Đề tài đẫ nghiên cứu hoạt động văn hóa, vhir ra những ưu nhược điểm và đề ra biện pháp giúp hoạt động du lịch văn hóa ở đây cải thiện hơn, thu hút được nhiều khách du lịch và giữ gìn được những nét đẹp về văn hóa kiến trúc tại đây.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC YERSIN ĐÀ LẠT
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH - DU LỊCH & QHCC
LỚP : QUẢN TRỊ LỮ HÀNH K17
MÔN: DU LỊCH VĂN HÓA
Đà Lạt, ngày 25 tháng 11 năm 2021
GVHD: Trần Thị Thu PhươngSVTH: Mai Kim PhượngMSSV: 12008166
TIỂU LUẬN
Trang 2Nhận xét của Giảng Viên
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 31 Nhận diện và khai thác các giá trị văn hóa vào hoạt động du lịch của đình Hoành Sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
1.1 Khái quát về quê hương đình Hoành Sơn
“ Đường vô sứ Nghệ quanh quanhNon xanh nước biếc như trang họa đồ…”
Nghệ An, một tỉnh nằm phía Bắc miền Trung với cảnh quan thiên nhiên đẹp như tranh vẽ Đây còn là mảnh đất đã sản sinh nhiều danh nhân lịch sử, nhà khoa bảng, nhà khoa học, nhà văn hóa nổi tiếng như Mai Hắc Đế, thi sĩ Hồ Xuân Hương… Đặc biệt Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một nhà yêu nước lớn, một danh nhân văn hóa thế giới và anh hùng giải phóng dân tộc Về vị trí địa lý của tỉnh, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp Xiêng Khoảng- Lào, phía tây nam giáp tỉnh Borikhamxay- Lào, phía tây bắc giáp tỉnh Hủa Phăn- Lào, phía nam giáp tỉnh
Hà Tĩnh, phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có 2 mùa rõ rết là mùa mưa và mùa khô Nghệ An là một tỉnh có đầy đủ địa hình từ núi cao, trung du, đồng bằng đến ven biển và các địa hình này thấp dần từ tây bắc xuống đông nam
Xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn là một xã nằm phía Nam của tỉnh, được mệnh danh là rốn lũ của xứ Nghệ và có diện tích khá nhỏ Đối với xã Khánh Sơn, Nam Đàn nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung đều có một nền văn hóa truyền thống vô cùng phong phú và đa dạng Mảnh đất này có rất nhiều anh em dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại mang một bản sắc riêng về văn hóa, ngôn ngữ truyền thống Nơi đây là xứ sở của nền văn hóa dân gian đặc sắc với những điệu hò, hát phường vải, hát đò đưa,…Ngoài ra mảnh đất này còn được biết đến với những lễ hội truyền thống như rước hến, đua thuyền,…
Người dân Khánh Sơn nói riêng và Nghệ An nói chung đều vô cùng giản dị mộc mạc chất phát đặc biệt là vô cùng hiếu khách Người dân nơi đây chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng cây lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn Một số địa phương ven biển thì sinh sống bằng nghề đánh bắt cá
Trang 41.2 Nhận diện đình Hoành Sơn
Đình Hoành Sơn (còn gọi là Đình làng Ngang) thuộc xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cách Thành phố Vinh khoảng 35km về phía Tây Nam, cách huyện Nam Đàn 20km về phía Đông Nam Theo truyền thuyết dân gian, ĐìnhHoành Sơn hình thành gắn với tích các thợ mộc nhà trời được phái xuống để dựng lên một ngôi đình to lớn tại làng Hoành Sơn (tên Nôm là rú Ngang) ven sông Lam, vốn luôn xảy ra lũ lụt Điều này cắt nghĩa việc làng Hoành Sơn có một ngôi đình
đồ sộ, đẹp tưởng như sức người không thể làm nổi, kỳ thực, là tôn vinh ý thức cộngđồng, tinh thần tự cường và tài năng sáng tạo của nhân dân qua một quá trình lịch
sử Theo một số tư liệu thì người khởi xướng và chủ sự xây dựng công trình này là Đặng Thạc, cử nhân dưới triều vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) thuộc dòng dõi thếtộc và có uy quyền nhất vùng Vào thời kháng chiến chống Pháp, thực dân Pháp đãdùng đình Hoành Sơn làm nơi ở và đóng quân Hòa bình lập lại thì nơi đây là nơi sinh hoạt của Đảng Bộ Và vào ngày 25/12/2017, đình Hoành Sơn đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2082/QĐ-TTg
1.2.1 Về thời gian
Căn cứ vào lạc khoản, nghệ thuật chạm khắc tại đình, các nghiên cứu của một
số nhà khoa học trong và ngoài nước thì Đình Hoành Sơn được xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ XVIII thời Lê Trung hưng (1763) Cụ thể là được xây dựng vàotháng Chạp năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng 23, năm 1763 và đến cuối năm sau thì hoàn thành Đình Hoành Sơn thờ chính là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang
là con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ- là người có nhiều đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Nghệ An và quốc gia Đại Việt, ngoài ra, đình còn thờ thêm Tứ Vị Thánh nương và Phật Thích Ca
Trang 5Về mặt bằng, đình rộng 1.660 m2 gồm cổng, sân đình, đại đường, hậu cung và
hệ thống tường bao quanh Trong đó đại đình rộng 330 m2, được dựng theo lối nhà
7 gian; phía trước đình xây tường hai bên dày 25cm, phía sau cũng xây tường hai bên, ở giữa trừ hậu cung rộng 49 m2 Hậu cung gồm 1 gian với diện tích 44,8m2 (6,37m x 7,035m) Đình được xây dựng theo kiểu chữ nhất hình chuôi vồ
1.3 Khai thác đình Hoàng Sơn
1.3.1 Giá trị vật chất của đình
1.3.1.1 Hệ mái
Đình gồm 4 mái có hai mái lớn trước và sau và 2 mái hồi, hai mái đều lợp bằng ngói âm dương Giữa các ngói âm dương là một lớp đất sét được nhào trộn với trấu,tạo thành một chất liệu bền, dẻo có khả năng cách nhiệt rất tốt Ngói âm dương có 5rãnh chẻ thoát nước
Mái đình Hoành Sơn cong nhẹ và có hình đầu đao hướng về phía trước như thế đang trầu Dọc mái có hình con toan nghê chạy xuống dọc bốn đầu đao, mình tròn, bờm bay ra sau, trên người trang trí các vân xoáy Trên bờ nóc của đỉnh mái có trang trí: “Lưỡng long trầu nhật”, ở giữa là hình mặt trời với những đao mác, hai đầu kìm là hình ảnh con rồng được tạo thế hồi long
Trang 6Hệ thống khung cột tại Hậu cung có tất cả 8 cột trong đó 4 cột cái trốn và 4 cột quân Và tất cả các cột trong đình đều được sử dụng gỗ Lim để dựng lên.
1.3.1.4 Trang trí và chạm khắc
Các hoa văn trong đình được chạm khắc rất công phu, có độ tinh xảo cao như: bát tiên, cưỡi hạc, đánh cờ, đua thuyền, tứ linh, tứ quý, đại bàng đối xứng từng gian, rồng ổ… thể hiện quan điểm triết lý nhân sinh thấm đẫm tinh thần nhân văn của dân tộc và phản ánh nghệ thuật chạm khắc đã đạt đến trình độ bậc thầy Cột đình ở gian chính được chạm nổi hình tượng 2 con rồng lớn đang ôm cột hướng xuống mặt đất Trên mái đình có hình tượng rồng cuộn, hổ ngồi, nghê chầu
Cụ thể, ở bộ vì thứ 1 Vì nóc được trang trí với mật độ khá dày đặc: trên cùng của đấu thứ nhất là hình ảnh “phượng hàm thư” Tại con rường tiếp theo khắc họa
đề tài hổ phù Ở tấm ván bưng khắc họa đề tài “tiên đánh cờ” Ở các đấu của vì nách khắc họa nhiều đề tài phong phú, sinh động như “trúc điểu”, “mai điểu”, rồng,phượng, hoa lá cách điệu Đặc biệt, tại các ván dong đã khắc họa một số đề tài, điển tích khá đặc sắc như “chèo thuyền” hay điển tích “Bốn vị ẩn cư ở núi Thường Sơn” , “Thành Thang sính Y Doãn” Các mảng chạm được thể hiện theo lối bong
Trang 7kênh, khắc họa tỷ mỉ hình ảnh, cử chỉ, điệu bộ của các hoạc tiết, nhân vật khiến bứctranh hết sức sinh động, vô cùng sắc nét, uyển chuyển.
Trang trí và chạm khắc ở bộ vì thứ 2 và thứ 5 có kiểu trang trí chạm khắc đơn giản và giống nhau Ở vì nóc, tại các con rường cụt tiếp tục được tạo hình vân xoắn.Các hoa văn được tập trung ở hai bên câu đầu với những họa tiết đơn giản Ở vì nách, các cấu kiện của vì nách cũng được chạm trổ khá dày đặc với các đề tài tứ linh, tứ quý, sử dụng kỹ thuật bong kênh kết hợp với ốp măng Điều đặc biệt là ngoài các linh vật như rồng, phượng thì còn xuất hiện hình ảnh con nai trong tư thế quay đầu lại
Trang trí và chạm khắc ở bộ vì thứ 3 Trên vì nóc ở quá giang mặt phía Đông Nam trang trí hình ảnh “Phượng vũ” với lối chạm bong kênh Dưới quá giang là hình ảnh hai đầu dư được tạo hình thành rồng dạng tròn kết hợp giữa chạm bong kênh và chạm lộng, miệng ngậm một hạt tròn Đầu rồng chầu vào gian giữa, đăng đối với hai con rồng ở gian thứ 4 Ở các vì nách, trên các cấu kiện gỗ đều được chạm kín, đề tài phong phú, đa dạng như rồng, phượng…Tại các mảng chạm này, nổi lên có mảng chạm ở con rường cụt cuối cùng với hình ảnh voi, theo sau là binh lính, tay vác kiếm, hay hình ảnh “rồng ổ” với hình ảnh con rồng lớn nhất đang “ọe” mặt trăng, phía dưới là những con rồng nhỏ đang trong tư thế đi lên, hướng vào mặttrăng Một hình ảnh nữa cũng khá độc đáo được khắc ở ván dong, đó là hình ảnh rồng, phượng đùa cùng nhau
Trang trí và chạm khắc ở bộ vì thứ 4 Các vì nách được chạm khắc theo lối bong kênh kết hợp với chạm lộng, đề tài ở đây, ngoài rồng, phượng còn xuất hiện nhiều hoạt cảnh thể hiện đời sống hết sức bình dị của người dân như bắt cá, đi cày, thổi cơm…Có những mảng chạm khá độc đáo như tại xà nách là hình ảnh hổ phù với đầy đủ mắt lồi, mũi hếch, miệng “ọe mặt trăng”, trên đầu đao mác tua tủa và đặc biệt là hình ảnh hai tay được chạm rõ nét, mỗi tay gồm 3 ngón đang nắm chặt lấy hai râu ở hai bên
Trang 8Trang trí và chạm khắc ở bộ vì thứ 6 Vì nóc hầu như không trang trí gì, chỉ có một mảng trang trí ở ván bưng Dưới quá giang và cột cái tạo hình hai đầu dư vươn lên Ở các vì nách, tiếp tục được trang trí với nhiều đề tài phong phú, đa dạng, ngoài rồng, phượng, hoa lá vân mây còn có một số đề tài, điển tích khá thú vị như:
ở vì nách phía trong là điển tích “Đại Thánh phá trời”; Ở vì nách phía ngoài là hình ảnh chèo thuyền nhưng chỉ có mái chèo mà không có người; Hình ảnh quan Nghè vinh quy bái tổ; Hoạt cảnh thi ngạch quan võ; Hình ảnh các sỹ tử xem điểm thi
Hệ thống cổ nghé được chạm khắc tạo hình mặt hổ phù với nhiều hình thái khác nhau nhưng chủ yếu vẫn mang đặc điểm hũi hếch, mắt lồi, miệng “ọe” chữ Thọ hoặc mặt trăng
Hệ thống kẻ được chạm khắc một cách tinh xảo với những hình ảnh rồng được tạo những hình thức như: long ẩn vân, cây hóa rồng, cá hóa rồng Phượng cũng được tạo hình như: phượng vũ, phượng hàm thư Đặc biệt, trên kẻ phía trong của vì thứ 4 khắc họa điển tích “Long mã Hà đồ” Kẻ phía ngoài ở gian thứ 4 khắc họa hình ảnh những con thú nằm nhởn nhơ, vui đùa
Hệ thống ván gió được nghệ nhân tận dụng trang trí những mảng chạm khắc được kết hợp giữa chạm lộng và chạm nông, ngoài các đề tài tứ linh, tứ quý, điển tích “cá hóa rồng” còn xuất hiện những hoạt cảnh hết sức dân giã như đi cấy, bắt cá,hay hội làng
Hậu cung thì không được chạm chổ
1.3.1.5 Các pho tương
Những người cao tuổi trong làng cho hay, tương truyền trong đình có khoảng
100 pho tượng, nhưng vào trận lũ lịch sử năm 1978 – 1988 nước đã cuốn trôi gần hết số tượng
Hiện nay, đình Hoành Sơn còn lưu giữ được 10 pho tượng cổ có giá trị, đặc biệt
là bộ tượng Tam thế, tượng Uy Minh Vương Lý Nhật Quang
Trang 91.3.2 Giá trị tinh thần của đình Hoành Sơn
Đình làng Hoành Sơn mang giá trị tinh thần vô cùng lớn không chỉ với người dân Nam Đàn, Nghệ An nói riêng mà còn với cả người dân cả nước nói chung Đầu tiên nó là minh chứng cho tín ngưỡng tôn giáo đặc biệt là Phật giáo đã hìnhthành lâu đời tại mảnh đất Khánh Sơn, Nam Đàn này Nó mang giá trị thỏa mãn đờisống văn hóa tinh thần, tâm linh của người dân từ xưa đến nay và tiếp tục đến mai sau
Thứ hai, ngôi đình còn lưu giữ lại toàn bộ những kiến trúc cổ xưa, những bức chạm lộng, chạm khắc hình rồng , phượng, hoa lá,… đã thể hiện, là minh chứng cho
sự tài hoa khéo léo của ông cha ta Qua đó giúp cho lớp trẻ có cách nhìn nhận đúng
về văn hóa, giá trị lịch sử dân tộc Từ đó khơi gợi lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo
vệ các giá trị truyền thống, không để hòa tan trong thế giới hiện nay
Ngôi đình Hoành Sơn còn mang giá trị nhắc nhở con chúa, thế hệ mai sau về đạo lí: “uống nước nhớ nguồn/ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc
1.3.3 Chức năng của đình Hoành Sơn
Đầu tiên về chức năng hành chính Trước cách mạng tháng 8/1945 đình là nơi ởcủa thực dân Pháp Sau cách mạng đình Hoành Sơn là trụ sở làm việc của địa phương cho đến năm 1992 Sau khi trụ sở làm việc được chuyển ra nơi khác, đình trở thành nơi sinh hoạt của người dân, nơi tổ chức hội hè Trước đây tại đình
thường diễn ra 2 kỳ lễ lớn là lễ kỳ phúc vào tháng 2 và lễ rước thần vào rằm tháng 6
âm lịch Hiện nay các kỳ lễ bị mai một nhưng đình Hoành Sơn vẫn là một trong những địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh, là nơi trao đổi, gặp gỡ, trò chuyện của người dân xã Khánh Sơn và vùng phụ cận
Thứ hai về chức năng tín ngưỡng Trong đình Hoành Sơn có thờ Thành Hoàng làng- vị thần bảo hộ cho dân làng, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang- người có công xây dựng bảo vệ vùng đất Nghệ An nói chung và Nam Đàn nói riêng Ngoài ra còn
Trang 10thờ tứ vị Thánh Nương và Phật Thích Ca- những ngài có phép thuật, phù hộ độ trì ban phát phước lành cho người dân Qua đó đã thể hiện đời sống văn hóa tâm linh
rõ nét của người dân, một biểu tượng cao đẹp trong tâm thức người dân Khánh Sơn,Nam Đàn, Nghệ An
Thứ ba là chức năng văn hóa Đình Hoành Sơn không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân Khánh Sơn, Nam Đàn và các vùng phụ cận mà nó còn
là nơi diễn ra các hoạt động du lịch văn hóa cho khách du lịch ở mọi miền tổ quốc
về đây Trong những năm gần đây thì tỉnh Nghệ An cũng đã có những chính sách,
kế hoạch cụ thể về việc khai thác du lịch văn hóa tại đình Hoành Sơn và bước đầu đạt được những thành tựu nhất định
1.3.4 Khả năng quan sát và tham gia của du khách đối với đình Hoành Sơn
1.3.4.1 Quan sát
Đến tham quan đình Hoành Sơn du khách cũng như người dân vùng lân cận có thể chiêm ngưỡng, quan sát những nét chạm khắc, điêu khắc, chạm lộng vô cùng độc đáo về những con rồng, con phượng, cuộc sống giản dị của người dân,… trên các cột đình, các bộ vì, được làm bằng gỗ và gỗ lim Ngoài ra mọi người cũng có thể chiêm ngưỡng nét kiến trúc cổ của hệ mái với ngói được lợp bằng ngói âm dương cùng những đầu đao, con toan nghê, lưỡng long trầu nguyệt Mọi người cũng
có thể tham quan 10 pho tượng nổi tiếng của đình Hoành Sơn hoặc khung cảnh thiên nhiên bên ngoài đình
1.3.4.2 Tham gia
Mọi người khi đến đình nên ăn mặc trang nhã, gọn gàng, không quá lòe loẹt và
có thể xin phép thủ từ ở đây để dâng một số lễ vật hay dâng hương cúng, bái, cầu mong phước lành cho mình và mọi người
Trang 112 Phân tích ưu điểm, nhược điểm và đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động của làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội.
2.1 Giới thiệu về mảnh đất Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội
Làng lụa Vạn Phúc – Nói đến lụa thì không thể không kể đến cái tên quá nổi tiếng, thân thương và là cái nôi lụa gấm ở Việt Nam Giữa thành thị xa hoa đông đúc, giữa những nét văn hóa mới lạ và đặc sắc thì vẫn còn lưu giữ đâu đây một nét riêng vốn có của nó, nét tinh hoa văn hóa Việt vẫn còn đọng lại đó chính là lụa Có rất nhiều nhà văn, nhà thơ đã viết nên những câu thơ, lời văn bất hủ khi nói về vẻ đẹp của làng quê truyền thống này :“Em về Vạn Phúc cùng anh/Áo lụa em mặc thêm thanh vẻ người” hay: “ Nắng Sài Gòn anh đi chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa
Hà Đông” Lụa Vạn Phúc đã đi sâu và gắn liền trong tiềm thức cuộc sống của mỗi người Việt từ xưa đến nay
2.1.1 Về vị trí địa lý
Làng lụa Vạn Phúc hay còn gọi là lụa Hà Đông, nay thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 10 km Phía Tây giáp với xã Văn Khê Phía Đông giáp với sông Nhuệ và xã Văn Yên Phía Nam giáp với hai phường Quang Trung và Yết Kiêu Phía Bắc giáp với làng Ngọc Trụ và Đại Mỗhuyện Từ Liêm - Hà Nội Vạn Phúc là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp, nổi tiếng
có từ ngàn năm trước Lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất ViệtNam Đặc biệt nơi đây khi xưa đã từng được chọn may trang phục cho các bậc vua chúa trong triều đình
Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình "Lụa Vạn Phúc" cũng như các sản phẩm thủ công truyền thống của các làng nghề Hà Nội, thường được nhắc đến trong thơ ca xưa Trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với
2.1.2 Lịch sử làng lụa Vạn Phúc
Trang 12Làng lụa Vạn Phúc vốn xưa kia có tên là Vạn Bảo, nhưng do kị húy nhà
Nguyễn đã đổi tên thành Vạn Phúc Có rất nhiều những câu chuyện thư tịch cổ xoay quanh nguồn gốc của làng nghề dệt lụa Vạn Phúc Có thư tịch cổ cho rằng, cách đây hơn 1100 năm, bà A Lã Thị Nương ( có nhiều tư liệu ghi là bà Lã Thị Nga), vợ Cao Biền, thái thú Giao Chỉ, từng sống ở trang Vạn Bảo, đã dạy dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa Sau khi bà mất, người dân đã phong bà làm Thành Hoàng Làng
Cùng với thời gian, lụa Vạn Phúc được nhiều nơi biết đến Năm 1931, lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille, tại Paris- Pháp là vào năm 1932 và được đánh giá là loại lụa tinh xảo bậc nhất Đông Dương Từ 1958đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu, từ
1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới, thu ngoại tệ về cho Việt Nam
Năm 2012, làng lụa Vạn Phúc được tổ chức kỉ lục Việt Nam đề cử vào top 10 làng nghề truyền thống lâu đời nhất Năm 2014, làng Vạn Phúc được công nhận là:
“Làng nghề dệt lụa tơ tằm lâu đời nhất còn duy trì hoạt động đến ngày nay”do Trung tâm sách kỉ lục Việt Nam trao tặng
Vạn Phúc còn được biết đến là làng Cách Mạng Trong kháng chiến chống Phápnới đây là an toàn khu của Trung Ương Đảng và xử ủy Bắc Kì Và nơi đây còn nuôi
và dấu nhiều người anh hùng kiệt xuất của dân tộc như Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Trường Chinh Đặc biệt, ngày 12/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã về đâylàm việc 16 ngày đêm và viết “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” ngày
19/12/1946 Nơi Bác về ở và làm việc đã được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc Gia
2.2 Ưu điểm của làng lụa Vạn Phúc
2.2.1 Về mặt tự nhiên
Đầu tiên về địa hình, làng lụa Vạn Phúc đồng nhất được ngăn cách bởi con sôngNhuệ và tuyến đường 430 Có độ cao đồng đều và tương đối bằng phẳng có độ cao