1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệp định thương mại việt mỹ cơ hội và thách thức khi việt nam thực thi xong nội dung của hiệp định

36 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệp định thương mại việt – mỹ. Cơ hội và thách thức khi việt nam thực thi xong nội dung của hiệp định
Tác giả Lê Thị Nhung, Ngô Hoàng Thông, Hứa Thuận Anh, Lê Thị Hoàng Kim, Nguyễn Lê Nguyên Bảo
Người hướng dẫn GS-TS Võ Thanh Thu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 657,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • III.V AI TRÒ CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ (12)
  • IV. ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC THƯƠNG MẠI XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) (13)
    • 1. Ủy ban tư vấn về CSTMQT của VCCI “Phân tích những lợi ích và thách thức (13)
    • 2. Vòng đàm phán 7 TPP tại Việt Nam – Những tiến triển mới (0)
  • V. ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ VỚI CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG KHÁC (19)
  • VI. NỘI DUNG CHÍNH CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT-MỸ (19)
    • 1. Thương mại hàng hóa (19)
    • 2. Bản quyền và tài sản trí tuệ (20)
    • 3. Thương mai dịch vụ (20)
    • 4. Về đầu tư (20)
  • VII. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM NĂM 2009, 2010, 2011 (20)
  • VIII. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ (30)
    • 1. Cơ hội (30)
    • 2. Thách thức (31)
  • KẾT LUẬN (35)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (36)

Nội dung

AI TRÒ CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ

Đến cuối năm 2002, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 170 nước và có quan hệ thương mại với gần 140 nước Để thúc đẩy thương mại, Chính phủ Việt Nam đã ký 90 hiệp định thương mại song phương, trong đó gần 80 hiệp định mang lại Quy chế Tối huệ quốc (MFN) cho Việt Nam Đặc biệt, Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ được coi là có ảnh hưởng lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam.

Mỹ là quốc gia có nền kinh tế và thương mại lớn nhất thế giới, chiếm gần 50% sản lượng công nghiệp và gần 20% giá trị xuất nhập khẩu toàn cầu Hàng năm, Mỹ xuất khẩu khoảng 900 tỷ USD và nhập khẩu gần 1.300 tỷ USD Vào năm 2001, GDP của Mỹ đạt gần 10.000 tỷ USD, theo số liệu của WTO công bố năm 2002, điều này cho thấy việc ký kết hiệp định với Mỹ mở ra cơ hội lớn cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam.

Nước Mỹ giữ vai trò quan trọng trong việc điều phối các định chế tài chính và thương mại quốc tế như IMF, WTO, WB, ADB Do đó, việc ký kết hiệp định thương mại với Mỹ sẽ tăng cường ảnh hưởng tích cực của các tổ chức này đối với nền kinh tế Việt Nam, đồng thời thúc đẩy tiến trình hội nhập của đất nước với khu vực và toàn cầu.

Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ được soạn thảo dựa vào các tiêu chuẩn nội dung của

Việc ký kết hiệp định thương mại với Mỹ là một bước tiến quan trọng, giúp Việt Nam sớm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đặc biệt đối với các nước kém phát triển.

Dưới tác động của Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, hệ thống pháp luật kinh tế và thương mại Việt Nam sẽ được cải cách theo hướng đầy đủ và minh bạch, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế Điều này nhằm tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho các doanh nghiệp trong các khu vực kinh tế phát triển.

Sau khi Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ có hiệu lực vào ngày 11/12/2002, thuế nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam vào Mỹ đã giảm từ 30-40% Sự giảm thuế này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam, nâng cao tính cạnh tranh về giá trên thị trường Mỹ.

Môi trường đầu tư tại Việt Nam đang ngày càng hấp dẫn nhờ vào tính bình đẳng và minh bạch, không có sự phân biệt đối xử Các sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng được hưởng Quy chế Tối huệ quốc khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

ĐÀM PHÁN HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC THƯƠNG MẠI XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)

Ủy ban tư vấn về CSTMQT của VCCI “Phân tích những lợi ích và thách thức

Vòng đàm phán 7 TPP tại Việt Nam – Những tiến triển mới

Vòng đàm phán thứ 7 của Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được tổ chức tại Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam vào ngày 20 – 21/06/2011, với sự tham gia của các đoàn đại diện từ 9 nền kinh tế thuộc 3 châu lục, bao gồm Australia, Brunei, Chile, Hoa Kỳ, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam.

Vòng đàm phán thứ 6 đã diễn ra tại Singapore từ ngày 28/3 đến 1/4, tập trung vào các vấn đề thương mại quan trọng như cạnh tranh thuế và tích hợp chuỗi cung cấp.

Lợi ích cho Việt Nam:

Trong khuôn khổ Vòng đàm phán, một sự kiện quan trọng bên lề là Diễn đàn dành cho các bên liên quan, nơi Hiệp hội, Doanh nghiệp và các nhóm lợi ích có cơ hội trực tiếp trình bày quan điểm của mình trước Đoàn đàm phán.

Tại Diễn đàn bên lề Vòng đàm phán thứ 7 TPP, các nước thành viên đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải đảm bảo công bằng trong thương mại, với yêu cầu các cam kết phải xem xét đến sự yếu thế của các quốc gia phát triển thấp hơn Ngoài ra, vấn đề cắt giảm thuế và loại bỏ rào cản thương mại cho một số sản phẩm cũng được bàn luận, cùng với khả năng thực thi và khai thác lợi ích từ tự do hóa thương mại trong lĩnh vực dịch vụ.

Diễn đàn bên lề là cơ hội quý giá cho doanh nghiệp, hiệp hội và các nhóm lợi ích để thể hiện quan điểm và kêu gọi sự ủng hộ từ các đoàn đàm phán, đồng thời củng cố lập luận của họ trong quá trình đàm phán.

Tại Diễn đàn Vòng đàm phán thứ 7, Việt Nam không chỉ là quốc gia tổ chức mà còn cho thấy sự thiếu chủ động từ các doanh nghiệp và hiệp hội trong việc trình bày quan điểm Hầu hết các Hiệp hội Việt Nam không tham gia, dẫn đến việc không tận dụng được cơ hội để các Đoàn đàm phán hiểu rõ hơn về tình hình và thuyết phục họ chấp nhận các cam kết phù hợp với lợi ích của ngành.

Sau vòng đàm phán thứ 7 tại Việt Nam, các vòng đàm phán tiếp theo sẽ diễn ra tại Hoa Kỳ vào tháng 9/2011 và Peru vào tháng 10/2011 Mục tiêu là đạt được thỏa thuận cơ bản trước Hội nghị thượng đỉnh APEC vào tháng 11 tại Honolulu, Hawaii.

2 Ủy ban tư vấn về CSTMQT: “ Phân tích những bất lợi tiềm tàng của TPP đối với

Tham gia FTA, đặc biệt là TPP, yêu cầu Việt Nam mở cửa thị trường nội địa cho hàng hóa và dịch vụ từ các nước đối tác Mặc dù có thể mất một phần thị trường, nhưng nếu không cẩn trọng trong việc thực hiện các cam kết, Việt Nam có thể gặp bất lợi cả ở thị trường các nước TPP.

(i) “Mất” ở thị trường nội địa

Bất lợi ở thị trường nội địa khi Việt Nam thực hiện TPP có thể được thể hiện ở các hình thức sau:

- Bất lợi từ việc giảm thuế quan đối với hàng hóa từ các nước đối tác TPP

Việt Nam vẫn là một thị trường khá kín với nhiều nhóm mặt hàng có mức thuế MFN cao và lộ trình mở cửa kéo dài Việc cam kết giảm thuế cho phần lớn mặt hàng từ các nước đối tác TPP sẽ dẫn đến hai bất lợi chính: giảm nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu và gia tăng cạnh tranh trong nước.

Việc giảm thu ngân sách từ thuế nhập khẩu sau khi thực hiện TPP là một hệ quả chắc chắn Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng mức thất thu từ thuế nhập khẩu của Việt Nam từ các đối tác TPP không lớn so với hiện trạng, bởi vì nhiều đối tác TPP đã có FTA với Việt Nam, dẫn đến việc cắt giảm thuế đã diễn ra trước đó Do đó, tác động bất lợi này không được coi là quá nghiêm trọng.

Giảm thuế quan trong khuôn khổ TPP có thể làm gia tăng luồng hàng nhập khẩu từ các nước thành viên vào Việt Nam, dẫn đến giá cả cạnh tranh hơn và ảnh hưởng đến thị phần hàng hóa trong nước Điều này tạo ra sự cạnh tranh gay gắt, tương tự như những gì đã xảy ra khi thực hiện các FTA trước đây, đặc biệt là ACFTA với Trung Quốc Nguy cơ này đặc biệt nghiêm trọng đối với nông sản, ảnh hưởng đến nông dân và các vùng nông thôn dễ bị tổn thương Tuy nhiên, một số ý kiến lạc quan cho rằng, trong trường hợp của TPP, sự "mất" này có thể không quá nghiêm trọng, nhất là với hàng hóa từ Hoa Kỳ, do phân khúc và khách hàng của họ khác biệt so với hàng hóa tương tự của Việt Nam.

Sau khi TPP, thị phần nội địa có khả năng sẽ được phân chia lại giữa các đối thủ Hoa Kỳ và các đối thủ nước ngoài khác tại Việt Nam, không phải giữa các doanh nghiệp Việt Nam Cạnh tranh trên thị trường hàng hóa nội địa sẽ tạo ra áp lực tích cực, thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam tự thích nghi, điều chỉnh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

- Bất lợi từ việc mở cửa các thị trường dịch vụ

Dịch vụ là lĩnh vực thương mại mà Việt Nam có mức độ mở cửa thị trường hạn chế nhất So với phương pháp đàm phán của WTO, TPP với phương pháp chọn-bỏ sẽ làm thay đổi mạnh mẽ bức tranh mở cửa dịch vụ của Việt Nam Điều này có thể tạo ra bất lợi lớn cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia TPP, vì sự tham gia mạnh mẽ của các nhà cung cấp dịch vụ lớn và có kinh nghiệm, đặc biệt là từ Hoa Kỳ, sẽ gây khó khăn cho các đơn vị cung cấp dịch vụ trong nước.

Cạnh tranh không chỉ mang lại thách thức mà còn là động lực cho các doanh nghiệp tự đổi mới và nâng cao năng lực Điều này giúp loại bỏ những đơn vị sản xuất yếu kém, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững Hơn nữa, hợp tác giữa doanh nghiệp Việt Nam và các đối tác từ TPP mở ra cơ hội phát triển chung Việc mở cửa thị trường cũng thu hút đầu tư vào các ngành dịch vụ, đặc biệt là những lĩnh vực cần vốn và công nghệ quản lý cao, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển đa dạng ngành dịch vụ tại Việt Nam trong tương lai.

Việc thực thi các yêu cầu nghiêm ngặt về môi trường, lao động và cạnh tranh, cùng với các ràng buộc thủ tục trong việc ban hành quy định liên quan đến rào cản kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ, đã tạo ra nhiều bất lợi cho doanh nghiệp.

Vòng đàm phán 7 TPP tại Việt Nam – Những tiến triển mới

Trong số rất ít các trường hợp, có thể thấy quy định liên quan đến ô tô trong FTA giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc Do đó, TPP có thể không đủ khả năng để giải quyết các vấn đề về rào cản thương mại cụ thể Tương tự như các vấn đề về môi trường và lao động, hàng hóa của Việt Nam, dù có TPP hay không, vẫn phải đáp ứng các yêu cầu thực tế từ các đối tác trong TPP.

ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ VỚI CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG KHÁC

Việt Nam đã ký kết Hiệp Định Thương mại với hơn 100 quốc gia và khu vực, nhưng Hiệp Định Thương Mại Việt – Mỹ nổi bật hơn cả, thể hiện sự đặc biệt so với các hiệp định thương mại khác.

Hiệp Định Thương Mại Việt – Mỹ Các Hiệp Định Thương Mại song phương khác

1 Cơ sở đàm phán Dựa vào các tiêu chuẩn của WTO Dựa vào các tập quan thương mại quoỏc teỏ phoồ bieỏn

Vừa mang tính tổng hợp, vừa mang tính chi tiết: có các chương, mỗi chương có nhiều điều khoản và phụ luùc keứm theo

Mang tính tổng hợp cao, không có các cam kết thực hiện cụ thể

Hiệp Định không chỉ tập trung vào thương mại mà còn mở rộng ra các vấn đề liên quan đến thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ.

Chỉ đề cập đến quan hệ thương mại song phửụng

Cụ thể và rõ ràng Không có lộ trình thực hiện

5 Cơ quan giám sát thi hành Hiệp Định

Có cơ quan giúp triển khai và thi hành Hiệp Định

NỘI DUNG CHÍNH CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT-MỸ

Thương mại hàng hóa

Ngay lập tức và vô điều kiện, hai bên Mỹ và Việt Nam dành cho nhau quy chế tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với nhau.

Hàng hóa của Việt Nam vào thị trường Việt Nam vào thị trường Mỹ mức thuế nhập khẩu giảm bình quân 30-40 %

Việt Nam đã cam kết giảm 244 dòng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Hoa Kỳ sau ba năm có hiệu lực của BTA, đồng thời cam kết loại bỏ các hàng rào phi thuế quan trong lộ trình từ ba đến bảy năm.

Bản quyền và tài sản trí tuệ

- Về bản quyền, hai bên cam kết thực hiện hiệp định về sở hửu trí tuệ mà các bên đã kí trước đó.

- Về tài sản trí tuệ, hai Bên thỏa thuận thực hiên các công ước đa phương về vấn đề này.

Thương mai dịch vụ

Hai nước sẽ mở cửa cho nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam tự do kinh doanh dịch vụ tại Mỹ, đồng thời cho phép các doanh nghiệp Mỹ hoạt động theo lộ trình kinh doanh dịch vụ tại Việt Nam.

Về đầu tư

Hai Bên cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh và đầu tư trên thị trường của nhau, tuân thủ các thông lệ và quy định quốc tế.

TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM NĂM 2009, 2010, 2011

Trong giai đoạn 1986-2010, Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng với trung bình khoảng 19%/năm, vượt trội so với khu vực và toàn cầu Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu đạt 62,7 tỷ USD, tăng 29,1% so với năm 2008, với tỷ lệ xuất khẩu trên GDP vượt 70% Tuy nhiên, nếu loại trừ giá trị tái xuất khẩu các mặt hàng như sắt, thép, vàng và yếu tố tăng giá của 8 mặt hàng chủ yếu, mức tăng trưởng thực tế chỉ đạt 13,5%.

Năm 2010, bức tranh kinh tế và xuất khẩu của Việt Nam trở nên ảm đạm, trái ngược với năm 2009 Kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 56,58 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm trước, chủ yếu do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế và sức cạnh tranh yếu kém của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

Theo kế hoạch năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam dự kiến đạt 58,6 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2008 Tuy nhiên, thực tế năm 2008, kim ngạch xuất khẩu đạt 62,7 tỷ USD, vượt 4,7 tỷ USD so với mục tiêu Đến cuối năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 56,58 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm trước và không đạt mục tiêu 71 tỷ USD trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Bảng 1 cho thấy, do tác động của khủng hoảng kinh tế, nhiều ngành hàng xuất khẩu đều bị ảnh hưởng nặng nề, với dầu thô giảm 40%, dệt may giảm 1,3%, giày dép giảm 15,8%, gạo giảm 8% và gỗ giảm 10%.

Khủng hoảng kinh tế đã dẫn đến sự sụt giảm nhu cầu và gây khó khăn cho một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Các rào cản thương mại mới được các nước áp dụng nhằm hạn chế nhập khẩu trong bối cảnh kinh tế khó khăn đang gia tăng Điều này cho thấy rằng các hành vi bảo hộ thương mại ngày càng trở nên tinh vi, đặc biệt là tại các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam năm 2010

Tổng giá trị xuất khẩu 62,685 56,584 9

Gỗ và sản phẩm gỗ 2,829 2,550 9

Cà phê 2,111 1,710 8 Điện tử, máy tính và linh kiện 2,638 2,774 1

Máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng 1,860 2,028 1

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2010)

2011 : U.S trade in goods with Vietnam

NOTE: All figures are in millions of U.S dollars on a nominal basis, not seasonally adjusted unless otherwise specified Details may not equal totals due to rounding.

Trong năm tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt 6.488,8 triệu USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm ngoái, theo số liệu từ Bộ Thương mại Mỹ.

Năm 2023, năm mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam sang Mỹ tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ Dệt may dẫn đầu với kim ngạch đạt 2.512,8 triệu USD, tăng 18,8% Giày dép đứng thứ hai với 787,4 triệu USD, tăng 30% Các sản phẩm gỗ xếp thứ ba với 683,4 triệu USD, tăng 4,6% Máy móc, thiết bị điện và sản phẩm âm thanh-thu thanh đạt 342,3 triệu USD, tăng 16% Cuối cùng, thủy sản đạt 265,5 triệu USD, ghi nhận mức tăng 46,6%.

Kim ngạch xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam trong năm tháng đầu năm cũng tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái, lên mức 1.786,4 triệu USD

Trong năm tháng đầu năm, hàng bông, bao gồm sợi và vải dệt, dẫn đầu danh sách xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam với kim ngạch 246,7 triệu USD, tăng 189% so với cùng kỳ năm ngoái Máy móc, thiết bị cơ khí và phụ tùng đứng thứ hai với kim ngạch 195,2 triệu USD, tăng 8% so với năm trước, trong khi phương tiện giao thông đạt 161,1 triệu USD, tăng 64%.

Cùng giữ vị trí thứ tư là máy móc-thiết bị điện-phụ tùng và thịt, đạt kim ngạch 105 triệu USD.

Trong những tháng cuối năm 2011, nếu kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Mỹ và Việt Nam tiếp tục tăng trưởng như đầu năm, kế hoạch tăng khoảng 10% so với 18,3 tỷ USD của năm 2010 hoàn toàn khả thi.

A Thuận lợi: a Thuận lợi đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá và dich vụ b Bảo đảm khả năng thâm nhập thị trường:

Trong thương mại dịch vụ, các quốc gia thành viên cam kết không áp đặt hạn chế đối với khả năng tiếp cận thị trường dịch vụ, tuân theo các tiêu chuẩn và lịch trình cụ thể của từng quốc gia Đồng thời, việc đảm bảo một môi trường đầu tư ổn định cũng là yếu tố quan trọng trong quá trình này.

Các cam kết của WTO đảm bảo rằng các nhà xuất khẩu có thể tiếp cận thị trường xuất khẩu, đầu tư và sản xuất với những điều kiện ổn định.

1 Thuận lợi đối với các doanh nghiệp nhập khẩu trong tiếp cận các nguồn nguyên liệu thô và các yếu tố đầu vào khác

Các nhà nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm và dịch vụ trong sản xuất được hưởng lợi từ các nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi cho nhập khẩu của WTO Những nguyên tắc này yêu cầu nhập khẩu không bị hạn chế bởi các tiêu chuẩn quốc gia, đồng thời đảm bảo rằng các nhà nhập khẩu được đối xử công bằng trong việc tiếp cận nguồn cung ứng.

2 Quyền lợi của các doanh nghiệp nhập khẩu trong quan hệ với Chính phủ a Xác định trị giá hải quan.

Nhà nhập khẩu có quyền yêu cầu xem xét lại trị giá thuế quan nếu nghi ngờ về độ chính xác, đồng thời có thể khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền cấp trên về vấn đề định giá thuế quan Điều này giúp bảo vệ họ trước những tình huống không lường trước.

Trong một số trường hợp, các nhà công nghiệp có thể yêu cầu Chính phủ áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu để bảo vệ mình khỏi áp lực cạnh tranh không công bằng từ nước ngoài Họ cũng có thể đề xuất các biện pháp chống phá giá hoặc thuế đối kháng nếu chứng minh rằng ngành công nghiệp trong nước đang bị tổn thương bởi hành vi thương mại của các quốc gia khác Đồng thời, việc minh bạch hóa hệ thống chính sách và pháp luật cũng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo sự công bằng trong thương mại.

Tham gia WTO không chỉ yêu cầu Việt Nam loại bỏ các rào cản thương mại mà còn thúc đẩy việc hoàn thiện và minh bạch hóa hệ thống chính sách và pháp luật trong nước Các thể chế kinh tế thị trường cần đảm bảo tính công bằng dựa trên nguyên tắc đối xử quốc gia, cho phép hàng hóa nhập khẩu được đối xử như hàng hóa sản xuất trong nước Doanh nghiệp nước ngoài phải được hưởng các quy chế thuận lợi và bình đẳng tương tự như doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân, từ đó tạo ra môi trường hấp dẫn cho đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Các hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sẽ thiết lập một khung pháp lý mới, thúc đẩy thương mại tự do hơn, đặc biệt mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

3 Thuận lợi và các quyền của doanh nghiệp xuất nhập khẩu a Chi phí dịch vụ thương mại chung rẻ hơn.

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ NỘI DUNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ

Cơ hội

Hiệp định sẽ thúc đẩy trao đổi thương mại và tăng cường hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đảm bảo lợi ích cho cả hai quốc gia Nó cũng đóng góp vào hòa bình, ổn định và phát triển khu vực cũng như toàn cầu Việc ký kết và thực hiện Hiệp định phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, hỗ trợ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.

Việt Nam hứa hẹn sẽ có sự hợp tác ngày càng mở rộng với Hoa Kỳ nhờ vào dân số đông, trẻ và năng động cùng nền tảng giáo dục tốt Thương mại hai chiều giữa hai nước dự kiến sẽ tiếp tục phát triển, thu hút nhiều nhà đầu tư Hoa Kỳ khám phá cơ hội kinh doanh tại Việt Nam Các lĩnh vực như thức ăn chăn nuôi, sản xuất năng lượng, công nghệ thông tin và sản xuất phương tiện đi lại đang có tiềm năng lớn Đặc biệt, các công ty Hoa Kỳ thể hiện sức cạnh tranh mạnh mẽ trong lĩnh vực dịch vụ, bao gồm dịch vụ chuyên môn, ngân hàng - tài chính và dịch vụ môi trường.

Kim ngạch thương mại Việt Nam tạo dòng chảy lớn.

Việt Nam có nhiều điều hấp dẫn và tương lai đầy hứa hẹn.

Hoa Kỳ muốn quan hệ lâu dài với Việt Nam.

Hiệp định thể hiện sự nỗ lực cải cách trong kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Là một đối tác kinh tế tương đối mới, Việt Nam mang đến những triển vọng đầy tiềm năng.

Nhiều ngành nghề đang mở ra cơ hội đầu tư cho các công ty Hoa Kỳ, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến và dịch vụ viễn thông, nhằm đáp ứng nhu cầu khổng lồ của thị trường Hoa Kỳ Hiệp định này không chỉ mang lại tác động tích cực cho nền kinh tế Việt Nam mà còn khuyến khích cạnh tranh và cải cách nội địa, giúp giảm chi phí và thúc đẩy hiện đại hóa cũng như áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến Điều này tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người lao động trong việc đào tạo nghề và phát triển sự nghiệp.

Sự quan tâm toàn cầu đối với Việt Nam thể hiện cam kết hội nhập kinh tế của quốc gia này, mở ra cơ hội tiếp cận nguồn tài chính, phương pháp quản lý hiện đại, thông tin thị trường và công nghệ tiên tiến Hiệp định Thương mại song phương sẽ tạo ra một sân chơi công bằng cho tất cả doanh nghiệp.

Cơ hội cho các doanh nghiệp khai thác thị trường ASEAN đang mở ra, đồng thời thúc đẩy việc đầu tư công nghệ vào Việt Nam.

Doanh nghiệp Việt Nam đang áp dụng công nghệ tiên tiến hơn trong quy trình sản xuất Khi thu nhập của người dân tăng lên, tỷ lệ chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ sẽ giảm, đặc biệt đối với những người có thu nhập trung bình.

Thách thức

Doanh nhân và đại diện DNNN hiện vẫn phàn nàn về sự thiếu minh bạch trong các văn bản pháp luật.

Tăng trưởng kinh tế sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự phát triển của các ngành công nghiệp mới, tạo ra hàng ngàn cơ hội việc làm để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.

Giáo dục và đào tạo sẽ giúp người lao động Việt Nam tiếp cận công nghệ mới Việc ký kết Hiệp định Thương mại Song phương sẽ thu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời cải thiện bảo vệ sở hữu trí tuệ.

Phát triển nông thôn: Hiệp định Thương mại Song phương sẽ khuyến khích nông nghiệp có điều kiện phát triển.

Chất lượng cuộc sống sẽ được nâng cao: Giống như mọi quốc gia tham gia mậu dịch.

Cần cải thiện việc thực hiện các cam kết về minh bạch hóa, vì nhiều quy định pháp lý hiện tại đang gây cản trở cho hoạt động đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam.

Việc thực hiện các cam kết về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn hạn chế.

Trong những năm qua, Hoa Kỳ đã liên tục đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần theo dõi về việc tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ, điều này cho thấy Việt Nam cần nỗ lực cải thiện tình hình này.

Để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tồn tại và phát triển tại thị trường Mỹ, họ cần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và sản phẩm, đồng thời phát triển tiềm năng sản xuất và xuất khẩu, từ đó thâm nhập hiệu quả vào thị trường này.

Việt Nam chủ yếu xuất khẩu hàng thủ công và sử dụng nguồn lao động thủ công Để thu hút đầu tư từ Hoa Kỳ, Chính phủ Việt Nam cần giảm thiểu chi phí đầu tư.

Sức mua của thị trường Việt Nam đối với hàng tiêu dùng hiện còn thấp, do thu nhập của người dân chưa đạt mức cao như công dân Mỹ Hơn nữa, hầu hết hàng hóa xuất khẩu từ Mỹ sang Việt Nam đều là hàng cao cấp, dẫn đến tình trạng tiêu thụ không đạt kỳ vọng.

Tốc độ xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đang tăng trưởng mạnh mẽ, tuy nhiên, các chuyên gia nhận định rằng tiềm năng xuất khẩu còn lớn hơn nữa Một trong những thách thức lớn nhất mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải là việc chưa xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ với các tập đoàn thương mại lớn và các mạng lưới phân phối hàng hóa quan trọng tại Mỹ.

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với trình độ kinh tế còn thấp, hiện đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế kinh tế và tích cực hội nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như toàn cầu.

Để nắm bắt cơ hội và vượt qua khó khăn, Việt Nam cần nâng cao tay nghề lao động, cải cách quản lý nhà nước trong sản xuất, và nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao bì Đồng thời, cần cải tiến công nghệ, áp dụng thành tựu khoa học mới vào sản xuất và mở rộng hợp tác với đối tác nước ngoài nhằm tăng cường sức cạnh tranh và mở rộng thị trường Quan trọng nhất, cần chú trọng đến xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ và đề ra các biện pháp cụ thể cho vấn đề này.

1 Giải pháp vĩ mô: Đề ra và thực thi chiến lược thay đổi thuế quan phù hợp với ngành và sản phẩm được bảo hộ. Điều tiết tỷ giá hối đoái và kiểm soát ngoại hối.

Xây dựng chiến lược phát triển thị trường tổng thể đúng đắn.

Xây dựng các nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực thích ứng với các khu vực thị trường.

Kết hợp chặt chẽ giữa xuất khẩu và bảo hộ thị trường nội địa.

Để đạt được hiệu quả cao trong phát triển kinh tế, cần đồng bộ hóa các chính sách tài chính tiền tệ, phát triển nguồn nhân lực, phát triển nông thôn và gắn kết với chính sách sản phẩm Sự kết hợp này sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chính sách phát triển các ngành công nghiệp cần tập trung vào xuất khẩu, dựa trên việc dự báo dung lượng thị trường của các quốc gia trong khu vực và toàn cầu.

Xây dựng một khung pháp lý vững chắc cho đầu tư trong nước và nước ngoài là cần thiết, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chế độ đối xử quốc gia.

Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài.

Chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đầu tư thích đáng cho việc phát triển cơ sở hạ tầng.

Chính sách thị trường tập trung vào việc thúc đẩy đàm phán thương mại song phương và đa phương, nhằm tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp, từ đó mở ra cơ hội cho việc khai thác thị trường mới.

Ngày đăng: 02/10/2023, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w