Mục tiêu nghiên cứu Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho người đọc cũng như chúng tôi có thể hiểu thêm được về khái niệm thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.. NỘI DUN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
🙞···☼···🙞
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI
THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI THÀNH TỰU VỀ
ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY Ở VIỆT NAM
LỚP L12 - NHÓM L12S - HK 211 GVHD: TS.GVC HỒ NGỌC ANH SINH VIÊN THỰC HIỆN
BTL
ĐIỂM BTL
GHI CHÚ
Trang 2T
được phân công
% Điểm BTL
Điểm BTL
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu 2
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC 3
1.1 Nguồn gốc và bản chất của nhận thức 3
1.1.1 Khái quát các nguyên tắc lý luận nhận thức duy vật biện chứng 3
1.1.2 Khái niệm 3
1.1.3 Bản chất của nhận thức 4
1.2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 5
1.2.1 Phạm trù thực tiễn 5
1.2.2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 6
1.2.3 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý 7
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC “THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ” VÀO PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 9
2.1 Mô hình Điện toán đám mây 9
2.1.1 Nguồn gốc của Điện toán đám mây 9
2.1.2 Khái niệm Điện toán đám mây 10
2.2 Điện toán đám mây ở Việt Nam 11
2.2.1 Lịch sử phát triển 11
2.2.2 Tình hình phát triển, thành tựu 12
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 4CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vào năm 2011, tại Đức, lần đầu tiên cụm từ “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đã được giới thiệu bởi một nhóm các nhà khoa học người Đức đang phát triển một chiến lược
kỹ thuật cao Cụm từ này bắt đầu phổ biến hơn ở các bài báo trên thế giới, và đến năm 2016 tại Cuộc họp thường niên diễn đàn kinh tế thế giới đã lấy chủ đề “Làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” là chủ đề chính Từ đó thế giới bắt đầu vào thời kì mới mang tên Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hay có tên gọi thân quen khác là Cách mạng 4.0
Nếu ở cuộc CMCN lần thứ ba là một bước tiến của nhân loại với sự phát triển của chất bán dẫn làm nên máy tính cá nhân, siêu máy tính và mạng Internet, là những sản phẩm
đã ảnh hưởng và là bước đệm cho các ngành khoa học máy tính phát triển thì cuộc CMCN lần thứ tư là thành quả của quá trình phát triển của các ngành trên khi nó tạo ra nhiều công nghệ mới như in 3D, trí tuệ nhân tạo, Internet of Things, Big Data, Cloud (Điện toán đám mây), …
Khác với các cuộc CMCN trước, cuộc CMCN lần thứ tư này có bước phát triển rất vượt bậc, với tốc độ nhanh chóng Nếu nói những lần trước đây, sự phát triển về các công nghệ diễn ra ở mức tương đối chậm (do công nghệ thời ấy chưa được hiện đại, đồng thời cũng thuộc những thời kì chiến tranh) thì ở lần thứ tư, các công nghệ phát triển một cách chóng mặt như cấp số nhân Chúng thường xuyên được nghiên cứu, cải tiến và đưa ra thị trường trong thời gian rất ngắn so với những lần trước Những công nghệ được thúc đẩy phát triển nên sự tương tác lẫn nhau giữa chúng là vô cùng mạnh mẽ, là tiền đề cho sự ra đời của một thế giới số hóa, tự động hóa ngày càng hiệu quả, thông minh
Ở trong đời sống hiện tại, hầu hết mọi người đều đang sử dụng các thành tựu của các công nghệ trên, nhưng không phải ai cũng sử dụng tất cả chúng thường xuyên như những người thuộc chuyên ngành về máy tính, và có một công nghệ mà đa phần chúng ta
sẽ sử dụng nhiều nhất, đó chính là Cloud (Điện toán đám mây)
Trang 62 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Như đã giới thiệu ở trên, mô hình Điện toán đám mây (Cloud) sẽ là đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi trong lần này Mô hình này được sử dụng rộng rãi trên thế giới và cũng như đang được đón nhận tích cực ở Việt Nam, vì vậy đây là điều kiện cho nhóm chúng tôi có thể thu gọn phạm vi nghiên cứu lại là ở nước ta, đồng thời cũng liên hệ một vài nội dung ở bên ngoài thế giới
3 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho người đọc cũng như chúng tôi có thể hiểu thêm được về khái niệm thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Ngoài ra cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về mô hình Điện toán đám mây (Cloud) và tác động của nó đến xã hội ngày nay, đặc biệt ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp biện chứng duy vật vào đề tài
- Tìm kiếm thông tin thông qua sách, báo, các trang mạng…
- Thu thập, xử lí, định lượng thông tin phù hợp
- Phân tích, đánh giá
5 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 2 chương như sau:
-Chương 1: Khái lược thức tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
-Chương 2: Vận dụng nguyên tắc “Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý” vào phân tích nguyên nhân và tác động của mô hình Điện toán đám mây
Trang 7NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC
TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC 1.1 Nguồn gốc và bản chất của nhận thức
1.1.1 Khái quát các nguyên tắc lý luận nhận thức duy vật biện chứng
Mác và Ăngghen đã kế thừa những thành tựu về khoa học kỹ thuật thực tiễn của xã hội để xây dựng nên lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng và thực sự đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức
Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác-Lênin được xây dựng trên 4 nguyên tắc cơ bản là:
Một là nguyên tắc khách quan: thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc
lập với ý thức con người
Hai là nguyên tắc khả tri: thừa nhận khả năng nhận thức về thế giới của con người,
coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người Không
có gì là không thể nhận thức được, chỉ có cái con người chưa nhận thức được mà thôi
Ba là nguyên tắc biện chứng: nhận thức là một quá trình biện chứng, sáng tạo, tích
cực và tự giác Quá trình nhận thức diễn ra theo trình tự từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và đến thực tiễn V I Lênin viết: “Trong lý luận nhận thức… phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào.”(1)
Bốn là nguyên tắc thực tiễn: coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp của nhận
thức, ngoài ra cũng là động lực, mục đích, tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
1.1.2 Khái niệm
Nguồn gốc của nhận thức: nhận thức được hình thành nhờ sự tác động giữa con người (có đầy đủ nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính) với thế giới khách quan (thông qua thực tiễn)
Khái niệm: nhận thức là quá trình phản ánh chủ động, tích cực, sáng tạo thế giới
1V I Lênin (1980), Toàn tập, tập 18, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, tr 117
Trang 8khách quan vào bộ óc con người, là quá trình tạo thành tri thức về thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn(2)
Ta có thể thấy, với khái niệm về nhận thức theo chủ nghĩa duy vật biện chứng là khác hoàn toàn so với chủ nghĩa duy tâm coi ý thức là nguồn gốc của thế giới khách quan hay
sự vật là phức hợp của cảm giác, hoặc theo chủ nghĩa duy vật tầm thường coi nhận thức là một quá trình trong đó “óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật” Như vậy với khẳng định của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nhận thức, con người chúng ta dần tiến bộ hơn và đồng thời trả lời được câu hỏi “Liệu con người có nhận thức được thế giới?”
1.1.3 Bản chất của nhận thức
Gồm 3 luận điểm như sau:
Luận điểm đầu tiên: theo quan niệm của triết học Mác-Lênin nhận thức là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người
Luận điểm thứ hai: nhận thức là một quá trình biện chứng có vận động và phát triển Luận điểm thứ ba: nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức trên cơ sở thực tiễn
Cùng làm rõ luận điểm thứ nhất, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người, bởi vì phản ánh của não người là hình thức cao nhất của sự phản ánh của hiện thực là hình thức phản ánh chủ động tích cực và sáng tạo Nhờ có nhận thức con người mới có ý thức về thế giới bên ngoài
Ở luận điểm thứ hai, Nhận thức là quá trình phản ánh đi từ chưa biết đến biết, đi từ biết
ít đến biết nhiều, đi từ biết về hiện tượng đến biết về bản chất, đi từ bản chất cấp một đến bản chất cấp hai rồi cao hơn, …
Và cuối cùng, luận điểm thứ ba, Lênin nói “Trong lý luận nhận thức, cũng như tất cả các lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả
2 Tài liệu học tập môn Triết học Mác – Lenin (trường Đại học Bách Khoa TPHCM), NXB ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 9định bằng nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và sẵn có, mà phải nhận xét xem sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào”
Khẳng định rằng nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức trên cơ sở thực tiễn
1.2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những
công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải và các điều kiện thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình và xã hội
Ví dụ: dùng cuốc để trồng trọt tạo ra của cải nguồn thức ăn để cung cấp dinh dưỡng sinh
tồn và phát triển về thể chất trí óc của con người
Hoạt động chính trị - xã hội: là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người khác
nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển
Ví dụ: hoạt động tổ chức xuất khẩu lao động cho người lao động kiếm thu nhập từ người
nước ngoài hoặc trong nước góp phần kinh tế xã hội phát triển
Trang 10Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hoạt động được tiến hành trong những điều
kiện do con người tạo ra gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên
và xã hội nhằm xác định các quy luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu
Ví dụ: nghiên cứu và nhân giống cây trồng tạo năng suất cao hơn so với giống có trên
tự nhiên làm đa dạng sinh học trong tự nhiên
Trong ba hình thức hoạt động thực tiễn cơ bản trên, mỗi hoạt động có vai trò
khác nhau, nhưng hoạt động sản xuất vật chất là cơ bản nhất, quan trọng nhất Vì không có
sản xuất vật chất, con người và xã hội loài người không thể tổn tại và phát triển
Sản xuất vật chất còn là cơ sở cho sự tồn tại của của các hình thức thực tiễn khác cũng như tất cả các hoạt động sống khác của con người
1.2.2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn là cơ sở của nhận thức: Thực tiễn cung cấp những tài liệu, chất liệu cho nhận thức của con người
Thực tiễn là động lực của nhận thức: Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức; rèn luyện các giác quan của con người ngày càng tinh tế hơn, hoàn thiện hơn, công cụ nhận thức ngày càng tinh vi, hiện đại làm cho năng lực
tư duy ngày càng phát triển
Thực tiễn là mục đích của nhận thức: nhận thức để cải biến thể giới khách quan, cải biến xã hội, vì nhu cầu của con người Vì vậy, nhận thức từ thực tiễn mà ra, phải quay về phục vụ thực tiễn Tri thức chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay gián tiếp để phục vụ con người
Nguyên tắc thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn:
Cần phải quán triệt quan điểm thực tiễn trong hoạt động của con người Nếu rời xa thực tiễn sẽ dẫn đến bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu Bệnh giáo điều
Trang 11là khuynh hướng tư tưởng và hành động cường điệu lý luận coi nhẹ thực tiễn, tách lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử - cụ thể
Cần tránh tuyệt đối hóa thực tiễn coi thường lý luận sẽ dẫn đến căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, lười biếng, không chịu học tập lý luận, không phát huy được tính định hướng, dẫn dắt, soi đường của lý luận
Quan điểm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát
từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng tổng kết thực tiễn, để bổ sung, hoàn thiện, phát triển nhận thức, lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách Trong hoạt động của con người, việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành
1.2.3 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Để có thể chứng minh được điều trên, ta phải hiểu về khái niệm chân lý là gì
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chân lý là những tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm
Về tính chất của chân lý:
Đầu tiên, ta cần biết rằng, chân lý luôn là chân lý khách quan, tức những tri thức mà nội dung của nó tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào con người
Ví dụ: những định luật về vật lý được con người khám phá ra chứ không sáng tạo ra
chúng, chúng vốn tồn tại khách quan chứ không do con người quyết định
Thứ hai, chân lí có tính tuyệt đối và tương đối Tương đối là chưa phản ánh được đầy
đủ thực tại của khách quan, tuyệt đối là phản ánh đầy đủ thực tại của khách quan
Trang 12Ví dụ: bản chất ánh sáng vừa là hạt vừa là sóng Nếu chỉ kết luận bản chất ánh sáng
bằng một trong hai tính chất trên thì đó là tương đối
Và cuối cùng, chân lí mang tính cụ thể: mỗi tri thức đều có điều kiện của nó để phản ánh sự vật
Ví dụ: Điều kiện để tam giác vuông là có một cạnh bình phương bằng tổng bình
phương hai cạnh còn lại
Suy cho cùng, chân lí là những tri thức do con người nhận thức được thông qua các hoạt động thực tiễn:
- Thực tiễn diễn ra độc lập với nhận thức và luôn vận động, phát triển Nhờ vậy khi thực tiễn phát triển sẽ kéo theo nhận thức của con người cũng vận động, phát triển Khi nhận thức được phát triển lên một tầm mới, nó vẫn được kiểm nghiệm bởi hoạt động thực tiễn
- Thực tiễn sẽ kiểm chứng chân lý, qua đó thực tiễn sẽ bổ sung, chỉnh sửa, sữa chữa
và phát triển và hoàn thiện thêm cho nhận thức Nhờ quá trình diễn ra liên tục, nên chúng ta sẽ nhận thức được đâu là những tri thức đúng đắn, đâu là sai lầm, cái nào phù hợp và cái nào không phù hợp với thực tại Nhờ vậy chân lý qua các hoạt động thực tiễn sẽ được đánh giá, phân tích và hoàn chỉnh hơn
- Chân lý cũng có tác động lên thực tiễn, khi nó sẽ cung cấp những tri thức cho hoạt động thực tiễn
Trang 13CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC “THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ” VÀO PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA MÔ HÌNH ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 2.1 Mô hình Điện toán đám mây
2.1.1 Nguồn gốc của Điện toán đám mây
“Điện toán đám mây” được phổ biến khi Amazon.com phát hành sản phẩm Elastic Compute Cloud vào năm 2006
Các tham chiếu đến cụm từ “điện toán đám mây” xuất hiện sớm nhất vào năm 1996, với lần đầu tiên được đề cập đến trong một tài liệu nội bộ của Compaq
Từ “đám mây” được sử dụng như một phép ẩn dụ cho Internet và kiểu hình dạng giống như đám mây được tiêu chuẩn hóa, sử dụng để biểu thị một mạng trên sơ đồ điện thoại Sự đơn giản hóa này mang hàm ý là các chi tiết cụ thể về cách các điểm cuối của mạng được kết nối với nhau không liên quan đến việc hiểu sơ đồ
Thuật ngữ “đám mây” được sử dụng để chỉ các nền tảng dùng cho điện toán phân tán ngay từ năm 1993, khi Apple ra mắt General Magic và AT&T Trong bài báo của Wired vào tháng 4 năm 1994 “Cuộc phiêu lưu xuất sắc của Bill và Andy II”, Andy Hertzfeld đã nhận xét về Telescript, ngôn ngữ lập trình phân tán của General Magic:
“Vẻ đẹp của Telescript là giờ đây, thay vì chỉ có một thiết bị để lập trình, chúng tôi có toàn bộ Đám mây ở đó, nơi một chương trình duy nhất có thể di chuyển đến nhiều nguồn thông tin khác nhau và tạo ra một loại dịch vụ ảo Trước đây không ai nghĩ đến điều đó Ví
dụ mà Jim White (nhà thiết kế của Telescript, X.400 và ASN.1) sử dụng đó là dịch vụ sắp xếp ngày tháng, trong đó một đại lý phần mềm đến cửa hàng hoa và đặt hàng hoa, sau đó