Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những
Trang 1HƯỚNG DẪN HS LÀM BÀI VIẾT PHÂN TÍCH MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC
( PHÂN TÍCH BÀI THƠ TỰ DO)
Để viết được bài phân tích một bài thơ tự do cần:
+ Biết cách lựa chọn chủ đề Nhận diện đúng thể loại và các đặc trưng thể loại của bài thơ.+ Trang bị vốn tri thức ngữ văn phong phú cho bản thân.( mỗi hs cần rèn cho mình thóiquen ghi chép sổ tay văn học để có nguồn tư liệu phong phú)
Bởi: việc nắm vững đặc trưng thể loại và có vốn hiểu biết phong phú sẽ giúp HS hiểu sâusắc hơn ý nghĩa của bài thơ và xác định được các phương diện nội dung nghệ thuật cầnphân tích VD: nhan đề, đề tài, bố cục, nghệ thuật và nội dung chính của bài thơ
Khi viết bài phân tích theo bố cục của bài thơ: bắt đầu từ phân tích các yếu tố nghệ thuậtnhư từ ngữ, hình ảnh,nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, các biện pháp tu từ, từ tượng hình, từtượng thanh, phép đối…Thông qua việc phân tích các yếu tố nghệ thuật để chỉ ra những nétđặc sắc về nội dung như: hình tượng thiên nhiên, con người và cảm xúc tâm trạng của nhàthơ
Có thể so sánh với các tác phẩm cùng chủ đề, cùng tác giả… kết hợp với các thông tin vềhoàn cảnh sáng tác, …để đưa ra lí giải, cảm nhận của mình Điều này đòi hỏi các em phảiđọc và nắm được các yếu tố ngoài văn bản nhưng có tác dụng soi sáng cách hiểu tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác: Gồm hoàn cảnh rộng ( bối cảnh lịch sử, không khí thời đại ảnhhưởng đến cảm hứng của nhà thơ) và hoàn cảnh hẹp ( hoàn cảnh gắn với tác giả)
Phong cách sáng tác của tác giả: bài thơ luôn in đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật củatác giả Vì vậy muốn biết pcnt của nhà thơ HS cần đọc thêm những tác phẩm khác củanhà thơ ấy Khi đọc cần lưu ý đến những đặc điểm về đề tài, cảm hứng quen thuộc vàcách sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ
VD: Hồ Xuân Hương thường viết về phụ nữ cá tính, khát khao hạnh phúc nhưng thânphận chìm nổi, với ngôn ngữ bình dị, dân dã
Trang 2 Thơ của Bà huyện Thanh Quan lại trang nhã, cổ điển, mẫu mực nhưng mang nặng nỗibuồn, hoài cổ.
Nguyễn Khuyến lại thường hay viết về làng quê Việt Nam với ngôn ngữ giản dị, giọngthơ nhẹ nhàng, hóm hỉnh, thâm thúy
Khi viết bài văn phân tích, việc lấy ra được những hiểu biết về phong cách tác giả,đồng thời so sánh được, liên hệ được tác giả này với tác giả khác là những thao tácđược đánh giá cao
Thao tác cuối cùng của việc phân tích là khẳng định được giá trị và ý nghĩa của bài thơ
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như rồng múa phương bay
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Trang 3Hồn ở đâu bây giờ?
( Ông đồ - Vũ Đình Liên)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1 Vũ Đình Liên là nhà thơ tiêu biểu trong phong trào nghệ thuật
Câu 2 Đâu là nhận định đúng về phong cách sáng tác của Vũ Đình Liên
A Thơ ông là những dòng chảy tâm tình, dạt dào, bao la, rạo rực
B Thơ ông hào sảng tràn ngập khí thế của tuổi trẻ đầy nhiệt huyết
C Thơ ông là những sầu vương của thời đại
D Thơ ông mang nặng nỗi niềm xưa, nỗi niềm hoài cổ, hoài vọng
Câu 3 Nghĩa của từ "ông Đồ" trong bài thơ ông "ông Đồ" của Vũ Đình
Liên là:
A Người dạy học nói chung
B Người dạy học chữ nho xưa
C Người chuyên viết câu đối bằng chữ nho
D Người viết chữ nho đẹp, chuẩn mực
Câu 4 Ngày nay, cách viết chữ, câu đối, câu thơ trên các trang giấy
thường được gọi là gì?
Trang 4A Nghệ thuật viết thư pháp.
Câu 7 Tác phẩm Ông đồ được sáng tác trong hoàn cảnh nào?
A Thời đại phong kiến, vua quan đàn áp người vẽ thư pháp
B Từ đầu thế kỉ XX, nền văn Hán học và chữ Nho ngày càng suy vi
C Thời chống Mỹ khi nhân dân tiếp xúc nhiều nền văn hóa Tây phương
D Khi đất nước hòa bình, con người đánh mất đi nhiều nền văn hóa
Câu 8 Ông đồ hiện lên với hoàn cảnh thế nào?
A Đau khổ, bất lực
B Bị đàn áp, hắt hủi
Trang 5C Đáng thương
D Được chào đón nồng nhiệt
Câu 9 Bài thơ thể hiện cảm xúc gì của tác giả dành cho ông đồ?
A Thương cảm
B Kính trọng
C Không quan tâm
D Biết ơn
Câu 10 Đâu không phải là giá trị nghệ thuật của bài thơ Ông đồ?
A Bài thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn gồm nhiều khổ
B Nghệ thuật miêu tả loài vật sinh động, đặc sắc
C Kết cấu đối lập đầu cuối tương ứng, chặt chẽ
D Ngôn từ trong sáng bình dị, truyền cảm
Câu 11 Hình ảnh nào lặp lại trong khổ thơ đầu và khổ thơ cuối của bài
Câu 12 Những ông đồ trong xã hội cũ trở nên thất thế và bị gạt ra lề
cuộc đời khi nào?
A Đã quá già, không còn đủ sức khỏe để làm việc
B Khi tranh vẽ và câu đối không còn được mọi người ưa thích
Trang 6C Khi chế độ thi cử phong kiến bị bãi bỏ, chữ Nho bị xem nhẹ.
D Khi các trường học mọc lên nhiều và chữ quốc ngữ trở nên phổ biếntrong nhân dân
Câu 13 Trong bài thơ, hình ảnh ông đồ già thường xuất hiện trên phố
vào thời điểm nào?
A Khi hoa mai nở, báo hiệu mùa xuân đã đến
B Khi kì nghỉ hè đã đến và học sinh nghỉ học
C Khi phố phường tấp nập, đông đúc
D Khi mùa xuân về, hoa đào nở rộ
Câu 14 Hình ảnh ông đồ già trong bài thơ gắn bó với vật dụng nào dưới
đây?
A Chiếc cày, con trâu, tẩu thuốc
B Nghiên bút, mực tàu, giấy đỏ, bức liễn
C Bàn ghế, giáo án, học sinh
D Chiếc gậy, quẻ xâm, vật dụng bói toán
Câu 15 Hai câu thơ: “Hoa tay thảo những nét/ Như phượng múa rồng
bay” nói lên điều gì?
A Ông đồ rất tài hoa
B.Ông đồ viết văn rất hay
C Ông đồ có hoa tay, viết câu đối rất đẹp
Trang 7B Năm nay đào lại nở - không thấy ông đồ xưa.
C Bao nhiêu người thuê viết – tấm tắc ngợi khen tài
D Nhưng mỗi năm mỗi vắng – người thuê viết nay đâu
Câu 17 Việc viết chữ thư pháp không còn thịnh hành dẫn đến điều gì?
A Ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước
B Gây nên những bất cập trong xã hội
C Nền văn hóa bị thiếu vắng một nét đẹp
D Gây nên sự đói khổ cho nhân dân
Câu 18 Bài thơ "Ông đồ" gửi đến chúng ta bài học gì?
A Tiếp thu những nền văn hóa mới
B Giữ gìn những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống
C Giữ gìn sự trong sáng của tiếng nói dân tộc
D Không dung nạp văn hóa ngoại lai
? Theo em, bài thơ Ông đồ có những đặc sắc nghệ thuật gì?
Trang 8Đề viết 1: Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài.” Em
hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua bài thơ “Ông đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên, em hãylàm sáng tỏ nhận định trên
- “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài”
+ Hồn tức là nội dung, ý nghĩa của bài thơ
+ Xác tức là nói đến hình thức nghệ thuật của bài thơ thể hiện ở thể loại, việc tổ chứcngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu, cấu tứ…
- Như vậy, theo Xuân Diệu thơ hay là có sự sáng tạo độc đáo về nội dung cũng như hìnhthức nghệ thuật, khơi gợi tình cảm cao đẹp và tạo được ấn tượng sâu sắc đối với ngườiđọc Chỉ khi đó thơ mới đạt đến vẻ đẹp hoàn mĩ của một chỉnh thể nghệ thuật
- Ý kiến của Xuân Diệu hoàn toàn xác đáng bởi nó xuất phát từ đặc thù sáng tạo của vănchương nghệ thuật Cái hay của một tác phẩm văn học được tạo nên từ sự kết hợp hài hòagiữa nội dung và hình thức Một nội dung mới mẻ có ý nghĩa sâu sắc phải được truyền tảibằng một hình thức phù hợp thì người đọc mới dễ cảm nhận, tác phẩm mới có sức hấpdẫn bền lâu
b2 “Ông đồ” của Vũ Đình Liên là bài thơ hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài
* Về nội dung: Bài thơ “Ông đồ” thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với một lớpngười đang trở nên lạc lõng và bị gạt ra ngoài lề cuộc đời; là niềm hoài cổ của tác giả vớimột nét đẹp truyền thống của dân tộc (thú chơi câu đối ngày Tết) bị tàn phai
- Ở hai khổ thơ đầu, qua hình ảnh ông đồ xưa trong thời kì huy hoàng, tác giả gửi gắmniềm kính trọng, ngưỡng mộ, nâng niu nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc
Trang 9+ Ông đồ xuất hiện bên phố phường đông đúc vào mỗi dịp tết đến xuân về Không khímùa xuân, hình ảnh “hoa đào nở” đã tươi thắm nay lại thêm “mực tàu giấy đỏ” làm mọinét vẽ trong bức tranh tả cảnh ông đồ rõ nét, tươi vui, tràn đầy sức sống Từ “lại” diễn tả
sự xuất hiện đều đặn của ông đồ với mùa xuân cùng với công việc viết chữ nho
+ Dòng người đông đúc đều quan tâm và ngưỡng mộ, khâm phục tài viết chữ của ông đồ.(Bao nhiêu người thuê viết/Tấm tắc ngợi khen tài) Nghệ thuật so sánh và thành ngữ
“Như phượng múa rồng bay” làm toát lên vẻ đẹp của nét chữ phóng khoáng, bay bổng,…-> Ông đồ trở thành tâm điểm chú ý của mọi người, là đối tượng của sự ngưỡng mộ Đó
là thời chữ nho được mến mộ, nhà nho được trọng dụng
- Hai khổ thơ tiếp theo tác giả vẽ lên bức tranh ông đồ thời nay, một kẻ sĩ lạc lõng, lẻ loigiữa giữa dòng đời xuôi ngược
+ Mùa xuân vẫn tuần hoàn theo thời gian, phố vẫn đông người qua nhưng ông đồ bị lãngquên, nho học bị thất sủng, người ta không còn quan tâm đến ông đồ, đến chữ ông đồviết
+ Câu hỏi tu từ và biện pháp nghệ thuật nhân hóa (Giấy đỏ buồn không thắm/Mực đọngtrong nghiên sầu) -> Nỗi buồn như lan tỏa, thấm cả vào những vật vô tri vô giác, tất cảnhư đồng cảm với nỗi niềm của ông đồ trước con người, thời thế Nghệ thuật tả cảnh ngụtình (Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài giời mưa bụi bay) gợi không gian buồn thảm, vắnglặng nhấn mạnh sự lẻ loi, bẽ bàng của ông đồ…
-> Một nét đẹp văn hóa dân tộc bị mai một, chữ nho đã trở nên lỗi thời, những người nhưông đồ bị rơi vào quên lãng Ông đồ trở thành “di tích tiều tụy đáng thương của một thờitàn”
- Khổ thơ cuối tác giả dùng để bày tỏ nỗi lòng, khơi gợi ở người đọc niềm thương xót đốivới ông đồ cũng như đối với một nét đẹp văn hóa của dân tộc bị mai một
+ Tết đến, xuân về, hoa đào vẫn nở nhưng không còn thấy ông đồ xưa -> Sau mỗi nămông đồ đã già và giờ đây đã trở thành người thiên cổ
Trang 10+ Câu hỏi tu từ thể hiện niềm cảm thương của tác giả cho những nhà nho danh giá mộtthời, nay bị lãng quên vì thế thời thay đổi, thương tiếc những giá trị tốt đẹp bị lụi tàn vàkhông bao giờ trở lại.
- Thể thơ ngũ ngôn gieo vần chân, lời thơ bình dị nhưng sâu lắng, cô đọng, kết cấu đầucuối tương ứng chặt chẽ Hình ảnh thơ giản dị, ngôn ngữ thơ hàm súc, gợi hình, gợi cảm.Kết cấu đầu cuối tương ứng, sử dụng câu hỏi tu từ, nhân hóa, bút pháp tả cảnh ngụ tình,
… gieo vào lòng người đọc niềm tiếc thương, day dứt
- Giọng điệu trầm lắng, xót xa thể hiện đúng tình cảnh của nhân vật trữ tình và hồn thơcủa tác giả
b.3 Đánh giá, nâng cao
- Sức hấp dẫn từ nội dung và nghệ thuật của bài thơ Ông đồ đã tác động sâu sắc đếnngười đọc bao thế hệ, khơi gợi niềm cảm thương chân thành đối với những nhà nho danhgiá một thời, nay bị lãng quên vì thế thời thay đổi, thương tiếc giá trị văn hóa tốt đẹp bịlụi tàn
- Bài học cho người nghệ sĩ: Bằng tài năng và tâm huyết của mình, nhà thơ hãy sáng tạonên những thi phẩm hay và giàu sức hấp dẫn từ nội dung đến hình thức Điều đó vừa làthiên chức vừa là trách nhiệm của nhà thơ, là yêu cầu thiết yếu, sống còn của sáng tạonghệ thuật
Trang 11- Sự tiếp nhận ở người đọc thơ: Cần thấy thơ hay là hay cả hồn lẫn xác Từ đó có sự tri
âm, sự đồng cảm với tác phẩm, với nhà thơ để có thể sẻ chia những tình cảm đồng điệu.Khi ấy, thơ sẽ có sức sống lâu bền trong lòng người đọc nhiều thế hệ
c Kết bài
- Khẳng định lại vấn đề
- Liên hệ…
Đề viết 2: Vũ Quần Phương đã nhận xét: “Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ,
không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt ông đồ.” Phân tíchbài thơ Ông Đồ để chứng minh ý kiến trên
cũ Thuở đắc thế, họ được người đời trọng vọng, tôn kính Ngày lễ tết hằng năm, ngườiđời đến với họ không chỉ để bày tỏ tấm lòng thành mà còn để cung kính xin lấy nhữngnét chữ “Tâm”, “Đức’, “Thọ”, “Lộc”, vuông vắn, đầy đặn: cái chữ vừa thể hiện cái tài,vừa thể hiện cái tâm của người cầm bút
Nhưng thời thế thay đổi, khi nền văn hóa phương Tây tràn vào nước ta rồi dần chiếm lĩnh
vị trí độc tôn trong sự học thì những ông đồ dần vắng bóng Cái tài, cái tâm của họ chỉcòn được thể hiện qua con chữ được bày bán bên đường Cảm với nỗi xót xa, bẽ bàngcủa “một lớp người tàn” ấy, Vũ Đình Liên viết nên một “Ông đồ” làm rung động lòngngười
Bài thơ là một thành công lớn của Vũ Đình Liên nói riêng và đối với Thơ mới nói chung.Bài thơ được viết theo thể năm chữ, vẻn vẹn năm khổ hai mươi câu nhưng đã làm sống
Trang 12lại hình ảnh ông đồ những năm đầu thế kỉ hai mươi và cả cái thời đại tiêu điều khi ấy.Bởi vậy, Vũ Quần Phương hẳn rất thấm thìa bài thơ khi nhận xét rằng: “Văn tả thật ít lời
mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội quamắt ông đồ”
Trong hai khổ thơ đầu, hình ảnh ông đồ hiện lên cùng những hình ảnh tươi tắn, nhộnnhịp:
"Mỗi năm hoa dào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua."
“Mỗi năm lại thấy”, hai cụm từ này cho thấy hình ảnh ông đồ đã trở nên quá quenthuộc Cùng với màu thắm của hoa đào, màu đỏ của giấy, màu đen nhánh của mực tàu và
sự đông vui tấp nập của phố phường, hình ảnh ông đồ đã trở nên không thể thiếu trongkhung cảnh mùa xuân
Ở khổ thơ tiếp theo, hình ảnh ông đồ đã trở thành trung tâm để mọi người chiêm ngưỡng
và ngợi ca:
"Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay."
Từ “bao nhiêu” cho biết ông đồ đang được người đời trọng vọng, cần nhờ vả đến Với tàinăng của ông họ “Tấm tắc ngợi khen tài”, ba phụ âm “t” cùng xuất hiện trong một câuthơ như tràng pháo tay giòn giã để ngợi khen sự tài hoa của ông đồ Cái tài năng
"Phượng múa rồng bay" của ông đồ dưới một bàn tay đầy khéo léo nghệ thuật đã làmrạng danh cho nền Hán học Cái tài ấy của ông đã được tặng cho mọi người về làm quàđón xuân, trang trí ngôi nhà ấm cúng tình cảm gia đình thật ấm áp hơn
Trang 13Nhưng dẫu sao, trong tiếng cười vui vẫn không sao giấu được nỗi ngậm ngùi Chữ Nhovốn được coi là chữ “Thánh hiền”, chữ Nho ông đồ viết là sự tụ hội của cái tài và cả cáitâm người cầm bút Nhưng giờ đây, những giá trị thiêng liêng ấy đã bị xô dạt đến bênđường phố để làm thứ cho “thuê” Chỉ một chữ ấy thôi mà đã thấy băn khoăn, thoảngbuồn biết mấy.
Thật đáng buồn biết bao, một truyền thống đẹp của dân tộc đã bị mai một đi, một hìnhảnh đầy sắc màu mùa xuân đã dần mất đi khi nền văn hoá phương Tây du nhập vào nước
ta Rồi đã đến lúc người ta quên lãng đi câu đối Tết để ngày Tết thưa thớt, thiếu vắng đinhững bóng hình quen thuộc:
"Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu "
Cũng là “mỗi năm” nhưng lại thêm từ “mỗi” và lại đứng sau chữ “nhưng” - con chữthường làm đảo lộn mọi trật tự quen thuộc Vũ Đình Liên đã phác họa một cảnh tượngđầy xót xa Vẫn trên nền hoa đào, ông đồ ngồi ủ rũ, thấp thoáng những bóng người xadần Giá như có một sự đột biến nào đó khiến người ta không thích chữ ông nữa thì làmột lẽ, đằng này những người đến với ông đồ cứ vơi dần đi, lòng người với thư phápcũng đã nhạt đi nhiều lắm Họa chăng có ai còn nghĩ đến ông cũng chỉ bởi lòng thươnghại đó thôi Các thủ pháp nhân hoá được sử dụng liên tiếp “giấy đỏ buồn”, “mực đọng”,
“nghiên sầu” chỉ tô đậm thêm nỗi thất vọng của ông đồ Người buồn, nên những vật dụngtừng gắn bó thân thiết với ông cũng sầu đạm theo: giấy không đỏ như xưa, mực trongnghiên cũng sầu não Có lẽ, giấy, nghiên mực không có tâm trạng, nhưng cái bi kịch tâmtrạng của giấy, mực cũng chính nhà thơ Vũ Đình Liên cũng không thể nhìn thấy nỗi xót
xa, bẽ bàng của ông đồ nói riêng và lớp người xưa cũ nói chung Nỗi buồn ấy không chỉthấm vào phương tiện mưu sinh mà còn thấm đẫm vào cảnh vật thiên nhiên, cảnh vật đãlàm cho không gian thêm hiu quạnh và hoang vắng