MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỂ MÔI TRƯỜNG VÀ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
Môi trường và ô nhiễm môi trường
Môi trường là khái niệm đa dạng, có nhiều định nghĩa và ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau Theo cách hiểu rộng nhất, môi trường bao gồm tất cả các điều kiện và hiện tượng bên ngoài ảnh hưởng đến một vật thể hoặc sự kiện Mọi vật thể và sự kiện đều tồn tại và diễn ra trong các loại môi trường như môi trường vật lý, pháp lý, và kinh tế.
Môi trường sống là tổng các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự sống và sự phát triển của các cơ thể sống.
Môi trường sống của con người bao gồm các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học và xã hội, ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của cá nhân cũng như cộng đồng Nó bao trùm vũ trụ, trong đó có hệ Mặt Trời và Trái Đất Các thành phần chính của môi trường sống gồm sinh quyển, thủy quyển, khí quyển và thạch quyển, đều có tác động trực tiếp đến con người.
Môi trường được định nghĩa là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội xung quanh con người, bao gồm không khí, nước, đất, sinh vật và các yếu tố xã hội, có ảnh hưởng đến con người và tương tác với các hoạt động sống của họ.
Môi trường sống của con người theo chức năng có thể chia làm các loại :
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học, tồn tại độc lập và không bị ảnh hưởng bởi ý muốn của con người.
Môi trường xã hội bao gồm tất cả các mối quan hệ giữa con người, tạo ra những điều kiện thuận lợi hoặc cản trở cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân cũng như cộng đồng.
Môi trường nhân tạo: là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
1.2 Ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường được nhiều nghành khoa học định nghĩa theo các góc độ khác nhau
Ô nhiễm môi trường, từ góc độ sinh học, được định nghĩa là tình trạng mà các chỉ số hóa học và lý học của môi trường bị biến đổi theo hướng tiêu cực.
Ô nhiễm môi trường, từ góc độ kinh tế học, được định nghĩa là sự biến đổi tiêu cực trong các tính chất vật lý, hóa học và sinh học của môi trường sống, có thể gây ra tác hại ngay lập tức hoặc kéo dài đến sức khỏe con người, thực vật và các điều kiện sống khác.
Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Viờt Nam thì:
Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi của các yếu tố môi trường không đạt tiêu chuẩn, dẫn đến tác động tiêu cực đến con người và sinh vật.
Ô nhiễm môi trường được định nghĩa là sự thay đổi tiêu cực của các thành phần môi trường, gây hại cho con người và sinh vật.
Sự biến đổi môi trường thường xuất phát từ nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do ô nhiễm Ô nhiễm được định nghĩa bởi các nhà môi trường là những chất hoặc yếu tố vật lý có mặt trong môi trường, gây ra tình trạng ô nhiễm.
Môi trường có thể bị ô nhiễm với các mức độ khác nhau, bao gồm ô nhiễm, ô nhiễm nghiêm trọng và ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng Mức độ ô nhiễm của một thành phần môi trường cụ thể được xác định dựa trên sự vượt tiêu chuẩn chất lượng môi trường của các chất gây ô nhiễm có mặt trong thành phần đó.
Môi trường không khí và ô nhiễm môi trường không khí
2.1 Tổng quan về môi trường không khí
2.1.1 Khí quyển và môi trường không khí
Khí quyển là lớp không khí bao quanh trái đất, nằm giữa bề mặt thủy quyển và thạch quyển, cũng như khoảng không giữa các hành tinh Với vai trò là môi trường không khí, khí quyển đóng vai trò thiết yếu trong sự sinh tồn của con người và các sinh vật.
Khí quyển là lớp không gian bao quanh trái đất, có độ cao từ 0 đến 100 km, chứa các yếu tố vật lý như nhiệt độ, áp suất, mưa và gió Nó được chia thành nhiều lớp khác nhau, mỗi lớp có các đặc điểm vật lý và hóa học riêng biệt Khí quyển đóng vai trò quan trọng trong môi trường, được hình thành từ quá trình kiến tạo của trái đất và có tính nhạy cảm cao, dễ bị biến đổi và lan truyền, không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia Nó tuân theo các quy luật khí hậu riêng biệt.
2.1.2 Đặc trưng của môi trường khụng khí
Cấu trúc môi trường khí quyển
- Đối lưu: 0 – 10km, càng lên cao nhiệt độ càng giảm (0.5ºC/ 100m), áp suất giảm.
- Bình lưu: 10 – 50 km, càng lên cao nhiệt độ càng tăng, áp suất giảm; lớp ễzụn ở độ cao 18 – 30km.
- Trung lưu: 50 – 90km, nhiệt độ giảm dần
- Tầng ngoài: nhiệt độ tăng nhanh và rất cao, áp suất rất thấp
Khí quyển có thành phần ổn định theo phương nằm ngang nhưng phân dị theo phương thẳng đứng, với 5.10^15 tấn khí quyển chủ yếu tập trung ở tầng đối lưu và bình lưu Thành phần chính của khí quyển bao gồm Nitơ (78,1%), Ôxy (20,99%), Argon (0,93%), Carbonic (0,03%) cùng với các khí khác như Hyđrô và khí trơ Tuy nhiên, cơ cấu này có thể bị thay đổi do ô nhiễm không khí từ các chất như SO2, CO2 và NOx Hơn nữa, nồng độ hơi nước trong khí quyển cũng tăng khi nhiệt độ tăng, dẫn đến sự gia tăng nồng độ hơi nước bão hòa.
- Thành phần các chất khí, nhiệt độ, áp suất không khí, thành phần sinh vật… thay đổi rất nhiều qua các không gian khác nhau
- Rất nhạy cảm với những thay đổi nhỏ của môi trường.
- Không thể phân định rõ ràng quyền sở hữu (tài nguyên không biên giới)
- Chịu tác động nhiều của khí hậu và biến đổi khí hậu cùng với tương tác sinh - địa - thuỷ quyển.
2.2 Ô nhiễm môi trường không khí.
Theo tài liệu "Cơ sở Khoa Học Môi Trường" của nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội, biên soạn bởi PTS Lưu Đức Hải, ô nhiễm môi trường không khí được định nghĩa là sự hiện diện của các chất độc hại trong không khí, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người và hệ sinh thái.
Ô nhiễm không khí là sự hiện diện của các chất lạ hoặc sự thay đổi đáng kể trong thành phần không khí, dẫn đến việc không khí trở nên ô nhiễm, có mùi khó chịu và giảm tầm nhìn do bụi.
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí Có thể chia ra thành nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc nhân tạo.
Núi lửa phun trào tạo ra nham thạch nóng chảy và khói bụi chứa nhiều sunfua, làm mờ không gian xung quanh Bụi từ vụ phun trào có thể lan tỏa xa do được phun lên ở độ cao lớn.
Cháy rừng là hiện tượng xảy ra do các quá trình tự nhiên như sấm chớp hoặc cọ sát giữa các loại thực vật khô, bao gồm tre và cỏ Các đám cháy này có thể lan rộng nhanh chóng và phát thải nhiều bụi cũng như khí độc hại.
Bão bụi gây ra gió mạnh và mưa, làm bào mòn đất sa mạc và đất trồng, đồng thời thổi bụi lên không khí Nước biển bốc hơi cùng sóng biển mang theo bụi muối vào không khí Các quá trình phân huỷ xác động thực vật cũng phát thải khí, tạo ra các hợp chất như sunfua, nitrit và muối Tất cả những bụi và khí này đều góp phần gây ô nhiễm không khí Mặc dù tổng lượng tác nhân ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên lớn, nhưng chúng phân bố đồng đều trên toàn cầu, với nồng độ không tập trung ở một khu vực cụ thể, và con người cùng hệ sinh thái đã thích nghi với nồng độ này.
Ô nhiễm nhân tạo có nguồn gốc đa dạng, chủ yếu từ hoạt động công nghiệp, đốt nhiên liệu hóa thạch và giao thông vận tải Theo bảng I, tổng lượng chất thải nhân tạo toàn cầu trong năm 1992 được ghi nhận đáng kể.
Các nguồn gây ô nhiễm công nghiệp bao gồm khí độc phát thải từ quá trình đốt nhiên liệu qua ống khói của nhà máy, cùng với hiện tượng bốc hơi, rò rỉ và thất thoát trong dây chuyền sản xuất và trên các đường ống dẫn Ngoài ra, các chất thải này cũng có thể được hút và thải ra ngoài thông qua hệ thống thông gió.
Nguồn thải được phân loại dựa trên kích thước hình học và đặc tính của chúng, bao gồm: nguồn cao và nguồn thấp, nguồn điển và nguồn đường, nguồn mặt, cũng như nguồn có tổ chức và không có tổ chức Ngoài ra, nguồn thải còn được chia thành loại ổn định và loại thải theo chu kỳ, cùng với nguồn thải nóng và nguồn thải nguội.
BẢNG 1: TỔNG LƯỢNG CHẤT THẢI Cể NGUỒN GỐC NHÂN TẠO
CỦA THẾ GIỚI NĂM 1992 (ĐƠN VỊ: TRIỆU TẤN)
1 Gi ao th ôn g vậ ễt ụ c h ạ y x 5 3 0 5 0 2 1 3 8 6 ễt ụ c h ạ y d 0 2 0 3 0 1 0 4 0 5
4 Xử lý chấ t thải rắn 7.1 1 0.1 1.5 0.5
C h á y 6 5 6 1 0 2 1 1 đ ốt cá c sả n p 7 5 2 2 0 1 5 0 3 đ ốt rá c th ải 1 1 0 4 0 5 0 2 0 2
Nguồn: Theo thống kê Liên Hợp Quốc,1991
Nguồn thải trong quá trình sản xuất chứa nồng độ chất độc hại cao và thường tập trung trong không gian nhỏ, trong khi nguồn thải thông gió có lượng khí thải lớn nhưng nồng độ độc hại thấp hơn Nguồn thải có tổ chức từ các miệng ống thải với thiết bị hút chất độc, trong khi nguồn thải vô tổ chức phát sinh từ thiết bị sản xuất và hệ thống kênh dẫn, băng tải hở Nguồn thải không khí được phân loại thành ô nhiễm nóng và ô nhiễm nguội dựa trên sự chênh lệch nhiệt độ với không khí xung quanh, việc này giúp xác định mức độ khuếch tán ô nhiễm hiện tại và dự báo ô nhiễm không khí trong tương lai Mức độ nguồn thải độc hại của mỗi ngành công nghiệp phụ thuộc vào loại nhiên liệu, công nghệ đốt, phương pháp sản xuất và trình độ hiện đại hóa của công nghệ.
Ngành nhiệt điện sử dụng các nguồn nhiên liệu như than, xăng dầu và khí đốt để sản xuất điện năng Tuy nhiên, quá trình này thải ra các khí độc hại, bụi và hơi nóng qua ống khói cùng các hệ thống vận chuyển nhiên liệu, gây ảnh hưởng đến môi trường.
Ngành vật liệu xây dựng, bao gồm các nhà máy sản xuất xi măng, gạch ngói, vôi, phấn, thủy tinh, sành sứ và bột đá, gây ra tác động nghiêm trọng đến ô nhiễm không khí Nhà máy xi măng là một trong những nguồn thải lớn, đặc biệt với ô nhiễm bụi và khí độc Ngoài ra, các nhà máy thủy tinh và sành sứ thải ra lượng lớn khí HF và SO2, trong khi các nhà máy gạch ngói và lò nung vôi phát thải đáng kể bụi cũng như các khí độc hại như SO2, CO, CO2 và NOx, đặc biệt là từ các lò nung thủ công có ống khói thấp.
Ngành hóa chất và phân bón thải ra nhiều loại chất độc hại dưới dạng khí và rắn, bao gồm axit nitơ và sunfua dioxit Các nhà máy sản xuất sơn phát thải các hợp chất hòa tan như hơi xăng và toluen Chất thải từ các nhà máy hóa chất thường có nhiệt độ tương đương với không khí xung quanh, dẫn đến việc khí thải không bay xa mà tập trung gần nguồn phát thải Thiết bị sản xuất hóa chất thường để lộ thiên hoặc bán lộ thiên, và một số quy trình sản xuất diễn ra ngoài trời, cùng với việc rò rỉ hóa chất qua các ống dẫn hoặc thiết bị không kín, làm gia tăng nồng độ chất độc trong không khí cả bên trong và bên ngoài nhà máy.
THỰC TRẠNG VỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ Ở THÀNH PHỐ HÀ ĐễNG
TỔNG QUAN VỀ HÀ ĐễNG
Thành phố Hà Đụng có diện tích tự nhiên 4.832,64 ha, bao gồm 15 đơn vị hành chính với 8 xã và 7 phường Theo số liệu năm 2006, dân số của thành phố đạt 179.302 người, trong đó dân số nội thị là 88.708 người, chiếm 49,47%, và khu vực nông thôn có 90.594 người, chiếm 50,53% Mật độ dân số tại đây đạt 3.772 người/km².
Phía Bắc giáp huyện Từ Liêm – thành phố Hà Nội
Phía Nam giáp huyện Thanh Oai - tỉnh Hà Tây
Phía Đông giáp huyện Thanh Trì – thành phố Hà Nội
Phía Tây giáp huyện Hoài Đức, huyện Quốc Oai - tỉnh Hà Tây.
Thành phố Hà Đống, là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo của tỉnh Hà Tây, nằm trong chuỗi đô thị của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, mang lại lợi thế lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Thành phố Hà Đông, một trong những cửa ngõ quan trọng của Hà Nội, có mối liên hệ phát triển mạnh mẽ về giao thông, cơ sở hạ tầng và kinh tế xã hội Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đã xác định Hà Đông là điểm nhấn trong chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây, đóng vai trò là vành đai vệ tinh phát triển không gian của Hà Nội Sự phát triển này không chỉ ảnh hưởng đến Hà Đông mà còn lan tỏa ra các vùng lân cận, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Hà Đông nằm trong vùng đồng bằng của tỉnh Hà Tĩnh, với địa hình chủ yếu bằng phẳng và độ chênh lệch không lớn, dao động từ 3,5m đến 6,8m Thành phố được chia thành ba khu vực chính, phản ánh đặc trưng địa hình của khu vực này.
Khu vực Bắc và Đụng sụng Nhuệ
Khu vực Bắc sông La Khê
Khu vực Nam sông La Khê
Thành phố thuộc khí hậu miền Bắc Việt Nam, nằm trong vùng tiểu khí hậu đồng bằng Hà Tây, với đặc điểm khí hậu nhiệt đới, mùa hè nóng ẩm và mùa đông lạnh khô Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp đa dạng, bao gồm các loại cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, đặc biệt là những cây trồng có giá trị kinh tế cao.
1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế Hà Đông đã có sự phát triển mạnh mẽ, với tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 12,8%, vượt 3,2% so với mục tiêu đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 17.
GDP bình quân đầu người tăng: năm 2005 đạt 1.082 USD, vượt 42 USD/người/năm so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Đông lần thứ 17.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng các ngành kinh tế của thành phố Hà Đông năm 2005 như sau:
+ Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: 53,25% (mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ 17 là 48%).
+ Thương mại, dịch vụ: 42% (mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
+ Nông gnhiệp: 4,75% (mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 17 là 5%)
Mặc dù GDP tăng trưởng cao, nhưng các yếu tố cần thiết cho sự phát triển bền vững như khoa học công nghệ, công nghiệp hiện đại, liên kết kinh tế và năng lực cạnh tranh vẫn còn yếu Tiềm lực kinh tế của thành phố vẫn khiêm tốn so với Hà Nội, điều này hạn chế khả năng khai thác và tận dụng lợi thế từ sự gần gũi với thủ đô.
Hà Nội đang nỗ lực tạo đột phá trong phát triển thành phố và thúc đẩy vai trò kinh tế cho tỉnh Hà Tây Tuy nhiên, chất lượng giá trị gia tăng (GDP) của các ngành chưa có sự chuyển biến rõ rệt, và tính bền vững trong tăng trưởng vẫn còn hạn chế Tốc độ đổi mới công nghệ chậm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế yếu kém Ngoài ra, việc liên kết kinh tế và kinh tế đối ngoại gặp nhiều khó khăn và thiếu tính chủ động.
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của thành phố Hà Đông năm 2005 cho thấy đặc trưng của một đô thị phát triển, với tỷ lệ khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ cao, trong khi tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 4,75% GDP Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiếp tục diễn ra, với tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng trong GDP tăng từ 49,1% trong những năm tiếp theo.
Từ năm 2001 đến năm 2005, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp giảm từ 5,8% xuống 4,75%, trong khi tỷ trọng của khu vực dịch vụ cũng giảm từ 45,1% xuống còn 42,0% Điều này cho thấy cơ cấu đầu tư trong các ngành và lĩnh vực vẫn chưa hợp lý.
Bảng 8: Cơ cấu kinh tế H à Đông:
Nguồn: theo thống kê phòng TN và MT Hà Đông
1.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế.
1.3.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp
Tính đến năm 2010, thành phố đã hoàn thành quy hoạch sản xuất nông nghiệp với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi, định hướng đến năm 2020 Trong 5 năm qua, sản xuất nông nghiệp đã phát triển ổn định với sản lượng lương thực bình quân tăng 23,2% mỗi năm Tổng sản lượng lương thực năm 2001 đạt 7.867 tấn và tăng lên 22.165,36 tấn vào năm 2006, chủ yếu nhờ vào việc mở rộng địa giới hành chính Giá trị sản xuất trồng trọt trên 1ha canh tác năm 2006 đạt 37,83 triệu đồng, với mức tăng bình quân 6,87% mỗi năm.
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp đang có sự chuyển dịch tích cực, phù hợp với đặc điểm kinh tế ven đô, với tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi và thuỷ sản tăng từ 38,03% năm 2001 lên 52,87% năm 2006, trong khi tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 57,72% xuống 46,01% Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn vẫn diễn ra chậm và thiếu bền vững.
Sản xuất nông nghiệp đang chuyển đổi cơ cấu để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng và hiệu quả Quá trình này phù hợp với đặc điểm của nông nghiệp ven đô, giúp cải thiện giá trị sản phẩm nông nghiệp.
1.3.2 Khu vực kinh tế công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tại thành phố Hà Đông đã duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng, từ 302,775 tỷ đồng năm 2001 lên 660,773 tỷ đồng năm 2005, tương ứng với mức tăng 2.18 lần và tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 23,61% Tỷ trọng của khu vực công nghiệp – xây dựng trong GDP cũng gia tăng, từ 48% năm 2001 lên 53,25% năm 2005 Trong đó, khu vực quốc doanh chiếm 17%, khu vực ngoài quốc doanh 60%, và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 23%.
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp của thành phố chủ yếu tập trung vào ba ngành chính: cơ kim khí chiếm 37,8%, dệt lụa, may mặc và giày da chiếm 24,2%, và chế biến thực phẩm, đồ uống chiếm 31,7% Ngoài ra, còn có các ngành công nghiệp khác như dược phẩm và thiết bị phụ tùng xe máy.
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ Ở THÀNH PHỐ HÀ ĐễNG
Giải pháp cho các phương tiện giao thông
Phương tiện giao thông cơ khí là nguồn thải ô nhiễm không khí, do đó cần thiết phải thiết lập tiêu chuẩn xả khí cho các loại xe như ô tô và xe máy Các cơ quan quản lý thực hiện kiểm tra và chứng nhận để đảm bảo các xe mới, xe nhập khẩu và xe lưu hành đều đạt tiêu chuẩn môi trường Các trạm kiểm soát môi trường được tổ chức để xử lý xe không đạt tiêu chuẩn, bao gồm bắt giữ, xử phạt hoặc thu giấy phép lưu hành Để giảm thiểu ô nhiễm, cần ưu tiên phát triển giao thông công cộng, hạn chế xe ô tô cá nhân thông qua các chính sách như giảm thuế và lệ phí cho phương tiện công cộng, đồng thời tăng thuế và phí đối với xe tư nhân.
Quản lý chất lượng nhiên liệu cho phương tiện giao thông là rất quan trọng, trong đó cần cấm sử dụng xăng pha chì và chuyển sang các nhiên liệu thay thế như khí tự nhiên hóa lỏng, năng lượng mặt trời và điện ắc quy Tại Hà Đông, vấn đề bụi bẩn trên các tuyến đường nội thành đang trở thành mối quan tâm lớn, chủ yếu do xe chuyên chở vật liệu xây dựng không được che đậy đúng cách và tình trạng đổ trộm phế thải Để giải quyết tình trạng này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng Một số giải pháp có thể áp dụng để giảm thiểu bụi bẩn trên các tuyến đường nội thành Hà Đông.
Chủ đầu tư cần thực hiện biện pháp tưới nước rửa đường trong phạm vi tối thiểu 500m từ cổng công trường đến đường vận chuyển Thời gian cho phép xe chuyên chở vật liệu và phế thải xây dựng hoạt động là từ 21h00 đến 5h00 sáng hôm sau Trước khi triển khai thi công, cần có cam kết với ủy ban nhân dân thành phố thông qua phòng tài nguyên và môi trường Hà Đông.
Các yêu cầu kỹ thuật đối với xe chuyên chở vật liệu xây dựng bao gồm việc trang bị cửa ben có gioăng cao su để ngăn chặn rò rỉ cát, đất và vật liệu ra đường phố Ngoài ra, ba mặt tiếp giáp của thùng xe cần được che kín bằng bạt dày và có móc bạt bốn mặt với khoảng cách 50cm Đặc biệt, các xe ra vào công trường phải được rửa sạch lốp và gầm bằng nước áp lực cao trước khi rời khỏi khu vực công trường.
Cần thiết phải áp dụng các biện pháp xử phạt nghiêm khắc đối với các phương tiện vận chuyển gây ra tình trạng rò rỉ và rơi vãi vật liệu xây dựng, cát, đất thải và phế thải ra đường phố trong quá trình vận chuyển.
Cần thực hiện kiểm tra định kỳ và đột xuất các công trình xây dựng trên địa bàn thành phố để đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường Đồng thời, cần kiên quyết đình chỉ thi công các công trình không tuân thủ các quy định về vệ sinh môi trường và không áp dụng các phương pháp kỹ thuật an toàn trong việc vận chuyển vật liệu xây dựng và chất thải.
Để nâng cao hiệu quả xử lý bụi bẩn trên các tuyến đường trong thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố cần quy hoạch các trạm rửa xe cố định tại các cửa ngõ ra vào Tất cả các phương tiện trước khi vào thành phố phải trải qua quá trình rửa bằng nước áp lực cao.
Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí do công nghiệp
Nhiều khu, cụm công nghiệp hiện vẫn thiếu hệ thống xử lý khí thải và nước thải đạt tiêu chuẩn, trong khi mật độ cây xanh và khoảng cách giữa khu công nghiệp và dân cư chưa tuân thủ quy định Các chất thải và khí thải nguy hại chưa được đăng ký với cơ quan môi trường, dẫn đến việc xử lý không đạt yêu cầu Cần thiết phải rà soát và đánh giá công nghệ sản xuất tại các khu công nghiệp, đồng thời xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ Áp dụng công nghệ sạch hơn và hoàn thiện hệ thống xử lý môi trường, cùng với phát triển vành đệm cây xanh, sẽ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực và cải thiện môi trường sống cho cộng đồng dân cư gần các khu công nghiệp.
Cần thiết phải nâng cao hệ thống quan trắc tại các khu công nghiệp nhằm ngăn ngừa ô nhiễm và sự cố môi trường Việc lập danh sách và thực hiện thanh tra, kiểm tra các đơn vị có nguy cơ cao về môi trường là rất quan trọng để áp dụng các giải pháp quản lý phòng ngừa rủi ro hiệu quả Ngoài ra, đầu tư vào hệ thống xử lý khí thải tại các khu và cụm công nghiệp cũng là một yếu tố then chốt trong việc bảo vệ môi trường.
- Cải tạo cảnh quan môi trường và quy hoạch hệ thống cây xanh chu khu vực vùng đệm giữa các khu công nghiệp với khu dân cư.
- Hỗ trợ kỹ thuật áp dụng sản xuất sạch hơn và đổi mới công nghệ cho một số doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.
Việc di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư và chuyển đến các khu công nghiệp ngoại thành là cần thiết để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Để giảm thiểu ô nhiễm không khí trong sản xuất, cần thay thế và đầu tư vào các thiết bị và công nghệ mới Một ví dụ là chuyển từ công nghệ tuyển than khô sang công nghệ tuyển than ướt, giúp giảm lượng bụi phát sinh Ngoài ra, việc thay thế nguyên liệu trong sản xuất, như sử dụng dầu thay cho than và khí đốt thay cho dầu, cũng có thể giúp giảm thiểu các chất ô nhiễm như bụi, SO2 và NOx.
- Dùng các thiết bị lọc bụi và khí độc trong các cơ sở sản xuất bằng sol khí và các thiết bị lọc hơi khí độc.
Giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí tại các khu đô thị và dân cư tập trung
Quá trình phát triển đô thị thiếu biện pháp bảo vệ môi trường đang gây ra thách thức lớn cho các khu dân cư Các khu công nghiệp xen kẽ trong dân cư tạo ra nhiều bức xúc cho cộng đồng, với các khiếu nại chủ yếu liên quan đến bụi, tiếng ồn và hóa chất như axeton từ các hộ sản xuất cơ khí, mộc, và sơn Do đó, cần thiết phải có các biện pháp cụ thể để xử lý vấn đề môi trường hiện tại Cần tiến hành thanh tra, kiểm tra và giám sát các doanh nghiệp nhỏ trong khu dân cư để xử lý các hành vi vi phạm hoặc tổ chức di dời.
Ô nhiễm không khí trong các khu dân cư chủ yếu do hoạt động đun nấu gây ra Để giảm thiểu ô nhiễm tại Hà Đông, cần phát triển hệ thống cung cấp gas và khuyến khích người dân sử dụng khí tự nhiên hoặc điện thay thế cho than tổ ong và dầu hỏa.
Áp dụng các công cụ pháp lý và kinh tế nhằm kiểm soát, nâng cao chất lượng môi trường không khí
* Các công cụ pháp lý:
Các công cụ pháp lý để kiểm soát ô nhiễm không khí bao gồm các tiêu chuẩn và các loại giấy phép.
Các tiêu chuẩn chất lượng không khí được thiết lập nhằm kiểm soát ô nhiễm không khí một cách hiệu quả Hai loại tiêu chuẩn chính bao gồm tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh và tiêu chuẩn khí thải, áp dụng cho cả nguồn di động và nguồn tĩnh.
Tiêu chuẩn không khí xung quanh được áp dụng tại nhiều quốc gia, bao gồm các chất gây ô nhiễm như SO2, CO, NO2, O3, bụi chì và bụi lơ lửng Tại Việt Nam, tiêu chuẩn TCVN 5938 – 1995 quy định nồng độ tối đa cho phép của 6 chất ô nhiễm này trong không khí, trong khi TCVN 5949 – 1995 xác định nồng độ tối đa cho một số chất độc hại khác.
Các tiêu chuẩn xả khí đối với các nguồn di động, như phương tiện giao thông, thực chất không khác biệt so với tiêu chuẩn xả khí áp dụng cho các nguồn tĩnh.
Các công cụ tiêu chuẩn kiểm soát ô nhiễm thường dễ thực hiện và hiệu quả tại các quốc gia có trình độ xã hội thấp Tuy nhiên, khi nền kinh tế thị trường phát triển, hiệu quả của các hệ thống tiêu chuẩn giảm sút do nhà sản xuất tìm cách đối phó, chẳng hạn như pha loãng khí thải hoặc thay đổi chế độ xả khí để né tránh sự kiểm soát Do đó, để áp dụng hiệu quả các biện pháp này trong đô thị, cần có sự quan tâm hơn nữa từ các cấp chính quyền.
Các loại giấy phép xả khí thải được thiết lập nhằm khắc phục những hạn chế của hệ thống tiêu chuẩn hiện tại Giấy phép này quy định lượng chất ô nhiễm mà các nhà máy, xí nghiệp có thể thải ra môi trường trong một khoảng thời gian nhất định Nhờ vào công cụ này, các cơ sở sản xuất có động lực giảm thiểu lượng chất thải Tuy nhiên, việc kiểm soát khí thải và ô nhiễm từ từng cơ sở sản xuất lại thường tốn kém và gặp nhiều khó khăn.
Kiểm soát sử dụng đất là công cụ hiệu quả để giảm ô nhiễm không khí từ các nguồn tĩnh Tại Anh, các cơ quan địa phương có quyền chỉ định khu vực kiểm soát khói, nơi việc xả khói bị coi là vi phạm Trong các khu vực này, chỉ những nhiên liệu được phép mới được sử dụng trong các thiết bị không xả khói.
* Các công cụ kinh tế:
Các công cụ kinh tế kiểm soát ô nhiễm không khí bao gồm lệ phí ô nhiễm, thương mại hóa xả khí thải, trợ cấp cho kiểm soát ô nhiễm và các biện pháp khuyến khích thi hành luật bảo vệ môi trường Lệ phí ô nhiễm xác định số tiền mà các cơ sở xả thải chất ô nhiễm phải đóng vào quỹ môi trường, phụ thuộc vào lượng và loại chất ô nhiễm Tuy nhiên, khó khăn trong việc xác định chính xác lượng chất ô nhiễm có thể dẫn đến tình trạng trốn thuế hoặc không khuyến khích giảm thiểu ô nhiễm Một số biện pháp như áp dụng lệ phí ô nhiễm cho xe cơ giới nhằm hạn chế tắc nghẽn và ô nhiễm không khí ở đô thị, hoặc đưa lệ phí vào giá xăng dầu với các mức khác nhau, có thể được áp dụng, miễn phí cho phương tiện giao thông công cộng.
Các giải pháp khác
Để nâng cao ý thức của người dân và doanh nghiệp về bảo vệ môi trường, cần triển khai các hoạt động tuyên truyền hiệu quả Việc sử dụng thông tin từ báo chí, truyền hình và các pano quảng cáo sẽ giúp cộng đồng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc giữ gìn không khí trong sạch Đồng thời, nên thành lập các tổ chuyên trách về môi trường tại từng khu dân cư để thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn.
*Áp dụng hệ thông quản lý chõt lượng ISO 14000 cho các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất.
Áp dụng chiến lược năng suất xanh trên diện rộng là cần thiết để phát triển cây xanh và bảo tồn nước mặt trong nội thành cũng như các khu công nghiệp của thành phố Việc này không chỉ giúp cải thiện môi trường sống mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân đô thị.
Cây xanh và nước mặt trong đô thị không chỉ giúp điều hòa vi khí hậu mà còn có khả năng hấp thụ các chất ô nhiễm trong không khí, giảm bụi bẩn, hạn chế ô nhiễm khí độc hại và giảm thiểu tiếng ồn.