TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI BỘ MÔN KINH TẾ ***** BÀI GIẢNG MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN (Lưu hành nội bộ) Biên soạn Nguyễn Khắc Minh Hà Nội, 2015 MỤC LỤC MỤC LỤC 1 DANH MỤC BẢNG BIỂU 5 DANH MỤC HÌNH[.]
CÁC SỰ KIỆN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI
Tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội Kinh tế Mỹ năm 1989, nhà lịch sử kinh tế David S Landes đã đặt ra câu hỏi quan trọng về sự giàu có và nghèo khó: “Tại sao chúng ta giàu thế và họ thì nghèo thế?” Câu hỏi này đã thu hút sự chú ý của các nhà kinh tế trong nhiều thế kỷ và trở thành nguồn cảm hứng cho những nghiên cứu sâu sắc, bao gồm cả tác phẩm nổi tiếng của Adam Smith.
Bản chất và Nguyên nhân của Sự giàu có của các quốc gia Và chính dự báo sai lầm của
Vào đầu thế kỷ XIX, Thomas Malthus đã đưa ra những dự đoán về triển vọng tương lai của tăng trưởng kinh tế, và môn học này thường được gọi là “khoa học buồn thảm”.
Nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế từ góc độ hiện đại bắt đầu từ những năm 1950, với hai bài báo nổi tiếng của Robert Solow, nhấn mạnh vai trò của tích lũy tư bản vật chất và tiến bộ công nghệ Những năm 1960 và 1970 chứng kiến sự bùng nổ trong nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế, mặc dù một số khía cạnh của lý thuyết về thay đổi công nghệ bị chậm lại do phương pháp luận Đầu những năm 1980, Paul Romer và Robert Lucas đã khôi phục sự quan tâm của các nhà kinh tế vĩ mô đối với tăng trưởng, tập trung vào kinh tế học về "những tư tưởng" và tư bản nhân lực Romer đã mở rộng lĩnh vực kinh tế học công nghệ cho các nhà kinh tế vĩ mô, dẫn đến nhiều nghiên cứu thực nghiệm từ các nhà kinh tế như Robert Barro nhằm lượng hóa và kiểm định các lý thuyết tăng trưởng Sự quan tâm đối với cả nghiên cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm tiếp tục gia tăng trong những năm 1990.
A non-exhaustive list of notable contributors includes Moses Abramovitz, Kenneth Arrow, David Cass, Tjalling Koopmans, Simon Kuznets, Richard Nelson, William Nordhaus, Edmund Phelps, Karl Shell, Eytan Sheshinski, Trevor Swan, Hirofumi Uzawa, and Carl von Weizsäcker.
3 Romer (1994) đã cung cấp một thảo luận hay về điểm này và về lịch sử nghiên cứu về tăng tr-ởng kinh tÕ
Các bài giảng này nhằm giải thích và nghiên cứu các lý thuyết hiện đại về tăng trưởng kinh tế, giúp sinh viên có kiến thức cơ bản về kinh tế học và toán học trong 2 năm đầu của Đại học Kinh tế có thể tiếp cận nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực này.
Các bài giảng này bắt đầu bằng việc trình bày các bằng chứng thực nghiệm về sự tăng trưởng, sau đó sẽ giải thích những lý thuyết liên quan đến các quan sát thực nghiệm đó.
Cách tiếp cận nghiên cứu thiên văn học tương tự như phương pháp mà các nhà khoa học áp dụng trong các lĩnh vực khác, vì họ không thể thực hiện thí nghiệm kiểm soát để xác nhận các nguyên tắc hóa học và vật lý Thay vào đó, thiên văn học dựa vào sự tương tác giữa quan sát và lý thuyết Các nhà thiên văn quan sát các hành tinh, ngôi sao và thiên hà được sắp xếp theo cách riêng trong vũ trụ, nơi các thiên hà di chuyển độc lập và không gian dường như rất thưa thớt, chỉ thỉnh thoảng xuất hiện những khối vật chất lớn Lý thuyết, như lý thuyết Big Bang, cung cấp những giải thích chặt chẽ cho những quan sát này.
Sự tác động lẫn nhau này giữa quan sát và lý thuyết cũng được sử dụng để xây dựng các bài giảng của khoá học này
Chương thứ nhất này sẽ phác thảo những điều thường thấy trong thực nghiệm gắn với tăng trưởng và phát triển
(i) Những nước giàu giàu thế nào và những nước nghèo nghèo thế nào?
(ii) Những nước giàu và những nước nghèo tăng trưởng nhanh ra sao?
(iii) Phần còn lại của cuốn sách bao gồm các lý thuyết để giải thích các quan sát này
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ không tập trung vào các chi tiết cụ thể của từng quốc gia, mặc dù chúng rất quan trọng Thay vào đó, mục tiêu là cung cấp một khung kinh tế chung để hiểu rõ hơn về quá trình tăng trưởng và phát triển Đặc biệt, vì đây là giáo trình dành cho sinh viên Việt Nam, chúng tôi sẽ dành một phần đáng kể để thảo luận về tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.
Một điểm khác biệt quan trọng giữa thiên văn học và kinh tế học là "vũ trụ" kinh tế có thể được hình thành lại thông qua các chính sách kinh tế Khác với người thợ chế tạo đồng hồ, các nhà hoạch định chính sách kinh tế liên tục điều chỉnh quá trình tăng trưởng và phát triển Để xây dựng các chính sách hiệu quả, việc nắm vững kiến thức về tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiên quyết.
II Số liệu về tăng trưởng và phát triển
2.1 Định nghiã về tăng trưởng kinh tế
Như ta đã biết tăng trưởng kinh tế được xác định theo sự thay đổi của GDP thực tế bằng hai cách sau:
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP thực tế từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, phản ánh sự mở rộng của sản lượng tiềm năng của một quốc gia Khi đường giới hạn khả năng sản xuất dịch chuyển ra ngoài, điều này cho thấy sự phát triển kinh tế Một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tăng trưởng kinh tế là mức tăng sản lượng trên đầu người, điều này quyết định nâng cao mức sống của cư dân trong nước.
Tăng trưởng kinh tế là lượng tăng của GDP thực tế trên mỗi đầu người, tức là GDP thực tế chia cho dân số của mỗi quốc gia
Tăng trưởng kinh tế là quá trình mở rộng sự lựa chọn để thực hiện các ưu tiên xã hội trong xây dựng đất nước, nhằm tối ưu hóa phúc lợi từ nguồn lực sẵn có Điều này thường dẫn đến tăng trưởng ròng sản lượng trên đầu người trong hệ thống kinh tế, xuất phát từ việc phân bổ nguồn lực hiệu quả, quản lý tốt, cải tiến kỹ năng, tiến bộ kỹ thuật và đầu tư ròng Khi phân tích tăng trưởng kinh tế Việt Nam, chúng ta cần chú trọng đến sự gia tăng sản lượng thực tế qua thời gian.
Tăng trưởng kinh tế, được đo lường qua tăng trưởng GDP thực tế, phản ánh sự mở rộng và tầm quan trọng của nền kinh tế Tăng trưởng GDP trên đầu người cho thấy mức sống trung bình của người dân, và hai chỉ số này có thể khác nhau đáng kể Một số quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP nhanh nhưng cũng có tỷ lệ gia tăng dân số cao, dẫn đến mức sống không tăng nhiều như những nước có tăng trưởng GDP khiêm tốn hơn nhưng ổn định dân số Tăng trưởng kinh tế không chỉ góp phần vào sự thịnh vượng chung của cộng đồng mà còn cho phép tiêu thụ nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua cải thiện y tế, giáo dục và các lĩnh vực khác.
2.1.1 Thước đo của tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được đánh giá qua sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân thực tế (GDP) hoặc GDP bình quân đầu người theo thời gian.
2.1.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (Economic growth rate)
Tổng sản phẩm quốc dân (GDP) phản ánh mức thay đổi kinh tế qua tỷ lệ phần trăm trong khoảng thời gian nhất định, như quý hoặc năm Khi điều chỉnh theo lạm phát, tỷ lệ này được gọi là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thực.
Dưới dạng rời rạc ta có thể biểu diễn bằng các công thức sau:
(1) trong đó %G là tốc độ tăng trưởng của GDP năm t so với năm t-1, GDPt là GDP thực năm t
GDP Pop GDP pop g GDP pop
Tốc độ tăng trưởng của GDP đầu người năm t so với năm t-1 được biểu thị bằng %g, trong đó (GDP/pop)t là GDP thực trên đầu người vào năm t Hai công thức này có thể được diễn đạt dưới dạng liên tục.
TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM QUA HAI THẬP KỶ
I Tăng trưởng GDP thực tế và GDP thực tế/đầu người qua 2 thập kỷ
Đầu tiên, chúng ta cần khái quát về sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam thông qua hai định nghĩa đã nêu, bằng cách xem xét tăng trưởng GDP thực tế và GDP thực tế trên đầu người.
1.1 Tăng trưởng GDP thực tế
Trong gần 30 năm qua, GDP thực tế của Việt Nam đã tăng trưởng trung bình khoảng 6,6% mỗi năm Mặc dù vậy, mức tăng trưởng GDP không đồng đều qua từng năm và có những giai đoạn thăng trầm Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam từ năm 1986 đến 2013 được thể hiện rõ trong bảng 1.2 dưới đây.
Bảng 1 2 Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế thời kỳ 1986-2013
Năm Tốc độ tăng GDP Năm Tốc độ tăng GDP
Nguồn: tính toán từ số liệu của tổng cục thống kê
Tăng trưởng GDP thực tế/đầu người
Chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống của người dân một cách chính xác hơn là GDP thực tế bình quân đầu người Dựa trên số liệu từ GSO, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế hàng năm bình quân đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 1986 cho thấy sự phát triển kinh tế đáng kể.
2013 là khoảng 5% Điều này có thể thấy ở bảng 2 dưới đây:
Bảng 1 3 Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế/đầu người 1987-2013
Năm Tốc độ tăng GDP thực tế/đầu người
Năm Tốc độ tăng GDP thực tế/đầu người
Nguồn: tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê
1.2 So sánh GDP, GDP thực tế/đầu người và các chỉ tiêu cơ bản trong thời kỳ 1986-2013
Bài viết này sẽ phân tích và so sánh năm chỉ tiêu cơ bản của tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua, bao gồm: tăng trưởng GDP thực tế, tốc độ tăng dân số và việc làm, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người, cùng với tăng trưởng năng suất lao động.
Hình 1 1 Tốc độ tăng GDP, GDP đầu người, dân số, lao động và năng suất của Việt Nam 1986-2013
Nguồn: Tính toán theo số liệu của Tổng cục thống kê
Sự tăng trưởng GDP thực tế không ổn định, gia tăng trong giai đoạn bùng nổ và giảm trong giai đoạn suy thoái Nó bị ảnh hưởng bởi sản xuất các ngành chủ yếu, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên như hạn hán và môi trường kinh doanh bên ngoài Để hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng dài hạn đối với sự tăng trưởng, chúng ta cần xem xét sự phát triển kinh tế trong hơn hai thập kỷ qua bằng cách loại bỏ các giao động ngắn hạn Hình 1.2 và 1.3 minh họa kết quả của quá trình này.
Hình 1 2 So sánh tốc độ tăng GDP, GDP đầu người, dân số, lao động và năng suất
Nguồn: Tính toán theo số liệu của Tổng cục thống kê
Hình 1 3 Tốc độ tăng GDP, GDP đầu người, dân số, lao động và năng suất có hiệu chỉnh ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh
Nguồn: Tính toán theo số liệu của Tổng cục thống kê
GGDP: Tăng trưởng của GDP thực tế,
GGDP/N: Tăng trưởng của GDP thực tế/đầu người,
GDS: Tăng trưởng của dân số,
GL: Tăng trưởng của lực lượng lao động,
GNS: Tăng trưởng của năng suất lao động
Các đường thẳng trong Hình 1.2 thể hiện tốc độ tăng trưởng dài hạn của 5 chỉ tiêu đã đề cập Hình 1.3 minh họa các xu hướng dài hạn này qua các đường thẳng trên trục hoành, kèm theo các số trung bình trượt 7 năm được thể hiện theo tỷ lệ phần trăm của các giá trị xu hướng Trong hơn hai thập kỷ qua, tốc độ tăng GDP thực tế (cả tổng và trên đầu người) và việc làm đã tăng, trong khi tốc độ tăng năng suất lại giảm.
Chúng ta sẽ loại bỏ các giao động ngắn hạn và tập trung vào xu hướng tăng trưởng dài hạn của các chỉ tiêu Hình 1.2 minh họa các xu hướng dài hạn của năm chuỗi số liệu trong hơn hai thập kỷ, với tốc độ tăng trưởng theo tỷ lệ cố định được thể hiện qua các đường thẳng Tốc độ tăng trưởng hàng năm theo tỷ lệ phần trăm được biểu diễn qua năm đường thẳng trong hình 1.2.
GDP thực tế/đầu người 5,0
Do đó, GDP thực tế/đầu người tăng nhanh hơn so với năng suất lao động, phản ánh tốc độ tăng trưởng tỷ lệ với dân số lao động
Tốc độ tăng trưởng dài hạn là yếu tố quan trọng để hiểu rõ hơn về tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên, việc nắm bắt các tỷ lệ thay đổi trong một khoảng thời gian cũng cần thiết Để giảm thiểu ảnh hưởng của các dao động do chu kỳ kinh doanh, chúng ta có thể sử dụng số liệu trung bình trượt, cụ thể là trung bình 7 năm Số liệu này được tính bằng cách lấy trung bình của 7 quan sát liên tiếp, ví dụ, số liệu cho năm 1989 sẽ là trung bình của các năm 1986, 1987, 1988, 1989, 1990, 1991 và 1992.
Năm 1990 sẽ là giá trị bình quân của các năm 1987, 1988, 1989, 1990, 1991, 1992 và 1993 Hình 1b cho thấy các giá trị bình quân dao động, được tính toán theo cách này, và được so sánh với các giá trị xu hướng thể hiện bằng các đường thẳng trên trục hoành.
NHỮNG VẤN ĐỀ CỒN LẠI CẦN GIẢI QUYẾT
Ba câu hỏi trung tâm của tăng trưỏng và phát triển kinh tế được xem xét trong phần còn lại của cuốn giáo trình
Câu hỏi quan trọng đầu tiên được nêu ra là tại sao chúng ta giàu có trong khi nhiều người khác lại nghèo khó? Đây là một vấn đề liên quan đến sự phát triển kinh tế và phân phối thu nhập bình quân đầu người trên toàn cầu Chủ đề này sẽ được phân tích sâu hơn trong các chương 2 và 3, và sẽ được xem xét lại trong chương 7.
Đầu máy của tăng trưởng kinh tế là tiến bộ công nghệ, điều này giúp duy trì sự tăng trưởng sản lượng bình quân một công nhân trong hơn một thế kỷ Mỹ đã tăng trưởng với tốc độ 1,8% từ năm 1870 nhờ vào những tiến bộ này Các chương 4 và 5 sẽ phân tích lý do và cách thức mà Mỹ đạt được sự tăng trưởng bền vững Một câu hỏi quan trọng khác là làm sao các nền kinh tế như Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore và Hàn Quốc có thể nhanh chóng chuyển mình từ “nghèo” thành “giàu” sau Chiến tranh Thế giới thứ II Sự biến đổi này, giống như câu chuyện Cô bé lọ lem, là trọng tâm của tăng trưởng và phát triển kinh tế, được trình bày trong các chương 6 và 7 Chương 8 sẽ thảo luận các lý thuyết khác về tăng trưởng kinh tế, trong khi chương 9 đưa ra những kết luận tổng quát.
Các sự kiện trong chương này cho thấy rằng việc đặt ra các câu hỏi không chỉ xuất phát từ sự tò mò trí tuệ, mà còn vì các câu trả lời là chìa khóa cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng Kinh nghiệm gần đây của Đông Á chứng minh rằng sự tăng trưởng có thể biến đổi mức sống chỉ trong một thế hệ Trong Bài thuyết trình Marshall 1985, Robert E Lucas, Jr đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế cho thập kỷ tiếp theo.
Tại sao nhiều người không nhận ra rằng những con số này phản ánh những tiềm năng lớn? Liệu có hành động nào mà chính phủ Ấn Độ có thể thực hiện để thúc đẩy nền kinh tế tương tự như Indonesia hay Ai Cập? Nếu có, điều đó cụ thể là gì? Còn nếu không, yếu tố nào trong "bản chất Ấn Độ" dẫn đến tình trạng này? Những câu hỏi này không chỉ gây sốc mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến phúc lợi con người, khiến chúng ta khó có thể nghĩ về điều gì khác.
MÔ HÌNH SOLOW
GIỚI THIỆU
Năm 1956, Robert Solow công bố bài báo "Đóng góp vào Lý thuyết Tăng trưởng Kinh tế", mang lại những hiểu biết quan trọng về tăng trưởng và phát triển kinh tế, cho ông giải Nobel kinh tế năm 1987 Chương này sẽ xây dựng mô hình Solow và khám phá khả năng giải thích thực tế về tăng trưởng và phát triển đã thảo luận trong chương 1 Mô hình Solow là nền tảng quan trọng giúp chúng ta hiểu lý do tại sao một số quốc gia trở nên giàu có trong khi những quốc gia khác vẫn nghèo khổ.
Theo Solow “Tất cả lý thuyết đều dựa trên những giả thiết không hoàn toàn đúng thực tế
Nghệ thuật xây dựng lý thuyết thành công đòi hỏi việc đưa ra những giả thiết đơn giản hóa mà không làm cho kết quả trở nên quá nhạy cảm Chúng ta sẽ trình bày một số giả thiết có phần cường điệu, nhưng mục tiêu là tạo ra những giả thiết đơn giản giúp thao tác dễ dàng hơn, đồng thời không gây ra nhiều méo mó cho bức tranh thế giới mà chúng ta đang xây dựng.
Trước khi giới thiệu mô hình Solow, cần hiểu rõ mô hình kinh tế là gì và mục đích của nó Mô hình kinh tế là một sự mô tả về hệ thống kinh tế, các mối quan hệ hoặc tình trạng kinh tế, và sự mô tả này có thể được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau.
(i) Dạng miêu tả bằng ngôn ngữ hay mô phỏng hệ thống kinh tế
(ii) Dạng biểu đồ như Hình của một mô hình
(iii) Dạng toán học, biểu diễn bằng một hệ thống các phương trình trình bày mối liên hệ giữa các biến số kinh tế với nhau
Mô hình kinh tế trò chơi với các rôbốt cho thấy hành vi tối đa hóa lợi ích cá nhân của chúng, đồng thời chỉ ra những ràng buộc mà chúng phải đối mặt trong quá trình này Các rôbốt trong nền kinh tế có thể mong muốn tiêu thụ nhiều đầu ra, nhưng bị giới hạn bởi khả năng sản xuất trong điều kiện công nghệ nhất định Những mô hình đơn giản nhưng sâu sắc thường giúp ta hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của thế giới Khung phân tích cung và cầu trong kinh tế vi mô là một công cụ hiệu quả để dự đoán giá và lượng hàng hóa như y tế, máy tính và vũ khí hạt nhân trước những biến động trong môi trường kinh tế.
Để hiểu rõ cách các nhà kinh tế xây dựng mô hình, chúng ta cần làm rõ một giả thiết quan trọng: thay vì viết ra hàm lợi ích của các rôbốt trong nền kinh tế, chúng ta sẽ tóm tắt kết quả của việc tối đa hóa lợi ích theo nguyên tắc cơ bản mà các rôbốt phải tuân theo Một vấn đề phổ biến trong kinh tế học là quyết định giữa tiêu dùng hiện tại và tiết kiệm cho tương lai, cũng như việc phân bổ thời gian giữa học tập và làm việc Thay vì trình bày các bài toán một cách chính thức, chúng ta sẽ giả định rằng cá nhân tiết kiệm một tỷ lệ thu nhập nhất định và dành một tỷ lệ thời gian cho việc tích lũy kỹ năng Những đơn giản hóa này rất hữu ích, vì nếu không có chúng, các mô hình sẽ trở nên phức tạp và khó giải Đây là những giả thiết cần thiết để bước đầu hiểu về tăng trưởng kinh tế, mặc dù chúng sẽ được loại bỏ trong chương 7.
MÔ HÌNH SOLOW CƠ BẢN
2.1 Giả thiết của mô hình
(i) Trong nền kinh tế xem xét bao gồm những quốc gia chỉ sản xuất và tiêu dùng duy nhất một hàng hóa (đầu ra) thuần nhất và duy nhất
Công nghệ ngoại sinh là công nghệ mà doanh nghiệp thu nhận từ thực tiễn, không bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của chính doanh nghiệp đó, bao gồm cả nghiên cứu và phát triển (R&D).
Công nghệ trong nền kinh tế tuân theo giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô, cho phép các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả mà không bị ảnh hưởng bởi quy mô sản xuất Nền kinh tế này có sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp, đảm bảo cạnh tranh hoàn hảo và các doanh nghiệp đều là người chấp nhận giá.
(v) Lượng tư bản thay đổi K đúng bằng hiệu số giữa tổng mức đầu tư và mức khấu hao xảy ra trong quá trình sản xuất K
(vi) Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động không đổi và bằng với tỷ lệ tăng trưởng dân số
Mô hình Solow được xây dựng dựa trên hai phương trình chính: hàm sản xuất và phương trình tích lũy tư bản Hàm sản xuất mô tả cách các đầu vào như xe ủi, điều khiển bán dẫn, kỹ sư và công nhân ngành thép được kết hợp để tạo ra đầu ra Để đơn giản hóa, các đầu vào này được phân chia thành hai nhóm chính là tư bản (K) và lao động (L), với đầu ra được ký hiệu là Y Hàm sản xuất trong mô hình Solow được giả định có dạng Cobb-Douglas.
Hàm sản xuất này có hiệu quả không đổi theo quy mô, có nghĩa là nếu tất cả các đầu vào được tăng gấp đôi, thì đầu ra cũng sẽ tăng gấp đôi Trong đó, là một giá trị nằm trong khoảng từ 0 đến 1.
Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp trả lương cho nhân công (w) và thuê tư bản (r) để tối đa hóa lợi nhuận Giả định rằng có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo và họ là người chấp nhận giá Với việc chuẩn hóa giá đầu ra bằng một đơn vị, các doanh nghiệp sẽ giải bài toán tối đa hóa lợi nhuận của mình.
Năm 1928, Charles Cobb và Paul Douglas đã giới thiệu một dạng hàm trong phân tích ngành sản xuất của Mỹ Họ lý giải rằng dạng hàm sản xuất này với giá trị α rất phù hợp với dữ liệu mà không cần xem xét đến tiến bộ công nghệ.
Hàm sản xuất được xác định là có hiệu quả không đổi theo quy mô khi F(aK, aL) = aY với a lớn hơn 1 Nếu F(aK, aL) lớn hơn aY, hàm sản xuất có hiệu quả tăng dần theo quy mô Ngược lại, nếu F(aK, aL) nhỏ hơn aY, hàm sản xuất có hiệu quả giảm dần theo quy mô.
Trong kinh tế vi mô, khi hiệu quả không đổi theo quy mô, số lượng doanh nghiệp có thể tồn tại là không xác định và không được mô hình hóa.
Theo điều kiện đạo hàm bậc nhất, doanh nghiệp sẽ tuyển dụng lao động cho đến khi sản phẩm biên của lao động tương đương với tiền lương, và thuê tư bản cho đến khi sản phẩm biên của tư bản bằng với giá thuê.
Hình 2 1 Hàm sản xuất Cobb-Douglas
Lưu ý rằng wL + rK = Y, nghĩa là chi phí đầu vào tương đương với giá trị đầu ra sản xuất, dẫn đến việc không có lợi nhuận kinh tế Kết quả này thể hiện một đặc điểm chung của các hàm sản xuất có hiệu suất không đổi theo quy mô.
Trong chương 1, chúng ta đã thảo luận về mức đầu ra trên một công nhân, hay còn gọi là đầu ra trên một người Dựa trên quan điểm này, chúng ta có thể diễn đạt lại hàm sản xuất trong phương trình (2.1) thành đầu ra trên một công nhân y = Y/L và tư bản trên một công nhân k = K/L Do đó, công thức được viết lại là y = k^α (2.2).
Hàm sản xuất được mô tả trong Hình 2.1 cho thấy rằng khi tư bản trên mỗi công nhân tăng lên, các doanh nghiệp có khả năng sản xuất nhiều đầu ra hơn Tuy nhiên, hiệu quả của việc gia tăng tư bản này lại gặp phải hiện tượng giảm dần; tức là, mỗi đơn vị tư bản bổ sung cho mỗi công nhân sẽ làm tăng đầu ra, nhưng mức tăng này ngày càng giảm Điều này có thể được lý giải qua công thức y' = αk^(α-1) và y = α(α-1)k^(α-2) với 0 < α < 1.
Phương trình tích lũy tư bản trong mô hình Solow đóng vai trò quan trọng, thể hiện quá trình tích lũy vốn trong nền kinh tế.
Phương trình này, rất quan trọng và sẽ được áp dụng xuyên suốt cuốn sách, cho thấy lượng tư bản thay đổi K bằng tổng mức đầu tư sY trừ đi mức khấu hao K trong quá trình sản xuất Chúng ta sẽ phân tích ba yếu tố này một cách chi tiết hơn.
Vế trái của phương trình (2.3) biểu thị sự thay đổi liên tục theo thời gian của Kt+1 – Kt, phản ánh biến động lượng tư bản qua từng thời kỳ Để diễn đạt đạo hàm theo thời gian, chúng ta sử dụng ký hiệu chấm trên đầu.
CÔNG NGHỆ VÀ MÔ HÌNH SOLOW
3.1 Phân loại Sự tiến bộ Công nghệ Để đo ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ, chúng ta không thể không phân biệt các loại tiến bộ công nghệ vì nhờ đó mà ta mới có thể có ước lượng tốt ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ Trong các nghiên cứu lý thuyết, hai cách phân loại sự tiến bộ công nghệ phổ biến nhất được vận dụng là các cách phân loại của Hicks (1932) và của Harrod (1948) Hicks định nghĩa một phát minh “trung tính” là một phát minh mà với tỷ lệ các nhân tố cho trước, sản phẩm biên của lao động tăng cùng tỷ lệ với sản phẩm biên của vốn Harrod xác định sự tiến bộ công nghệ là “trung tính” nếu với một lãi suất không đổi, tỷ số vốn/lao động không đổi Các định nghĩa về độ chệch tiết kiệm lao động và tiết kiệm vốn được suy ra từ các định nghĩa này Sau đây ta sẽ đưa ra một định nghĩa một cách hình thức các tiến bộ công nghệ
Một hàm sản xuất động tổng quát có thể viết dưới dạng
Dấu dương của Yt cho thấy sự tiến bộ công nghệ đã xảy ra, nhưng không giải thích rõ cách thức tiến bộ này diễn ra Có thể định nghĩa hàm sản xuất động bằng cách chỉ định A = A(t), với dA/dt > 0.
Mô hình Y = F[K,L,A] (Y A > 0) mang lại ưu điểm so với phương pháp trước, cho phép biến A được coi là biến ngoại sinh hoặc nội sinh, tùy thuộc vào cách xác định A trong mô hình.
3.2 Tiến bộ công nghệ ngoại sinh trung tính
Tiến bộ công nghệ ngoại sinh trung tính kiểu Hicks
Tiến bộ công nghệ được gọi là "trung tính" kiểu Hicks khi tỷ lệ thay thế kỹ thuật biên (MRTS = MPPL/MPPK) không thay đổi tại cùng một tỷ lệ K/L Điều này có nghĩa là nếu giữ K/L không đổi và so sánh MRTS trước và sau tiến bộ công nghệ, hai MRTS sẽ trùng nhau Đặc trưng của tiến bộ công nghệ trung tính kiểu Hicks có thể được biểu diễn dưới dạng đặc biệt.
Công thức Y = A(t) F[K.L] sử dụng trung tính kiểu Hicks, trong đó F(K,L) là hàm thuần nhất tuyến tính theo các biến K và L Biến A không tác động đến tỷ lệ sản phẩm biên của K và L vì nó nằm ngoài biểu thức F(K,L).
Tiến bộ công nghệ ngoại sinh trung tính kiểu Harrod
Tiến bộ kỹ thuật được coi là trung tính kiểu Harrod khi tỷ lệ đầu ra-vốn (Y/K) không thay đổi, đồng thời giữ nguyên năng suất hiện vật biên của vốn (MPPK) Đặc trưng của tiến bộ công nghệ này có thể được biểu diễn dưới một dạng đặc biệt.
Xavier Sala-i-Martin (1990) nhấn mạnh tới điểm này
Y = F[K, A(t)L] thể hiện mối quan hệ tuyến tính giữa Y với K và A(t)L, trong đó A(t) chỉ gắn liền với L, cho thấy sự tiến bộ công nghệ này là thuần tuý gắn với lao động Khi A(t) và L kết hợp, công nghệ và lao động có thể coi là hoàn toàn thay thế cho nhau trong sản xuất Sự tách biệt của A với K giải thích tại sao tỷ số Y/K không bị ảnh hưởng khi có tiến bộ công nghệ xảy ra, dù ở cùng một mức MPPK.
Tiến bộ công nghệ ngoại sinh trung tính kiểu Solow
Kiểu trung tính thứ ba, hay trung tính kiểu Solow, phản ánh trung tính kiểu Harrod với sự thay đổi giữa K và L Hàm sản xuất được biểu diễn là Y = F[A(t)K, L], trong đó Y là hàm tuyến tính theo AK và L Để đạt được tăng trưởng thu nhập đầu người bền vững, cần bổ sung yếu tố tiến bộ công nghệ vào mô hình, dẫn đến việc thêm biến công nghệ A vào hàm sản xuất.
Công nghệ A được gọi là "Harrod trung tính" hoặc "tăng cường hiệu quả lao động", thể hiện rằng tiến bộ công nghệ xảy ra khi A gia tăng theo thời gian Điều này có nghĩa là mỗi đơn vị lao động sẽ đạt năng suất cao hơn khi mức công nghệ được cải thiện.
Một giả thiết quan trọng của mô hình Solow là tiến bộ công nghệ được coi là ngoại sinh, giống như "món quà từ thiên đường" tự động rơi xuống nền kinh tế mà không cần quan tâm đến các yếu tố khác Thay vì phân tích nguồn gốc của tiến bộ công nghệ, mô hình này tạm thời thừa nhận sự tồn tại của nó và giả định rằng A tăng trưởng với tốc độ không đổi.
Tốc độ tăng trưởng công nghệ được thể hiện qua tham số g, tuy nhiên, giả thiết này về công nghệ không thực tế Việc tìm ra cách loại bỏ giả thiết này là một trong những thành công quan trọng của lý thuyết tăng trưởng "mới", điều mà chúng ta sẽ khám phá trong các chương tiếp theo.
Phương trình tích lũy tư bản trong mô hình Solow với biến công nghệ giống như phần trước Viết lại phương trình này, chúng ta có:
Để hiểu rõ hàm ý tăng trưởng của mô hình với biến công nghệ, chúng ta cần viết lại hàm sản xuất dưới dạng đầu ra trên mỗi công nhân, được biểu diễn bằng công thức y = k^α A^(1-α).
Lấy loga rồi đạo hàm, ta có:
Công nghệ “tăng cường hiệu quả tư bản” hay “Trung tính kiểu Solow” được thể hiện qua F(AK, L), trong khi AF(K, L) đại diện cho công nghệ “Trung tính kiểu Hicks” Tuy nhiên, đối với hàm Cobb-Douglas, sự phân biệt giữa hai dạng công nghệ này không còn quá quan trọng.
Tốc độ tăng trưởng của K sẽ giữ nguyên khi Y/K không thay đổi Nếu Y/K ổn định, thì y/k cũng sẽ không thay đổi, và điều quan trọng là y và k sẽ tăng trưởng với cùng một tốc độ.
Trạng thái mà tư bản, đầu ra, tiêu dùng, và dân số tăng với một tốc độ không đổi được gọi là tiến trình tăng trưởng cân bằng
Tính hấp dẫn của việc phân tích các tình huống trong mô hình của chúng ta là một yếu tố quan trọng Chẳng hạn, theo Thực tế 5 trong chương 1, trạng thái này phản ánh nền kinh tế Mỹ.
ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH SOLOW
Mô hình Solow giải thích sự khác biệt trong thu nhập đầu người thông qua tỷ lệ đầu tư, tốc độ tăng dân số và sự khác biệt công nghệ Sự giàu có của một quốc gia so với quốc gia khác có thể được lý giải bởi việc đầu tư nhiều hơn và tốc độ tăng trưởng dân số thấp hơn, cho phép tích lũy nhiều tư bản trên mỗi công nhân, từ đó tăng năng suất lao động Chương tiếp theo sẽ phân tích giả thuyết này một cách chi tiết hơn và cung cấp dữ liệu hỗ trợ từ các quốc gia trên thế giới.
Trong mô hình Solow, sự tăng trưởng kinh tế bền vững chủ yếu đến từ tiến bộ công nghệ Nếu không có tiến bộ công nghệ, tăng trưởng đầu người sẽ dừng lại do hiệu suất của tư bản giảm dần Tuy nhiên, tiến bộ công nghệ có khả năng bù đắp cho sự giảm sút sản phẩm biên của tư bản, dẫn đến việc trong dài hạn, tốc độ tăng trưởng đầu người của các quốc gia sẽ tương đương với tốc độ tiến bộ công nghệ.
Mô hình Solow dường như không giải thích rõ ràng sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các quốc gia, ngoài việc nhấn mạnh vai trò của tiến bộ công nghệ Tuy nhiên, thông qua quá trình vận động quá độ, chúng ta có thể thấy rằng các quốc gia có thể tăng trưởng với tốc độ khác nhau so với tốc độ dài hạn Chẳng hạn, những nền kinh tế có tỷ số tư bản-công nghệ thấp sẽ tăng trưởng nhanh cho đến khi đạt trạng thái cân bằng Điều này giải thích tại sao Nhật Bản và Đức, sau Thế chiến thứ hai, lại có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn Mỹ trong 50 năm qua Tương tự, các nền kinh tế có tỷ lệ đầu tư cao như Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan cũng cho thấy sự tăng trưởng vượt trội từ sau năm 1950 Tuy nhiên, lý thuyết này có thể không áp dụng cho Hồng Kông Điều này đặt ra câu hỏi liệu các quốc gia có thể duy trì tốc độ tăng trưởng khác nhau mãi mãi hay không, và câu hỏi này sẽ được thảo luận sâu hơn trong các chương tiếp theo.
HẠCH TOÁN TĂNG TRƯỞNG VÀ SUY GIẢM NĂNG SUẤT
4 1 Số liệu về hạch toán tăng trưởng và suy giảm năng suất của một số nước trên thế giới
Trong mô hình Solow, tăng trưởng kinh tế dài hạn phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ, vì nếu không có sự cải tiến này, việc tích lũy tư bản sẽ gặp phải hiệu ứng giảm dần hiệu quả Tuy nhiên, khi có tiến bộ công nghệ, nó sẽ liên tục bù đắp cho sự suy giảm hiệu quả của tích lũy tư bản Năng suất lao động được cải thiện không chỉ nhờ vào công nghệ mà còn do việc bổ sung tư bản, tạo ra sự phát triển bền vững cho nền kinh tế.
Năm 1957, Solow đã công bố bài báo quan trọng “Thay đổi Kỹ thuật và Hàm sản xuất gộp”, trong đó ông thực hiện hạch toán đơn giản để phân tách tăng trưởng đầu ra thành các yếu tố: tăng trưởng tư bản, tăng trưởng lao động và tăng trưởng tiến bộ công nghệ Hạch toán tăng trưởng ban đầu dựa trên hàm sản xuất dạng.
Trong đó B là năng suất Hicks trung tính 22 Lấy loga và vi phân hàm hàm sản xuất, chúng ta sẽ rút ra được công thức hạch toán tăng trưởng:
Hạch toán tăng trưởng có thể được thực hiện thông qua một dạng hàm sản xuất tổng quát hơn, như B(t)F(K, L), và kết quả thu được sẽ tương tự như những phương pháp truyền thống.
Phương trình này cho thấy rằng tăng trưởng đầu ra phụ thuộc vào trung bình có trọng số của tăng trưởng tư bản và lao động, cộng với tăng trưởng của B Cụm biểu thức /B B thường được gọi là tăng trưởng năng suất nhân tố gộp hay tăng trưởng năng suất đa nhân tố Các nhà kinh tế như Solow, Edward Denison và Dale Jorgenson đã áp dụng phương pháp này để nghiên cứu nguồn gốc của tăng trưởng đầu ra.
Bảng 2 1 Hạch toán tăng trưởng cho nước Mỹ
Tăng trưởng GDP Đóng góp vào tăng trưởng của Tăng trưởng
GDP trên một công nhân
Tư bản Lao động TFP
Nguồn: Penn World Tables Mark 5.6, bản cập nhất của Summers và Heston (1991) và tính toán của tác giả
Bảng này trình bày số liệu tăng trưởng hàng năm bình quân của GDP, cùng với sự đóng góp từ tư bản, lao động và năng suất nhân tố gộp theo phương trình (2.14) Giá trị = 1/3 được áp dụng để tính toán Cột cuối cùng thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP trên mỗi công nhân nhằm phục vụ cho việc so sánh.
Sử dụng dữ liệu về đầu ra, tư bản và lao động với giá trị = 1/3 để cân đối tỷ trọng thu nhập của tư bản, một phép tính hạch toán tăng trưởng đơn giản cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP ở Mỹ từ 1960 đến 1990 trung bình khoảng 3.1% mỗi năm Trong đó, gần 1% là do tích lũy tư bản, khoảng 1.2% từ tăng trưởng lực lượng lao động, và 1.1% còn lại không phải do tăng trưởng đầu vào, được gọi là “phần dư” hay “thước đo về sự không hiểu biết của chúng ta” Tăng trưởng nhân tố gộp TFP được giải thích chủ yếu bởi tiến bộ công nghệ, theo hàm sản xuất trong phương trình (2.7).
= A 1- Cách giải thích này sẽ được tìm hiểu trong các chương sau
Bảng 2.1 cho thấy sự thay đổi trong tăng trưởng GDP và nguồn gốc của nó tại Mỹ trong những năm qua, đặc biệt là sự chậm lại của tăng trưởng năng suất vào thập niên 1970 Cụ thể, tăng trưởng GDP trên mỗi công nhân, hay năng suất lao động, đã giảm xuống chỉ còn 0.4% mỗi năm trong thập niên này, sau giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng đạt 2.2% trong thập niên trước đó.
Trong thập niên 1980, kinh tế phục hồi với mức tăng trưởng 1.5% mỗi năm, nhưng nguyên nhân của sự tăng trưởng chậm lại vẫn là một câu hỏi thú vị Mặc dù khối lượng tư bản gần như không đổi trong ba mươi năm, thậm chí có chút tăng trong thập niên 1970, lực lượng lao động lại tăng nhanh hơn, làm giảm tăng trưởng GDP trên mỗi công nhân Nguyên nhân chính dẫn đến mức năng suất tăng chậm là do sự suy giảm mạnh tốc độ tăng TFP, với "phần dư" thấp hơn nhiều trong thập niên 1970 so với thập niên 1960 và không phục hồi trong suốt thập niên 1980 Hiện tượng suy giảm năng suất này cũng diễn ra ở nhiều nước phát triển khác trong cùng thời kỳ.
Nhiều lý do đã được đưa ra để giải thích sự suy giảm năng suất, trong đó có sự gia tăng giá năng lượng vào các năm 1973 và 1979, mặc dù giá năng lượng thực tế đã giảm vào cuối những năm 1980 Một lý do khác có thể là sự chuyển dịch từ ngành sản xuất, nơi có năng suất cao, sang ngành dịch vụ với năng suất thấp hơn, điều này được hỗ trợ bởi sự phục hồi mạnh mẽ của năng suất trong ngành sản xuất vào thập niên 1980 Ngoài ra, sự giảm sút đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) vào cuối những năm 1960 cũng có thể là một yếu tố Cũng có ý kiến cho rằng sự tăng trưởng trong thập niên 1950 và 1960 có thể đã bị thổi phồng do việc áp dụng công nghệ từ thời kỳ chiến tranh Cuối cùng, một số nhà kinh tế nhấn mạnh đến cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự chuyển đổi sang sản xuất công nghệ cao, cho rằng sự bùng nổ năng suất sẽ xảy ra trong tương lai Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại vẫn chưa đưa ra được lời giải thích thỏa đáng cho sự suy giảm năng suất này.
Hạch toán tăng trưởng được áp dụng để phân tích tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế NICs như Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore và Đài Loan Từ 1960 đến 1990, tỷ lệ tăng trưởng trung bình của các quốc gia này đạt trên 5%, với Alwyn Young (1995) chỉ ra rằng phần lớn sự tăng trưởng này đến từ tích lũy nhân tố, bao gồm tăng đầu tư vào tư bản hiện vật và giáo dục, gia tăng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, và chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp Hình 2.15 minh họa cho kết quả của Young, trong đó trục tung thể hiện mức tăng trưởng đầu ra trên một công nhân và trục hoành đo mức tăng trưởng năng suất nhân tố gộp Thay vì tập trung vào tăng trưởng B, chúng ta nên chú trọng vào sự tăng trưởng của A, với gy = g A trong quá trình tăng trưởng cân bằng ở trạng thái dừng Các quốc gia sẽ nằm trên đường 45 độ khi theo đuổi quá trình tăng trưởng này.
Trong bài viết, có thể rút ra những điểm chính sau: Đầu tiên, tăng trưởng đầu ra trên mỗi công nhân ở các nước Đông Á rất ấn tượng, trong khi tăng trưởng TFP lại không nổi bật bằng; một số quốc gia như Ý, Brazil và Chile cũng ghi nhận tăng trưởng TFP nhanh Thứ hai, các nước Đông Á thường nằm cao trên đường 45 độ, cho thấy tăng trưởng đầu ra trên mỗi công nhân vượt xa tăng trưởng TFP, với Singapore là ví dụ điển hình khi có tăng trưởng TFP âm, chủ yếu nhờ vào tăng trưởng tư bản và giáo dục Do đó, tích lũy nhân tố được xem là nguyên nhân quan trọng cho sự tăng trưởng nhanh ở các nền kinh tế này, và Young cho rằng mô hình Solow có thể giải thích nhiều khía cạnh của sự tăng trưởng này.
23 Xem Paul David (1990) và Jeremy Greenwood và Mehmet Yorukoglu (1997)
24 Ấn phẩm Thu 1988 của Journal of Economics Perspective đã có một số bài báo bàn về những lời giải t hích cho sự suy giảm năng suất
4.2 Phương pháp kinh tế lượng ước lượng đóng góp của tiế bộ công nghệ trong mô hình Solow và ứng dụng vào Việt Nam
Trong bài viết này, chúng ta sẽ trình bày các mô hình ước lượng ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng sản lượng Hiện nay, có ba cách tiếp cận để ước lượng tác động của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, bài viết chỉ tập trung vào việc ước lượng hàm sản xuất gộp dựa trên lý thuyết mô hình Solow, với việc sử dụng định nghĩa tiến bộ kỹ thuật trung tính Hicks.
4.2.1.Phương pháp phương trình đơn
Phần này giới thiệu kết quả ước lượng ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế, sử dụng số liệu GDP, vốn (K), và lao động (L) của toàn bộ nền kinh tế cũng như ba khu vực: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, với số liệu tính theo giá năm 1994 Quy trình ước lượng bắt đầu bằng việc kiểm tra tính dừng của chuỗi số liệu, sau đó ước lượng các phương trình đơn Đặc biệt, việc xem xét công nghệ sử dụng trong hai thập kỷ qua có tuân theo luật hiệu quả không đổi theo quy mô hay không, cùng với việc lựa chọn công nghệ phù hợp với tập số liệu, được phân tích kỹ lưỡng Kết quả kiểm định giả thuyết cho thấy rằng hiệu quả không đổi theo quy mô không được thoả mãn, và công nghệ phù hợp với nền kinh tế là công nghệ.
CES (công nghệ có độ co giãn thay thế không đổi) Kết quả ước lượng bằng phương pháp OLS cuối cùng như sau:
Từ phương trình ước lượng, chúng ta có thể xác định độ co giãn của sản lượng theo lao động và vốn Mức thay đổi kỹ thuật trung bình đạt 1,56% mỗi năm, điều này có nghĩa là sản lượng sẽ tăng trưởng với tỷ lệ 1,56% hàng năm, ngay cả khi không có sự gia tăng về lao động và vốn.
Bảng 2 2 Ƣớc lƣợng hệ số hàm sản xuất CES
Tham số thay thế 1,260 Độ co giãn thay thế =1/(1+) 0,442
Nguồn: Tính toán của tác giả từ phương trình ước lượng
Nguồn tăng trưởng của khu vực công nghiệp (phương pháp ước lượng phương trình đơn)
Sử dụng phương pháp đã nêu để xác định dạng hàm và ước lượng tác động của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế trong các khu vực chính của nền kinh tế, đặc biệt là trong khu vực công nghiệp Mô hình phù hợp nhất được xác định là dạng Cobb-Douglas.
Nguồn tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế và khu vực công nghiệp giai đoạn 1985-
2004 (phương pháp ước lượng hệ phương trình)