại học 4.0 (Nguyễn Hữu Đức và cộng sự, 2018) Tác giả cũng đưa ra Mô hình tổ chức trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp Tổng quan của bài viết thể hiện cơ chế quản lý của trường đại học, cần hình thành một cơ chế quản lý điều hành và ra quyết định linh động, đáp ứng kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp, các bên có lợi ích liên quan và toàn xã hội
- Bài viết “Tìm hiểu mô hình GDĐH ở một số nước trên thế giới” của tác giả Nguyễn Thị Lan, được đăng ngày 01 tháng 01 năm 2020 Trong bài viết này, đề cập đến mô hình GDĐH của Mỹ phát triển theo hướng đa ngành, với nhiều loại hình trường, mang tính tư nhân hóa, theo đó, hệ thống GDĐH của Mỹ gồm 3 loại hình trường chính, mỗi loại hình đều có cả trường công và trường tư Mỹ là một trong những nước xuất khẩu dịch vụ giáo dục lớn nhất thế giới, có chất lượng cao, đạt được những thành tựu to lớn, trở thành hình mẫu cho nhiều quốc gia học tập kinh nghiệm
- Bên cạnh đó, đề cập đến mô hình GDĐH của Anh, tại Anh quản lý giáo dục theo
mô hình doanh nghiệp - công ty, thực hiện mối quan hệ đối tác giữa đại học công – tư Trường tư cũng phải phục vụ mục đích công, sản phẩm đầu ra của trường công và trường
tư phải như nhau, có sự đối xử bình đẳng giữa trường công và trường tư Sự quản lý linh hoạt và tự chủ của các trường đại học cùng với vai trò quản lý vĩ mô có hiệu quả của nhà nước là chìa khóa dẫn đến sự thành công trong đào tạo đại học ở Anh
- Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến một số mô hình quản trị giáo dục tại Đức, Nhật Bản, Singapore, các nước tiên tiến đều có GDĐH phát triển đa dạng với các loại hình trường công và trường tư, và cho thấy loại hình dù công hay tư thì cũng có những ưu điểm
và đẩy mạnh nền tri thức, chất lượng giáo dục
- Bài viết “Đa dạng hóa loại hình đại học – một số góp ý xây dựng Luật Giáo dục đại học” của tác giả Phạm Duy Nghĩa đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số Tháng 04/2012 Trong bài viết này, tác giả đề cập đến sự đa dạng hóa các loại hình trường ĐHTT,
Trang 19góp phần cải thiện nền quản trị đại học, tăng tính cạnh tranh giữa các trường hướng tới chất lượng đào tạo ngày càng tốt hơn Các quy định hiện hành ở nước ta mới chỉ có một quan niệm duy nhất xem trường ĐHTT như một công ty CP kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục đại học Trên thực tế có thể nói 100% ĐHTT ở Việt Nam là vì lợi nhuận Quản trị nhà trường theo những mục tiêu, nguyên tắc đã ghi nhận trong Điều lệ của trường Mô hình đại học dân lập, các trường ĐHTT đã ra đời và hoạt động tựa như các công ty CP Muốn trở thành nơi truyền tinh thần tự do khám phá và trách nhiệm xã hội giữa các thế hệ, trường đại học phải được độc lập và chịu đựng được sức ép can thiệp của cả Nhà nước và thị trường Có thể thấy, bài viết đã khái quát xu hướng chính sách pháp luật về các trường đại học, đề cập đến vốn sở hữu của các trường đại học để hình thành và xác lập loại trường đại học, hiểu được đặc điểm của trường ĐHTT, từ đó có những nhận định, đánh giá và đề xuất được cơ chế quản trị khác nhau cho từng loại trường, như đối với trường ĐHTT không vì lợi nhuận, không vì mục đích kinh doanh nên không xác định có cổ đông, không có cơ chế
bỏ phiếu nhưng có HĐQT
- Bài viết “Kinh nghiệm quản trị đại học ở một số nước và gợi ý tiếp tục hoàn thiện
về quản trị đại học ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Lan Anh, được đăng ngày 17 tháng 02
https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=614 Bài viết đề cập đến pháp luật về quản trị đại học của các nước khá
đa dạng về nội dung và hình thức thể hiện, giới hạn phạm vi nghiên cứu với hai nội dung
cơ bản: (i) chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy quản trị; (ii) cơ cấu bộ máy quản trị đại học Tác giả đề cập các CSGDĐH công lập và NCL có HĐT hoặc HĐQT trong cơ cấu Ở Hoa Kỳ, mỗi trường đại học gọi tên tổ chức quản trị khác nhau, đều mang nghĩa là HĐT, cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất về chất lượng đào tạo, về sự chính trực trong học thuật, về tài chính và tài sản của nhà trường HĐT hoạt động như một cơ quan lập pháp của nhà trường và chủ yếu là giải quyết những vấn đề về chính sách, cơ chế để vận hành bộ máy quản lý nhà trường Ở Úc, HĐT có nhiều tiểu ban như tiểu ban tài chính, tiểu ban xây dựng và tài sản, tiểu ban kiểm soát, tiểu ban quản lý rủi ro… HT chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của trường theo đường lối, chính sách do HĐT đưa ra Bên cạnh đó, bài viết đề cập đến cơ cấu bộ máy quản trị đại học, phụ thuộc nhiều tại từng quốc gia khác
Trang 20nhau Cách thức bầu chọn và bổ nhiệm thành viên HĐT của các Cơ sở giáo dục đào tạo ở Hoa Kỳ, ở các trường công lập, chính quyền tiểu bang sẽ bổ nhiệm phần lớn thành viên HĐT Ngược lại, ở trường tư thục, HĐT ban đầu là những người sáng lập, những người đầu tư tiền xây dựng nhà trường Sau này, HĐT sẽ có toàn quyền bầu chọn những thành viên mới để bổ sung khi có yêu cầu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH đã sửa đổi các quy định về quản trị đại học theo hướng thống nhất về tên gọi HĐT ở trường công lập và tư thục, xác định rõ vị trí pháp lý của HĐT và mối quan hệ với HT; phân biệt HĐT với Hội đồng đại học phù hợp với tính chất của từng loại hình cơ sở giáo dục đại học Qua nghiên cứu về Luật GDĐH ở nhiều nước trên thế giới để cải thiện cơ cấu bộ máy quản trị đại học tại Việt Nam
- Trong khuôn khổ đề tài KHCN cấp Bộ: “Nghiên cứu mô hình quản trị đại học theo mô hình quản trị doanh nghiệp” – Mã số: CT-2018-05-03" của tác giả Trịnh Thùy Anh (Trường Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh), Nguyễn Phạm Kiến Minh (Trường Đại học
Mở Tp Hồ Chí Minh) và Bùi Quang Hùng (Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh), được đăng tại http://Tổng quan về quản trị đại học trên thế giới và ở Việt Nam (tapchicongthuong.vn) Bài viết đã đưa ra thực trạng về quản trị đại học trên thế giới, nêu lên bối cảnh quản trị đại học tại một số quốc gia phương Tây Theo đó, các đại học này sẽ vận hành như một công ty với việc loại bỏ quyền định hướng phát triển của hội đồng khoa học Quyền này được trao vào tay của GĐĐH, cùng HĐQT của tập đoàn Việc thị trường hóa cơ chế tài chính đã thúc đẩy năng lực quản trị của HĐQT đại học thông qua việc quản
lý rủi ro, tiếp cận và phân tích thị trường giáo dục, đồng thời tìm kiếm và nắm bắt những
cơ hội tiềm ẩn thông qua các hoạt động này Do vậy, vận hành một đại học như một tập đoàn DN đã đem đến nhiều lợi ích cho các đại học ở khối Liên hiệp Anh về khía cạnh tài chính và phát triển năng lực quản trị Bên cạnh đó, khác với phương Tây, Nho giáo được xem như một nền tảng để xây dựng mô hình giáo dục ở phương Đông, đồng thời đưa tiêu chí “Tôn sư trọng đạo” lên hàng đầu và tạo nên dấu ấn khác biệt giữa 2 nền giáo dục và nhiều học giả đã chứng minh quá trình quản trị đại học và sự phát triển của nền giáo dục nói chung không thể tách rời khỏi mối liên hệ mật thiết với định hướng của Chính phủ nói chung và nền kinh tế xã hội nói riêng Từ đó, bài viết đã đề xuất mô hình quản trị đại học
Trang 21tại Việt Nam, chủ trương đổi mới mô hình quản lý GDĐH theo mô hình DN, tiến tới xóa
bỏ cơ chế cơ quan chủ quản đối với các cơ sở GDĐHcông lập là phù hợp với các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và là xu thế đã áp dụng tại các nước phát triển trên thế giới
Phân tích và tìm hiểu những bài viết nêu trên, và rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học với nhiều khía cạnh khác nhau về trường ĐHTT, nhưng các đề tài tập trung vào chất lượng giáo dục và nghiên cứu một phần về địa vị chủ thể đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, nhưng rất ít đề tài nghiên cứu khoa học quan tâm và tập trung vào khía cạnh pháp luật
về quản trị của trường ĐHTT, việc đổi mới quản trị đại học là khâu đột phá trong việc phát triển GDĐH ở giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay Do vậy, việc làm rõ với quy định pháp luật Việt Nam về quản trị trường ĐHTT là cấp thiết, đề tài hỗ trợ tốt cho việc quản trị tại trường ĐHTT nhằm thu hút đầu tư mạnh mẽ của các NĐT, thúc đẩy phát triển trường ĐHTT Đề tài nghiên cứu này là không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trước đó
3 Mục tiêu nghiên cứu
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với chủ đạo là kết nối và công nghệ số tạo môi trường học tập mở đang đặt ra yêu cầu các trường đại học theo mô hình truyền thống - quản
lý và điều hành mang tính hành chính như các trường đại học công lập hiện nay phải thay đổi, quản trị đại học trong bối cảnh mới mang tầm quan trọng và được coi là nhân tố quyết định tạo nên thành công của tổ chức Với đề tài nghiên cứu “Quản trị trường ĐHTT theo pháp luật Việt Nam” nhằm mục tiêu sau:
Một là, đề tài nghiên cứu, làm rõ về mặt lý luận những đặc thù của quản trị trường ĐHTT và sự cần thiết phải điều chỉnh pháp lý đối với hoạt động quản trị trường ĐHTT Hai là, hệ thống hóa và phân tích các quy định của pháp luật pháp luật Việt Nam hiện hành về quản trị trường ĐHTT trong góc nhìn tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh sự phát triển của cơ sở giáo dục ĐHTT
Ba là, khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật và thông qua đó đánh giá tính hợp lý của các quy định pháp luật hiện hành qua thực tiễn quản trị trường ĐHTT tại Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập quốc tế và cách mạng công nghệ 4.0
Trang 22Bốn là, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị trường ĐHTT tại Việt Nam
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, một số câu hỏi nghiên cứu cơ bản được đặt ra trong quá trình nghiên cứu như sau:
- Quản trị trường ĐHTT là gì? Có những khác biệt gì so với quản trị của doanh nghiệp? quản lý một đơn vị sự nghiệp công lập?
- Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có những quy định nào về quản trị trường ĐHTT?
- Thực tiễn áp dụng pháp luật trong quản trị trường ĐHTT có gì bất cập, hạn chế?
- Dưới góc nhìn tạo điều kiện thuận lợi cho các trường ĐHTT phát triển bền vững và hội nhập, cần có những kiến nghị gì để thay đổi, điều chỉnh nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về quản trị trường ĐHTT?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn này là các quy định của pháp luật về quản trị trường ĐHTT theo quy định pháp luật của Việt Nam, cụ thể: theo Luật GDĐH số 08/2012/QH13 được Quốc Hội thông qua ngày 18 tháng 06 năm 2012, Luật Sửa đổi, bổ
2018 và các văn bản khác có liên quan Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn cũng có đề cập và phân tích so sánh với các quy định về quản trị trường ĐHTT ở Mỹ và một số nước 5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu về các quy định của pháp luật liên quan đến quản trị trường ĐHTT
- Quản trị trường ĐHTT có nhiều giai đoạn thay đổi với các quy định văn bản pháp luật Do đó, trong phạm vi của luận văn này, tập trung nghiên cứu và làm rõ quản trị trường ĐHTT cho giai đoạn hiện hành từ năm 2012 đến nay 2021
- Về không gian nghiên cứu: luận văn khảo sát việc thực hiện pháp luật về quản trị trường ĐHTT tại các trường ĐHTT ở phía Nam
Trang 236 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài, luận văn này đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như sau:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: phương pháp này được sử dụng tại phần nội dung, chương I, mục 03 của luận văn để phân tích và làm rõ, khái quát về tổng thể trong cách hiểu, nhìn nhận, định vị trường ĐHTT Bên cạnh đó, chương II khi đề cập đến thực trạng pháp luật cũng sử dụng phương pháp này để đưa ra lý luận thực tiễn trong việc quy định của nhà nước có tính hệ thống và logic
- Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng tại các phần nội dung chương
II của luận văn để so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam trong cách xây dựng, định hình mô hình quản trị trường ĐHTT với các quy định pháp luật của một số nước trên thế giới nhằm đối chiếu, đưa ra điểm phù hợp, cần cải cách, cải thiện lại quy định pháp luật của Việt Nam
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: phương pháp này được ứng dụng tại chương II, chương III trong việc phân tích hiện trạng tại nước ta từ lịch sử hình thành cũng như là dựa trên sự cải tổ, hoàn thiện quy định của một số nước đã thực hiện để đúc kết kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp hữu ích
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về quản trị đại học, chú trọng trường đại học
có nguồn vốn đầu tư ngoài NSNN
Luận văn là cơ sở lý luận quan trọng để các trường ĐHTT có những cải tiến, thay đổi
về quản trị đại học phù hợp với thị trường, đảm bảo chất lượng đào tạo và giảng dạy 7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trong xu thế phát triển xã hội hiện nay, từ khi Luật GDĐH (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2018) có hiệu lực thi hành đã đem lại nhiều cơ hội và thách thức cho các trường đại học nói chung và các trường ĐHTT nói riêng Đối với các trường tư thục, sự đồng thuận giữa HĐT và Ban Giám hiệu trong các vấn đề chuyên môn, quản lý tài chính, nhân sự… luôn được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Qua bài viết này, tác giả
Trang 24mong muốn đưa ra thực trạng, cũng như đề xuất những đổi mới, thay đổi, làm rõ hơn các quy định pháp luật về quản trị trường ĐHTT, vướng mắc và khó khăn khi triển khai trên thực tế, đẩy mạnh và hoàn thiện hơn trong khâu tổ chức quản trị, nhằm thu hút nhiều hơn
về việc đầu tư của các NĐT trong và ngoài nước trong lĩnh vực giáo dục
8 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, thì Luận văn dự kiến được chia thành 03 Chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận về quản trị trường đại học tư thục
Chương II: Thực trạng pháp luật về quản trị trường đại học tư thục tại Việt Nam hiện nay
Chương III: Hoàn thiện pháp luật về quản trị trường đại học tư thục
Trang 25CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TRƯỜNG ĐẠI
HỌC TƯ THỤC
1.1 Tổng quan về trường đại học tư thục
1.1.1 Khái niệm trường đại học tư thục
Bước vào giai đoạn đổi mới từ sau năm 1987, Việt Nam với thách thức lớn là cần
mở rộng về quy mô và chất lượng đào tạo phải nâng cao, trong khi đó, điều kiện đối với NSNN đầu tư vào GDĐH là chưa đủ đáp ứng nhu cầu Trong bối cảnh này, đòi hỏi Nhà nước cần mở ra với mô hình nhà trường đại học mới, từ các trường đại học công lập truyền thống Nhà nước đã xây dựng mô hình đại học quốc gia, đến các mô hình trường đại học bán công và sau đó Nhà nước cho phép trải nghiệm mô hình trường ĐHDL phát triển thành
mô hình trường ĐHTT
Theo tác giả Thái Vân Hà cho biết OECD (2011) đưa ra nhận định về trường tư là trường “được kiểm soát và quản lý bởi một tổ chức phi chính phủ (ví dụ như công ty hoặc doanh nghiệp) mà ở đó, phần lớn các thành viên của ban lãnh đạo do các tổ chức tư bổ nhiệm”.3
Tại Việt Nam, khái niệm trường ĐHTT được bắt đầu ghi nhận tại Luật GDĐH năm
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhânđầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, được hình thành và phát triển từ mô hình hoạt động của trường đại học dân lập, hoạt động theo luật chung là Luật Giáo dục, “Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động” (Khoản 1, Điều 48 Luật
GD 2005) và Quyết định 122/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định các trường ĐHDL phải chuyển qua loại hình trường ĐHTT
3 Theo Thái Vân Hà (2019), Phát triển trường đại học tư thục ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị, http:// Phát triển trường đại học tư thục ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị (tapchitaichinh.vn) , truy cập ngày 01/11/2021
4 Khoản 2 Điều 7 Luật GDĐH số 08/2012/QH13 “Cơ sở GDĐH tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất”
Trang 26Theo định hướng đổi mới toàn diện và căn bản trong giáo dục và đào tạo5, thực hiện chuẩn hóa, đa dạng hóa, xã hội hóa và hiện đại hóa trong giáo dục, Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 định nghĩa lại khái niệm “CSGDĐH tư thục do NĐT trong nước hoặc nước ngoài đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động” (Khoản 4, Điều 1), phù hợp với xu hướng mở cửa quốc tế của Việt Nam để NĐT trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực GDĐH
1.1.2 Phân loại trường đại học tư thục
Thực hiện soát xét quy định pháp luật của Việt Nam, xét về phương diện kinh tế
“lợi nhuận” thì trường ĐHTT có 02 loại:
a Trường ĐHTT hoạt động phi lợi nhuận là trường mà cam kết hoạt động KVLN, ghi nhận tại quyết định thành lập hoặc quyết định chuyển đổi loại hình CSGĐDH; không được rút vốn, không hưởng lợi tức và phần lợi nhuận tích lũy hàng năm thuộc sở hữu chung
b Trường ĐHTT hoạt động vì lợi nhuận là trường không đáp ứng các nội dung tại điểm a nêu trên
Đối với 02 loại trường ĐHTT thì cơ chế quản trị có sự khác biệt theo tiêu chí tổ chức quản trị7, cụ thể:
Bảng 1.1: Bảng so sánh trường ĐHTT vì lợi nhuận và trường ĐHTT hoạt động KVLN
- Tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước đầu tư bằng nguồn vốn ngoài NSNN Việt Nam
và cam kết hoạt động KVLN
5 Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số số 29-NQ/TW) ngày 04/11/2013
6 Khoản 4 Điều 1 Luật GDĐH số 34/2018/QH14
7 Theo Thùy Linh (2018), Mô hình trường công lập, tư thục và tư thục không vì lợi nhuận khác nhau ra sao?, http:// Mô hình trường công lập, tư thục và tư thục không vì lợi nhuận khác nhau ra sao? - Giáo dục Việt Nam (giaoduc.net.vn) , truy cập ngày 30/10/2021
Trang 27Tiêu chí Trường ĐHTT vì lợi nhuận Trường ĐHTT hoạt động
KVLN
- Nếu là cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài thì chịu sự điều chỉnh bởi Luật đầu tư và các Hiệp định đầu tư giữa Việt Nam và quốc gia của NĐT nước ngoài
trong đề án thành lập trường hoặc đề án chuyển đổi loại hình CSGDĐH và được Thủ tướng Chính phủ công nhận
- Trường hợp cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài còn chịu sự điểu chỉnh bởi Luật đầu tư và các Hiệp định đầu tư giữa Việt Nam
và quốc gia của NĐT nước ngoài
- Nếu không thành lập tổ chức kinh tế, CSGDĐH phải có quy chế
tổ chức và hoạt động quy định cụ thể về: hội nghị NĐT và các phương thức hoạt động của NĐT;
việc lựa chọn nội dung quy định
về loại hình doanh nghiệp hoặc quỹ xã hội để áp dụng giải quyết những vấn đề phát sinh nêu trên, quyền và trách nhiệm của NĐT,
- Giống như thủ tục đầu tư/góp vốn của trường ĐHTT, tuy nhiên NĐT phải cam kết hoạt động KVLN trong đề án thành lập trường hoặc đề án chuyển đổi loại hình CSGDĐH và được Thủ tướng Chính phủ công nhận
- Việc lựa chọn quỹ xã hội hoặc loại hình doanh nghiệp xã hội là phù hợp để áp dụng giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của trường
Trang 28Tiêu chí Trường ĐHTT vì lợi nhuận Trường ĐHTT hoạt động
KVLNBKS phù hợp với quy định về loại
hình doanh nghiệp hoặc quỹ xã hội được lựa chọn
- Phải chuyển giao tiền/ tài sản của
họ cho CSGDĐH và tài sản đó thuộc sở hữu của CSGDĐH sau thời điểm góp vốn
- CSGDĐH thuộc sở hữu của (các) NĐT theo hình thức sở hữu chung theo phần (căn cứ tỷ lệ % góp vốn hoặc cổ phần nắm giữ)
Vốn, tài sản đầu tư ban đầu và vốn, tài sản hình thành trong quá trình hoạt động (toàn bộ chênh lệch thu chi) đều thuộc sở hữu pháp nhân cơ sở giáo dục đại học Tức là CSGDĐH đứng tên trên giấy chứng nhận Quyền sở hữu tài sản và chủ tài khoản Trong đó:
- NĐT sở hữu nguồn vốn, tài sản đầu tư ban đầu và bổ sung của NĐT
- Vốn, tài sản hình thành trong quá trình hoạt động thuộc sở hữu của cộng đồng trường, để hoạt động vì cộng đồng, do HĐT quyết định theo quy định
- NĐT có thể tham gia HĐT để quản trị điều hành trường nhưng
Trang 29Tiêu chí Trường ĐHTT vì lợi nhuận Trường ĐHTT hoạt động
KVLN
họ không phải là cổ đông sở hữu trường Việc sử dụng vốn, tài sản cho các hoạt động của cơ sở GDĐH được quyết định bởi NĐT và/hoặc HĐT và chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của cơ chế kiểm toán độc lập, công khai, minh bạch… để phát triển CSGDĐH với mục đích phục vụ cộng đồng xã hội
quản trị
- HĐT là Đơn vị quản trị, là tổ chức để đại diện các NĐT và các bên có lợi ích liên quan để thực hiện quản trị CSGDĐH
- Thành phần gồm đại diện NĐT
và các thành viên khác được quy định gồm đại diện cộng đồng của trường và cộng đồng xã hội do hội nghị NĐT bầu chọn, quyết định theo tỷ lệ vốn góp
- HĐT là tổ chức quản trị, đại diện cho các NĐT và các bên có lợi ích liên quan
- Thành phần gồm: Đại diện NĐT do các NĐT đã bầu chọn, quyết định dựa trên tỷ lệ vốn góp; đại diện cộng đồng của trường và đại diện của cộng đồng xã hội
- Pháp luật cấm rút vốn và chia lợi nhuận dưới mọi hình thức
- Hằng năm, đối với phần lợi nhuận tích lũy là thuộc sở hữu chung hợp nhất của trường,
Trang 30Tiêu chí Trường ĐHTT vì lợi nhuận Trường ĐHTT hoạt động
KVLNkhông phân chia để tiếp tục đầu
tư phát triển CSGDĐH
- Những NĐT tham gia điều hành trường (nếu muốn) và chỉ hưởng thù lao theo quy định chung của CSGDĐH
- Đối với hoạt động tài chính kế toán và kiểm toán của CSGDĐH chịu sự giám sát chặt chẽ của NĐT, CQNNN
Chuyển đổi
loại hình
Khuyến khích chuyển thành CSGDĐH tư thục hoạt động KVLN
Không cho phép chuyển đổi thành cơ sở GDĐH tư thục; có thể sáp nhập hợp nhất với CSGDĐH tư thục hoạt động KVLN khác
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của trường ĐHTT
của pháp luật nhận thấy trường ĐHTT có những đặc trưng khác biệt để phân biệt với các trường khác, những đặc điểm này có tác động đến cơ chế quản trị của trường ĐHTT tạo nên sự khác biệt so với các trường khác, cụ thể:
8 Khoản 2, Điều 1 Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung năm 2018 số 34/2018/QH14
Trang 31- Về nguồn vốn đầu tư/hoạt động: Tổ chức hoặc cá nhân đầu tư vào trường ĐHTT (trường ĐHTT vì lợi nhuận và trường ĐHTT hoạt động KVLN) với hai loại hình này đều
nguồn lực tư nhân trong xã hội để làm giáo dục trong việc tuân thủ pháp luật hiện hành và phù hợp với Điều lệ/Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường đại học tại Việt Nam Trong quá trình hoạt động của trường thì nguồn thu chủ yếu của trường là từ học phí và từ hoạt động nghiên cứu khoa học10
- Về sở hữu: trường ĐHTT do tổ chức hoặc cá nhân bỏ nguồn vốn để đầu tư nên
Yếu tố này sẽ giúp trường ĐHTT chủ động trong việc quyết định các vấn đề hoạt động của trường, quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển của trường, tạo nên sự khác biệt, riêng biệt của từng trường ĐHTT so với trường khác Với hình thức sở hữu tư nhân thì NĐT không bị giới hạn số lượng sở hữu các trường ĐHTT, điều này giống như hoạt động của doanh nghiệp không hạn chế trong việc góp vốn, mua cổ phần tại các doanh nghiệp khác, đa dạng hơn với nhiều hình thức đầu tư để đem lợi nhuận về cho tổ chức
- Về cơ cấu tổ chức hoạt động: so với các trường đại học loại hình khác thì trường
1.2 Khái niệm quản trị trường ĐHTT
1.2.1 Định nghĩa quản trị trường ĐHTT
9 Khoản 11 Điều 1 Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung năm 2018 số 34/2018/QH14
10 Khoản 32 Điều 1 Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung 2018 số 34/2018/QH14
11 Khoản 7 Điều 4 Luật GDĐH năm 2012
12 Khoản 8, Điều 1 Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung năm 2018 “Cơ cấu tổ chức của trường đại học”
13 Khoản 10, Khoản 12 Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung năm 2018: HĐT của trường công lập quy định tối thiểu là 15 thành viên, trong khi đó HĐT của trường tư thì không quy định số lượng tối thiểu
14 Khoản 10, Khoản 12 Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung năm 2018: Chủ tịch HĐT của trường công lập quy định về phẩm chất, độ tuổi, trong khi đó Chủ tịch HĐT của trường tư thì không quy định về độ tuổi, là cán bộ cơ hữu hoặc cán bộ kiêm nhiệm của trường
15 Khoản 14, Khoản 12 Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung năm 2018: HT của trường công lập có quy định về độ tuổi theo quy định pháp luật, trong khi đó HT của trường tư không quy định về độ tuổi
Trang 32Khái niệm quản trị theo tác giả Dương Hữu Hạnh được nêu ra như sau: “Quản trị
có thể được định nghĩa là một loạt các loại hoạt động được điều khiển, chỉ huy với việc sử dụng các tài nguyên có hiệu quả và hữu hiệu để theo đuổi một hay nhiều mục tiêu (đã đề ra)”16
Bên cạnh đó, với cách nhìn về tổ chức thì tác giả Nguyễn Hải Sản cho rằng “Cơ cấu
tổ chức là một hệ thống các mối quan hệ hoạt động chính thức bao gồm nhiều công việc riêng rẽ, cũng như những công việc tập thể Sự phân chia công việc cụ thể nhằm xác định
ai sẽ làm công việc gì và sự kết hợp nhiều công việc cụ thể nhằm chỉ rõ cho mọi người thấy
“Cơ cấu tổ chức quản trị là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, được giao những trách nhiệm, quyền hạn nhất định và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện các chức năng quản trị”18 Tác giả Nguyễn Đông Phong và Nguyễn Hữu Huy Nhựt cho rằng “Quản trị đại học là quá trình xây dựng và tập hợp các quy tắc hệ thống nhằm quản lý và kiểm soát tất cả hoạt động của
đại học cần được hiểu với nội hàm rộng hơn thế, cụ thể là: “Quản trị đại học là sự kết hợp hoạt động của các bộ phận (cơ cấu bộ máy) và toàn bộ nguồn lực để quyết định, giám sát
và tạo cơ sở thực hiện các chính sách, định hướng phát triển, nhằm hướng tới việc tạo ra những giá trị cốt lõi của cơ sở đại học”20
Trường ĐHTT là một trong loại hình CSGDĐH tại Việt Nam, trường có sứ mạng,
của trường hoạt động chức năng, nhiệm vụ được giao trong sự kết hợp, phối hợp lẫn nhau,
16 Theo Dương Hữu Hạnh (2009), MPA – 1973, Các nguyên tắc quản trị hiện đại trong nền kinh tế toàn cầu – Nguyên tắc và thực hành, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải, 2009, trang 31
17 Nguồn: Nguyễn Hải Sản, Quản trị học, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2010
18 Theo Giáo trình Quản trị doanh nghiệp của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Nxb Đại học kinh tế quốc dân,
Trang 33tạo nên sự đồng bộ, hợp nhất định hướng trong cấu trúc tổ chức của trường, do vậy tác giả cho rằng quản trị trường ĐHTT được định nghĩa như sau:
Quản trị đại học là sự gắn kết, phối hợp các hoạt động giữa các cá nhân, Đơn vị trong tổ chức của cơ sở giáo dục đại học, sử dụng toàn bộ nguồn lực để thực hiện cơ chế quyết định, giám sát hoạt động, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, định hướng phát triển tri thúc, tạo ra những giá trị cốt lõi của cơ sở giáo dục đại học
1.2.2 Vai trò quản trị trường ĐHTT
Theo tác giả Baldridge (1971) “Công tác quản trị hình thành vận mệnh của một trường đại học Quản trị đại học đúng đắn là tâm điểm thành công hoặc thất bại… của bất
kỳ trường đại học đương thời” Do vậy, quản trị trường ĐHTT có vai trò quan trọng trong
sự “sống còn” của trường ĐHTT, cụ thể:
- Đối với NĐT: quản trị trường ĐHTT khiến NĐT yên tâm đầu tư tài chính để tăng cường cơ sở vật chất, tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên viên tại trường Điều này làm cho giá trị của trường được nâng cao, đảm bảo sự phát triển dài hạn của trường thông qua hướng dẫn, đặt ra, giám sát các mục tiêu bằng chính sách và quy trình thực hiện
quản lý trường Nên quản trị trường ĐHTT có vai trò minh bạch, thể chế hóa trách nhiệm của các nhà quản lý trường, nâng cao tính tự chịu trách nhiệm trước nhà trường, trước cộng đồng và người học về sự tin cậy, tính quyết định quản lý hiệu quả hoạt động, chất lượng đào tạo của trường Như vậy, quản trị trường ĐHTT giúp minh bạch hóa thông tin, quy trình, nguyên tắc áp dụng vận hành, có vai trò quan trọng đối với toàn thể giảng viên, nhân viên Nhà trường hiểu về chiến lược, giá trị cốt lõi, hệ thống quản trị của Nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi phát triển cho nhà trường
- Đối với Nhà nước: khi quản trị trường ĐHTT đã đưa thông tin của trường rõ ràng, cụ thể, vì thế Nhà nước có thể giảm sự quản lý tại các trường ĐHTT, gia tăng tính tự chủ cho các trường ĐHTT Đây cũng là một trong những yêu cầu thay đổi về phương thức
22 Điều 17 Luật GDĐH và Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 số 34/2018/QH14
23 Điều 17 Luật GDĐH và Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 số 34/2018/QH14
Trang 34quản trị để đáp ứng ngày càng cao của xã hội và xu thế của thời đại24 Khi nhà trường có quyền tự chủ về học thuật, tổ chức và nhân sự, tài chính25 thì nhà trường đi đôi trách nhiệm, giải trình cao về chất lượng đào tạo, về học phí, hoạt động của nhà trường đối với sinh viên, cha mẹ sinh viên, người sử dụng lao động, nhà nước và cộng đồng nhằm thỏa mãn người học và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, phục vụ cộng đồng
- Đối với người học, phụ huynh: trong việc phát triển trường ĐHTT, giúp các trường nâng cao về giá trị, chất lượng đào tạo, học phí cạnh tranh, cơ sở vật chất ngày càng được cải thiện, sự liên kết tiềm lực tài chính của các NĐT là những tập đoàn, tổ chức kinh
tế lớn sẽ giúp cho người học, phụ huynh có những dịch vụ giáo dục tốt hơn về giá và cả chất lượng
- Đối với xã hội: quản trị trường ĐHTT tốt sẽ tạo nên chất lượng đào tạo tốt, trường tự chủ và chịu trách nhiệm trước các hoạt động chuyên môn, tạo nên những sản phẩm trí tuệ có chất lượng cao, phù hợp với sự thay đổi, thích ứng với sự biến đổi nhanh của xã hội, từ đó đóng góp cho xã hội về những giá trị con người có phẩm chất tốt, có đóng góp hoạt động kinh tế, hoạt động cộng đồng để gia tăng kinh tế của nước nhà
1.3 Những đặc thù của quản trị đại học so với với quản trị công ty
1.3.1 Định nghĩa quản trị công ty
đã đưa một định nghĩa về quản trị công ty đã được chấp nhận phổ thông như sau: “là thủ tục và quy trình mà theo đó một tổ chức được điều hành và kiểm soát Cơ cấu quản trị công
ty quy định rõ việc phân chia quyền lợi và trách nhiệm giữa các đối tượng tham gia khác
24 Theo Nguyễn Đông Phong & Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2013), Quản trị đại học và mô hình cho cơ sở GDĐH khối kinh tế ở Việt Nam
25 Khoản 17 Điều 1 Luật GDĐH sửa đổi năm 2018 số 34/2018/QH14
26 Tổ chức OECD thành lập năm 1961 trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên sáng lập gồm các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Mỹ, Canada và các nước Tây Âu Hiện nay, số thành viên của OECD là 30 quốc gia Mục tiêu ban đầu của OECD là xây dựng các nền kinh tế mạnh ở các nước thành viên, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả kinh tế thị trường, mở rộng thương mại tự do và góp phần phát triển kinh tế ở các nước công nghiệp Những năm gần đây, OECD đã mở rộng phạm vi hoạt động, chia sẻ kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm phát triển cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi sang kinh tế thị trường
Trang 35nhau trong tổ chức - như Hội đồng quản trị, Ban điều hành, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác - và đặt ra các nguyên tắc và thủ tục cho việc ra quyết định27”
Về khái niệm về HĐQT, HĐQT là Đơn vị quản lý công ty, được toàn quyền quyết định và thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty, trừ các quyền và nghĩa vụ đã được quy định là thuộc ĐHĐCĐ (Khoản 1 Điều 153 Luật DN số 59/2020/QH14), như vậy khái niệm quản trị công ty đang được áp dụng với loại hình công ty cổ phần
Việt Nam tiếp cận với khái niệm quản trị và đưa rộng rãi vào quy định pháp luật
luật về quản trị công ty đại chúng, công ty niêm yết đã được ban hành nhà nước tại Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 13/03/2007 Những quy định pháp luật
về quản trị Công ty của Việt Nam được cải thiện nhất là sau khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/07/2012 thay thế Quyết định số 12/2007/QĐ-
quản trị công ty đã được ghi nhận tại văn bản pháp lý có giá trị cao hơn là được thể chế hóa tại Nghị định31, định nghĩa “Quản trị công ty là hệ thống các nguyên tắc, bao gồm: a) Đảm bảo cơ cấu quản trị hợp lý, b) Đảm bảo hiệu quả hoạt động của HĐQT, BKS, c) Đảm bảo quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan, d) Đảm bảo đối xử công bằng
OECD cũng đưa ra nguyên nhân để lý giải vì sao công ty cần quản trị tốt, điều này giúp cho công ty đạt được những lợi ích sau33:
- Nhằm bảo đảm sự bền vững của công ty vì lợi ích tốt nhất của cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác
27 Theo Nguyên tắc quản trị công ty của các nước thuộc Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế năm 1999, ấn bản đầu tiên của SSC và IFC, trang 12
28 Theo Tổ chức Tài chính Quốc tế phối hợp cùng UBCKNN (2009), Báo cáo Thẻ điểm cân bằng công ty
29 Điều 38 của Thông tư số 121/2012/TT-BTC
30 Theo Nguyễn Thu Hiền (2014), Tránh “đội sổ” Việt Nam cần đào tạo văn hóa quản trị công ty, Trang tin điện tử Hiệp hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (vacpa.org.vn) , truy cập ngày 30/10/2021
31 Nghị định 71/2017/NĐ-CP và Nghị định 155/2020/NĐ-CP
32 Khoản 1 Điều 2 Nghị định 71/2017/NĐ-CP
33 Theo Nguyên tắc quản trị công ty của các nước thuộc Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế năm 1999, ấn bản đầu tiên của SSC và IFC, trang 13, 14
Trang 36- Tạo niềm tin của thị trường và đạo đức kinh doanh, là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh thu hút vốn
- Góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh và danh tiếng của công ty, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường vốn, nhờ đó hỗ trợ phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
1.3.2 So sánh giữa quản trị trường đại học tư thục và quản trị công ty
Qua rà soát khái niệm và vai trò của quản trị đại học và quản trị công ty, thì nhận thấy do trường ĐHTT với cơ chế đầu tư đa dạng của các tổ chức và cá nhân, nên trong khuôn khổ quản lý việc đầu tư, hoạt động của cổ đông, nhà đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, Nhà nước đã xây dựng quản trị trường ĐHTT dựa trên việc xây dựng và phát triển quản trị công ty Do vậy, việc tìm hiểu về quản trị công ty sẽ đóng góp một phần vào luận điểm để hoàn thiện hơn quản trị trường ĐHTT
Với sự tìm hiểu về quản trị công ty, nhận thấy giữa quản trị trường ĐHTT và quản trị công ty có điểm chung như sau:
- Đều dựa trên thủ tục và quy trình để tổ chức kiểm soát hoạt động
- Tổ chức là trường ĐHTT hay công ty đều là chủ thể pháp lý độc lập, sử dụng nguồn vốn ngoài NSNN nên mô hình quản trị theo nhận định sẽ phát triển theo hướng tự chủ, để đảm bảo sự thu hút cá nhân/tổ chức đầu tư hoạt động tổ chức
- Trường ĐHTT hay công ty đều là tổ chức hoạt động theo công ty đối vốn, vì vậy
sự quyết định về chiến lược, sứ mệnh, giá trị của trường ĐHTT/ công ty đều do người bỏ vốn vào công ty quyết nghị
Với những điểm chung giữa quản trị công ty và quản trị trường ĐHTT, nhận định quản trị trường ĐHTT có những điểm khác biệt ở một số nội dung như sau:
- Trường ĐHTT thiết lập HĐT với các thành phần bắt buộc: HĐQT của công
ty cổ phần cũng như HĐT của trường ĐHTT đều là cơ quan quản trị của công ty/của trường, nhưng theo quy định Luật DN thì HĐQT không quy định bắt buộc thành phần là đại diện
Trang 37cổ đông, hay thành phần ngoài công ty, hay đại diện cho đội ngũ CBNV của công ty34 như HĐT của trường ĐHTT, bao gồm đại diện NĐT, thành viên trong và ngoài trường; ngoài
ra đối với trường ĐHTT hoạt động KVLN thì còn quy định bắt buộc có thành viên đương nhiên (Bí thư cấp ủy, HT, Chủ tịch công đoàn, đại diện Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là người học) và thành viên bầu bởi hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu của trường đại học (đại diện giảng viên và người lao động của trường đại học); thành viên ngoài trường do hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu của trường bầu (nhà lãnh đạo, nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà văn hóa, nhà khoa học, doanh nhân, cựu sinh viên, đại diện đơn vị sử dụng lao động)35
- Thiết lập khung pháp lý trong việc chuyển nhượng của thành viên góp vốn: tại trường ĐHTT, thành viên góp vốn được đảm bảo quyền trong hoạt động quản trị và điều hành thể hiện qua thẩm quyền của NĐT (Khoản 11, Điều 1 Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung năm 2018 số 34/2018/QH14) nhưng khi muốn rút vốn thì thành viên góp vốn tại trường ĐHTT bị hạn chế quyền hơn so với quyền tự do chuyển nhượng cổ phần trên thị trường chứng khoán của cổ đông tại công ty cổ phần Đầu tiên, phải chuyển nhượng cho thành viên góp vốn còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của từng thành viên; sau
đó nếu các thành viên góp vốn không nhận chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng không hết thì bán cho người lao động trong nhà trường; sau cùng nếu nếu người lao động của cơ sở giáo dục đại học không nhận chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng không hết thì bán cho người không phải là thành viên góp vốn và người lao động trong CSGDĐH
- Tăng cường sự tham gia của đội ngũ giảng viên vào quản trị tại trường ĐHTT: với sự tham gia của thành phần HĐT là đại diện giảng viên và người lao động của trường đại học là điểm khác biệt so với quản trị của công ty Mặc dù cùng là tổ chức hoạt động vì lợi nhuận, nhưng trường ĐHTT mục tiêu của quan trọng hơn hết là đào tạo trí thức nên sự tham gia nguồn nhân lực cốt cán của trường luôn được đặt trên hết Với sự tham gia của đội ngũ giảng viên sẽ bảo vệ quyền lợi cho người học nhiều hơn trong công tác đảm
34 Theo Điều 115 Luật DN số 59/2020/QH14: thành viên HĐQT không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều
17, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty và không nhất thiết phải là cổ đông của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác
35 Khoản 12, Điều 1 Luật GDĐH sửa đổi, bổ sung năm 2018 số 34/2018/QH14
Trang 38bảo chất lượng giảng dạy; bên cạnh đó, đã tạo nền tảng, sự phát triển ổn định của trường, không chỉ bảo vệ quyền lợi của NĐT, mà bảo vệ quyền lợi của những đối tượng liên quan, đặc biệt là cán bộ giảng viên của trường Từ đó, gián tiếp tạo nên những thành quả trong công tác nghiên cứu khoa học, bền vững tay nghề của những bạn được đào tạo trên ghế nhà trường, góp phần cống hiến sự phát triển của kinh tế, trật tự xã hội
Ngoài những đặc thù riêng biệt của quản trị tại trường ĐHTT nêu trên, để phân biệt
rõ hơn tác giả có đưa ra bảng so sánh giữa quản trị công ty và quản trị trường ĐHTT như sau:
Bảng 1.2: Bảng so sánh quản trị công ty và quản trị trường ĐHTT
Người đầu tư vốn
Nhà đầu tư là tổ chức hoặc
cá nhân trong nước hoặc nước ngoài đầu tư thành lập
cơ sở giáo dục ĐHTT, cơ sở giáo dục ĐHTT hoạt động KVLN bằng nguồn vốn ngoài NSNN (Khoản 11 Điều 1 Luật GDĐH sửa đổi,
bổ sung năm 2018 số 34/2018/QH14)
trong 02 mô hình:
(i) ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS và TGĐ/GĐ BKS không bắt buộc trong trường hợp công ty có dưới 11 cổ đông và cổ đông là
- Công ty TNHH: NĐT, HĐT, HT38
36 Khoản 3 Điều 4 Luật DN số 59/2020/QH14
37 Điều 137 Luật DN số 59/2020/QH14
38 Khoản 8 Điều 1 Luật GDĐH số 34/2018/QH14
Trang 39Tiêu chí so sánh Quản trị công ty Quản trị trường ĐHTT
UB kiểm toán
Quyền biểu quyết Các công ty hoạt động dựa trên tỷ lệ
phần vốn có quyền biểu quyết Theo
đó, người sở hữu có quyền biểu quyết
về những vấn đề thuộc thẩm quyền
Dựa trên mô hình công ty TNHH của Luật DN để giải quyết các vấn đề của trường.40
bị hạn chế khi muốn chuyển nhượng vốn góp, đầu tiên phải chuyển nhượng cho đối tượng luật định, gồm: (i) thành viên góp vốn của trường; (ii) người lao động của trường, (iii) người không phải thành viên góp vốn và người lao động44
39 Khoản 33 Điều 4 Luật DN số 59/2020/QH14
40 Khoản 11 Điều 1 Luật GDĐH số 34/2018/QH14
41 Điểm d, Khoản 1 Điều 111 Luật DN số 59/2020/QH14
42 Khoản 3, Điều 120 Luật DN số 59/2020/QH14
43 Khoản 1, Điều 127 Luật DN số 59/2020/QH14
44 Điều 17 NĐ số 99/2019/NĐ-CP
Trang 401.4 Một số quan điểm, quy định pháp luật về quản trị trường đại học trên thế giới
Đảng và Nhà nước đã có những bước tiến thay đổi về quy định của pháp luật tại Việt Nam, để học hỏi một số kinh nghiệm từ các nước trên thế giới, với mô hình quản trị đạt hiệu quả thì xem xét các quy định của một số nước về quy định cơ cấu tổ chức của trường ĐHTT
Tư nhân hóa giáo dục đại học là một trong những xu hướng mới tác động lớn đến
hệ thống đào tạo đại học ở nhiều nước, thậm chí có thể làm thay đổi nhiều quan niệm truyền
thiệp của thị trường GDĐH tư nhằm điều hòa lợi ích của các bên liên quan phù hợp với mục tiêu phát triển của quốc gia Có những nước chỉ nêu vấn đề GDĐH tư qua những nguyên tắc chung trong Luật GD hoặc Luật GDĐH, như trường hợp Pháp, Nhật; nhưng cũng có nước/vùng lãnh thổ có hẳn một bộ luật riêng hoặc một chương riêng để quy định khung pháp lý cho GDĐH tư như trường hợp Nga, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan hay Đài Loan46
Một số quy định pháp luật về tổ chức quản trị đối với khu vực GDĐH tư ở các nước với một số vấn đề nổi bật như sau:47
1 Tại Đài Loan đã ban hành Luật trường Tư thục và cơ chế quản trị là HĐQT, có quy định tại Điều 18 Luật trường Tư thục rằng “những người kết hôn với nhau hoặc có họ trong vòng 3 đời nội ngoại tộc không được vượt quá tỉ lệ 1/3 trong HĐQT trường”, đồng thời HĐQT không được kiêm nhiệm HT hoặc các chức vụ hành chính khác trong trường, không được hưởng lương mà chỉ có bồi dưỡng họp và công tác phí Luật Tư thục của Đài Loan không đề cập vấn đề lợi nhuận hay phi lợi nhuận
2 Tại Thái Lan cũng có đạo luật riêng dành cho trường đại học tư, gọi là Luật GDĐH tư, ban hành lần đầu năm 1979, được điều chỉnh và bổ sung vào các năm 1992 và
45 Theo Daniel Levy, Phạm Thị Ly dịch (2015), Giáo dục ĐH tư ở Đông Á, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
46 Nguồn: Phạm Thị Ly (2017), “Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng chính sách đối với ĐH tư”;
47 Nguồn: Phạm Thị Ly (2017), “Kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về tự chủ đại học”, Hội thảo do Ủy ban VHGDTNTN &NĐ của Quốc hội tổ chức ngày 25.11.2017 tại Hà Nội