MỤC LỤC MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................... 1 2. Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận ............................................................................. 1 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận ........................................................... 2 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .................................................................... 2 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận ................................................................. 2 6. Kết cấu của tiểu luận ..................................................................................................... 3 CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA VIỆT NAM ............................. 4 1.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về văn hóa. ......................................................................... 4 1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa. ............................... 5 1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực chính của văn hóa. ....................... 7 CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA ĐẢNG VÀ TÌNH HÌNH VĂN HÓA VIỆT NAM, NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA VIỆT .................................................................................................................. 9 2.1. Xây dựng và bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam ....................................... 9 2.2. Xây dựng và bảo tồn trang phục truyền thống dân tộc Việt Nam ............................ 12 2.3. Xây dựng và bảo tồn lễ hội của dân tộc Việt Nam. ................................................. 13 2.4. Xây dựng và bảo tồn nghệ thuật dân tộc Việt Nam. ................................................ 15 KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng chung sống. Trong đó, dân tộc Kinh (còn gọi là dân tộc Việt) chiếm 86,2% dân số, 53 dân tộc thiểu số còn lại chiếm 13,8% dân số. Với một lượng lớn dân tộc chung sống với nhau như vậy, Việt Nam chắc chắn là một nền văn hóa khổng lồ với vô vàn những phong tục tập quán lâu đời. Không chỉ dừng lại ở phong tục tập quán, Việt Nam nổi tiếng với những lễ hội truyền thống, với những món ăn ẩm thực theo vùng miền và đặc biệt hơn là sự đa dạng về mặt ngôn ngữ do có nhiều dân tộc cùng sinh sống.1 Với mục đích nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những biện pháp xây dựng và bảo tồn văn hóa Việt Nam của Đảng và nhà nước, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, vượt qua những khó khăn, thách thức, nâng cao hiệu quả của chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa, nhóm đã chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và sự vận dụng của Đảng trong việc xây dựng và bảo tồn nền văn hóa truyền thống ở nước ta hiện nay.” làm tiểu luận kết thúc môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh. 2.Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận Mục đích Tìm hiểu và góp phần làm sáng tỏ hơn những nội dung cơ bản về chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa truyền thống Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Phân tích cụ thể, rõ ràng về thực trạng, đưa ra đánh giá khách quan về một số văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó tổng kết, đánh giá, rút ra những kinh nghiệm và đưa ra những giải pháp phù hợp để xây dựng và bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Nhiệm vụ 1Đinh Thị Hương Giang, Bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản, truy cập: https:www.tapchicongsan.org.vnwebguestvan_hoa_xa_hoi2018823611baodamtinhthongnhattrongdadangcuavanhoavietnamhiennay.aspx, 3112021. 1 Trình bày có hệ thống các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Tìm kiếm tài liệu thực tế, phân tích, chỉ rõ tình hình văn hóa Việt Nam và tầm quan trọng của văn hóa đối với người Việt và thế giới. Rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận Đối tượng nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước về vấn đề văn hóa, tiểu luận đi sâu nghiên cứu những văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận tập trung nghiên cứu về phương diện ngôn ngữ, trang phục, lễ hội và nghệ thuật tiêu biểu trên lãnh thổ Việt Nam. 4.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề văn hóa; các quan điểm, chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lenin. Phương pháp cụ thể: Các phương pháp nghiên cứu của Hồ Chí Minh như kết hợp phương pháp logic với phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp lí thuyết, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm vào nghiên cứu thực tiễn, phương pháp đối chiếu. 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận Tiểu luận góp phần cung cấp và làm rõ hơn những nội dung cơ bản của Đảng và Nhà nước về chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa Việt Nam, phục vụ cho các cơ quan, đơn 2 vị và cá nhân có nhu cầu tìm hiểu về các nội dung này. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách văn hóa ở Việt Nam trong thời gian tới. 6. Kết cấu của tiểu luận Tiểu luận được chia làm hai nội dung chính: Chương 1: Những nội dung cơ bản của Đảng và Nhà nước về chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa Việt Nam. Chương 2: Sự vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và tình hình văn hóa Việt Nam, những biện pháp xây dựng, bảo tồn văn hóa Việt. 3 CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA VIỆT NAM 1.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về văn hóa. 1.1.1. Định nghĩa về văn hóa và quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới. Khái niệm “văn hóa” có nội hàm phong phú và ngoại diện rất rộng. Chính vì vậy, đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Tháng 81943, khi còn trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Hồ Chí Minh nêu ra một định nghĩa về văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. 1.1.2. Quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới. Cùng với định nghĩa về văn hóa, Hồ Chí Minh còn đưa ra Năm điểm lớn định hướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc: 1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường 2.Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. 3.Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội. 4.Xây dựng chính trị: dân quyền 5.Xây dựng kinh tế. 4 1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa. 1.2.1. Quan điểm về vị trí và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, văn hóa được Hồ Chí Minh xác định là đời sống tinh thần của xã hội, là thuộc về kiến trúc thượng tầng. Văn hóa có mối quan hệ mật thiết với kinh tế, chính trị, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội và được nhận thức như sau: Văn hóa quan trọng ngang kinh tế, chính trị, xã hội. Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển. Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa. Từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ kinh tế thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, xây dựng kiến trúc thượng tầng. Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng nhưng không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. Văn hóa ở trong chính trị tức văn hóa phải tham gia vào nhiệm vụ chính trị, tham gia cách mạng, kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Văn hóa ở trong kinh tế tức là văn hóa phải phục vụ, thúc đẩy việc xây dựng và phát triển kinh tế. Văn hóa ở trong kinh tế và chính trị cũng có nghĩa là chính trị và kinh tế phải có tính văn hóa. 1.2.2. Quan điểm về tính chất của nền văn hóa mới. Đặc điểm chung nhất của bóng tối của chủ nghĩa thực dân, sống của nhân dân ta. nền văn hóa mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là xua tan đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, nền văn hóa mới là nền văn hóa dân chủ mới, đồng thời là nền văn hóa kháng chiến. Nền văn hóa đó có ba tính chất: dân tộc khoa học đại chúng. Tính chất dân tộc là cái cốt, cái tinh túy bên trong rất đặc trưng của nền văn hóa dân tộc. Nó phân biệt, không nhầm lẫn với văn hóa của các dân tộc khác. Nó là căn cước của một dân tộc. Cốt cách dân tộc không phải nhất thành bất biến, mà nó có sự phát triển, bổ sung những tinh túy mới. Tính chất dân tộc của nền văn hóa là biết giữ gìn, kế thừa, phát 5 huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, phát triển những truyền thống tốt đẹp ấy cho phù hợp với những điều kiện lịch sử mới của đất nước. Tính chất khoa học của nền văn hóa phải thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nền văn hóa mới phải phục vụ trào lưu đó. Tính chất đại chúng của nền văn hóa là phục vụ nhân dân, phù hợp với nguyện vọng nhân dân, đậm đà tính nhân văn. Đó là nền văn hóa do đại chúng nhân dân xây dựng. Trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, thời kỳ đầu Hồ Chí Minh nói tính chất nền văn hóa mới phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức. Nội dung xã hội chủ nghĩa là thể hiện tính tiên tiến, tiến bộ, khoa học, hiện đại, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với trào lưu tiến hóa trong thời đại mới. 1.2.3. Quan điểm về chức năng của văn hóa. Chức năng của văn hóa mới rất phong phú, đa dạng. Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa có ba chức năng chủ yếu sau đây: Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp. Lý tưởng là điểm hội tụ của tư tưởng lớn. Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, tự cường, độc lập, tự do; phải làm cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng. Đó là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Văn hóa còn góp phần xây đắp niềm tin cho con người, tin ở bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin, tin vào nhân dân, tin vào tiền đồ của cách mạng. Hai là, nâng cao dân trí. Văn hóa luôn gắn với dân trí. Không có văn hóa không có dân trí. Văn hóa nâng cao dân trí theo từng nấc thang, phục vụ mục tiêu cách mạng trước mắt và lâu dài. Nâng cao dân trí bắt đầu từ việc làm cho người dân biết đọc, biết viết. Đó là quá trình bổ sung kiến thức mới, làm cho mọi người không chỉ là chuyển biến dân trí mà còn nâng cao dân trí, điều mà khi chính trị chưa được giải phóng thì không thể làm được. Mục tiêu đó hiện nay Đảng ta chỉ rõ vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 6 Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách, lối sống lành mạnh, luôn hướng con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, không ngừng hoàn thiện bản thân mình. Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh phẩm chất đạo đức, chính trị của cán bộ, đảng viên. 1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực chính của văn hóa. 1.3.1. Văn hóa giáo dục Hồ Chí Minh phê phán nền giáo dục phong kiến và nền giáo dục thực dân. Người quan tâm xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập. Hồ Chí Minh xác định, xây dựng nền giáo dục mới là một nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa chiến lược. Mục tiêu của văn hóa giáo dục để thực hiện cả ba chức năng của văn hóa bằng giáo dục: Dạy và học để bồi dưỡng lý tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp; mở mang dân trí; bồi dưỡng những phẩm chất và phong cách tốt đẹp cho con người. Giáo dục nhằm đào tạo lớp người có đức, có tài, kế tục sự nghiệp cách mạng, làm cho nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Cải cách giáo dục bao gồm xây dựng chương trình, nội dung dạy và học hợp lý, phù hợp với các giai đoạn cách mạng. Học chính trị là học chủ nghĩa Mác Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Học để nắm các quan điểm có tính nguyên tắc, phương pháp luận. Phương châm, phương pháp giáo dục: Phương châm bao gồm: học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tế; học tập kết hợp với lao động; phối hợp nhà trường gia đình xã hội; thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; học suốt đời. Quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên vì không có giáo viên thì không có giáo dục. Phải xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất yêu nghề; phải có đạo đức cách mạng; phải yên tâm công tác, đoàn kết; phải giỏi về chuyên môn, thuần thục về phương pháp. 1.3.2. Văn hóa văn nghệ Hồ Chí Minh là người khai sinh nền văn nghệ cách mạng và có nhiều cống hiến to lớn, sáng tạo cho nền văn nghệ nước nhà. Sau đây là một số quan điểm chủ yếu của Hồ Chí Minh về văn hóa văn nghệ. 7 Văn nghệ là mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới. Văn nghệ là mặt trận được hiểu nó là một bộ phận của cách mạng, là văn nghệ cách mạng. Mặt trận là thể hiện tính chất cam go, quyết liệt. Văn nghệ vừa tiếp tục tham gia kháng chiến, đấu tranh thống nhất nước nhà, vừa xây dựng xã hội mới, con người mới. Văn nghệ góp phần định hướng tư tưởng đúng đắn theo quan điểm của Đảng, là những lực cản trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải gắn với thực tiễn của đời sống nhân dân. Quần chúng là những người làm ra lịch sử, sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần. Họ là những người đánh giá tác phẩm văn nghệ trung thực, khách quan, chính xác. Nhân dân là người hưởng thụ các giá trị tinh thần. Phải có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và thời đại. Đây là một khía cạnh phản ánh văn nghệ phục vụ quần chúng. Muốn phục vụ tốt quần chúng thì phải nâng cao chất lượng nội dung và hình thức của tác phẩm. 1.3.3. Văn hóa đời sống Xây dựng đời sống văn hóa mới được Hồ Chí Minh chỉ ra ngay sau khi mới giành được chính quyền, rồi nhanh chóng trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, tạo động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Văn hóa đời sống thực chất là đời sống mới với ba nội dung: đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới, trong đó đạo đức mới đóng vai trò chủ yếu nhất. Đạo đức mới: Thực hành đời sống mới trước hết là thực hành đạo đức cách mạng. Lối sống mới: Lối sống mới là lối sống có lý tưởng, có đạo đức; kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại tạo nên lối sống văn minh, tiên tiến. Tính văn hóa ở đây là biết cách ăn, cách mặc, cách ở. Điều này đặc biệt cần thiết đối với cán bộ quản lý, lãnh đạo. Nếp sống mới: Xây dựng nếp sống mới là xây dựng những thói quen và phong tục tập quán tốt đẹp, kế thừa và phát triển được những thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc. Thực tế cho thấy, cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu; cái xấu mà quen, người ta có thể cho là thường. 8 CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA ĐẢNG VÀ TÌNH HÌNH VĂN HÓA VIỆT NAM, NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA VIỆT 2.1. Xây dựng và bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam 2.1.1. Thực trạng xây dựng và bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam Về tiếng nói. Với đặc điểm sinh sống theo cộng đồng bản (thôn), 19 dân tộc thiểu số hầu hết còn bảo tồn được tiếng mẹ đẻ. Không chỉ các dân tộc có dân số đông mà cả những dân tộc có dân số rất ít trên địa bàn như: Cống, Mảng, Si La, Kháng, La Hủ…. khi giao tiếp giữa các thế hệ trong gia đình và giao tiếp với người cùng dân tộc hay khi cầu cúng, ca hát…họ vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ. Bên cạnh đó, việc sử dụng song ngữ Tiếng Việt, tiếng dân tộc và đa ngữ khá phổ biến. Không ít người ngoài tiếng mẹ đẻ còn nghe, nói thông thạo tiếng của một số dân tộc khác, nhất là 4 dân tộc có dân số đông là Mông, Thái, Dao, Hà Nhì, đều ảnh hưởng tới các dân tộc khác trong việc giao tiếp bằng tiếng nói. Người Khơ Mú trên địa bàn tỉnh Lai Châu đứng thứ 8 trên tổng số 19 dân tộc thiểu số. Họ đều biết nói tiếng Khơ Mú nhưng thường sống đan xen với các dân tộc khác. Khảo sát tại bản Hô Ta, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên có 146 hộ, 669 nhân khẩu, có 70% là đồng bào Khơ Mú, còn lại là sống cùng với đồng bào dân tộc Kinh, Thái, Dao, Mông. Trong khi họp bản và sinh hoạt đời sống thường ngày đa số họ lại sử dụng tiếng Việt và tiếng Thái, chỉ có các gia đình là người Khơ Mú hoàn toàn thì mới sử dụng tiếng Việt và tiếng Khơ Mú. Tuy nhiên, qua khảo sát bản Hô Ta và một số người Khơ Mú trên địa bàn tỉnh cho thấy, hầu hết đồng bào Khơ Mú nói thành thạo tiếng Thái. Một số dân tộc thiểu số ở Lai Châu hiện nay như: dân tộc Hoa, Phù Lá, Tày, Nùng, Mường do dân số ít và không cư trú tập trung thành cộng đồng mà phân tán rải rác trong các bản của 4 dân tộc có dân số đông như Thái, Dao, Mông, Hà Nhì và gần như hòa vào các dân tộc này, đa số họ nói tiếng Thái. 9 Như vậy có thể thấy, hầu hết các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lai Châu đều giữ được tiếng mẹ đẻ nhưng nguy cơ mai một trong tương lai là rất cao. Về chữ viết. Tỉnh Lai Châu có 6 dân tộc được xác định là có chữ viết: Dao, Thái, Mông, Lào, Lự, Hoa. Tuy nhiên, hiện có 02 dân tộc (Thái, Dao) sử dụng chữ viết dân tộc trong hoạt động văn hóa, nhưng số người biết viết chữ này không nhiều. Chữ viết của người Thái còn được lưu giữ và hiện đang có một số lớp của các nghệ nhân dân gian truyền dạy ở huyện Phong Thổ, Than Uyên. Chữ viết của dân tộc Dao còn được bảo tồn trong một số cuốn sách và đang có 01 lớp truyền dạy tại xã Ma Ly Pho, huyện Phong Thổ. Tuy nhiên, chữ viết của người Dao là bộ chữ hình khối kiểu chữ Hán, khó học và chỉ sử dụng trong các nghi lễ, tín ngưỡng. Chữ viết của dân tộc Lự, Lào ở Lai Châu đã mai một. Các dân tộc Lào, Lự vốn có chữ viết tương tự như dân tộc Thái, nhưng hiện nay chỉ còn rất ít người biết (chủ yếu là người cao tuổi). Từ một số vấn đề trên, chúng tôi thiết nghĩ, nguy cơ mai một ngôn ngữ của dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh là rất lớn. Ngoài việc tỉnh đang tiếp tục bảo tồn lưu giữ bản sắc văn hóa đồng bào các dân tộc và tập hợp một số lớp truyền dạy chữ viết dân tộc Thái tại huyện Than Uyên, Phong Thổ thì việc khôi phục chữ viết cho một số đồng bào cũng cần phải tính tới cách làm “bền vững” là phải có cơ chế, chính sách riêng trong thời gian tới để việc người dân tộc thiểu số vừa nói, viết thông thạo tiếng Việt nhưng vẫn phải nói và viết được ngôn ngữ của chính dân tộc mình. Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hoá chung của cả nước. ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông. Cùng với chữ phổ thông, chữ dân tộc tham gia nhiều mặt hoạt động ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là trong việc giữ gìn và phát triển vốn văn hoá dân tộc. Vì thế, đi đôi với việc hoàn thành phổ cập tiếng và chữ phổ thông, cần ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số xây dựng mới hoặc cải tiến chữ viết của từng dân tộc …
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VĂN HÓA, VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG
TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ BẢO TỒN
NỀN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 2ĐIỂM SỐ
ĐIỂM
NHẬN XÉT
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận 2
6 Kết cấu của tiểu luận 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA VIỆT NAM 4
1.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về văn hóa 4
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa 5
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực chính của văn hóa 7
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA ĐẢNG VÀ TÌNH HÌNH VĂN HÓA VIỆT NAM, NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA VIỆT 9
2.1 Xây dựng và bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam 9
2.2 Xây dựng và bảo tồn trang phục truyền thống dân tộc Việt Nam 12
2.3 Xây dựng và bảo tồn lễ hội của dân tộc Việt Nam 13
2.4 Xây dựng và bảo tồn nghệ thuật dân tộc Việt Nam 15
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng chung sống Trong đó,dân tộc Kinh (còn gọi là dân tộc Việt) chiếm 86,2% dân số, 53 dân tộc thiểu số còn lạichiếm 13,8% dân số Với một lượng lớn dân tộc chung sống với nhau như vậy, Việt Namchắc chắn là một nền văn hóa khổng lồ với vô vàn những phong tục tập quán lâu đời.Không chỉ dừng lại ở phong tục tập quán, Việt Nam nổi tiếng với những lễ hội truyềnthống, với những món ăn ẩm thực theo vùng miền và đặc biệt hơn là sự đa dạng về mặtngôn ngữ do có nhiều dân tộc cùng sinh sống.1
Với mục đích nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những biện pháp xây dựng và bảo tồnvăn hóa Việt Nam của Đảng và nhà nước, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm khắcphục những tồn tại, hạn chế, vượt qua những khó khăn, thách thức, nâng cao hiệu quả của
chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa, nhóm đã chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hóa, và sự vận dụng của Đảng trong việc xây dựng và bảo tồn nền văn hóa truyền thống ở nước ta hiện nay.” làm tiểu luận kết thúc môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh.
2 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận
Mục đích
Tìm hiểu và góp phần làm sáng tỏ hơn những nội dung cơ bản về chính sách xâydựng và bảo tồn văn hóa truyền thống Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Phântích cụ thể, rõ ràng về thực trạng, đưa ra đánh giá khách quan về một số văn hóa tiêu biểucủa dân tộc Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó tổng kết, đánh giá, rút ra những kinhnghiệm và đưa ra những giải pháp phù hợp để xây dựng và bảo tồn văn hóa truyền thốngdân tộc Việt Nam
Nhiệm vụ
1 Đinh Thị Hương Giang, Bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam hiện nay, Tạp
chí
Cộng sản, truy cập: thong-nhat-trong-da-dang-cua-van-hoa-viet-nam-hien-nay.aspx, 3/11/2021.
Trang 5https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/823611/bao-dam-tinh-Trình bày có hệ thống các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước ta về chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Tìm kiếm tài liệu thực tế, phân tích, chỉ rõ tình hình văn hóa Việt Nam và tầmquan trọng của văn hóa đối với người Việt và thế giới
Rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng caohiệu quả thực hiện chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa truyền thống Việt Nam trongthời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
Đối tượng nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản về chính sách dân tộc của Đảng vàNhà nước về vấn đề văn hóa, tiểu luận đi sâu nghiên cứu những văn hóa tiêu biểu của dântộc Việt Nam hiện nay
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lenin
Phương pháp cụ thể: Các phương pháp nghiên cứu của Hồ Chí Minh như kết hợpphương pháp logic với phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp lí thuyết,phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm vào nghiên cứu thực tiễn, phương pháp đốichiếu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận
Tiểu luận góp phần cung cấp và làm rõ hơn những nội dung cơ bản của Đảng và Nhànước về chính sách xây dựng và bảo tồn văn hóa Việt Nam, phục vụ cho các cơ quan, đơn
Trang 6vị và cá nhân có nhu cầu tìm hiểu về các nội dung này Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách văn hóa ở Việt Nam trong thời gian tới.
6 Kết cấu của tiểu luận
Tiểu luận được chia làm hai nội dung chính:
Chương 1: Những nội dung cơ bản của Đảng và Nhà nước về chính sách xây dựng
và bảo tồn văn hóa Việt Nam
Chương 2: Sự vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và tình hình văn hóa Việt Nam, những biện pháp xây dựng, bảo tồn văn hóa Việt
Trang 7CHƯƠNG 1:
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA VIỆT NAM
1.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về văn hóa.
1.1.1 Định nghĩa về văn hóa và quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới.
Khái niệm “văn hóa” có nội hàm phong phú và ngoại diện rất rộng Chính vì vậy,
đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa Tháng 8-1943, khi còn trong nhà tù của TưởngGiới Thạch, lần đầu tiên Hồ Chí Minh nêu ra một định nghĩa về văn hóa: "Vì lẽ sinh tồncũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữviết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinhhoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo vàphát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùngvới biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn"
1.1.2 Quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới.
Cùng với định nghĩa về văn hóa, Hồ Chí Minh còn đưa ra Năm điểm lớn địnhhướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc:
"1 Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường
2 Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng
3 Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã
hội
4 Xây dựng chính trị: dân quyền
5 Xây dựng kinh tế"
4
Trang 81.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa.
1.2.1 Quan điểm về vị trí và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội.
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, văn hóa được Hồ Chí Minh xác định làđời sống tinh thần của xã hội, là thuộc về kiến trúc thượng tầng Văn hóa có mối quan hệmật thiết với kinh tế, chính trị, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội
và được nhận thức như sau:
Văn hóa quan trọng ngang kinh tế, chính trị, xã hội Chính trị, xã hội có được giảiphóng thì văn hóa mới được giải phóng Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa pháttriển
Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa Từnhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ kinh tế thuộc
về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, xây dựng kiến trúc thượng tầng
Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng nhưng không thể đứng ngoài, mà phải ở trongkinh tế và chính trị Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triểnkinh tế "Văn hóa ở trong chính trị" tức văn hóa phải tham gia vào nhiệm vụ chính trị, thamgia cách mạng, kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội "Văn hóa ở trong kinh tế" tức làvăn hóa phải phục vụ, thúc đẩy việc xây dựng và phát triển kinh tế "Văn hóa ở trong kinh tế
và chính trị" cũng có nghĩa là chính trị và kinh tế phải có tính văn hóa
1.2.2 Quan điểm về tính chất của nền văn hóa mới.
Đặc điểm chung nhất của
bóng tối của chủ nghĩa thực dân,
sống của nhân dân ta
nền văn hóa mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh là xua tan đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, nền văn hóa mới là nền văn hóa dân chủmới, đồng thời là nền văn hóa kháng chiến Nền văn hóa đó có ba tính chất: dân tộc -khoa học - đại chúng
Tính chất dân tộc là cái "cốt", cái tinh túy bên trong rất đặc trưng của nền văn hóa dântộc Nó phân biệt, không nhầm lẫn với văn hóa của các dân tộc khác Nó là "căn cước" củamột dân tộc Cốt cách dân tộc không phải "nhất thành bất biến", mà nó có sự phát triển, bổsung những tinh túy mới Tính chất dân tộc của nền văn hóa là biết giữ gìn, kế thừa, phát
Trang 9huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, phát triển những truyền thống tốtđẹp ấy cho phù hợp với những điều kiện lịch sử mới của đất nước.
Tính chất khoa học của nền văn hóa phải thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởnghiện đại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Nền văn hóa mới phải phục
1.2.3 Quan điểm về chức năng của văn hóa.
Chức năng của văn hóa mới rất phong phú, đa dạng Hồ Chí Minh cho rằng, vănhóa có ba chức năng chủ yếu sau đây:
Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp Lý tưởng là điểm hội tụcủa tư tưởng lớn Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa phải làm cho ai cũng có lý tưởng tựchủ, tự cường, độc lập, tự do; phải làm cho quốc dân "có tinh thần vì nước quên mình, vìlợi ích chung mà quên lợi ích riêng" Đó là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xãhội, thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.Văn hóa còn góp phần xây đắp niềm tin cho con người, tin ở bản chất khoa học và cáchmạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào nhân dân, tin vào tiền đồ của cách mạng
Hai là, nâng cao dân trí Văn hóa luôn gắn với dân trí Không có văn hóa không códân trí Văn hóa nâng cao dân trí theo từng nấc thang, phục vụ mục tiêu cách mạng trướcmắt và lâu dài Nâng cao dân trí bắt đầu từ việc làm cho người dân biết đọc, biết viết Đó
là quá trình bổ sung kiến thức mới, làm cho mọi người không chỉ là chuyển biến dân trí
mà còn nâng cao dân trí, điều mà khi chính trị chưa được giải phóng thì không thể làmđược Mục tiêu đó hiện nay Đảng ta chỉ rõ vì "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh"
Trang 10Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách, lối sống lành mạnh,luôn hướng con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, không ngừng hoàn thiện bảnthân mình Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh phẩm chất đạo đức, chính trị của cán bộ,đảng viên.
1.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực chính của văn hóa.1.3.1 Văn hóa giáo dục
Hồ Chí Minh phê phán nền giáo dục phong kiến và nền giáo dục thực dân Ngườiquan tâm xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập Hồ Chí Minh xác định,xây dựng nền giáo dục mới là một nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa chiến lược
Mục tiêu của văn hóa giáo dục để thực hiện cả ba chức năng của văn hóa bằng giáodục: Dạy và học để bồi dưỡng lý tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp; mở mang dân trí;bồi dưỡng những phẩm chất và phong cách tốt đẹp cho con người Giáo dục nhằm đào tạolớp người có đức, có tài, kế tục sự nghiệp cách mạng, làm cho nước ta sánh vai cùng cáccường quốc năm châu
Cải cách giáo dục bao gồm xây dựng chương trình, nội dung dạy và học hợp lý,phù hợp với các giai đoạn cách mạng Học chính trị là học chủ nghĩa Mác - Lênin, đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước Học để nắm các quan điểm có tính nguyên tắc,phương pháp luận
Phương châm, phương pháp giáo dục: Phương châm bao gồm: học đi đôi với hành,
lý luận liên hệ với thực tế; học tập kết hợp với lao động; phối hợp nhà trường gia đình
-xã hội; thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; học suốt đời
Quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên vì không có giáo viên thì không có giáo dục.Phải xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất yêu nghề; phải có đạo đức cách mạng; phảiyên tâm công tác, đoàn kết; phải giỏi về chuyên môn, thuần thục về phương pháp
1.3.2 Văn hóa văn nghệ
Hồ Chí Minh là người khai sinh nền văn nghệ cách mạng và có nhiều cống hiến tolớn, sáng tạo cho nền văn nghệ nước nhà Sau đây là một số quan điểm chủ yếu của HồChí Minh về văn hóa văn nghệ
Trang 11Văn nghệ là mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc béntrong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới Văn nghệ là mặttrận được hiểu nó là một bộ phận của cách mạng, là văn nghệ cách mạng "Mặt trận" làthể hiện tính chất cam go, quyết liệt.
Văn nghệ vừa tiếp tục tham gia kháng chiến, đấu tranh thống nhất nước nhà, vừaxây dựng xã hội mới, con người mới Văn nghệ góp phần định hướng tư tưởng đúng đắntheo quan điểm của Đảng, là những lực cản trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội
Phải gắn với thực tiễn của đời sống nhân dân Quần chúng là những người làm ra lịch
sử, sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần Họ là những người đánh giá tác phẩm văn nghệtrung thực, khách quan, chính xác Nhân dân là người hưởng thụ các giá trị tinh thần
Phải có những tác phẩm xứng đáng với dân tộc và thời đại Đây là một khía cạnhphản ánh văn nghệ phục vụ quần chúng Muốn phục vụ tốt quần chúng thì phải nâng caochất lượng nội dung và hình thức của tác phẩm
1.3.3 Văn hóa đời sống
Xây dựng đời sống văn hóa mới được Hồ Chí Minh chỉ ra ngay sau khi mới giànhđược chính quyền, rồi nhanh chóng trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, tạođộng lực mạnh mẽ cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc
Văn hóa đời sống thực chất là đời sống mới với ba nội dung: đạo đức mới, lối sốngmới, nếp sống mới, trong đó đạo đức mới đóng vai trò chủ yếu nhất
Đạo đức mới: Thực hành đời sống mới trước hết là thực hành đạo đức cách mạng.Lối sống mới: Lối sống mới là lối sống có lý tưởng, có đạo đức; kết hợp hài hòatruyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại tạo nên lối sống văn minh,tiên tiến Tính văn hóa ở đây là biết cách ăn, cách mặc, cách ở Điều này đặc biệt cần thiếtđối với cán bộ quản lý, lãnh đạo
Nếp sống mới: Xây dựng nếp sống mới là xây dựng những thói quen và phong tụctập quán tốt đẹp, kế thừa và phát triển được những thuần phong mỹ tục lâu đời của dântộc Thực tế cho thấy, cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu; cái xấu mà quen, người ta
có thể cho là thường
Trang 12CHƯƠNG 2:
SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA ĐẢNG VÀ TÌNH HÌNH VĂN HÓA VIỆT NAM, NHỮNG BIỆN PHÁP XÂY
DỰNG VÀ BẢO TỒN VĂN HÓA VIỆT
2.1 Xây dựng và bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam
2.1.1 Thực trạng xây dựng và bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam
Về tiếng nói
Với đặc điểm sinh sống theo cộng đồng bản (thôn), 19 dân tộc thiểu số hầu hết cònbảo tồn được tiếng mẹ đẻ Không chỉ các dân tộc có dân số đông mà cả những dân tộc códân số rất ít trên địa bàn như: Cống, Mảng, Si La, Kháng, La Hủ… khi giao tiếp giữa cácthế hệ trong gia đình và giao tiếp với người cùng dân tộc hay khi cầu cúng, ca hát…họvẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ Bên cạnh đó, việc sử dụng song ngữ Tiếng Việt, tiếng dân tộc
và đa ngữ khá phổ biến Không ít người ngoài tiếng mẹ đẻ còn nghe, nói thông thạo tiếngcủa một số dân tộc khác, nhất là 4 dân tộc có dân số đông là Mông, Thái, Dao, Hà Nhì,đều ảnh hưởng tới các dân tộc khác trong việc giao tiếp bằng tiếng nói
Người Khơ Mú trên địa bàn tỉnh Lai Châu đứng thứ 8 trên tổng số 19 dân tộc thiểu
số Họ đều biết nói tiếng Khơ Mú nhưng thường sống đan xen với các dân tộc khác Khảosát tại bản Hô Ta, xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên có 146 hộ, 669 nhân khẩu, có 70% làđồng bào Khơ Mú, còn lại là sống cùng với đồng bào dân tộc Kinh, Thái, Dao, Mông.Trong khi họp bản và sinh hoạt đời sống thường ngày đa số họ lại sử dụng tiếng Việt vàtiếng Thái, chỉ có các gia đình là người Khơ Mú hoàn toàn thì mới sử dụng tiếng Việt vàtiếng Khơ Mú Tuy nhiên, qua khảo sát bản Hô Ta và một số người Khơ Mú trên địa bàntỉnh cho thấy, hầu hết đồng bào Khơ Mú nói thành thạo tiếng Thái
Một số dân tộc thiểu số ở Lai Châu hiện nay như: dân tộc Hoa, Phù Lá, Tày, Nùng,Mường do dân số ít và không cư trú tập trung thành cộng đồng mà phân tán rải rác trongcác bản của 4 dân tộc có dân số đông như Thái, Dao, Mông, Hà Nhì và gần như hòa vàocác dân tộc này, đa số họ nói tiếng Thái