1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói và nghe cho học sinh lớp một

124 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Hệ Thống Bài Tập Phát Triển Kĩ Năng Nói Và Nghe Cho Học Sinh Lớp Một
Tác giả Đào Thị Mai Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Đỗ Thị Thu Hương
Trường học Trường Đại Học Hải Phòng
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, giao tiếp là một hoạt động khởi đầu cho những hoạt động tiếp theo và là hoạt động không thể thiếu trong xã hội. Con người luôn luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau, nhu cầu đó cũng giống như nhu cầu ăn, uống, ngủ, hít thở không khí,… rất quan trọng và cần thiết. Giao tiếp chính là một trong những điều kiện quan trọng để con người và xã hội phát triển. Nghe nói đọc viết là những hoạt động không thể thiếu của mỗi người khi tham gia vào quá trình giao tiếp. Xét về tần số xuất hiện, thì cặp hoạt động nói nghe diễn ra liên tục hơn, thường xuyên hơn. Hoạt động này diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi và ít bị phụ thuộc vào điều kiện xung quanh như hoạt động đọc viết. Trên thực tế, một người có thể không đọc, không viết một chữ nào nhưng ít ai không nói, không nghe một lời nào

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

ĐÀO THỊ MAI ANH

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN

KĨ NĂNG NÓI VÀ NGHE CHO HỌC SINH LỚP MỘT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HẢI PHÒNG - 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

ĐÀO THỊ MAI ANH

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN

KĨ NĂNG NÓI VÀ NGHE CHO HỌC SINH LỚP MỘT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC

MÃ SỐ: 8140101

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương

HẢI PHÒNG - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu không trùng với kết quả của tác giả nào khác Các thông tin được trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, tháng 11 năm 2022

Tác giả luận văn

Đào Thị Mai Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học – Trường Đại học Hải Phòng Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn trân trọng nhất tới các thầy cô, đặc biệt là PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành luận văn này Do thời gian nghiên cứu và năng lực nghiên cứu còn hạn chế, luận văn khó có thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý, phản hồi của các nhà chuyên môn, các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp Tôi xin tiếp thu và điều chỉnh tích cực để luận văn được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Đào Thị Mai Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG NÓI VÀ NGHE CHO HỌC SINH LỚP 1 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 Một số vấn đề về lí thuyết hội thoại 10

1.1.2 Một số vấn đề về ngôn ngữ nói trong hội thoại 13

1.1.3 Một số vấn đề về nghe trong hội thoại 15

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

1.2.1 Yêu cầu dạy nói – nghe trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 2006 19

1.2.2 Yêu cầu dạy nói – nghe trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 2018 22

1.2.3 Nội dung dạy nói – nghe trong sách Tiếng Việt 1, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống 23

1.2.4 Thực trạng dạy học kĩ năng nói - nghe của học sinh lớp 1 và việc phát triển kĩ năng nói - nghe cho các em 24

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG NÓI VÀ NGHE CHO HỌC SINH LỚP 1 35

2.1 Các nguyên tắc thiết kế 35

2.1.1 Phù hợp với mục tiêu môn học 35

2.1.2 Đảm bảo nguyên tắc giao tiếp trong dạy học 35

2.1.3 Đảm bảo phù hợp với nhận thức học sinh 36

2.1.4 Đảm bảo tính hệ thống, đa dạng và phong phú 36

2.1.5 Đảm bảo tính tích hợp 36

2.1.6 Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh 37

Trang 6

2.2 Quy trình thiết kế bài tập 37

2.3 Hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói - nghe cho học sinh lớp 1 38

2.3.1 Bài tập phát triển kĩ năng nói - nghe theo nội dung bài học 38

2.3.2 Bài tập phát triển kĩ năng nói - nghe theo nghi thức giao tiếp 51

2.3.3 Bài tập phát triển kĩ năng nói - nghe theo tình huống 58

2.3.4 Bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ xưng hô 69

2.4 Hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập 73

Tiểu kết chương 2 75

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76

3.1 Mục đích thực nghiệm 76

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 76

3.3 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm 76

3.4 Tổ chức thực nghiệm 77

3.5 Nội dung thực nghiệm 79

3.6 Kết quả thực nghiệm và bàn luận về kết quả 79

3.6.1 Kết quả thực nghiệm 79

3.6.2 Bàn luận về kết quả 83

Tiểu kết chương 3 85

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

1.1 Kết quả khảo sát GV về mức độ sử dụng các biện pháp

phát triển kĩ năng nói và nghe cho HS 28

1.2 Kết quả khảo sát HS về mức độ thành thạo kĩ năng

3.1 Kết quả kiểm tra học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về kĩ năng nói - nghe theo nội dung bài học 79

3.2 Kết quả kiểm tra học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về kĩ năng nói - nghe theo nghi thức giao tiếp 80

3.3 Kết quả kiểm tra học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về kĩ năng nói - nghe theo tình huống 80

3.4

Kết quả kiểm tra học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về kĩ năng nói - nghe phát triển năng lực sử

dụng từ ngữ xưng hô

81

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

1.1 Nhận thức của GV về dạy học phát triển kĩ năng nói và

27

1.4 Nhận xét về phân phối chương trình dạy học luyện nói

trong Chương trình tiếng Việt lớp1 27

3.1 So sánh điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về kĩ năng nói - nghe theo nội dung bài học 79

3.2 So sánh điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về kĩ năng nói - nghe theo nghi thức giao tiếp 80

3.3 So sánh điểm kiểm tra HS lớp thực nghiệm và lớp đối

chứng về kĩ năng nói - nghe theo tình huống 81

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, giao tiếp là một hoạt động khởi đầu cho những hoạt động tiếp theo và là hoạt động không thể thiếu trong xã hội Con người luôn luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau, nhu cầu đó cũng giống như nhu cầu ăn, uống, ngủ, hít thở không khí,… rất quan trọng và cần thiết Giao tiếp chính là một trong những điều kiện quan trọng để con người và xã hội phát triển Nghe - nói - đọc - viết là những hoạt động không thể thiếu của mỗi người khi tham gia vào quá trình giao tiếp Xét về tần số xuất hiện, thì cặp hoạt động nói - nghe diễn ra liên tục hơn, thường xuyên hơn Hoạt động này diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi và ít bị phụ thuộc vào điều kiện xung quanh như hoạt động đọc - viết Trên thực tế, một người có thể không đọc, không viết một chữ nào nhưng ít ai không nói, không nghe một lời nào

1.2 Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT - BGDĐT), nói - nghe chính là hai trong số bốn kĩ năng học sinh phải đạt được trong môn Tiếng Việt ở tiểu học (đọc, viết, nói và nghe) Chương trình đã xác định: “Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc - viết - nghe - nói) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi” và đặt ra mục tiêu ở cấp tiểu học: “Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất

cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản” [10] Như vậy, theo mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018, phát triển kĩ năng nói - nghe là một phần không thể thiếu trong việc hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ cũng như các năng lực khác cho học sinh

Đối với học sinh lớp Một, phát triển kĩ năng nói - nghe càng đặc biệt quan trọng, từ đó giúp học sinh nâng cao năng lực tư duy và năng lực giao tiếp Đồng thời, đây cũng là những kĩ năng cần yếu để học sinh tiến hành các hoạt động học tập trong nhà trường Học sinh nếu được rèn kĩ năng nói - nghe thường xuyên sẽ luôn tự tin và chủ động trong giao tiếp Các kĩ năng này còn đem lại cho các em

Trang 11

nhiều lợi ích trong học tập như giúp các em diễn đạt được suy nghĩ, ý tưởng của mình với thầy cô, bạn bè, phản biện và tham gia quá trình đánh giá trong lớp học…Kĩ năng nói - nghe chính là một phương tiện để học sinh tìm hiểu và khám phá thế giới một cách dễ dàng

1.3 Trong bối cảnh có nhiều bộ sách giáo khoa lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, sử dụng từ năm học 2020 - 2021, việc lựa chọn tài liệu dạy học nào để phù hợp với đặc điểm học sinh tại địa phương giúp đạt được các mục tiêu của chương trình dành cho học sinh lớp 1 trở thành nhiệm vụ của người quản lý, giáo viên và phụ huynh Nội dung dạy nói - nghe được thể hiện trong sách giáo khoa môn Tiếng Việt và đó là một trong những tiêu chí lựa chọn sách

1.4 Ở giai đoạn đầu cấp tiểu học, phần lớn giáo viên quá chú trọng vào hai kĩ năng đọc và viết Riêng về kĩ năng nói và nghe thì vấn đề này rất ít được quan tâm, do đó kĩ năng nói - nghe của học sinh còn hạn chế Một phần do cách thức tổ chức hoạt động nói - nghe trong nhà trường hiện nay còn nhàm chán, chưa thực sự lôi cuốn sự tham gia tích cực của học sinh Mặt khác hệ thống bài tập Tiếng Việt chưa tập trung nhiều vào việc rèn kĩ năng nói - nghe Các kiểu bài tập chưa thật phù hợp, phong phú và hấp dẫn đối với học sinh

Xuất phát từ những lí do trình bày ở trên cùng với mong muốn hình thành

và phát triển kĩ năng nói và nghe cho học sinh lớp Một, làm tăng hiệu quả trong

việc rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế hệ thống

bài tập phát triển kĩ năng nói và nghe cho học sinh lớp Một” Nghiên cứu này

sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn ngữ liệu dạy học, cụ thể là hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói - nghe đáp ứng yêu cầu đổi mới của chương trình giáo

dục phổ thông 2018

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Một số nghiên cứu về kĩ năng nói và nghe trên thế giới

Phát triển kĩ năng nói và nghe cho học sinh (HS) giai đoạn đầu cấp tiểu học là vấn đề được nhiều nhà tâm lí học, giáo dục học trên thế giới quan tâm nghiên cứu

Trang 12

Trong tài liệu [71] Wilson, Julie Anne đã cung cấp cái nhìn chung về chương trình phát triển kĩ năng nghe và nói cho HS đầu cấp tiểu học, trong đó các tác giả đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của các năng lực này đối với trẻ:

“Những trẻ có thể diễn giải suy nghĩ và ý kiến của mình bằng lời nói sẽ có thể thành công hơn trong học tập” Các tác giả cũng đề cập đến một số phương pháp phát triển kĩ năng nói - nghe như: kể chuyện, đặt câu hỏi, diễn kịch và tích hợp trong chương trình ngoại khóa “Giáo viên cần tạo ra môi trường mà học sinh cảm thấy an toàn để chia sẻ suy nghĩ của mình Đây là bước đầu tiên trong phát triển kĩ năng nói - nghe “Giáo viên hãy là thành người nói và lắng nghe ân cần”

Tiếp đến Elizabeth Grugeon, Lyn Dawers, Carol Smith and Lorraine

Hubbard trong tài liệu [64] đã cung cấp một cách nhìn tổng quan về vai trò và sự

phát triển của KN nói - nghe trong nhà trường Tài liệu đưa ra một số hình thức

tổ chức rèn kĩ năng nói - nghe thông qua một số phương tiện hiện đại: máy tính, phim truyền hình… Đây là cơ sở để chúng tôi nhận thấy cần đưa vào hệ thống bài tập các nội dung, hoạt động, hình thức học tập đa dạng, phong phú để khuyến khích học sinh có hứng thú nói ra cảm nhận của bản thân về một vấn đề hay một nhân vật cụ thể trong câu chuyện, tích cực chia sẻ với GV và các bạn trong lớp của mình nhằm giúp cho các em học sinh tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp

Nghiên cứu về những khó khăn trong ngôn ngữ của trẻ, A.Stackhouse, J.,

& Wells, B (2001) [63] đã đưa ra mô hình “cấu trúc cơ bản của hệ thống xử lí lời thoại” Theo các tác giả: Hoạt động giao tiếp bao giờ cũng xảy ra hai quá trình đó là: quá trình tiếp nhận lời nói (Kĩ năng nghe) và quá trình tạo lập lời nói (Kĩ năng nói) Hai quá trình này có quan hệ tương quan chặt chẽ với nhau Thông qua những hiểu biết về ngôn ngữ, người nghe có thể giải mã, hiểu được những gì họ nghe thấy, từ đó lên kế hoạch vận động bằng việc phát âm tạo ra lời nói Do đó, trong việc thiết kế bài tập GV phải hướng đến quá trình tương tác giữa các kĩ năng, giúp học sinh có cơ hội tương tác với các bạn và thầy cô về những hiểu biết, suy nghĩ của mình

Trang 13

Đi sâu nghiên cứu về kĩ năng nói, cuốn [69] đã đề cập nhiều khái niệm liên quan tới dạy nói như người nói làm gì (sản xuất lời nói, tự động, khớp nối,

tự giám sát và sửa chữa, v.v ), người nói cần biết những gì (kiến thức văn hóa -

xã hội, kiến thức ngôn ngữ) cùng với việc phân tích rõ các ví dụ minh họa Tác giả còn đưa ra các phương pháp có thể sử dụng khi dạy nói như kịch, thuyết trình, nhập vai, thảo luận và đưa ra các tiêu chí cụ thể để đánh giá KN nói

Theo Jack Richards: “Nghe không chỉ để hiểu mà còn để học ngôn ngữ Nghe có thể cung cấp nhiều đầu vào và người học phải nhận thức đầy đủ các dữ liệu đó Và nhận thức như thế nào còn tùy thuộc rất nhiều vào quá trình mà người học có thể kết hợp các từ ngữ mới vào các cấu trúc văn phạm phát triển năng lực giao tiếp”[66]

Không chỉ bàn về vai trò quan trọng của việc rèn kĩ năng nói – nghe cho học sinh, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, kĩ năng nói – nghe còn ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công trong công việc và cuộc sống của một người Bàn về vấn đề này, tác giả Firdevs Güneş và Yusuf Söylemez cho rằng: “Sự thành công

có được nhờ sức mạnh ảnh hưởng của việc nói được coi là tỷ lệ thuận với chất lượng cuộc sống của các cá nhân trong một xã hội” [65] Bên cạnh đó, các tác giả nói tới những yếu tố giúp HS rèn luyện các kĩ năng một cách thành thạo, trong đó, điều đầu tiên các tác giả nhắc đến là GV cần tạo môi trường để HS cảm thấy thoải mái và không có những vướng mắc tâm lí khi nói Một số kĩ thuật như: sử dụng hình ảnh, phát triển chủ đề theo tưởng tượng, bỏ qua một số lỗi nhỏ, các phương pháp làm việc nhóm, động não rất cần thiết trong kiểm soát việc nói của HS

Như vậy, tầm quan trọng của phát triển kĩ năng nói - nghe, mối quan hệ giữa chúng và các năng lực ngôn ngữ khác cũng như với sự thành công trong học tập và cuộc sống đã được các tác giả, nhà nghiên cứu trên thế giới chứng minh Họ cũng chỉ ra được những việc GV cần làm để phát triển kĩ năng nói - nghe cho HS như tạo ra môi trường an toàn để HS không e ngại khi nói hay bỏ qua các lỗi nhỏ, cần tổ chức các hình thức đa dạng, sử dụng các phương tiện hỗ

Trang 14

trợ v.v Tuy nhiên, các công trình tập trung vào các phương pháp phát triển kĩ năng nói - nghe song chưa đi sâu vào việc ảnh hưởng của ngữ liệu dạy học tới

kết quả dạy học trên một đối tượng cụ thể (HS đầu cấp Tiểu học)

2.2 Một số nghiên cứu về kĩ năng nói và nghe ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp, dạy các kĩ năng ngôn ngữ, xây dựng bài tập để dạy hội thoại, phát triển năng lực giao tiếp… cho học sinh tiểu học đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều dạng thức khác nhau (giáo trình, sách chuyên khảo, luận án, luận văn, khóa luận, bài báo, tạp chí) Dưới đây, chúng tôi điểm lại một số công trình nghiên cứu nổi bật liên quan đến đề tài:

Một trong những chuyên gia nghiên cứu sâu về dạy học tiếng Việt ở tiểu học là tác giả Lê Phương Nga Bà đã có nhiều công trình bàn về dạy học tiếng Việt ở tiểu học nói chung và dạy tiếng Việt lớp 1 nói riêng Có thể kể đến các công trình tiêu biểu Trong [34], tác giả đã biên soạn một cách có hệ thống các phương pháp dạy học Tiếng Việt ở bậc tiểu học bao gồm: tập đọc, luyện từ và câu, tập làm văn, kể chuyển, hướng dẫn hoạt động ngoại khóa Tiếng Việt Đặc biệt, cuốn sách rất hữu ích trong việc phân loại khoa học việc dạy học Tiếng Việt theo từng dạng bài cụ thể phù hợp với từng đối tượng học sinh

Trong bài viết [35], tác giả đã khẳng định năng lực giao tiếp vừa là năng

lực đặc thù của môn Tiếng Việt vừa là một năng lực chung mà trường học phải hình thành và phát triển Sau khi chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành, tác giả tiếp tục có những nghiên cứu mới về dạy học môn tiếng Việt 1 như sách chuyên khảo [36] Trong cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra những điểm mới của chương trình môn tiếng Việt lớp 1, trong đó chú trọng phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh Đồng thời, cũng đã phân tích những điểm chung có tính nguyên tắc của bộ sách giáo khoa, những yêu cầu của thiết kế bài học; những phẩm chất, kiến thức, kĩ năng của giáo viên, cách đánh giá năng lực môn Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình 2018

Trang 15

Với quan điểm “rèn kĩ năng nói cho học sinh theo hướng giao tiếp”, tác giả Nguyễn Quang Ninh trong [31] đã đề cập đến các chức năng của ngôn ngữ, của giao tiếp, các nhân tố giao tiếp với ngôn bản Tác giả đã nhấn mạnh “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm theo mục đích đã đặt ra”

Tiếp đến, tác giả Nguyễn Trí trong [51] đã cung cấp những hiểu biết cơ bản về hội thoại, giới thiệu nội dung chương trình hội thoại, giới thiệu các kiểu bài tập dạy học kĩ năng nghe nói trong bộ SGK Tiếng Việt tiểu học Trên cơ sở xác định mục đích, cấu trúc các kiểu bài tập đó, tác giả đề xuất ý kiến: phương pháp đóng vai là phương pháp đặc trưng dạy các bài tập hội thoại và dạy kĩ năng nghe nói cho học sinh tiểu học

Nghiên cứu sâu về hệ thống bài tập thực hành rèn kĩ năng nói và nghe, tác giả Ngô Hiền Tuyên với đề tài [54] đã đưa ra những nội dung và biện pháp rèn kĩ năng nói - nghe cho HS lớp Một Thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập thực hành và thiết kế một số giờ dạy học mẫu, đề tài đã đưa ra quy trình tổ chức rèn kĩ năng nói - nghe, chỉ rõ định hướng vận dụng vào thực tiễn dạy Tiếng Việt hiện nay

Cùng chủ đề nghiên cứu về hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1, năm 2015, tác giả Võ Thị Tuyết Mai [28] đã phân tích những yêu cầu về

KN nói, nội dung rèn KN nói - nghe, vận dụng lí thuyết hội thoại vào rèn KN nói cho HS Từ đó, xây dựng hệ thống bài tập rèn KN nói cho HS lớp 1, bao gồm: bài tập luyện nói và bài tập kể chuyện Bài tập luyện nói trong luận văn gồm các dạng bài luyện phát âm, rèn KN nói trong việc dùng từ, rèn KN nói trong việc đặt câu và rèn KN nói thông qua tình huống giao tiếp Hình thức của các bài tập luyện nói chủ yếu là dạng trò chơi, kể chuyện

Ngoài ra, còn có rất nhiều bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành liên quan đến vấn đề này như: tác giả Phan Phương Dung [17], tác giả Nguyễn Thị

Trang 16

Xuân Yến với ba bài viết [59], [60], [61], tác giả Trần Thị Hiền Lương với bài viết [27]; v.v

Như vậy, vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp, dạy các kĩ năng ngôn ngữ, xây dựng bài tập để dạy hội thoại phát triển năng lực giao tiếp… được rất nhiều tác giả quan tâm dưới các dạng công trình khác nhau Dưới dạng sách lí luận, luận án, luận văn, nhiều tác giả đã xây dựng được hệ thống bài tập dạy học hội thoại, rèn KN nói - nghe hoặc nội dung ngôn bản hội thoại (nói - viết) trên đối tượng một lớp hoặc cả cấp tiểu học, song nhiều dạng bài tập chưa thực sự phù hợp với vốn ngôn ngữ của HS, vì vậy tính hiệu quả để rèn kĩ năng nói – nghe chưa cao Trong khi đó dưới dạng các bài tạp chí, bài báo thì các tác giả mới chỉ tập trung chủ yếu bàn về vấn đề phương pháp dạy học, nội dung dạy học giao tiếp, hội thoại trong toàn bộ chương trình Tiếng Việt ở tiểu học hoặc xây dựng

hệ thống bài tập cho một số lớp hoặc cả cấp Tiểu học mà không đi sâu về xây dựng bài tập dạy nội dung này cho HS lớp 1 Do đó, việc thiết kế hệ thống bài tập để phát triển kĩ năng nói - nghe cho học sinh lớp 1 là một việc làm hết sức cần thiết Hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói - nghe vừa giúp học sinh trau dồi, rèn luyện các kĩ năng này vừa là công cụ hỗ trợ giáo viên trong dạy học nói

- nghe cho HS lớp 1 Khi kĩ năng nói - nghe của học sinh được hình thành thì năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, cũng sẽ phát triển theo, đáp ứng với yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục 2018

3 Mục tiêu nghiên cứu

Thiết kế được hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói - nghe cho học sinh lớp 1 phù hợp với các đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, từ đó giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng giao tiếp

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận, khoa học về tâm lí học, ngôn ngữ học của việc rèn kĩ năng nói - nghe cho học sinh đầu cấp tiểu học

- Khảo sát thực trạng chương trình, sách giáo khoa, thực trạng dạy học kĩ năng nói - nghe cho học sinh lớp 1

Trang 17

- Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói - nghe cho học sinh lớp 1

- Tổ chức thực nghiệm để đánh giá tính hiệu quả của hệ thống bài tập

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là kĩ năng nói - nghe của học sinh lớp 1

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Các bài tập do đề tài thiết kế tập trung vào các dạng: Bài tập phát triển nói - nghe theo nội dung bài học, nghi thức giao tiếp, tình huống và kĩ năng sử dụng từ ngữ xưng hô

- Phạm vi khảo sát: Giáo viên giảng dạy lớp 1 (20 giáo viên), học sinh lớp

1 (200 học sinh) và cán bộ quản lí chuyên môn tại trường Tiểu học Kỳ Sơn và trường Tiểu học Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

6 Phương pháp nghiên cứu đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập tài liệu trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan tới đề tài: kĩ năng nói - nghe, phát triển kĩ năng nói

- nghe, dạy nói - nghe, việc xây dựng các bài tập phát triển kĩ năng nói - nghe, đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1, v.v Phân tích, khái quát hóa lí luận để xác lập căn cứ khoa học của nghiên cứu cũng như tìm hiểu kinh nghiệm trong việc phát triển kĩ năng nói - nghe cho học sinh lớp 1

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Điều tra khảo sát: Xây dựng câu hỏi để khảo sát thực trạng dạy học kĩ năng nói và nghe cho học sinh lớp 1

+ Quan sát kĩ năng nói và nghe của học sinh lớp 1, từ đó rút ra những kết luận về kĩ năng nói và nghe của học sinh

+ Thực nghiệm: Tiến hành điều tra, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm kết hợp với quan sát để có những đánh giá về định lượng, định tính làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài

- Nhóm phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục: Thống

kê, phân tích, tổng hợp các kết quả khảo sát thực trạng và kết quả thực nghiệm,

Trang 18

từ đó đưa ra những đánh giá định lượng nhằm khẳng định tính khả thi của các biện pháp

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết kế hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói và nghe cho học sinh lớp 1

Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói - nghe cho học sinh lớp 1

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ

HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG NÓI VÀ NGHE

CHO HỌC SINH LỚP 1 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số vấn đề về lí thuyết hội thoại

1.1.1.1 Khái niệm hội thoại

Tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác…” [15, tr.201]

Nguyễn Quang Ninh cho rằng “Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm… theo một mục đích đã được đặt ra” [31, tr.41]

Theo Nguyễn Trí, Phan Phương Dung “Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức của ngôn ngữ Các hình thức hành chức của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động dạy cơ bản này” [51, tr.43]

Theo từ điển tiếng Việt (2015): “Hội thoại là hoạt động giao tiếp giữa hai hoặc nhiều người”[56] Phát triển các kĩ năng giao tiếp và các phép xã giao là một phần quan trọng của việc xã hội hóa Phát triển các kĩ năng hội thoại trong ngôn ngữ mới là trọng tâm của việc dạy và học ngôn ngữ

Từ các khái niệm trên về hội thoại, chúng tôi đồng tình với quan điểm của

Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác…” [15, tr.201]

1.1.1.2 Những yếu tố trong cấu trúc hội thoại

a Cuộc thoại

“Cuộc thoại là một lần trao đổi, nói chuyện giữa cá nhân trong hoàn cảnh

xã hội nào đó Trong cuộc thoại, các nhân vật tham gia đều luân phiên trao đổi

Trang 20

lượt lời với nhau Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất Để xác định cuộc thoại, cần có các nhân tố như: nhân vật, sự thống nhất về thời gian và địa điểm diễn ra hội thoại, sự thống nhất về chủ đề.” [41, tr200]

c Cặp thoại

Cặp thoại chính là đơn vị nhỏ nhất của cuộc thoại tạo nên do các tham thoại, có liên quan đến hành vi xin phép và hồi đáp trong lí thuyết hội thoại Theo Nguyễn Đức Dân “Các cặp thoại không phải được nói ra một cách ngẫu nhiên, tùy tiện Chúng được tổ chức, thực hiện theo một quy cách chặt chẽ

…Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai.” [16, tr.96]

d Tham thoại

“Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định và một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại” [15, tr.316]

e Lượt lời

Trong ngôn ngữ, giao tiếp hội thoại là hoạt động cơ bản, phổ biến và không thể thiếu Khi thực hiện hội thoại với người khác, chúng ta đang lắng nghe và trao đổi thông tin theo lượt lời Tác giả Nguyễn Thiện Giáp khẳng định:

"Lượt lời một hình thức hoạt động xã hội bị chi phối bởi một hệ thống những quy ước đối với việc giành lời, giữ lời và nhường lời mà mọi thành viên trong xã hội đều biết” [20, tr.66] Lượt lời có thể hiểu là sự tương tác qua lại, luân phiên nhau trong hội thoại

Trang 21

1.1.1.3 Phân loại hội thoại

a Trao lời

Trao lời là hành động của người nói nói ra và hướng lời nói của mình về phía người nhận Bình thường người nói và người nhận là khác nhau (trừ trường hợp độc thoại)

Có những phát ngôn loại trừ sự đáp lời như ngôn bản viết hoặc miệng (tuyên án, truyền thanh, truyền hình) Đây là sự loại trừ sự hồi đáp trực tiếp, tức thời Thực tế, những diễn ngôn này vẫn cần đến sự hồi đáp nào đó ở những người nghe

c Tương tác

Sự tương tác là hiện tượng ảnh hưởng lẫn nhau của từng người trong quá trình hội thoại Nhân vật hội thoại tác động lẫn nhau về mọi phương diện, quan trọng nhất là tác động đến lời nói (và ngôn ngữ) của nhau Sự tương tác trong hội thoại trước hết là tương tác giữa các lượt lời Như thế lượt lời vừa là cái chịu tác động vừa là phương tiện sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua lời nói mà tác động đến người nói và người nghe

Trong quá trình tương tác mỗi nhân vật thực hiện tự mình điều chỉnh thái

độ, hành động, lượt lời của mình theo từng bước của cuộc đối thoại sao cho khớp với những biến đổi của đối tác và của tình huống hội thoại đang diễn ra

Có những cặp trao đáp củng cố và sửa chữa nhằm thiết lập, làm vững chắc quan hệ giữa người trong cuộc để cuộc tương tác đạt hiệu quả

Trang 22

1.1.1.4 Các nhân tố giao tiếp và hội thoại

Nhân tố hội thoại được thể hiện qua tình huống hội thoại, nhân vật hội thoại và môi trường hội thoại

+ Tình huống hội thoại: là một hoàn cảnh cụ thể, xác định được các nhân vật tham gia hội thoại có chủ ý và làm nảy sinh cuộc hội thoại

+ Nhân vật hội thoại: là những người tham gia hội thoại (người nói và người nghe) Đảm bảo giữa người nói và người nghe có sự luân phiên thay đổi lượt lời

+ Môi trường hội thoại: gồm không gian và thời gian Môi trường hội thoại rất quan trọng vì nó có thể làm cho cuộc hội thoại diễn ra thành công và suôn sẻ

Nhiệm vụ của đề tài này là hướng đến việc rèn luyện kĩ năng nghe - nói, việc rèn luyện KN nói nghe sẽ giúp cho học sinh đạt được kĩ năng giao tiếp, lâu dần sẽ hình thành năng lực giao tiếp Chính vì thế, kĩ năng độc thoại và hội thoại được chúng tôi sử dụng trong hầu hết các bài dạy Tiếng Việt lớp 1 thông qua hoạt động cho học sinh đóng vai theo nhân vật Qua việc đóng vai sẽ đánh giá được trọn vẹn cả về ngữ âm, giọng điệu trong khi nói và kể của từng học sinh, thấy được sự linh hoạt trong việc sử dụng từ ngữ để đối đáp với các nhân vật khác, tạo điều kiện thuận lợi phát triển vốn từ cho học sinh Từ đó giúp học sinh phát triển KN nói - nghe trong giờ học Tiếng Việt

1.1.2 Một số vấn đề về ngôn ngữ nói trong hội thoại

1.1.2.1 Đặc điểm của ngôn ngữ nói

Ngôn ngữ nói là phương tiện để mã hoá các thông tin (những suy nghĩ, tri thức…) trong đầu con người (GV dạy học, người học hoạt động chẳng hạn) khi chuyển tải ra ngoài bằng lời (giao tiếp, truyền đạt) Trong dạy học, những thông tin từ GV sẽ giúp cho HS hiểu đúng ý tưởng của GV, nội dung khoa học, thực hiện chính xác các yêu cầu của GV, lưu trữ các thông tin từ GV, giao tiếp giữa người học với nhau Ngoài tính chính xác về từ ngữ, ngôn ngữ nói của GV còn cần đạt đến tính nghệ thuật về mặt ngữ âm, cấu trúc câu sao cho lời nói được

Trang 23

biểu đạt ngắn gọn, trong sáng, súc tích, giàu hình ảnh (kể cả tình cảm), dễ hiểu

và mang tính thuyết phục cao Sử dụng đúng và phù hợp các tính chất vật lí của

lời nói như cường độ, cao độ, tốc độ nói cũng là một nghệ thuật nói “Kĩ năng nói đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (từ ngữ, câu, đoạn, ngữ điệu) và các phương tiện phụ trợ khác (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…) Khi rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh, cần rèn luyện các dạng nói theo một đề tài, trả lời câu hỏi theo các thể văn khác nhau và tham gia vào đối thoại, thảo luận”

[14, tr.31-32]

1.1.2.2 Ngữ vực

Ngữ vực là một cấu hình nghĩa có tính chất tiềm năng của văn bản, gắn

liền với đặc điểm tình huống, được đặc trưng bởi trường, thức và quan hệ: đặc điểm của ngữ cảnh tình huống được thể hiện qua một số phương diện, trường diễn ngôn được thể hiện thông qua nghĩa kinh nghiệm và hệ thống chuyển tác, quan hệ được thể hiện qua nghĩa liên nhân với hệ thống tình thái, thể và đại từ nhân xưng, còn thức được thể hiện qua nghĩa văn bản với hệ thống đề, thuyết, cấu trúc thông tin và sự liên kết

Có thể nói, ngữ vực như một cấu hình nghĩa tiềm năng, một kiểu khung

hay lược đồ phân tích sẽ được hiện thực hóa bằng ba trụ cột nội dung, chủ thể và

cách thức

1.1.2.3 Ngôn ngữ cá nhân

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Ngôn ngữ cá nhân là toàn bộ những đặc trưng thuộc về lời nói của một cá nhân phản ánh các đặc điểm hoàn cảnh xuất thân, nghề nghiệp, trình độ học vấn, môi trường hoạt động của người đó trong cộng đồng ngôn ngữ” [56]

1.1.2.4 Các yếu tố kèm lời và phi lời

Yếu tố kèm lời: là các yếu tố như: ngữ điệu lời nói, cường độ cấu âm, đặc điểm phát âm, sự ngừng nghỉ của giọng nói Đó là các yếu tố được truyền qua kênh thính giác

Trang 24

Yếu tố phi lời: là những yếu tố bao gồm: cử chỉ, khoảng không gian, tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể và định hướng cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt… hoặc những tín hiệu âm thanh như tiếng gõ, tiếng kéo bàn, xô ghế…Những tín hiệu cơ thể - vận động là những tín hiệu xuất hiện trong hội thoại, chúng có thể chậm từ từ (ví

dụ như sự thay đổi dần khoảng cách, tư thế ngồi của những người trò chuyện), chúng có thể nhanh như điệu bộ, cử chỉ, nét mặt thay đổi tuỳ theo từng lượt lời, từng đoạn lời, thậm chí từng từ ngữ được dùng Các yếu tố phi lời được truyền qua kênh thị giác

Trong hội thoại, yếu tố kèm lời và phi lời góp phần làm cho cuộc thoại được diễn ra liên tục, trở nên phong phú, đầy màu sắc Thiếu chúng, cuộc trò chuyện sẽ tẻ nhạt, đơn điệu, thậm chí đôi khi còn khó hiểu

Nói một cách tổng quát, ta không thể loại bỏ các tín hiệu kèm lời và phi lời khi giao tiếp bằng lời Ngay cả khi nói chuyện bằng điện thoại (không đương diện với người đương thoại), không ít người vẫn khoa chân múa tay…

Trong xã hội hiện đại, để tiến hành hoạt động giao tiếp, người ta còn sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (tranh, ảnh, biều đồ, đồ thị, hình vẽ…) Các phương tiện giao tiếp này nhằm làm rõ thêm cho nội dung của thông điệp

1.1.3 Một số vấn đề về nghe trong hội thoại

1.1.3.1 Yêu cầu về kĩ năng nghe

Để hình thành năng lực nghe theo yêu cầu nghề nghiệp đối với một giáo viên, cần chú ý đến việc rèn luyện một số KN sau:

a) Chuẩn bị những điều kiện để nghe có hiệu quả

Trong hội thoại, nếu người nói phải chuẩn bị trước bài nói thì người nghe cũng phải chuẩn bị trước cho mình những điều kiện để nghe (tiếp nhận thông tin) có hiệu quả nhất

Xác định mục đích nghe: Nghe ai nói, nghe về nội dung gì, nghe như thế nào, nghe để làm gì…

Ví dụ: Trong một buổi họp phụ huynh học sinh, giáo viên phải lắng nghe

và ghi chép ý kiến phát biểu của phụ huynh học sinh phản ánh về tình hình học

Trang 25

tập ở nhà của học sinh, về một vấn đề nào đó nảy sinh trong trường (lớp) cần sự phối hợp giải quyết giữ gia đình và nhà trường… Trong một cuộc phỏng vấn lấy tin, phóng viên phải chuẩn bị trước những câu hỏi, sắp xếp trước một dàn ý cho bài viết để cuộc phỏng vấn đạt được mục đích đặt ra… Trong một cuộc hội thoại khoa học, người nghe phải định hướng trước những vấn đề cần quan tâm, cần ghi chép đầy đủ, chuẩn bị trước những ý kiến cần trao đổi, cần làm sáng tỏ thêm…

Chuẩn bị cho mình “tâm thế nghe” tích cực: Tinh thần khi nghe phải thanh thản, tập trung chú ý, có hứng thú với nội dung được nghe… Hiệu quả nghe sẽ bị hạn chế rất nhiều nếu như người nghe không chuẩn bị trước tâm thế Điều này giải thích tại sao cùng nghe một người nói mà kết quả tiếp nhận thông tin ở người nghe lại không phải như nhau

Phải rèn luyện để có trí nhớ tốt Điều này được bắt đầu từ những bài học thuộc lòng ở bậc tiểu học Trong giao tiếp hàng ngày, sẽ rất khiếm nhã nếu như không nhớ được tên người đang nói chuyện với mình Là một GV, việc đầu tiên

là phải thuộc tên học sinh lớp được phân công chủ nhiệm Trong hội thoại, trí nhớ giúp người nghe nắm bắt nhanh chóng, dễ dàng các sự kiện, hiện tượng, vấn

đề người nói trình bày Từ việc lưu giữ các tư liệu thông tin, người nghe có thể xâu chuỗi, lí giải một cách khoa học, chính xác các vấn đề cần giải quyết do cuộc sống đặt ra

b) Nắm được các kĩ năng nghe và ghi chép

Mỗi loại đề tài cần có cách nghe riêng Chẳng hạn, những bài giảng khoa học, nội dung chính cần nắm bắt là những luận điểm, những mối quan hệ của những luận điểm đó và cách dẫn dắt, trình bày của người nói Với những câu chuyện, nội dung cần quan tâm lại là những nhân vật, những tình tiết, những diễn biến, xung đột Với những tin tức thời sự thì lại là những biến cố, những sự kiện diễn ra trong không gian, thời gian nào đấy…

Việc ghi chép cũng là một kĩ năng cần rèn luyện Ghi chép bổ sung cho trí nhớ, giúp người nghe lưu giữ được tư liệu và sử dụng các tư liệu đó khi cần thiết Thường thì vừa nghe vừa ghi, cũng có khi nghe xong rồi mới ghi tóm lại

Trang 26

những ý chính, những điều mình quan tâm Kĩ năng nghe ghi là sự tổng hợp của nhiều yếu tố: chữ viết rõ ràng để đọc, tốc độ viết nhanh, khả năng nắm bắt thông tin, phương pháp ghi…

1.1.3.2 Nghe trong hội thoại một chiều

Hội thoại một chiều là hình thức hội thoại đặc biệt, thường diễn ra ở trên lớp (bài giảng của giáo viên), trong phòng họp hoặc trên hội trường (diễn văn, thuyết trình, bải giảng, báo cáo khoa học…) Các nhân vật giao tiếp trong hội thoại một chiều thường không chuyển đổi vai cho nhau (Người nói được chỉ định và có chuẩn bị trước, người nghe gồm số đông)

Nội dung của hội thoại một chiều do người nói quy định Người nghe thường ở thế bị động, không tham gia trực tiếp vào việc xác lập nội dung bài nói Tuy vậy, người nghe vẫn có thể gián tiếp điều chỉnh nội dung bài nói thông qua lời đề nghị hoặc thái độ biểu hiện ra ngoài mà người nói có thể cảm nhận được (nghe chăm chú hay lơ là, tán thưởng hoặc phản đối…)

Người nghe trong hội thoại một chiều thường phải ghi chép lại những thông tin do người nói trình bày Mức độ ghi chép như thế nào, tùy thuộc yêu cầu của cuộc thoại (Ví dụ: Người nghe trong giờ học khác với người nghe trong hội nghị, hội thảo), tùy thuộc vào sự quan tâm của người nghe đối với nội dung bài nói

1.1.3.3 Nghe trong hội thoại hai chiều

Nghe trong hội thoại 2 chiều là hình thức nghe mà cuộc thoại luôn luôn hiện diện cả người nói và người nghe, trong một không gian hẹp Hội thoại qua điện thoại cũng được xếp vào hình thức nghe này (không hiện diện trực tiếp các nhân vật hội thoại, diễn ra với khoảng cách không gian rộng)

Sự chuyển đổi vai (từ nghe sang nói và ngược lại từ nói sang nghe) diễn ra thường xuyên Thời gian dành cho một vai (nghe hoặc nói) không kéo dài quá lâu

Nội dung cuộc thoại có thể quy định trước, nhưng thường được xác lập và điều chỉnh trong quá trình hội thoại Nội dung này luôn luôn thay đổi và rất đa

Trang 27

dạng Người nghe cũng chính là người trực tiếp tham gia điều chỉnh, xác lập nội dung cuộc thoại

Việc nghe trong hội thoại không cần ghi chép vì người nghe cũng là người xây dựng nội dung giao tiếp, những nội dung này rất đa dạng, phong phú

và nhiều khi tản mạn nên khó có thể ghi chép được Tuy vậy, tùy nội dung, tùy mục đích người nghe đặt ra, trong những trường hợp nhất định, người nghe có thể ghi đầy đủ hoặc ghi tóm lược những ý cơ bản mà người nói đề cập tới (ví dụ, những cuộc phỏng vấn) Trong hội thoại, việc ghi hay không ghi trong khi nghe

là điều không bắt buộc

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1

Các nghiên cứu về tâm lí nhận thức của HS lớp Một đã chỉ rõ tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định, thường gắn với hành động trực quan Chính vì thế nên đề tài của chúng tôi thiết kế các bài tập nhằm thu hút học sinh bằng các hoạt động mang màu sắc, khác lạ so với tiết dạy bình thường, khi đó sẽ kích thích sự thích thú, cảm nhận, tri giác tích cực của HS

Chú ý có chủ định của HS lớp 1 còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này học sinh chỉ quan tâm chú ý đến hoạt động

có trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi Học sinh chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập Từ đặc điểm này, luận văn tiến hành nghiên cứu hoạt động dạy học với phương tiện trực quan phong phú: Sử dụng tranh ảnh, video sinh động; mô hình trực quan phong phú; đặt ra một hệ thống câu hỏi gợi tính tò mò để học sinh trao đổi, thảo luận, tự giác, chủ động xây dựng những hiểu biết cho riêng mình

Vận dụng lí thuyết tâm lí học vào hoạt động dạy học nói chung và dạy học

KN nói - nghe trong môn Tiếng Việt lớp 1 nói riêng là phải coi HS là chủ thể của mọi hoạt động học tập Vấn đề ở đây chính là GV cần phải xây dựng nội dung hoạt động rèn KN nói - nghe cho HS thực sự có hiệu quả theo đúng yêu cầu của mục tiêu môn Tiếng Việt “Trong các môn học ở nhà trường phổ thông,

Trang 28

so với các môn học khác thì việc dạy học tiếng Việt là học cái học sinh đã biết Chỗ khác nhau chỉ là việc các em biết ít hoặc biết nhiều mà thôi Có em biết chữ, có em biết đọc, có em biết viết, nhưng tất các các em đó có một điểm chung

là đều biết nói, biết sử dụng tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp thường ngày Chính điều này sẽ dễ dàng tạo nên một lực cản tâm lý khó vượt qua ở các em: học cái đã biết” [58, tr.47]

Bước vào lớp 1, trẻ em đã biết nói thành thạo và hiểu được một số từ ngữ thông thường Các em có được khả năng này là do nhu cầu giao tiếp với những người xung quanh Ở môn Tiếng Việt lớp 1, các em phải học vần, biết cách phát

âm, cách ghép vần, cách đọc đúng chuẩn,… “Vì vậy, trong dạy học tiếng, giáo viên phải có kế hoạch hết sức cụ thể để quản lý vốn từ của học sinh, tăng yếu tố tích cực, hạn chế yếu tố tiêu cực,… giúp các em nói năng theo đúng chuẩn mực của Nhà trường” [58, tr.48]

Chung quy lại, việc dạy học tiếng Việt ở trường tiểu học nói chung và dạy

KN nói - nghe nói riêng không thể không xem xét đến những kết quả nghiên cứu của tâm lí học với những vấn đề rất cơ bản của các ngành nghiên cứu chuyên sâu như tâm lí học lời nói và tâm lí học hoạt động Trong dạy học môn Tiếng Việt, hơn ai hết GV cần có kiến thức về quá trình tâm lí ở con người nói chung

và ở HS thuộc lứa tuổi, bậc học mà mình đảm nhiệm nói riêng để có thể giảng dạy, trang bị tri thức về tiếng Việt và có phương pháp phù hợp dạy phát triển lời nói, phát triển các KN ngôn ngữ cho các em

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Yêu cầu dạy nói – nghe trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 2006

1.2.1.1 Mục tiêu chương trình

Theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông, môn tiếng Việt cấp tiểu học với mục tiêu:

Trang 29

“Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

Thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần luyện các thao tác tư duy Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, tự nhiên, xã hội và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài

Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh”

“Đưa mục tiêu giao tiếp bằng tiếng Việt - hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên Những kiến thức về tiếng Việt cùng với các kiến thức

về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học cũng được cung cấp cho học sinh một cách sơ giản Trong chương trình mới, hoạt động giao tiếp vừa là mục đích số một vừa là phương tiện dạy học tiếng Việt Chú trọng hơn đến kĩ năng

sử dụng tiếng Việt” [7]

“Mục đích của việc dạy học tiếng Việt ở cấp tiểu học là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (bao gồm cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi của các em” [59, tr.44]

Như vậy quan điểm cơ bản của xây dựng chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học theo hướng giao tiếp và quan điểm này đã được thể hiện khá rõ trong các bộ SGK Tiếng Việt Chương trình môn Tiếng Việt 1 yêu cầu GV khi dạy phải đảm bảo mục tiêu hình thành và phát triển cho HS đầy đủ 4 KN nghe, nói, đọc, viết Trong đó KNN được luyện tập kết hợp trong các KN đọc, nghe, viết

1.2.1.2 Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tiếng Việt lớp 1

Chuẩn kiến thức, KN môn Tiếng Việt lớp 1 được quy định trong Chương trình phổ thông bậc tiểu học, trong đó KN nói - nghe được cụ thể hóa ở các chủ

đề Mỗi chủ đề có những yêu cầu cơ bản về kiến thức như sau:

Trang 30

NGHE Mức độ cần đạt

1 Nghe - hiểu

- Nghe và hiểu đúng câu hỏi, lời kể, lời hướng dẫn, lời yêu cầu của người đối thoại

- Nghe - hiểu được nội dung, kể lại những truyện

có nội dung đơn giản (kèm tranh minh họa, gợi ý)

2 Nghe - viết chính tả - Nghe - viết đúng bài chính tả có độ dài khoảng

30 chữ trong 15 phút

1 Phát âm - Nói rõ ràng, đủ nghe Nói liền mạch cả câu

- Bước đầu có ý thức khắc phục lỗi phát âm

2 Sử dụng nghi thức lời

nói

- Có thái độ lịch sự tự nhiên khi nói

- Biết nói lời chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học

(Nói đúng lượt lời, nhìn vào người nghe khi nói)

3 Đặt và trả lời câu hỏi

- Biết trả lời đúng vào nội dung câu hỏi Nói thành câu

- Bước đầu biết đặt câu hỏi đơn giản

4 Thuật việc, kể chuyện

Kể được một đoạn hoặc cả mẩu chuyện có nội dung đơn giản được nghe thầy, cô kể trên lớp (kết hợp với nhìn tranh minh họa, đọc lời gợi ý dưới tranh)

5 Phát biểu, thuyết trình Biết giới thiệu một vài câu về mình, về người

thân hoặc về một vài đồ vật quen thuộc,…

Trang 31

1.2.2 Yêu cầu dạy nói – nghe trong chương trình Tiếng Việt tiểu học 2018

1.2.2.1 Mục tiêu của chương trình

- Học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: Đọc đúng, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu được nội dung chính của văn bản, chủ yếu là nội dung tường minh; bước đầu hiểu được nội dung hàm ẩn như chủ đề, bài học rút ra từ văn bản đã đọc

- Trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; bước đầu biết sử dụng cử chỉ, điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách rõ ràng câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ, trao đổi những cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của mình đối với những vấn đề được nói đến; biết thuyết minh về một đối tượng hay quy trình đơn giản

- Nghe hiểu với thái độ phù hợp và nắm được nội dung cơ bản; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe

1.2.2.2 Yêu cầu cần đạt về kĩ năng nói và nghe trong môn Tiếng Việt lớp

1 theo chương trình 2018

NÓI

- Nói rõ ràng, thành câu Biết nhìn vào người nghe khi nói

- Đặt được câu hỏi đơn giản và trả lời đúng vào nội dung câu hỏi

- Nói và đáp lại được lời chào hỏi, xin phép, cảm ơn, xin lỗi, phù hợp với đối tượng người nghe

- Biết giới thiệu ngắn về bản thân, gia đình, đồ vật yêu thích dựa trên gợi ý

- Kể lại được một đoạn hoặc cả câu chuyện đơn giản đã đọc, xem hoặc nghe

(dựa vào các tranh minh hoạ và lời gợi ý dưới tranh)

NGHE

- Có thói quen và thái độ chú ý nghe người khác nói (nhìn vào người nói, có tư thế nghe phù hợp) Đặt một vài câu hỏi để hỏi lại những điều chưa rõ

- Nghe hiểu các thông báo, hướng dẫn, yêu cầu, nội quy trong lớp học

- Nghe một câu chuyện và trả lời được các câu hỏi: Ai? Cái gì? Khi nào? Ở đâu?

NÓI NGHE TƯƠNG TÁC

- Biết đưa tay xin phát biểu, chờ đến lượt được phát biểu

- Biết trao đổi trong nhóm để chia sẻ những ý nghĩ và thông tin đơn giản

Trang 32

1.2.3 Nội dung dạy nói – nghe trong sách Tiếng Việt 1, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống

Trong sách Tiếng Việt 1 bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, người đọc không tìm thấy các “phân môn” mà chỉ nhìn thấy các hoạt động giao tiếp, cách thiết kế bài học dựa trên các “trục kĩ năng” đọc, viết, nói và nghe

Kết quả khảo sát nội dung dạy nói - nghe trong sách Tiếng Việt 1, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống được thể hiện trong bảng dưới đây:

* SGK Tiếng Việt 1 - tập 1

Kiểu bài dạy Hoạt động dành riêng cho

hoạt động luyện nói - nghe

Luyện nói - nghe tích hợp trong hoạt động khác

Dạy âm,

vần

Tiết 2 - Hoạt động: Nói

(Khoảng 18 - 20 phút) - Hoạt động: Tô và viết, Đọc

Ôn tập và

kể chuyện

* SGK Tiếng Việt - tập 2

Kiểu bài dạy Hoạt động dành riêng cho

luyện nói - nghe

Luyện nói - nghe tích hợp trong hoạt động khác

(khoảng 17 - 19 phút)

- Hoạt động: Chọn từ ngữ hoàn thiện câu và viết câu vào vở

Trang 33

Dạng bài:

Ôn tập

Tiết 1

- Hoạt động: Tìm từ ngữ chứa âm, vần đã học

- Hoạt động: Tìm từ ngữ phù hợp với chủ đề

Tiết 2 - Hoạt động: Nói theo chủ đề

(khoảng 18 - 20 phút)

- Hoạt động đọc, viết

Như vậy, ở học kì I, HS chủ yếu học về âm, vần, được rèn nhiều về kĩ năng đọc - viết Trong một bài học 2 tiết, hoạt động riêng cho luyện nói - nghe khoảng 18 - 20 phút Ngoài ra việc rèn KN nói - nghe được tích hợp nhiều trong các hoạt động khác như nhận biết, đọc, viết, Ở học kì II, KN nói - nghe được quan tâm hơn với thời lượng nhiều hơn, hầu hết ở các tiết học đều có hoạt động dành riêng cho KN này như trả lời câu hỏi, sử dụng từ ngữ để nói theo tranh, nói theo chủ đề, kể chuyện,

1.2.4 Thực trạng dạy học kĩ năng nói - nghe của học sinh lớp 1 và việc phát triển kĩ năng nói - nghe cho các em

1.2.4.1 Mục đích khảo sát

Khảo sát để có những thông tin khách quan, chính xác về thực trạng phát triển KN nói và nghe cho học sinh lớp 1 trong giờ dạy môn Tiếng Việt tại trường Tiểu học Kỳ Sơn và trường Tiểu học Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Trên cơ sở kết quả khảo sát, chúng tôi phân tích, đánh giá

về những ưu điểm và hạn chế trong việc phát triển KN nói và nghe; phân tích

Trang 34

nguyên nhân của những hạn chế để đưa ra các biện pháp dạy học phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển KN nói và nghe cho học sinh lớp 1

1.2.4.2 Đối tượng, nội dung và phương pháp khảo sát

- Đối với giáo viên:

+ Khảo sát 20 giáo viên (gồm các GV đang dạy môn Tiếng Việt lớp 1 tại các trường tiểu học trong phạm vi nghiên cứu của đề tài)

+ Nội dung khảo sát: Nhận thức, đánh giá của giáo viên về dạy học phát triển KN nói và nghe; Việc sử dụng các biện pháp rèn KN nói cho học sinh (Thể hiện trong phiếu khảo sát - Phụ lục 1)

+ Phương pháp khảo sát: Chúng tôi thực hiện bằng việc trao đổi, phỏng vấn GV dạy lớp 1 vấn đề phát triển KN nói và nghe cho học sinh lớp 1 và tìm hiểu giáo án dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 của các năm học 2019 - 2020, 2020 -

2021 và 2021 - 2022; dự giờ dạy học tiếng Việt lớp 1 của một số GV Phát phiếu khảo sát cho GV để họ điền các thông tin vào phiếu Sau khi thu nhận các phiếu khảo sát, chúng tôi tiến hành thống kê, xử lí kết quả Bên cạnh đó chúng tôi còn tổng hợp các ý kiến của GV về việc phát triển KN nói và nghe thông các buổi sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề

- Đối với học sinh:

+ Số lượng khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát 200 em HS lớp 1 hiện đang học tại trường tiểu học Kỳ Sơn và trường Tiểu học Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

+ Nội dung khảo sát: Nhận thức của học sinh về học luyện nghe nói; Thực

trạng kĩ năng nghe nói của học sinh (Thể hiện trong phiếu khảo sát - Phụ lục 2) + Phương pháp khảo sát: Chúng tôi tìm hiểu vở BT Tiếng Việt của HS; phỏng vấn ngẫu nhiên một số HS; phát phiếu khảo sát và hướng dẫn HS làm BT ghi trong phiếu Sau khi thu nhận các phiếu khảo sát, chúng tôi tiến hành thống

kê, xử lí kết quả

Trang 35

1.2.4.3 Kết quả khảo sát

a Kết quả khảo sát giáo viên:

- Nhận thức, đánh giá của giáo viên về dạy học phát triển kĩ năng nói và nghe

Biều đồ 1.1 Nhận thức của giáo viên về dạy học phát triển kĩ năng nói và nghe

Biểu đồ 1.2 Đánh giá của giáo viên về dạy học phát triển

kĩ năng nói và nghe

Qua khảo sát GV bằng các các câu hỏi (thể hiện ở Phụ lục 1), chúng tôi nhận thấy phần lớn GV chưa coi trọng việc rèn phát triển KN nói - nghe cho HS trong giờ dạy tiếng Việt Đa số GV đánh giá mức độ quan trọng (60.0%), GV cho rằng rèn phát triển KN nói - nghe cho HS không quan trọng lắm (20%) và một số ít thì cho rằng không cần thiết (20.0%) Đánh giá Chương trình Tiếng Việt 1 – Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống thì hầu hết GV đánh giá rất cao

về chương trình này GV cho rằng Chương trình Tiếng Việt 1- Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống có quy trình dạy học mạch lạc, rõ ràng (40.0%), thuận lợi

Trang 36

cho GV trong dạy học (20.0%) và điều quan trọng là HS được nắm chắc hệ thống cấu trúc ngữ âm tiếng Việt (40.0%)

Biểu đồ 1.3 Nhận xét về phương pháp dạy học luyện nói - nghe trong sách Tiếng Việt 1, Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống

Nhận xét về phương pháp dạy học luyện nói trong Chương trình Tiếng Việt 1 – Bộ sách kế nối tri thức với cuộc sống, GV cho rằng phương pháp đã giúp HS phát huy được tính chủ động trong học tập (40.0%), đồng thời tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập (40%) Tuy nhiên cũng có GV cho rằng chương trình còn có hạn chế khi luyện nói, HS thường thụ động, không chịu suy nghĩ và ỷ lại vào SGK (20.0%)

Phân phối chương trình

Phân phối chương trình

Biểu đồ 1.4: Nhận xét về cách phân phối chương trình dạy học

luyện nói trong Chương trình tiếng Việt lớp 1

Trang 37

Cách phân phối Chương trình môn Tiếng Việt 1 – Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống cũng được nhiều GV đánh giá là hợp lý (60.0%) và tương đối hợp

lí (40.0%) Khi nhận xét về thái độ học tập luyện nói của HS thì đa số GV cho rằng các em chủ động, tích cực trong học tập (40%), nhưng cũng có GV cho rằng nhiều em còn rụt rè, ngần ngại (40%) và thường thụ động, không chú ý nghe giảng (20%)

- Việc sử dụng các biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh

Đồng thời với việc khảo sát nhận thức, đánh giá của GV về dạy học rèn phát triển KN nói - nghe, chúng tôi tiến hành khảo sát GV về việc sử dụng các biện pháp rèn phát triển KN nói - nghe cho HS (thể hiện ở mục B - Phụ lục 1) Sau khi thu phiếu khảo sát và tổng hợp, chúng tôi có được kết quả như sau:

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát giáo viên về mức độ sử dụng các biện pháp

phát triển kĩ năng nói và nghe cho học sinh

Mức độ sử dụng Thường

xuyên Đôi khi

Không thực hiện

3 Tạo môi trường thuận lợi để rèn KN

nói - nghe cho HS 4 20.0 16 80.0 0 0.0

Trang 38

6 Tổ chức các trò chơi học tập để rèn

KN nói - nghe 8 40.0 12 60.0 0 0.0

7 Rèn KN nói - nghe cho HS qua các

môn học khác 8 40.0 8 40.0 4 20.0

8 Hướng dẫn HS luyện nghe nói ở nhà 8 40.0 8 40.0 4 20.0

Nhìn vào kết quả khảo sát ở Bảng 1.1 chúng tôi nhận thấy:

+ Các biện pháp trên đều được GV sử dụng, nhưng mức độ có khác nhau Biện pháp luyện cho HS kĩ năng phát âm chuẩn tiếng Việt được nhiều GV sử dụng thường xuyên nhất (80.0%) Vì yêu cầu của môn Tiếng Việt điều đầu tiên

là HS phải phát âm chuẩn tiếng Việt Thực tế cho thấy hiện nay GV đang dạy

KN phát âm theo quy trình 4 bước của Chương trình Tiếng Việt 1 – Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống, vì vậy phần luyện phát âm được chú trọng nhiều hơn

+ Hai biện pháp cũng được GV thường xuyên sử dụng gồm: Rèn KN nói - nghe cho HS qua hoạt động giao tiếp (60.0%) và sử dụng phương tiện dạy học,

đồ dùng học tập để rèn phát triển KN nói - nghe cho HS (60%) Đây là các biện pháp phù hợp với tâm lí lứa tuổi HS tiểu học Đặc biệt rèn KN nói - nghe qua hoạt động giao tiếp là phương pháp chủ đạo trong dạy học môn Tiếng Việt

+ Biện pháp tạo môi trường thuận lợi để rèn KN nói - nghe cho HS có rất

ít GV thường xuyên sử dụng (20%) Như vậy phần lớn GV khi rèn KN nói - nghe cho HS chưa quan đến việc tạo ra môi trường giao tiếp để HS có cơ hội luyện nói Nhiều khi GV quá thiên về truyền đạt kiến thức trong SGK mà quên đến việc tạo ra hoàn cảnh giao tiếp cho HS để rèn KN sử dụng ngôn ngữ

+ Xây dựng hệ thống các BT thực hành để rèn KN nói - nghe cho HS là biện pháp chưa được nhiều GV quan tâm và sử dụng, vì có đến 20% GV không

sử dụng Điều này cho thấy, GV chủ yếu dựa vào các BT luyện nói trong SGK

mà chưa xây dựng hệ thống các BT rèn KN nói - nghe riêng Đây là điểm yếu của GV khi họ chưa đầu tư chuyên môn, nghiên cứu để xây dựng một hệ thống

BT rèn KN nói - nghe phù hợp cho HS Thực tế cho thấy GV còn xem nhẹ hoạt

Trang 39

động nói của HS trước lớp, chỉ chú trọng đến KN đọc, viết nên trong giờ học tiếng Việt thời lượng dành cho hoạt động nói của HS chưa nhiều Trong môn Tiếng Việt, bốn KN nghe, nói, đọc, viết đều có vị trí quan trọng như nhau Nếu

GV chỉ coi trọng một KN nào đó mà bỏ qua các KN còn lại thì việc giao tiếp tiếng Việt của HS sẽ bị hạn chế, điều đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập của

GV rất ngại tổ chức các trò chơi học tập cho HS trong giờ học tiếng Việt

+ Rèn KN nói cho HS qua các môn học khác và hướng dẫn HS luyện nói

ở nhà chưa được nhiều GV quan tâm Qua khảo sát, chúng tôi thấy chỉ có 40.0%

GV thường xuyên rèn KN nói cho HS qua các môn học và 20.0% GV thường xuyên hướng dẫn HS luyện nói ở nhà

b) Kết quả khảo sát học sinh

- Nhận thức của học sinh về học luyện nghe nói

Qua khảo sát HS bằng các các câu hỏi (thể hiện ở Phụ lục 2), chúng tôi nhận thấy nội dung hỏi về sở thích được luyện nói trong giờ học tiếng Việt, thì chỉ có một số em cảm thấy thích (39,4%), phần lớn các em còn lại cho là bình thường (46,9%) và không thích (13,8%) Trong giờ học Tiếng Việt, HS cho rằng các thầy (cô) thường xuyên luyện nói cho các em (45,6%), tuy nhiên nhiều em cũng cho rằng nhiều thầy (cô) thỉnh thoảng mới tổ chức luyện nói (53,1%) và không bao giờ tổ chức luyện nói (1,3%) Về phương pháp luyện nói, đa số HS nhận thấy thầy (cô) sử dụng phương pháp quan sát - thực hành theo mẫu (60%),

sử dụng BT luyện nói (36,9%), trong khi tổ chức trò chơi rất ít thấy được sử dụng (3,1%) Trong học tập môn Tiếng Việt, các em cũng rất hạn chế trong việc phát biểu Khảo sát cho thấy rất ít em thường xuyên phát biểu (26,3%), nhiều em

Trang 40

thỉnh thoảng mới phát biểu (42,5%), còn lại không bao giờ phát biểu (31,3%) Khi được hỏi các em có thường xuyên luyện nói ở nhà không thì có 39,4% trả lời là thường xuyên, 45% trả lời là thỉnh thoảng và 15,6% trả lời là không bao giờ

- Thực trạng kĩ năng nghe nói của học sinh

Đồng thời với việc khảo sát đánh giá của HS nhận thức về luyện nói, chúng tôi cho HS làm BT để đánh giá mức độ thành thạo KN nói - nghe của các em (thể hiện ở Phụ lục 2) Sau khi thu phiếu khảo sát và tổng hợp, chúng tôi có được kết quả như sau:

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát HS về mức độ thành thạo kĩ năng nghe nói

Yêu cầu của kĩ năng nghe

Chưa hoàn thành

Phát âm 65 32.5 100 50.0 25 12.5 10 5.0

Sử dụng nghi thức lời nói 60 30.0 90 45.0 25 12.5 25 12.5 Đặt và trả lời câu hỏi 45 22.5 110 55.0 22 11.0 23 11.5 Thuật việc, kể chuyện 45 27.5 95 47.5 28 14.0 22 11.0 Phát biểu, thuyết trình 65 32.5 70 35.0 44 22.0 21 10.5

Nhìn vào kết quả khảo sát ở Bảng 1.2, có thể nhận thấy:

+ Kĩ năng nghe - nói của HS chưa được đều ở các KN bộ phận Khảo sát

HS về KN phát âm: có 32.5.0% HS được đánh giá ở mức Xuất sắc và 50.0% đánh giá mức Hoàn thành tốt, còn lại được đánh giá ở mức Hoàn thành và Chưa hoàn thành Điều này phản ánh đúng thực tế trong lớp chỉ có một số em phát âm tốt, nói to, rõ ràng khi giao tiếp; biết nói lời chào hỏi, chia tay bố mẹ, ông bà, chia tay bạn bè Những em còn lại thì nói câu không rõ ràng, nói không liền mạch cả câu, chưa có thái độ tự nhiên khi nói

Ngày đăng: 02/10/2023, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[14] Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập một (Từ vựng - Ngữ nghĩa), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập một (Từ vựng - Ngữ nghĩa)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[15] Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập hai (Đại cương - Ngữ dụng học - Ngữ pháp văn bản), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập, tập hai (Đại cương - Ngữ dụng học - Ngữ pháp văn bản)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[17] Phan Phương Dung (2001), Về vấn đề dạy lời nói văn hóa trong giao tiếp ngôn ngữ cho HS qua môn Tiếng Việt, Tạp chí Giáo dục, (5), tháng 6/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề dạy lời nói văn hóa trong giao tiếp ngôn ngữ cho HS qua môn Tiếng Việt
Tác giả: Phan Phương Dung
Năm: 2001
[20] Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
[22] Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Thị Thu Mai (2007), Tâm lý học tiểu học và tâm lý học sư phạm tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tiểu học và tâm lý học sư phạm tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Thị Thu Mai
Năm: 2007
[23] Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức (2012), Giáo trình tâm lí học tiểu học. Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
[24] Bùi Mạnh Hùng (Tổng chủ biên) - Vũ Kim Bằng - Trịnh Cẩm Lan - Chu Thị Phương - Trần Kim Phượng - Đặng Thị Hảo Tâm (2020), Tiếng Việt 1, Tập một - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 1, Tập một - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng, Vũ Kim Bằng, Trịnh Cẩm Lan, Chu Thị Phương, Trần Kim Phượng, Đặng Thị Hảo Tâm
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2020
[25] Bùi Mạnh Hùng (Tổng chủ biên) - Vũ Kim Bằng - Trịnh Cẩm Lan - Chu Thị Phương - Trần Kim Phượng - Đặng Thị Hảo Tâm (2020), Tiếng Việt 1, Tập hai - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 1, Tập hai -
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng (Tổng chủ biên) - Vũ Kim Bằng - Trịnh Cẩm Lan - Chu Thị Phương - Trần Kim Phượng - Đặng Thị Hảo Tâm
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2020
[26] Vũ Thị Thanh Hương (2006), Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay. Tạp chí Ngôn ngữ, 4, 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Thanh Hương
Năm: 2006
[27] Trần Thị Hiền Lương (2015), Biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học trong môn Tiếng Việt. Tạp chí Giáo dục, 3, 116- 119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học trong môn Tiếng Việt
Tác giả: Trần Thị Hiền Lương
Năm: 2015
[28] Võ Thị Tuyết Mai (2015), Rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 trong môn Tiếng Việt – nhìn từ chương trình, sách giáo khoa sau năm 1975. Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 trong môn Tiếng Việt – nhìn từ chương trình, sách giáo khoa sau năm 1975
Tác giả: Võ Thị Tuyết Mai
Nhà XB: Tạp chí
Năm: 2015
[29] Võ Thị Tuyết Mai (2015), Kiểu bài luyện nói và kiểu bài kể chuyện với hoạt động rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp Một. Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục. Chuyên ngành Giáo dục học – Giáo dục tiểu học. Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểu bài luyện nói và kiểu bài kể chuyện với hoạt động rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp Một. Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục
Tác giả: Võ Thị Tuyết Mai
Năm: 2015
[30] Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng (2002), Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
[31] Nguyễn Quang Ninh (2005), Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp” và “Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp” và “Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2005
[32] Ngô Quỳnh Nga (2017), Xây dựng hệ thống bài tập dạy học hội thoại trong môn Tiếng Việt nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học.Tạp chí Giáo dục, 418(2), 26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống bài tập dạy học hội thoại trong môn Tiếng Việt nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh tiểu học
Tác giả: Ngô Quỳnh Nga
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2017
[33] Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo (2015), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I
Tác giả: Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2015
[34] Lê Phương Nga (2015), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2015
[35] Lê Phương Nga (2018), Giáo dục năng lực giao tiếp và tinh thần hợp tác cho học sinh tiểu học khi dạy kiến thức Tiếng Việt, Bigschool.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục năng lực giao tiếp và tinh thần hợp tác cho học sinh tiểu học khi dạy kiến thức Tiếng Việt
Tác giả: Lê Phương Nga
Năm: 2018
[36] Lê Phương Nga (2019), Dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình giáo dục Phổ thông mới, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình giáo dục Phổ thông mới
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2019
[37] Trần Thị Quỳnh Nga, Lê Thị Minh Nguyệt (2011), Về nguyên tắc giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. Tạp chí Giáo dục, 271 (1), 34-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguyên tắc giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Trần Thị Quỳnh Nga, Lê Thị Minh Nguyệt
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w