1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Skkn rất hay) rèn kĩ năng viết văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9

22 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn kĩ năng viết văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 185,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì kiểu bài nghị luận xã hội kiến thức các em phải khai thác từcuộc sống xã hội, do đó học sinh còn nhiều lúng túng khi viết dạng bài này.Xuất phát từ thực tế đó giáo viên trong quá trìn

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I - LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Trong nhiều năm gần đây, việc đổi mới đánh giá học sinh theo hướngphát triển năng lực được chú trọng cách ra đề bài kiểm tra có nhiều thay đổi sovới trước kia Các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng trong quá trìnhđánh giá kết quả học tập của học sinh rất chú trọng đến việc ra đề kiểm tra theohướng phát triển năng lực học sinh Ở bộ môn Ngữ văn đặc biệt là với học sinh

từ lớp 9 trở lên đề bài kiểm tra thường ra theo hướng mở Vì vậy trong cấu trúc

đề thi thường có một phần yêu cầu viết văn nghị luận xã hội Nghị luận xã hội làmột nội dung mới với học sinh cấp trung học cơ sở, các em bước đầu làm quenvới dạng bài này Vì kiểu bài nghị luận xã hội kiến thức các em phải khai thác từcuộc sống xã hội, do đó học sinh còn nhiều lúng túng khi viết dạng bài này.Xuất phát từ thực tế đó giáo viên trong quá trình dạy học, rèn kĩ năng viết vănnghị luận cho học sinh là việc làm quan trọng, đặc biệt với học sinh lớp 9 các

em trải qua kì thi tuyển sinh vào lớp 10 việc rèn kĩ năng viết văn nghị luận xãhội lại càng quan trọng hơn Việc giáo viên rèn kĩ năng viết văn nghị luận xã hộicho học sinh lớp 9 vừa trang bị được kiến thức thực tế, hiểu biết xã hội, nângcao kĩ năng sống lại vừa góp phần nâng cao chất lượng học tập thi cử Vì vậyvới vai trò là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, dạy học môn Ngữ văn, tôi xinnêu một vài kinh nghiệm trong quá trình dạy học nhằm mục đích trao đổi cùng

bạn bè đồng nghiệp qua sáng kiến “ Rèn kĩ năng viết văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9”.

II – MỤC ĐÍCH

Trong quá trình dạy học của bản thân, nhất là khi tôi được nhiều năm nhàtrường phân công dạy lớp 9, tôi thấy học sinh viết văn nghị luận xã hội cònnhiều lúng túng Học sinh vừa yếu về kiến thức, vừa kém kĩ năng, vì thế bài viếtcòn sơ sài, nhạt nhẽo, thiếu chặt chẽ, chất lượng bài chưa cao Không chỉ kì thivào lớp 10 mà ngay cả thi học sinh giỏi nhiều học sinh cũng chưa làm tốt phầnnghị luận xã hội Vì thế tôi viết sáng kiến này nhằm mục đích tham khảo ý kiếnđồng nghiệp về cách rèn học sinh viết văn nghị luận xã hội Tôi mong nhậnđược sự chia sẻ của các bạn bè đồng nghiệp để quá trình dạy học của bản thân

skkn

Trang 2

được tốt hơn và có thể giúp cho học sinh có được kĩ năng viết văn nghị luận tốtnhất

III- CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.

Trong quá trình dạy học, ở phân môn tập làm văn giáo viên phải dạy chohọc sinh nắm vững văn nghị luận Sau đó giáo viên giúp học sinh phân biệt đượcnghị luận văn học và nghị luận xã hội

Ở phần tập làm văn lớp 9, học sinh được học riêng về nghị luận xã hộiqua 2 bài đó là : Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống và Nghị luận vềmột vấn đề thuộc tư tưởng đạo lí Trong quá trình dạy, giáo viên hướng dẫn kĩcho học sinh nắm được bản chất của dạng bài này Giáo viên cần rèn kĩ năngviết cho từng đối tượng nghị luận nghị luận xã hội, giúp các em biết cách lậpluận, biết lấy dẫn chứng từ thực tế để làm sáng tỏ vấn đề

Ngoài ra, trong quá trình học tập nhất là trong lúc ôn thi giáo viên giúphọc sinh biết cách xử lí đề bài theo yêu cầu Vấn đề nghị luận được đưa ra dướinhiều hình thức khác nhau, có thể trực tiếp nhìn thấy, có thể gián tiếp cần pháthiện Học sinh cần nghiên cứu kĩ, phát hiện đúng đối tượng nghị luận để bài làm

đi đúng hướng

Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu kiến thức đời sống xã hội đểcác em có vốn kiến thức đưa vào bài làm Giáo viên cũng giúp học sinh biếtcách liên hệ thực tế rút ra được bài học kinh nghiệm, biết bày tỏ quan điểm thái

độ, hành động , nhận thức sau khi làm dạng bài nghị luận xã hội

IV – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

1 Đối tượng nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đặt trọng tâm là học sinh THCS và mônNgữ văn 9 ( phân môn Tập làm văn) Môn Ngữ văn 9 đòi hỏi tư duy khá caonhất là ở phần tập làm văn Phần viết văn nghị luận là một trong những phầntrọng tâm nhất của phân môn Tập làm văn 9 trong đó có nghị luận xã hội.Trong nhiều năm gần đây các bài thi trong kì thi chuyển cấp hầu hết là yêu cầuviết đoạn văn kiểu bài nghị luận trong đó một phần nghị luận văn học và mộtphần nghị luận xã hội Thông qua kết quả thu được từ bài làm của học sinh tôi

skkn

Trang 3

thấy kết quả chưa cao Vì vậy tôi xác định đối tượng nghiên cứu là đây Nghiêncứu nó vừu để trau dồi kiến thức phương pháp cho bản thân trong quá trình dạyhọc được tốt hơn vừa giúp học sinh tiến bộ trong học tập, trong thi cử vừa giúphọc sinh có kiến thức vốn sống thực tế cũng là góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục.

2 Phạm vi nghiên cứu.

Xác định đối tượng của mình là phân môn Tập làm văn trong môn Ngữvăn 9 phạm vi là dạng bài nghị luận xã hội Trong quá trình dạy học đặc biệt làkhi dạy bồi dưỡng cho học sinh thi vào lớp 10 và thi học sinh giỏi tôi dành khánhiều thời gian để rèn cho học sinh viết văn nghị luận xã hội giúp các em làmtốt hơn các bài bài thi Mặt khác giúp các em có thêm hiểu biết xã hội

PHẦN II: NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN.

Trên thực tế, ngành giáo dục đang đổi mới theo hướng: Dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh Việc kiểm tra đánh giá cũng theo hướngphát triển năng lực học sinh Trong nhiều năm gần đây, bài kiểm tra văn cuối kì

và đặc biệt là bài thi học sinh giỏi và bài thi vào lớp 10 của học sinh lớp 9thường yêu cầu viết văn nghị luận xã hội.Hơn nữa ở lớp 8 các em đã được học

về các kiểu đoạn văn và được làm quen với văn nghị luận xã hội.Tuy vậy họcsinh vẫn rất lúng túng chưa biết rõ cách viết Một phần do các em thiếu kiếnthức thực tế, một phần do các em còn non kém trong kĩ năng trình bày lập luận

vì thế chất lượng bài làm rất thấp Công việc của thầy cô là giúp học sinh cóđược kiến thức và kĩ năng để làm tốt dạng bài nghị luận xã hội

Thực trạng hiện nay , học sinh không mặn mà với việc học môn Ngữ vănnên các em không say mê học Vì vậy có những vấn đề tưởng như đơn giản cósẵn ở trước mắt mà học sinh cũng không để tâm vì thế chất lượng bài làm càngkhông cao

Không có cách nào khác , giáo viên tìm ra các phương pháp hiệu quả nhất

để hướng dẫn học sinh học tập và làm bài có kết quả như mong muốn

skkn

Trang 4

Dựa vào những cơ sở lí luận trên, tôi có một vài điều tâm đắc trong việchướng dẫn học sinh lớp 9 viết văn nghị luận xã hội để các em có thể đạt kết quảtốt nhất trong việc học tập và trong các kì thi.

II CƠ SỞ THỰC TIỄN.

Trong quá trình làm bài kiểm tra ở lớp cũng như kiểm tra học kì, đặc biệt

là kì thi tuyển vào lớp 10,thậm chí kì thi học sinh giỏi lớp 9, ở môn Ngữ vănnhiều năm qua học sinh viết phần văn nghị luận xã hội còn nhiều hạn chế Bàilàm của học sinh thường chưa đúng yêu cầu thể loại, sơ sài, lan man, lúc thừa,lúc thiếu, có khi xa đề, lạc đề Khả năng làm sáng tỏ vấn đề còn non kém do họcsinh thiếu kiến thức thực tế.Thực trạng ấy làm cho đội ngũ thầy cô giáo chúng taphải trăn trở, phải suy ngh Do đó mỗi thầy cô đứng lớp chúng ta cần phải tìm raphương pháp nào đó dạy cho học sinh biết cách viết văn nghị luận xã hội theoyêu cầu là việc làm thiết thực Bản thân học sinh tích cực rèn rũa để có kĩ năng

viế nghị luận xã hội Từ thực tế trên tôi chọn viết đề tài “ Rèn kĩ năng viết văn nghị luận xã hội cho học sinh lớp 9.” nhằm trao đổi kinh nghiềm cùng đồng

nghiệp giúp bản thân nâng cao nghiệp vụ trong giảng dạy và giúp học sinh nângcao chất lượng học tập cũng như nâng cao kết quả trong các kì thi tuyển sinhvào lớp 10 hoặc thi học sinh giỏi Nâng cao chất lượng học sinh cũng là gópphần nâng cao chất lượng giáo dục đó là vấn đề mà thầy cô giáo cần phải quantâm và chú trọng

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.

- Số HS chưa biết viết văn nghị luận xã hội chiếm 21%

- Số học sinh biết làm nhưng chất lượng bài thấp, bài viết còn sơ sài lủng củngchiếm 41%

- Số học sinh viết đạt yêu cầu nhưng chưa thuyết phục cao chiếm 32%

- Số học sinh làm tốt bài nghị luận xã hội cả về kiến thức và kĩ năng, bài viết cósức thuyết phục , chất lượng bài làm tốt chiếm 6%

III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

skkn

Trang 5

1 Khái niệm về nghị luận xã hội.

Nghị luận xã hội là kiểu bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ quan điểm, tưtưởng về một vấn đề xã hội nhằm thuyết phục người đọc tán thành và làm theo.Vấn đề được đưa ra nghị luận phải là vấn đề có ý nghĩa với đời sống xã hội,đáng khen, đáng chê hoặc rút ra được những bài học bổ ích làm thay đổi nhậnthức, hành động hoặc cảm xúc của con người giúp cho đời sống xã hội trở nêntốt đẹp

2 Các dạng bài nghị luận xã hội.

2.1 Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống.

a Khái niệm: Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống là bàn về một

sự việc hiện tượng có ý nghĩa trong đời sống xã hội, nêu ra những mặtđáng khen, đáng chê hoặc nêu ra những vấn đề đáng suy nghĩ Qua đó bày

tỏ thái độ của người viết với vấn đề được bàn

b Yêu cầu:

- Về nội dung: Phải làm rõ được sự việc , hiện tượng có vấn đề, phântích được mặt đúng sai, mặt lợi hại của nó: chỉ ra nguyên nhân và bày

tỏ thái độ ý kiến, nhận định của người viết Bài làm cần lựa chọn góc

độ riêng để phân tích, nhận định; đưa ra ý kiến , có suy nghĩ và quanđiểm riêng của người viết

- Về hình thức: Bài viết thường có độ dài khoảng 2/3 trang giấy thi hoặc

độ dài 1 trang giấy thi Bài viết có bố cục mạch lạc, có luận điểm rõràng, luận cứ xác thực, phép lập luận phù hợp, lời văn chính xác sốngđộng

- Bố cục:

Mở đoạn: Giới thiệu sự việc hiện tượng được đưa ra để bàn.

Thân đoạn: Phân tích các mặt, đánh giá, nhận định, liên hệ thực tế để

làm rõ ý nghĩa của vấn đề được bàn bạc làm cơ sở bày tỏ thái độ củangười viết

Kết đoạn: Kết luận , khẳng định, phủ định, lời khuyên, kiến nghị từ

vấn đề được bàn

2.2 Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí

a Khái niệm: Nghị luận về một vấn đề tưởng đạo lí là bàn về vấn đề thuộclĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người

b Yêu cầu:

- Về nội dung: Làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng đạo lí bằng cách giảithích, chứng minh, so sánh , đối chiếu, phân tích để chỉ ra chỗ đúnghay chỗ sai của một tư tưởng đạo lí nào đó nhằm khẳng định tư tưởngcủa người viết

skkn

Trang 6

- Về hình thức: Đoạn văn có độ dài khoảng 2/3 trang giấy thi hoặc bàivăn ngắn khoảng 1 trang giấy thi Bài viết có bố cục rõ ràng, có luậnđiểm đúng đắn, sáng rõ, dẫn chứng phù hợp, lời văn chính xác, sinhđộng.

- Bố cục:

Mở đoạn: Giới thiệu trực tiếp tư tưởng đạo lí cần nghị luận.

Thân đoạn: Giải thích rõ nội dung tư tưởng, đạo lí được nghị luận.

Phân tích, chứng minh làm rõ nội dung nghị luận, biểu hiện như thếnào, vai trò ý nghĩa ra sao Mở rộng liên hệ thực tế với các vấn đề liênquan, bác bỏ tư tưởng trái ngược

Kết đoạn: Rút ra bài học hành động cụ thể cho bản thân và cho thế hệ

trẻ

3 Vị trí của nghị luận xã hội trong cấu trúc đề thi

Yêu cầu viết nghị luận xã hội thường nằm ở cuối phần II trong đề thi

Ví dụ:

Câu 3 Phần I Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn thành phố Hà Nội năm 2017.Hãy trình bày suy nghĩ của em ( khoảng 12 câu) về quan niệm : Được sốngtrong tình yêu thương là hạnh phúc của mỗi con người

Câu 3 Phần II Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn thành phố Hà Nội năm 2018.Hãy trình bày suy nghĩ của em ( khoảng 2/3 trang giấy thi) về vai trò của giađình trong cuộc sống của mỗi chúng ta

Câu 3 Phần II Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn thành phố Hà Nội năm 2019

Từ nội dung đoạn trích trên, em hãy trình bày suy nghĩ ( khoảng 2/3 trang giấythi) về ý kiến: Phải chăng hoàn cảnh khó khăn cũng là cơ hội để mỗi ngườikhám phá khả năng của chính mình?

4 Hướng dẫn cụ thể khi viết văn nghị luận xã hội.

4.1 Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.

a Hướng dẫn các bước thực hiện.

Đối với dạng đề nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí, để giải quyết vấn đề tacần lưu ý cách xem xét nó từ nhiều góc độ Cách đơn giản nhất là thử đặt ra vàtrả lời những câu hỏi như sau đây:

- Nó là gì?

skkn

Trang 7

- Nó như thế nào?

- Vì sao lại như thế?

- Như thế thì có ý nghĩa gì với cuộc sống, với con người, với bản thân?

Từ việc đặt ra và trả lời câu hỏi cần triển khai bài theo ba bước sau:

Bước 1: Giải thích, cắt nghĩa

Tùy theo yêu cầu cụ thể của đề mà cách giải thích có thể sẽ khác nhau Có thểgiải thích khái niệm, mệnh đề, hình ảnh, để trên cơ sở đó xác định chính xác nộidung thông điệp được gửi gắm trong câu nói

Bước 2: Lí giải.( giải thích, chứng minh làm sáng tỏ vấn đề)

Đối với thao tác này cần giảng giải cái nghĩa lí của vấn đề được đặt ra để từ đólàm sáng tỏ bản chất vấn đề với các khía cạnh, các mối quan hệ khác nhau

Để làm được việc này, học sinh cần tách vấn đề thành các khía cạnh nhỏ để xemxét , nghiên cứu , đặt ra các câu hỏi để giải quyết yêu cầu của đề, làm tốt khâugiải thích để xác định chính xác vấn đề mà đề bài đặt ra, khi đó vấn đề mới cóthể làm sáng tỏ

Bước 3: Đánh giá ( bàn luận mở rộng,đánh giá nâng cao vấn đề)

Đây là phần việc học sinh bộc lộ nhận thức vấn đề ở mức cao nhất, cũng là phầnviệc gây khó khăn cho học sinh nhiều nhất Vì vậy, chúng ta cần đánh giá vấn đề

ở các bình diện, khía cạnh khác nhau: ý nghĩa tư tưởng, ý nghĩa thực tế, mức độđúng sai, đóng góp - hạn chế

Từ sự đánh giá trên các bình diện, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống,trong học tập, trong nhận thức, cũng như trong tư tưởng tình cảm để tự mình bồiđắp, nâng cao kinh nghiêm sống, kinh nghiệm ứng xử trong đời sống

Lưu ý : Nghị luận về vấn đề tưởng đạo lí thường gặp các kiểu hỏi cơ bản sau : Kiểu 1: Nêu suy nghĩ về một vấn đề đưa ra.

Ví dụ : Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy gợi nhắc, củng cố thái độ sống

« Uống nước nhớ nguồn » Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về truyềnthống đạo lí đó

skkn

Trang 8

Kiểu 2: Đưu ra sẵn một quan điểm để làm sáng tỏ

Ví dụ : Truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng đã thể hiện mộttriết lí sâu sắc, thấm thía : Chỉ có tình cha con là không thể chết Viết đoạn vănkhoảng 12 câu nêu ý kiến của em về tính triết lí trong câu nói đó

Kiểu 3 : Đưa ra một hình ảnh hoặc một câu chuyện nhỏ ,học sinh tìm hiểu kĩ để

phát hiện ra thông điệp được gửi gắm trong câu chuyện hoặc trong hình ảnh Sau khi tìm ra thông điệp , học sinh đưa thông điệp ấy trở về thành đối tượngđược nghị luận

Với kiểu thứ nhất ( kiểu thường gặp hơn kiểu 2), giáo viên hướng dẫn trình

tự chung như sau :

Mở đoạn :

Giới thiệu về sự việc được nghị luận

Thân đoạn :

- Giải thích vấn đề được nghị luận như một khái niêm

- Trình bày biểu hiện của vấn đề

- Bàn luận mở rộng : bàn mặt tốt mặt xấu, đúng sai…để đưa ra quan điểm củangười viết

Kết đoạn :

Liên hệ bản thân và rút ra bài học

Với kiểu thứ 2, giáo viên hướng dẫn học sinh :

Mở đoạn bằng cách : Dẫn trực tiếp luôn quan điểm và khẳng định tính đúng sai.

Thân đoạn :

-Ý nghĩa của triết lí

- Đưa ra dẫn chứng, lí lẽ để làm sáng tỏ quan điểm đã cho -Bàn mở rộng nâng cao

-Liên lệ thực tế

Kết đoạn : Bài học rút ra từ quan điểm đưa ra

skkn

Trang 9

Kiểu thứ 3, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện như sau.

+ Nếu là câu chuyện :

- Bước 1 : Học sinh tóm tắt ngắn gọn nội dung câu chuyện, nêu ý nghĩakhái quát chung của nó

- Bước 2 : Phân tích , giải thích, chứng minh làm sáng tỏ nội dung nghịluận được gửi trong câu chuyện

- Bước 3 : Đánh giá vấn đề bằng việc bàn luận mở rộng để từ đó có liện

có các kĩ năng không thể bỏ qua : Giải => Bình => Liên => Rút.( giải

thích,bình luận, liên hệ, rút ra bài học)

b Các ví dụ cụ thể.

Ví dụ 1: ( Nêu suy nghĩ về một vấn đề đưa ra)

Có ý kiến cho rằng: “ Sẽ là mờ nhạt nếu con người ta không có ước mơ” Emhãy viết đoạn văn khoảng 2/3 trang giấy thi trình bày suy nghĩ của em về vấn đềnày

Hướng dẫn cách 1: Xây dựng bố cục theo mô hình chung.

Yêu cầu về kĩ năng : Nắm vững và viết đúng dạng nghị luận xã hội.

Yêu cầu về kiến thức : Học sinh cần thực triển khai được các nội dung cơ bản

sau:

Mở đoạn: Giới thiệu vai trò của ước mơ đối với cuộc sống con người ( nó giúpnuôi dưỡng tâm hồn con người lớn lên, sống có mục đích hướng tối tương lai)Thân đoạn:

- Giải thích: Ước mơ là điều tốt đẹp ở phía trước mà con người khátkhao vươn tới Ước mơ của con người thể hiện phong phú, có những

skkn

Trang 10

ước mơ bình dị nhưng có những ước mơ cao cả, lớn lao Nhưng thật tẻnhạt khi cuộc đời không có ước mơ.

- Chứng minh ý nghĩa của ước mơ: Sử dụng dẫn chứng từ thực tế ( ước

mơ cao cả lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh hay của các nhà khoahọc; ước mơ bình dị của các bác nông dân…)

- Bàn luận mở rộng: Ước mơ sẽ không đến với những ai sống thiếu lítưởng, không có ý chí và nghị lực Nếu con người biết vượt qua khókhăn thử thách để theo đuổi ước mơ chính đáng thì sẽ đạt được điềumình muốn Tuy nhiên ước mơ phải thực tế, phù hợp với khả năng vàhoàn cảnh, không nên viển vông xa vời sẽ phản tác dụng

Kết đoạn: Mỗi người sống cần có ước mơ phù hợp, chính đáng, đặc biệt tuổi trẻhọc sinh càng cần nuôi dưỡng ước mơ và biết biến nó thành hiện thực

Hướng dẫn bằng cách 2 ( đặt ra câu hỏi theo từng phần)

Dựa vào trình tự chung của bài nghị luận xã hội giáo viên hướng dẫn học sinhbằng các câu hỏi sau :

Ước mơ có vai trò như thế nào với đời sống con người ?( mở đoạn)

Ước mơ là gì ?

Biểu hiện của ước mơ trong đời sống với mỗi người như thế nào ?

Ước mơ được hình thành trên cơ sở nào ?

Ước mơ có đồng nghĩa với tham vọng không ?

Nếu sống không ước mơ thì con ngưới sẽ ra sao ?

Em sẽ làm gì để nuôi dưỡng ước mơ của mình và làm cho ước mơ đó trở thànhtrong sáng cao đẹp ? ( kết đoạn)

Dựa vào hướng đẫn trên học sinh sẽ dễ dàng xây dựng được đoạn văn nghị luận Như sau :

Mở đoạn : Ước mơ có vai trò nuôi dưỡng tâm hồn con người giúp mỗi chúng tasống có mục đích hướng tới tương lai

Thân đoạn :

skkn

Trang 11

(1) Ước mơ là điều tốt đẹp ở phía trước mà con người khát khao vươn tới.

(2) Ước mơ của mỗi người trong cuộc đời rất phong phú : có những ước mơbình dị, có những ước mơ lớn lao cao cả( dẫn chứng)

(3) Ước mơ sẽ không đến với những con người sống thiếu lí tưởng, thiếu nghịlực

(4) Nếu con người biết vượt qua mọi trở ngại để theo đuổi ước mơ thì sẽ đạtđược điều mình muốn Tuy vậy ước mơ không nên quá xa vời với điều kiện thực

tế của mỗi người

(5) Ước mơ không đồng nghĩa với tham vọng

(6) Sống không ước mơ cuộc đời sẽ trở nên vô vị tẻ nhạt

Kết đoạn : Ước mơ sẽ là động lực giúp con người phát triển vì vậy mỗi ngườiphải biết nuôi dưỡng ước mơ

Học sinh có thể dựa vào hướng dẫn trên để đối chiếu các ý xem đoạn văn củamình đã đáp ứng yêu cầu chưa

Phần mở đoạn và kết đoạn làm theo yêu cầu chung

Phần thân đoạn có thể xem xét các ý như sau :

(1) Giải thích vấn đề nghị luận : Ước mơ là gì

(2) Biểu hiện cụ thể của ước mơ trong cuộc sống

(3) Phân tích biểu hiện

Ngày đăng: 03/10/2023, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn – 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn – 8
2. Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn – 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn – 9
3. Phương pháp dạy học tích cực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tích cực
4. Tài liệu dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu dạy học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng
5. Tài liệu ôn thi vào 10 hàng năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu ôn thi vào 10 hàng năm
6. Một số sách tham khảo như: Luyện tập kĩ năng làm bài thi vào 10 môn Ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện tập kĩ năng làm bài thi vào 10 môn Ngữ văn
7. Thử sức trước kì thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn theo định hướng đánh giá năng lực học sinh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w