XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ BẤT CẬP TỔNG QUAN
Về căn cứ chính trị, pháp lý
1.1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Báo cáo Chính trị) đề ra định hướng phát triển đất nước về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó đặt ra mục tiêu “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 27-NQ/
Vào ngày 09/11/2022, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, với quan điểm bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật Nhà nước sẽ hoạt động theo Hiến pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật và chú trọng giáo dục, nâng cao đạo đức XHCN Đồng thời, cần thể chế hoá kịp thời và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng, lấy con người làm trung tâm và động lực phát triển, đồng thời tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
1.2 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3) và “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (khoản 2 Điều 16).
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khẳng định sự tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Hiến chương Liên hợp quốc (1945) nhấn mạnh quyền bình đẳng và giá trị của con người, không có sự phân biệt Tuyên ngôn quốc tế về Quyền con người (UDHR, 1948) tiếp tục khẳng định mọi người đều sinh ra bình đẳng về quyền và được bảo vệ về nhân phẩm Các Công ước quốc tế về Quyền chính trị và dân sự (ICCPR) và Quyền văn hóa, xã hội và kinh tế (ICESCR) yêu cầu các quốc gia thành viên tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người mà không có sự phân biệt, bao gồm cả yếu tố "xu hướng tính dục" và "bản dạng giới".
Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia thừa nhận quyền của người chuyển giới trong việc thay đổi giới tính, bao gồm việc cấp giấy chứng sinh mới Cao ủy nhân quyền cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hỗ trợ thực thi quyền pháp lý về giới tính và cung cấp giấy tờ nhân thân phù hợp Vào ngày 30/6/2016, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết 32/2, nhằm bổ nhiệm Chuyên gia Độc lập để giải quyết vấn đề bạo lực và phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới, trong đó Việt Nam đã bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết này.
1.3 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền chuyển đổi giới tính của cá nhân, đồng thời quy định “Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật
1 23/47 nước bỏ phiếu thuận: Albania, Belgium, Bolivia, Cuba, Ecuador, El Salvador, France, Georgia,
Việt Nam đã trở thành quốc gia thứ 11 tại châu Á hợp pháp hóa quyền chuyển đổi giới tính, sau các nước như Iran, Israel, Syria, Nepal, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines và Singapore Quy định này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và xã hội đối với việc bảo vệ quyền của người chuyển giới, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người Đây là một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện các cam kết và khuyến cáo quốc tế về bảo đảm và thực thi quyền con người, đặc biệt là quyền của cộng đồng LGBT và quyền của người chuyển giới.
Bản dạng giới và thực trạng cộng đồng người chuyển giới
2.1 Về khái niệm Bản dạng giới: Tổ chức Y tế thế giới đưa ra khái niệm:
Bản dạng giới là trải nghiệm cá nhân sâu sắc về giới tính của một người, có thể không tương ứng với giới tính sinh học hoặc giới tính khi sinh Nó phản ánh cảm nhận bền vững của cá thể về giới tính của chính mình, không phụ thuộc vào giới tính bên ngoài Nhận thức giới tính không nhất thiết phải dựa vào giới tính sinh học hoặc cách mà người khác cảm nhận Bản dạng giới có thể là nữ, nam, hoặc không thuộc về hai giới tính truyền thống, được gọi là "phi nhị nguyên giới".
Khái niệm "bản dạng giới" vẫn còn mới mẻ tại Việt Nam và chưa được định nghĩa trong các văn bản pháp luật, trong khi "giới tính" đã được sử dụng phổ biến Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006, "giới tính" được hiểu là các đặc điểm sinh học của nam và nữ (khoản 2 Điều 5), và thường được xác định ngay khi một người được sinh ra hoặc trong thời gian ngắn sau đó.
Những người có bản dạng giới trùng khớp với giới tính được xác định khi sinh ra được gọi là người hợp giới Ngược lại, những người có cảm nhận giới tính không trùng với giới tính sinh học của họ được xem là thuộc nhóm khác.
2 Điều 37 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
LGBT là từ viết tắt của cộng đồng bao gồm những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và người chuyển giới (Transgender).
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra bốn khái niệm quan trọng về giới tính, trong đó giới tính khi sinh được xác định là người không hợp giới Những người này có thể là người chuyển giới hoặc người phi nhị nguyên giới Điều này cho thấy rằng giới tính được xác định lúc sinh có thể không phù hợp với cảm nhận và bản sắc giới tính của cá nhân khi trưởng thành.
Người chuyển giới là những cá nhân có bản dạng giới không khớp với giới tính được xác định lúc sinh Họ thường được phân loại thành hai nhóm chính: từ nam sang nữ, được gọi là Trans Girl hoặc Trans Women.
To Female - MTF) và từ nữ sang nam (còn được gọi là Trans Guy, hay Female
Nhiều người chuyển giới mong muốn được công nhận bản dạng giới khác với giới tính khi sinh thông qua thủ tục pháp lý hoặc hành chính, và một số còn muốn thay đổi cơ thể để phù hợp với bản dạng giới của mình qua can thiệp y học Nguyên nhân chính dẫn đến mong muốn này bao gồm cảm giác không phù hợp giữa giới tính mong muốn và cơ thể, sự không thoải mái với bản thân, trầm cảm và tâm lý chán nản về cơ thể, cùng với việc nắm bắt thông tin về hoóc-môn và phẫu thuật.
Nghiên cứu toàn cầu cho thấy tỷ lệ người chuyển giới chiếm từ 0,3% đến 0,5% dân số Hiện tại, có 109 quốc gia công nhận quyền thay đổi giới tính hợp pháp, trong đó châu Âu có 40/50 quốc gia và vùng lãnh thổ, châu Á có 24/50, châu Mỹ và Mỹ Latin có 21/35, châu Phi có 13/54, và khu vực Thái Bình Dương có 10/14 quốc gia và vùng lãnh thổ có quy định về chuyển đổi giới tính Đặc biệt, 74 quốc gia cho phép chuyển đổi giới tính mà không yêu cầu phẫu thuật, với độ tuổi phổ biến để thực hiện quyền này là từ 16 đến 18 tuổi.
5 Báo cáo Hiện trạng trải nghiệm y tế và nhu cầu chuyển đổi giới tính của người chuyển giới ở Việt Nam, iSee, tháng 11/2017.
6 Báo cáo về thực trạng người chuyển giới tại Việt Nam và hệ thống pháp luật có liên quan Nguồn: https://moh.gov.vn/documents/20182/212437/880B%C3%A1o%20c%C3%A1o%20th%20c%20trang%20ng
%20i%20chuy%20n%20gi%20i.doc/253afe2c-0b06-46f6-b8ec-81010c742a29 Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế.
Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Việt Nam chỉ quy định nguyên tắc về chuyển đổi giới tính mà chưa có hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việc cá nhân không thể thực hiện quyền này một cách chính thức Điều này tạo ra sự thiếu rõ ràng trong quy trình và thủ tục công nhận cũng như thực hiện chuyển đổi giới tính Hơn nữa, chưa có quy định về việc thay đổi giấy tờ và hộ tịch cho người chuyển giới, gây khó khăn cho những người muốn thực hiện quyền lợi của mình.
Hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người, cũng như với xu thế toàn cầu mà Việt Nam tham gia, bao gồm cả những khuyến nghị và các quyết định mà Việt Nam đã bỏ phiếu.
Hiện nay, việc chuyển đổi giới tính tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn do thiếu văn bản luật chuyên ngành quy định cụ thể, dẫn đến việc chưa có nghiên cứu toàn diện về bản dạng giới và người chuyển giới Thiếu bộ tiêu chí thống kê cũng khiến việc thu thập số liệu về tỷ lệ người chuyển giới trở nên khó khăn, đặc biệt là do sự kỳ thị xã hội và hạn chế trong nhận thức của chính người chuyển giới Cơ sở pháp lý không đồng bộ và thiếu hướng dẫn thi hành làm cho quan điểm quản lý nhà nước về chuyển đổi giới tính chưa cởi mở, gây ra nhiều bất cập trong việc xác nhận bản dạng giới.
Cơ quan quản lý nhà nước đang đối mặt với thách thức trong việc xác định và điều chỉnh các giấy tờ hộ tịch cho những người chuyển đổi giới tính, do thiếu hụt các quy định pháp lý đầy đủ.
Người thực hiện can thiệp y học để thay đổi giới tính nhưng không có giấy tờ nhân thân phù hợp với giới tính hiện tại sẽ gặp khó khăn trong các quan hệ pháp luật, dân sự và xã hội, gây tổn hại đến quyền lợi của họ.
Năm 2016, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua 7 nghị quyết nhằm chống lại bạo lực và phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới Những nghị quyết này nhấn mạnh rằng các cá nhân thuộc cộng đồng LGBTQ+ thường phải đối mặt với tâm lý tiêu cực và chịu đựng sự kỳ thị từ xã hội, dẫn đến nhiều khó khăn trong cuộc sống hàng ngày của họ.
(iii) Không có quy định pháp lý về quy trình can thiệp y học để thực hiện thay đổi cơ thể theo mong muốn của công dân
(iv) Không có quy trình, thủ tục về chăm sóc sức khỏe đối với người chuyển đổi giới tính
Tại Việt Nam, người có nhu cầu can thiệp y học để chuyển giới thường không nhận được sự tư vấn và đánh giá tâm lý cần thiết trước và sau khi quyết định chuyển đổi giới tính Điều này chủ yếu do dịch vụ hỗ trợ chưa được phát triển và thiếu các quy định pháp luật rõ ràng về việc chuyển đổi giới tính.
Mục tiêu xây dựng chính sách
Quyền tự xác lập bản dạng giới và chuyển đổi giới tính là quyền nhân thân cơ bản của công dân, cần được tôn trọng để đảm bảo mọi người, kể cả những người không hợp giới, được sống bình đẳng trong xã hội Việc hoàn thiện pháp luật về quyền con người tại Việt Nam là cần thiết, phù hợp với Hiến pháp, chủ trương của Đảng và tình hình hiện tại.
Việt Nam, với tư cách là thành viên Liên hợp quốc và Hội đồng Nhân quyền, có trách nhiệm nội luật hóa các quy định và nguyên tắc quốc tế về bản dạng giới và chuyển đổi giới tính Điều này nhằm đảm bảo quyền con người và tự do cơ bản cho tất cả mọi người một cách công bằng và bình đẳng, không có ngoại lệ Việt Nam cam kết bảo vệ quyền không bị phân biệt đối xử, quyền riêng tư, bản dạng và tự do biểu đạt, đồng thời thúc đẩy sự thừa nhận giới một cách nhất quán.
Việc thay đổi nhận thức của cộng đồng về chuyển đổi giới tính là một vấn đề pháp lý và xã hội quan trọng, liên quan đến quyền nhân thân và nhân quyền trong một xã hội văn minh Điều này khẳng định sự tồn tại của nhiều dạng giới bên cạnh hai giới tính truyền thống nam và nữ, đồng thời công nhận LGBT là một phần không thể thiếu của xã hội, không phải là bệnh lý hay rối loạn tâm thần Thay đổi nhận thức này sẽ góp phần thúc đẩy hành vi tích cực của người chuyển giới, giúp họ hòa nhập tốt hơn với cộng đồng.
Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thể hiện giá trị nhân bản, nhân văn và nhân đạo cao cả, khẳng định bản chất của một nhà nước vì nhân dân.
Bảng phân loại quốc tế bệnh tật ICD-11, ra mắt vào ngày 18/06/2018 tại Đại hội đồng Y tế Thế giới, đã được các Quốc gia thành viên thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2022 Đáng chú ý, tất cả các mục liên quan đến chuyển giới đã được loại bỏ khỏi chương rối loạn tâm trí và hành vi, cụ thể là mục F64 về rối loạn bản dạng giới.
Nguồn:https://tgeu.org/who-publishes-icd-11-beta/?fbclid=IwAR1FnOmPrXjWEooeXvhME20Jvux8 k6N176M_S8UrdDvSdhJRFKtlz9f65XM. https://www.who.int/news/item/18-06-2018-who-releases-new-international-classification-of-diseases-(icd-11)
Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cam kết bảo vệ cộng đồng yếu thế và đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau, vì lợi ích của Nhân dân và do Nhân dân.
Năm nay, Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế nhằm tăng cường hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Đất nước cần chủ động trong việc bảo vệ Tổ quốc và quản trị quốc gia theo Hiến pháp và pháp luật, hướng tới một Nhà nước dân chủ và văn minh trong bối cảnh mới.
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
Chính sách 1: Quyền chuyển đổi giới tính của công dân
1.1 Xác định vấn đề bất cập
Quyền chuyển đổi giới tính đã được Nhà nước CHXHCN Việt Nam công nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015, nhưng do thiếu văn bản luật chuyên ngành, việc nghiên cứu và thống kê về bản dạng giới và người chuyển giới gặp nhiều khó khăn Sự kỳ thị xã hội và hạn chế trong nhận thức của chính người chuyển giới làm cho việc thu thập dữ liệu chính xác trở nên khó khăn, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa Cơ sở pháp lý chưa đồng bộ và thiếu quy định hướng dẫn thi hành dẫn đến nhận thức và quan điểm quản lý nhà nước về xác nhận lại giới tính còn hạn chế, gây ra nhiều bất cập trong quá trình chuyển đổi giới tính.
Tham khảo kinh nghiệm quốc tế, cho thấy:
Trên thế giới, nhiều quốc gia áp dụng các quy định khác nhau về điều kiện hôn nhân cho những người mong muốn chuyển đổi giới tính, nhằm công nhận họ là người chuyển đổi giới tính.
Nhiều quốc gia, bao gồm Đức, Ireland, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Séc và Hàn Quốc, yêu cầu người đề nghị chuyển đổi giới tính phải đang trong tình trạng độc thân hoặc đã ly hôn.
Một số quốc gia như Bỉ, Hà Lan, Ý (cho phép hôn nhân đồng giới), Anh và xứ Wales, cũng như Tây Ban Nha không yêu cầu người đề nghị chuyển đổi giới tính phải đang độc thân hoặc đã ly hôn.
Một số quốc gia, như Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ, Argentina, Na Uy và Phần Lan, yêu cầu người muốn phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoặc được công nhận là người chuyển đổi giới tính phải đạt độ tuổi tối thiểu là 18 tuổi.
Một số quốc gia quy định độ tuổi tối thiểu để công nhận người chuyển giới cao hơn, như Đức yêu cầu 25 tuổi, Nhật Bản 20 tuổi (phẫu thuật ngực từ 18 tuổi), Đài Loan 20 tuổi và Hồng Kông 21 tuổi.
- Một số nước không yêu cầu về độ tuổi của người sử dụng hoócmôn: Tây Ban Nha…
Một số quốc gia có quy định về độ tuổi tối thiểu cho người sử dụng hoóc môn, chẳng hạn như Nhật Bản yêu cầu người dùng phải từ 18 tuổi, tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, có thể bắt đầu từ 15 tuổi Tại Cộng hòa Séc, độ tuổi tối thiểu là 16 tuổi.
1.2 Mục tiêu giải quyết vấn đề
- Khẳng định quyền chuyển đổi giới tính là một quyền nhân thân cơ bản của công dân;
- Khẳng định sự tôn trọng quyền chuyển đổi giới tính của công dân; đảm bảo cho họ được sống bình đẳng trong xã hội như mọi công dân khác;
Việc thay đổi giới tính cần dựa trên ý chí tự nguyện của cá nhân, đảm bảo đúng người có nhu cầu và được thực hiện sau khi đã suy nghĩ thấu đáo Điều này không chỉ không gây ảnh hưởng đến xã hội mà còn tránh làm khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước.
- Quy định các điều kiện để công dân thực hiện quyền chuyển đổi giới tính: tuổi, tình trạng hôn nhân, tình trạng lý lịch tư pháp.
- Phù hợp với các tiêu chuẩn, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tôn trọng, bảo đảm quyền con người.
1.3 Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề
Giải pháp 1 đề xuất cho phép cá nhân mong muốn chuyển đổi giới tính khác với giới tính khi sinh được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền công nhận giới tính mới mà không cần thực hiện can thiệp y học Tuy nhiên, để được công nhận, cá nhân cần đáp ứng các điều kiện: đủ 18 tuổi và có năng lực hành vi dân sự, đang trong tình trạng hôn nhân độc thân, và không đang chấp hành hình phạt hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc nước ngoài.
Giải pháp 2 cho phép cá nhân muốn chuyển đổi giới tính khác với giới tính khi sinh được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền công nhận giới tính mới Điều kiện để được công nhận bao gồm: đủ 18 tuổi và có năng lực hành vi dân sự, tình trạng hôn nhân độc thân, không đang chấp hành hình phạt hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đã can thiệp y học qua việc sử dụng hoóc-môn hoặc phẫu thuật toàn bộ cả ngực và bộ phận sinh dục.
1.4 Đánh giá tác động của các giải pháp đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và các đối tượng khác có liên quan
1.4.1 Giải pháp 1 a) Tác động kinh tế - xã hội
Quy định cho phép người từ đủ 18 tuổi trở lên được chuyển đổi giới tính mang lại nhiều lợi ích cho Nhà nước, vì ở độ tuổi này, họ đã phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, có khả năng nhận thức rõ ràng về hành vi của mình Việc này giúp Nhà nước tiết kiệm chi phí liên quan đến các hậu quả do hành vi của người chưa trưởng thành gây ra, như sự thất vọng, chán nản, hoặc tham gia vào tệ nạn xã hội Đồng thời, quy định cũng giảm thiểu các khiếu nại, kiện tụng liên quan đến người chưa thành niên và chi phí thay đổi giấy tờ hộ tịch Hơn nữa, việc cho phép chuyển đổi giới tính còn giúp tiết kiệm quỹ bảo hiểm y tế, giảm bớt chi phí cho các can thiệp y học cho trẻ em dưới 16 tuổi với sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.
Tạo cơ hội và động lực cho sự phát triển nghề nghiệp của người chuyển giới từ 18 tuổi trở lên, khi họ đã hoàn thiện về thể lực và tự nhận thức, là rất quan trọng Việc hỗ trợ họ trong việc lựa chọn nghề nghiệp không chỉ giúp họ phát triển bản thân mà còn thúc đẩy sự đa dạng và bình đẳng trong môi trường làm việc.
Việc chuyển đổi giới tính từ nam sang nữ hoặc ngược lại là một quyết định quan trọng và khó có thể quay trở lại Do đó, quy định cho phép những người từ đủ 18 tuổi trở lên, đã trưởng thành và có nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, thực hiện can thiệp y học để chuyển đổi giới tính là cần thiết Điều này giúp những người có nhận diện giới tính khác thực hiện quyền của mình, đồng thời ý thức rõ ràng về những gì họ đang làm và những hậu quả có thể xảy ra.
Nhiều người mong muốn được công nhận bản dạng giới mà không cần thay đổi cơ thể do các lý do như không đủ khả năng tài chính để chi trả cho tiêm hormone hoặc phẫu thuật, sức khỏe không cho phép can thiệp y tế, hoặc chưa sẵn sàng về mặt tâm lý Việc không yêu cầu can thiệp y học giúp họ tiết kiệm chi phí và tránh được áp lực tâm lý khi quyết định thực hiện các biện pháp y tế.
Quy định về tình trạng hôn nhân độc thân nhằm đảm bảo sự thống nhất với Luật Hôn nhân và Gia đình về kết hôn giữa nam và nữ, đồng thời ngăn chặn những vướng mắc trong quan hệ hôn nhân như phân chia tài sản và quyền nuôi con.
Chính sách 2: Công nhận giới tính mới theo yêu cầu của công dân
2.1 Xác định vấn đề bất cập
Việc xác định cơ quan có thẩm quyền công nhận bản dạng giới là yếu tố quyết định quy trình và thủ tục thay đổi giới tính trên giấy tờ của công dân Người yêu cầu sẽ phải nộp thủ tục cho cơ quan dân sự hay tư pháp, điều này được các quốc gia quy định khi xây dựng quy trình Hiện nay, trên thế giới có ba xu hướng phổ biến liên quan đến vấn đề này.
Cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch sẽ ra quyết định công nhận giới tính mới mà không có quy định về can thiệp y học 11
Cơ quan tư pháp sẽ ra quyết định công nhận giới tính mới mà không có quy định về can thiệp y học 12
Cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch hoặc cơ quan tư pháp có thẩm quyền sẽ xem xét và ra quyết định công nhận giới tính mới dựa trên các bằng chứng liên quan đến can thiệp y học.
Mỗi trường hợp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Hiện tại, có 109 quốc gia và vùng lãnh thổ đã hợp pháp hóa quyền chuyển đổi giới tính, trong đó một số quốc gia yêu cầu người chuyển giới phải trải qua can thiệp y tế như phẫu thuật hoặc sử dụng hormone để được công nhận.
11 Argentina, Nauy, Pakistan, Canada, Nam Phi, Israel, Đức, Malta
Chỉ có một số quốc gia ở Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore và Philippines yêu cầu phẫu thuật chuyển đổi giới tính để công nhận giấy tờ nhân thân.
Việc yêu cầu can thiệp y học để công nhận giới tính mới đã hạn chế quyền lợi của những người muốn chuyển đổi giới tính, đặc biệt là khi không phải ai cũng có khả năng tài chính hoặc chấp nhận rủi ro sức khỏe Nhiều quốc gia như Argentina, Canada, Nam Phi, Israel, Đức và Malta đang tiến tới việc tôn trọng quyền tự quyết của cá nhân trong việc xác định bản dạng giới mà không yêu cầu can thiệp y học Đặc biệt, 11 quốc gia và vùng lãnh thổ, trước đây yêu cầu can thiệp y học, đã thay đổi chính sách, bao gồm New Zealand, Iceland, Serbia, Pakistan và Brazil, cho phép công nhận giới tính mới mà không cần thực hiện các thủ tục y tế bắt buộc.
(2018), Bỉ (2018), Jammu và Kashmir, Ấn Độ (2017), Hy Lạp (2017), Úc
Việc thay đổi giới tính không ảnh hưởng đến các yếu tố như vân tay hay nhóm máu, và không tác động đến an ninh quốc phòng, do đó cần đảm bảo quyền yêu cầu thay đổi bản dạng giới trên giấy tờ Tại Việt Nam, quyền chuyển đổi giới tính đã được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, nhưng thiếu văn bản luật chuyên ngành cụ thể, khiến nhiều người phải ra nước ngoài như Thái Lan hay Hàn Quốc để thực hiện can thiệp y học Hiện tại, quy định về công nhận giới tính mới chỉ áp dụng cho trường hợp khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa xác định rõ, mà chưa có quy trình cho các trường hợp khác theo Điều 37 của Bộ luật Dân sự.
2.2 Mục tiêu của chính sách
- Nhà nước ban hành thủ tục công nhận giới tính mới của công dân để tôn trọng quyền tự quyết định giới tính của công dân.
Thủ tục công nhận giới tính cho công dân cần được thực hiện một cách chặt chẽ và đơn giản, nhằm tránh gây phiền toái cho công dân và phức tạp cho cơ quan nhà nước Tuy nhiên, quy trình này cũng phải đảm bảo không dễ dàng để ngăn chặn việc lợi dụng quyền công dân, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
- Công dân phải được tư vấn kỹ lưỡng, tránh quyết định bồng bột.
- Bảo đảm phù hợp với các tiêu chuẩn, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tôn trọng, bảo đảm quyền con người.
2.3 Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề
Công dân muốn công nhận bản dạng giới có quyền yêu cầu cơ quan quản lý xác định giới tính mà không cần can thiệp y học và không bắt buộc phải có giấy xác nhận giới tính từ Hội đồng Công nhận giới tính.
+ Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền là cơ quan quản lý hộ tịch cấp huyện nơi người đó cư trú
+ Công dân có quyền yêu cầu công nhận bản dạng giới 02 lần trong cuộc đời.
(1) Các bước để công nhận giới tính:
- Bước 1: Công dân nộp đơn và các giấy tờ kèm theo đề nghị công nhận giới tính mới cho cơ quan quản lý hộ tịch cấp huyện.
Các loại giấy tờ sau đây:
+ Xác nhận tình trạng hôn nhân là độc thân.
Trong vòng 15 ngày sau khi công dân nộp đơn và các tài liệu cần thiết, cơ quan quản lý hộ tịch sẽ thành lập Hội đồng Công nhận giới tính và thông báo kết quả cho công dân.
Trong vòng 30 ngày từ ngày thành lập Hội đồng, công dân cần gặp bác sĩ tâm thần và chuyên gia tâm lý là thành viên của Hội đồng để được đánh giá Việc này nhằm xác nhận rằng công dân không mắc rối loạn tâm thần, với kết quả đánh giá được gửi đến Hội đồng thông qua cơ quan tư pháp cấp huyện.
Hội đồng sẽ tổ chức cuộc họp với sự tham gia của công dân để biểu quyết về việc công nhận giới tính mới của công dân, chậm nhất vào ngày thứ 155 kể từ ngày thành lập.
Trong vòng 10 ngày sau khi Hội đồng biểu quyết, cơ quan hộ tịch cấp huyện sẽ phải đưa ra quyết định công nhận giới tính mới của công dân, khác với giới tính khi sinh.
Thời gian tối đa để cơ quan quản lý hộ tịch cấp huyện xem xét và ra quyết định công nhận giới tính mới của công dân, khác với giới tính khi sinh, là 180 ngày kể từ khi công dân nộp đơn.
(2) Về Hội đồng Công nhận giới tính
Hội đồng Công nhận giới tính bao gồm bác sĩ chuyên khoa tâm thần, chuyên gia tâm lý và đại diện chính quyền địa phương Hội đồng này sẽ công nhận giới tính mới cho công dân khi họ đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết.
+ Không bị rối loạn tâm thần;
+ Có cảm nhận bản dạng giới bền vững với giới tính đề nghị;
+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
+ Có mong muốn được công nhận giới tính mới
Hội đồng Công nhận giới tính hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm và chỉ được thành lập khi có đơn đề nghị từ công dân Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Hội đồng sẽ tự giải thể.
- Kinh phí hoạt động của Hội đồng Công nhận giới tính do công dân chi trả.
- Nhà nước quy định mức phí thu của công dân để chi trả cho hoạt động của Hội đồng Công nhận giới tính.
Chính sách 3: Can thiệp y học và điều kiện đảm bảo
3.1 Xác định vấn đề bất cập
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã công nhận quyền chuyển đổi giới tính, cụ thể tại Điều 37 quy định rằng việc chuyển đổi giới tính phải tuân theo quy định của pháp luật Cá nhân đã thực hiện chuyển đổi giới tính có quyền và nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch, đồng thời được hưởng các quyền nhân thân tương ứng với giới tính đã chuyển đổi theo các quy định của Bộ luật và các luật liên quan khác.
Mặc dù Bộ luật về chuyển đổi giới tính có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, nhưng vẫn chưa được triển khai thực tiễn do thiếu quy định cụ thể về ai được phép thực hiện chuyển đổi giới tính, các cơ sở y tế nào được cấp phép và quy trình thực hiện Chính sách công nhận bản dạng giới cho phép những cá nhân cảm thấy không phù hợp với giới tính hiện tại có thể thực hiện chuyển đổi y tế thông qua liệu pháp hoóc-môn hoặc phẫu thuật Báo cáo nghiên cứu về trải nghiệm y tế và nhu cầu chuyển đổi giới tính của người chuyển giới tại Việt Nam cho thấy sự cần thiết của việc cải thiện quy trình và hỗ trợ y tế cho nhóm người này.
Nam do Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) thực hiện năm
2017, trong số những người hiện đang sử dụng hoóc-môn, có 59,6% chưa từng được khám và tư vấn trước khi bắt đầu sử dụng hoóc-môn.
Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) năm 2017, gần 30% người sử dụng dịch vụ hoóc-môn nhận tư vấn từ các cá nhân kinh doanh hoóc-môn, trong khi 26,9% ra nước ngoài, chủ yếu đến Thái Lan, để sử dụng dịch vụ này Đáng chú ý, 40% tự tiêm hoóc-môn, 71% sử dụng sản phẩm ngoại nhập và 51,2% sử dụng hoóc-môn không rõ nguồn gốc Về phẫu thuật chuyển đổi giới tính, 40% đã thực hiện ở nước ngoài và 37,1% tại các cơ sở tư nhân trong nước, nhưng 71,4% gặp rắc rối với giấy tờ sau phẫu thuật Đối với dịch vụ tư vấn tâm lý, 16,4% đã từng sử dụng, trong đó 36,9% tìm đến phòng khám tư nhân và 20% ra nước ngoài, chủ yếu là Thái Lan Những người trải nghiệm dịch vụ tâm lý tại cơ sở nước ngoài đánh giá cao hơn rõ rệt so với trong nước.
Việc mua bán và sử dụng hoóc-môn cũng như các dịch vụ phẫu thuật chuyển đổi giới tính tại Việt Nam hiện vẫn được coi là "phi chính thức" Điều này khiến nhiều người chuyển giới gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng, do không đủ khả năng chi trả cho dịch vụ ở nước ngoài hoặc vướng mắc về mặt pháp lý tại các cơ sở y tế trong nước Họ thường phải tự tìm hiểu thông tin về quá trình chuyển đổi giới tính hoặc tìm đến những dịch vụ không an toàn và không được cấp phép.
Bác sĩ Việt Nam cần được đào tạo chuyên môn về chuyển đổi giới tính để đáp ứng nhu cầu khám và theo dõi sức khỏe đặc thù của người chuyển giới, bên cạnh việc cải thiện chất lượng cơ sở vật chất của bệnh viện.
Nhiều người chuyển đổi giới tính vẫn băn khoăn liệu giấy tờ về chuyển đổi giới tính tại các cơ sở y tế nước ngoài có được coi là cơ sở hợp lệ để xác định can thiệp y học cho việc chuyển đổi pháp lý hay không Đồng thời, thực tiễn hoạt động của các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh thực hiện can thiệp y học để chuyển đổi giới tính tại Việt Nam cũng đang cần được xem xét và cải thiện.
Hiện nay, cả nước có hàng trăm cơ sở thẩm mỹ, trong đó có 17 bệnh viện tư nhân chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ được Bộ Y tế cấp phép hoạt động Tính đến tháng 10/2013, Hà Nội có 40 cơ sở và Thành phố Hồ Chí Minh có 45 cơ sở được Sở Y tế cấp phép Ngoài ra, còn nhiều bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và phòng khám thẩm mỹ thực hiện phẫu thuật thẩm mỹ, kể cả những cơ sở chưa được cấp phép vẫn tiến hành các hoạt động liên quan.
13 Số liệu do Phòng Quản lý hành nghề, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cung cấp
Việc cấp phép cho tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính sẽ tạo ra sự cạnh tranh về giá cả và chất lượng dịch vụ, giúp người có nhu cầu dễ dàng tiếp cận Tuy nhiên, điều này cũng tiềm ẩn nguy cơ các cơ sở không đảm bảo tiêu chuẩn thực hiện phẫu thuật, dẫn đến rủi ro cho sức khỏe và tính mạng của người chuyển đổi giới tính Hơn nữa, việc thiếu tư vấn đầy đủ có thể gây ra sự mất cân bằng trong cuộc sống, dẫn đến tình trạng chán nản hoặc thậm chí tự tử.
Trước khi thực hiện can thiệp y học như sử dụng nội tiết tố sinh dục hoặc phẫu thuật ngực và bộ phận sinh dục, người đề nghị chuyển đổi giới tính cần trải qua giai đoạn tư vấn tâm lý Việc này đảm bảo họ có nhu cầu thay đổi cơ thể phù hợp với bản dạng giới của mình, và chỉ sau đó, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mới tiến hành các can thiệp cần thiết.
3.2 Mục tiêu giải quyết vấn đề
- Nhà nước bảo đảm quyền của công dân khi thực hiện can thiệp y học.
- Công dân được tư vấn đầy đủ trước, trong và sau khi thực hiện can thiệp y học.
- Bảo đảm an toàn về sức khỏe, tính mạng cho công dân.
- Bảo đảm cơ sở pháp lý cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện can thiệp y học cho công dân
3.3 Các giải pháp đề xuất để giải quyết vấn đề
Quy định điều kiện đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các yêu cầu bắt buộc khi thực hiện can thiệp y học, bao gồm:
Các cơ sở khám bệnh chữa bệnh có đủ điều kiện để thực hiện can thiệp y học bao gồm bệnh viện chuyên khoa nội, nội tiết, sản hoặc nam học; và bệnh viện đa khoa có các chuyên khoa nội, nội tiết, sản hoặc nam học, nơi có thể điều trị nội tiết tố sinh dục cho những người có nhu cầu chuyển đổi giới tính.
Bệnh viện chuyên khoa thẩm mỹ cung cấp dịch vụ phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, bao gồm cả phẫu thuật ngực dành cho những người có nhu cầu chuyển đổi giới tính.
Bệnh viện này chuyên cung cấp các dịch vụ phẫu thuật tạo hình, tiết niệu, nội tiết, sản khoa và nam học, đặc biệt là phẫu thuật bộ phận sinh dục cho những người có nhu cầu chuyển đổi giới tính.
(2) Yêu cầu bắt buộc khi thực hiện can thiệp y học:
+ Thực hiện tư vấn tâm lý cho người có nhu cầu can thiệp y học.
Quy trình chuyên môn kỹ thuật trong can thiệp y học cần được quy định chặt chẽ và thực hiện bởi các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cũng như người hành nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Để thực hiện can thiệp y học liên quan đến chuyển đổi giới tính, bệnh viện cần có các khoa phẫu thuật như phẫu thuật tạo hình, tiết niệu, nội tiết và tâm thần Điều này cho phép họ điều trị nội tiết tố sinh dục và thực hiện phẫu thuật ngực cũng như phẫu thuật bộ phận sinh dục cho những người có nhu cầu.
(2) Yêu cầu bắt buộc khi thực hiện can thiệp y học:
+ Không yêu cầu cá nhân đề nghị thực hiện can thiệp y học để chuyển đổi giới tính phải kiểm tra (tư vấn) tâm lý.
Quy trình can thiệp y học cần được quy định rõ ràng và thực hiện nghiêm ngặt bởi các cơ sở khám chữa bệnh và người hành nghề, theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
3.4 Đánh giá tác động của các giải pháp đối với đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và các đối tượng khác có liên quan
3.4.1 Giải pháp 1 a) Tác động kinh tế - xã hội