1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về nuôi con nuôi một số vấn đề về luật định và thực tiễn

13 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về nuôi con nuôi một số vấn đề về luật định và thực tiễn
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 117,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề nuôi con nuôi ở nước ta cũng đã được pháp luật điều chỉnh từ lâu, nhưng cho đến nay vẫn chưa được quy định thống nhất trong một văn bản pháp luật, mà quy định lồng ghép trong Luật

Trang 1

A Nêu vấn đề.

Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội, chủ yếu liên quan đến trẻ em và xảy ra ở hầu hết các quốc gia, nên đều được pháp luật các nước điều chỉnh Tùy thuộc vào truyền thống lập pháp và nhu cầu của mỗi quốc gia mà nuôi con nuôi được điều chỉnh riêng trong một đạo luật hoặc điều chỉnh chung Luật Hôn nhân và gia đình, luật Dân sự hoặc luật trẻ em Trong nhiều năm qua, pháp luật về nuôi con nuôi ở nước ta đã đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ quyền trẻ em Việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi đã từng bước động viên, khơi dậy tinh thần nhân đạo, nhân văn của con người, góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách trong nhân dân, giúp cho nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có được mái ấm gia đình cả trong nước và ngoài nước Tuy nhiên pháp luật về nuôi con nuôi vẫn còn nhiều vấn đề bất cập cần quan tâm

B Giải quyết vấn đề.

1 Chưa có một bộ luật thống nhất.

Vấn đề nuôi con nuôi ở nước ta cũng đã được pháp luật điều chỉnh từ lâu, nhưng cho đến nay vẫn chưa được quy định thống nhất trong một văn bản pháp luật, mà quy định lồng ghép trong Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự, Nghị định của Chính phủ và các văn bản pháp luật khác Điển hình như: Trong luật hôn nhân

và gia đình năm 2000, nuôi con nuôi được điều chỉnh tại chương VIII gồm 13 điều (từ điều 67 đến điều 78) và một điều về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (Điều 105); trong bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 44 kế thừa quy định tại Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 1995 (quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi) và Điều 676 kế thừa quy định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 1995 (quy định về thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất Ngoài ra, trình tự, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi được quy định trong các Nghị định của chính phủ ( như Nghị định 83/1998/NĐ-CP trước đây và Nghị định 158/2005/NĐ-CP hiện nay về đăng ký hộ tịch; Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài…) Đã có nhiều điều luật quy định về việc

Trang 2

nuôi con nuôi, nhưng chưa có một văn bản nào thống nhất Việc này đã gây ra những khó khăn trong thực tế khi giải quyết các vụ việc liên quan đến vấn đề này Bởi không được quy định thống nhất nên khi giải quyết các tranh chấp, những người có thẩm quyền phải căn cứ vào những điều luật ở nhiều bộ luật khác nhau, nhiều nghị định khác nhau Việc này có thể sẽ gây mất thời gian, hoặc có thể không thống nhất giữa các bộ luật (quy định về xác định dân tộc theo cha mẹ nuôi hay cha

mẹ đẻ có sự thiếu thống nhất giữa luật dân sự và nghị định 158/2005/NĐ-CP) Tuy nhiên vấn đề này đang được khắc phục, dự thảo về luật Nuôi con nuôi đang được quan tâm và đã thống nhất về bộ luật này

2 Một số quy định chưa phù hợp với thực tế.

Vấn đề quy định về nuôi con nuôi không mới trong hệ thống pháp luật ở nước

ta Hiện, văn bản pháp lý điều chỉnh việc đăng ký nuôi con nuôi là Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các thủ tục nuôi con nuôi theo các quy định của Nghị định 158 đã phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập cần có sự bổ sung, sửa đổi Nghị định 83 quy định về đăng ký

hộ tịch quy định hồ sơ, thủ tục nuôi con nuôi bao gồm đơn xin nhận nuôi con nuôi, giấy thỏa thuận về việc cho và nhận con nuôi, giấy khai sinh của người nhận nuôi con nuôi, chứng minh nhân dân của người nhận nuôi con nuôi, sổ hộ khẩu gia đình Nghị định 158 đã đơn giản hóa các thủ tục của Nghị định 83, hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi chỉ còn giấy thỏa thuận, bản sao khai sinh của người được nhận làm con nuôi, biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi (trường hợp người con nuôi là trẻ bỏ rơi) Trên thực tế, liên quan đến thủ tục nhận nuôi con nuôi đối với trẻ bị bỏ rơi đã phát sinh nhiều vướng mắc khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết và người nhận nuôi con nuôi Theo quy định trẻ bị bỏ rơi để được nhận làm con nuôi thì UBND cấp xã nơi trẻ em bị bỏ rơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi

và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng Sau đó, UBND cấp xã có trách nhiệm thông báo thông tin của trẻ trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương ba lần, trong ba ngày liên tiếp để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ Hết thời hạn 30

Trang 3

ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng, nếu không tìm được cha, mẹ đẻ thì người, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh và làm thủ tục nuôi con nuôi, nếu muốn nhận trẻ làm con nuôi Quy định chung như trên nên hầu hết các UBND cấp xã thường tiến hành thông báo trên đài truyền thanh, truyền hình cấp xã, huyện mà không tiến hành thông báo trên đài phát thanh, truyền hình cấp tỉnh, thông tin về tình trạng trẻ bị bỏ rơi chỉ được thông báo trên diện hẹp Mặt khác, nếu tiến hành thông báo trên đài phát thanh, truyền hình cấp tỉnh thì cán bộ phụ trách cấp xã không biết phải thực hiện theo quy trình nào, trực tiếp đến Đài phát thanh, Đài truyền hình yêu cầu thông báo, hay chuyển thông báo qua đường bưu điện? Thời điểm phát tin thông báo là ngày nào để tính khoảng thời gian 30 ngày kể từ ngày thông báo cuối cùng như luật định cũng không rõ dẫn đến không bảo đảm các thủ tục khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi và thủ tục nhận nuôi con nuôi sau này

Ngoài ra thủ tục xác định lại dân tộc cho người con nuôi cũng tồn tại bất cập

Theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Người đã thành niên, cha đẻ và mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp: Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ trong trường hợp làm con nuôi của người thuộc dân tộc khác mà được xác định theo dân tộc của cha nuôi,

mẹ nuôi do không biết cha đẻ, mẹ đẻ là ai.” Có nghĩa là người đã thành niên, cha,

mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc của cha, mẹ đẻ trong trường hợp người con nuôi được xác định theo dân tộc của cha, mẹ nuôi và không biết cha, mẹ

đẻ là ai Pháp luật dân sự chỉ công nhận việc xác định dân tộc cho người con nuôi theo một chiều từ cha, mẹ nuôi sang cha, mẹ đẻ mà không có sự xác định dân tộc ngược lại từ cha, mẹ đẻ sang cha, mẹ nuôi Trong khi đó, khoản 2, Điều 28 Nghị định 158 lại cho phép giữa cha, mẹ đẻ và cha, mẹ nuôi được quyền thỏa thuận thay đổi phần khai về cha, mẹ đẻ sang cha, mẹ nuôi Do đó, dù thay đổi phần khai về

Trang 4

cha, mẹ đẻ sang cha, mẹ nuôi nhưng dân tộc của người con nuôi vẫn phải giữ nguyên dân tộc của cha, mẹ đẻ theo quy định của Bộ luật Dân sự mà không thể theo dân tộc của cha, mẹ nuôi Quy định về thay đổi phần khai cha, mẹ đẻ sang cha,

mẹ nuôi theo Nghị định 158 phải có sự thỏa thuận giữa hai bên cha, mẹ đẻ và cha,

mẹ nuôi, nhưng nếu một trong các bên cụ thể là cha, mẹ đẻ không đồng ý thay đổi thì giấy khai sinh, sổ đăng ký khai sinh của người con nuôi vẫn mang tên cha, mẹ

đẻ mà không có một thông tin gì cho mối quan hệ giữa người con nuôi và cha, mẹ nuôi Điều này làm ảnh hưởng đến tình cảm cũng như tâm lý của cha, mẹ nuôi Thiết nghĩ những quy định còn chưa phù hợp với thực tiễn sẽ được các cơ quan có thẩm quyền xem xét để sửa đổi nhằm đáp ứng với nhu cầu trong thực tế để những trẻ được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi không gặp phải khó khăn Hiện nay, theo quy định tại Thông tư số 01/2008/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì những người có mối quan hệ gia đình đều có quyền nhận nuôi con nuôi, chẳng hạn mẹ kế có quyền nhận con riêng của chồng, cha dượng có quyền nhận con riêng của vợ làm con nuôi, khi có

đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, việc nhận nuôi con nuôi mà làm thay đổi thứ bậc trong gia đình (như trường hợp ông, bà nhận cháu hoặc anh, chị nhận em làm con nuôi) thì không giải quyết Thực tế cho thấy, vướng mắc nảy sinh khi giải quyết việc thay đổi phần khai về cha, mẹ trong giấy khai sinh của người con nuôi Ví dụ, cháu T đăng ký khai sinh ngoài giá thú (không có tên cha trong giấy khai sinh), mẹ là A Sau đó, cha dượng của cháu T là ông C đến UBND xã xin nhận cháu T làm con nuôi Sau khi kiểm tra

hồ sơ thủ tục, cán bộ tư pháp xã tiến hành giải quyết việc nuôi con nuôi Nhưng, khi ông C yêu cầu bổ sung phần khai người cha vào bản chính giấy khai sinh của cháu T thì cán bộ tư pháp “vướng”, vì theo quy định hiện hành, có nhiều ý kiến khác nhau về việc giải quyết vấn đề này

+ Thứ nhất, giải quyết việc bổ sung phần khai người cha nuôi vào bản chính giấy khai sinh của cháu T và ghi chú “cha nuôi” trong sổ đăng ký khai sinh theo

Trang 5

quy định bổ sung hộ tịch của Nghị định 158 Tuy nhiên, đây là trường hợp nhận nuôi con nuôi, nên việc thay đổi phần khai về cha, mẹ nuôi và cha, mẹ đẻ phải tuân thủ theo quy định tại Khoản 2, Điều 28 Nghị định 158: trong trường hợp giữa cha,

mẹ đẻ và cha, mẹ nuôi có sự thỏa thuận về việc thay đổi phần khai về cha, mẹ – từ cha, mẹ đẻ sang cha, mẹ nuôi trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của con nuôi, thì UBND cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho con nuôi đăng ký khai sinh lại theo những nội dung thay đổi đó Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ “cha, mẹ nuôi” Việc đăng ký khai sinh lại phải được ghi rõ trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh trước đây Bản chính và bản sao Giấy khai sinh của con nuôi được cấp theo nội dung mới Giấy khai sinh cũ phải thu hồi Điều 28, Nghị định 158 không quy định việc bổ sung phần khai về cha, mẹ trong trường hợp nuôi con nuôi

+ Thứ hai, không giải quyết việc bổ sung tên người cha nuôi vào bản chính giấy khai sinh của cháu T, vì tại Điểm b, Khoản 3, Thông tư liên tịch số 01 hướng dẫn Nghị định 158 quy định: không giải quyết việc thay đổi phần khai về một bên cha

đẻ hoặc mẹ đẻ sang khai về cha nuôi hoặc mẹ nuôi mà giữ nguyên phần khai về mẹ

đẻ hoặc cha đẻ còn lại Do đó, nếu giải quyết việc bổ sung tên ông C vào giấy khai sinh của cháu T thì trái quy định của Thông tư 01, vì giấy khai sinh của cháu T sẽ

có nội dung của cha nuôi (ông C) và mẹ đẻ (bà A) Các ý kiến hiện chưa thống nhất, do pháp luật quy định chưa cụ thể, nên khi giải quyết các giấy tờ hộ tịch của người con nuôi, cán bộ tư pháp cơ sở gặp nhiều khó khăn

3 Khó khăn việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.

Trong dự thảo lần thứ nhất về luật Nuôi con nuôi, đã có ý kiến về vấn đề chấm dứt quan hệ sau khi phát sinh vấn đề nhận nuôi con nuôi Theo Điều 76 luật Hôn

nhân và gia đình năm 2000: “Theo yêu cầu của những người quy định tại điều 77 luật này, tòa án có thể tuyên bố chấm đứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp sau đây:

Trang 6

1 Cha mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi;

2 Con nuôi bị kết án về một trong các tội phạm xâm phạm tính mạng sức khỏe, nhân phẩm, danh sự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tài sản của cha, mẹ nuôi;

3 Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 luật này.” Hành vi tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi của cha mẹ

nuôi và con nuôi đã thành niên phải đảm bảo sự thống nhất giữa mặt chủ quan và khách quan của các chủ thể Tuy nhiên, sự tự nguyện này có thật sự cần thiết từ hai bên chủ thể (có sự thỏa thuận giữa cha mẹ nuôi và con nuôi) hay chỉ cần một bên chủ thể (hoặc bên cha mẹ nuôi hoặc bên con nuôi) Thậm chí về phía cha mẹ nuôi nếu một bên cha nuôi hoặc mẹ nuôi muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn bên kia không đồng ý thì có thể chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi hay không? Và chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với chả cha nuôi, mẹ nuôi hay chỉ với người muốn chấm dứt quan hệ đó? Đây là một vấn đề đáng quan tâm, bởi trên thực tế có rất nhiều vụ việc cha mẹ nuôi muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi nhưng người con thì không muốn Vấn đề này đã khiến tòa án rất khó xử vì không có sự thống nhất ý chí giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, lại càng không biết nên xử lý theo ý chí của bên nào Vụ việc dưới đây là một ví dụ điển hình cho vấn đề này:

Vợ chồng ông V kết hôn với nhau từ năm 1960 nhưng hiếm muộn không có con Tháng 7/1975, ông bà được một hộ lý quen biết nhận nuôi một bé trai bị bỏ rơi tại bệnh viện ngay từ khi mới chào đời Ông bà cần mẫn làm lụng, dành dụm nuôi đứa con khôn lớn Nhưng từ sau khi cưới vợ, người con trở nên trái tính trái nết, ở

lỳ ăn bám cha mẹ, không chịu đi làm, còn hay vòi vĩnh tiền bạc, khuyên bảo mãi

mà không được Tình trạng này cứ lặp đi lặp lại và kéo dài, ông bà V đành ngậm ngùi cùng nhau nộp đơn yêu cầu tòa án một quận ở thành phố Hồ Chí Minh cho chấm dứt mối quan hệ với con nuôi Ông bà nghĩ rằng việc chấm dứt như vậy cũng

Trang 7

là điều kiện pháp lý để sau này khỏi phải để lại tài sản cũng như khỏi bị mang tiếng

là “ở ác mới có đứa con nuôi bất hiếu”

Nhận đơn, tòa rất lúng túng, không biết có nên thụ lý hay không Ngay trong nội

bộ tòa cũng có nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng tòa không thể thụ lý bởi theo luật, việc chấm dứt nuôi con nuôi là việc dân sự, tòa muốn thụ lý phải có điều kiện Theo Điều 76 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tòa có thể quyết định chấm dứt nếu như có sự tự nguyện của cả hai bên cha mẹ nuôi và con nuôi Nếu không có sự tự nguyện thì sẽ giải quyết theo khoản 2 hoặc khoản 3 Điều

76 Nhưng trong trường hợp này, người con nuôi đã có đơn gửi đến tòa không đồng tình với việc ông bà V chấm dứt mối quan hệ hơn nữa, người con cũng không bị kết án, không ngược đãi, hành hạ hoặc phá phách tìa sản của cha mẹ nuôi mà chỉ không tôn trọng, thương yêu cha mẹ nuôi thôi…

Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng tòa hoàn toàn có thể thụ lý mà không cần phải xét đến điều kiện gì cả Theo các ý kiến này, Điều 76 luật Hôn nhân gia đình chỉ quy định về các trường hợp tòa quyết định cho chấm dứt nuôi con nuôi chứ không phải là điều kiện để tòa thụ lý hay không Nói cách khác, ở vụ việc này, tòa

cứ việc tiến hành thụ lý và giải quyết theo trình tự việc dân sự như bình thường mà không cần kèm theo điều kiện Vụ việc trên chỉ là một trong nhiều trường hợp xin chấm dứt mối quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi đã thành niên đang bế tắc hiện nay

Để tránh lúng túng cho các tòa cấp dưới, nhiều ý kiến đề xuất Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể

Căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi theo khoản 3 Điều 76 cũng có nhiều

vấn đề cần xem xét Khoản 3 Điều 67 quy định: “Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác”.

Khoản 5 Điều 69 quy định: “Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích

về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của

Trang 8

người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người

có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội”.

Qua các quy định trên cho thấy, khi cha mẹ nuôi có một trong những hành vi trên thì được coi là có căn cứ cho việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi Mặc

dù các quy định trên không nêu rõ những hành vi này của cha mẹ nuôi là đối với con nuôi hay đối với bất cứ người nào khác, nhưng cần phải hiểu rằng đó là những hành vi của cha mẹ nuôi đối với con nuôi trong quá trình thực hiện việc nuôi con nuôi, thì mới trở thành căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi Đây là những hành vi

có lỗi của cha, mẹ nuôi, xâm phạm một cách nghiêm trọng đến lợi ích của người con nuôi Vì vậy khi cha, mẹ nuôi có một trong những hành vi trên thì con nuôi hoặc người giám hộ của con nuôi có thể yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi Điều

76 viện dẫn đến khoản 5 Điều 69 Luật HN&GĐ năm 2000 Tuy nhiên quy định tại khoản 5 Điều 69 lại chưa rõ ràng, chưa có sự phân biệt giữa hành vi và tội phạm, quy định lẫn lộn giữa nhóm hành vi và nhóm tội phạm làm cho điều luật lủng củng, khó hiểu Điều gây ra sự khó hiểu và lủng củng trong đoạn này là ở chỗ sử dụng từ không nhất quán, xắp xếp lộn xộn giữa hành vi và tội phạm, có chỗ thì sử dụng từ

“tội” như “các tội xâm phạm tình dục trẻ em”, nhưng toàn bộ các hành vi được liệt

kê ở đoạn giữa thì lại không sử dụng từ này, nên làm cho người đọc không hiểu những hành vi đó đã bị xác định là tội phạm hay chưa, như hành vi dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em và ý cuối cùng của khoản này lại không dùng từ “tội” mà dùng từ “hành vi” ,

đó là” có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức

xã hội”…Với cách diễn đạt như vậy tại khoản 5 Điều 69 làm cho điều luật khó hiểu, khó áp dụng

Trang 9

Do đó, theo chúng tôi, cách quy định tại khoản 3 Điều 76 là chưa rõ ràng, có thể đưa tới nhiều cách áp dụng pháp luật, cách hiểu khác nhau Do đó cần quy định cụ thể, trực tiếp, theo hướng: Được coi là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi khi cha,

mẹ nuôi đã có một trong các hành vi sau: lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội; ngược đãi hoặc hành hạ con nuôi; hoặc cha, mẹ nuôi đã bị kết án mà chưa được xoá

án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh

dự của con nuôi …

4 Bất cập vấn đề chi phí và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Dự thảo về Luật Nuôi con nuôi, vẫn còn nhiều băn khoan về những quy định lệ phí nuôi con nuôi, chi phí giải quyết nuôi con nuôi cho người nước ngoài Và các khoản lệ phí trước đây không được quy định rõ ràng Khoản 2 Điều 47 Nghị định

68 có quy định: “… Người nhận con nuôi phải nộp lệ phí và làm bản cam kết về việc thông báo định kỳ 6 tháng 1 lần (theo mẫu quy định) cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Cơ quan con nuôi quốc tế về tình hình phát triển của con nuôi trong 3 năm đầu tiên, sau đó mỗi năm tiếp theo thông báo một lần cho đến khi con nuôi đủ 18 tuổi” Tuy nhiên trên thực tế thì những người nhận con nuôi phải trả các khoản lệ

phí khác nhau từ khi đăng ký nhận con nuôi Và các khoản lệ phí này không được quy định rõ ràng khiến nhiều người nghi ngờ tính minh bạch về trình tự thủ tục của pháp luật cũng như của các cơ quan có thẩm quyền Trên thực tế việc này cũng gây khó khăn với những gia đình có thu nhập không phải là cao Việc chi phí nhận con nuôi có thể làm ảnh hưởng tới thu nhập của họ, và thu nhập để lo cho người con nuôi vừa mới nhận Và điều đó hoàn có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình của những người nhận con nuôi và cho người con nuôi Vậy nên, vấn đề thu phí đối với việc đăng ký nhận nuôi con nuôi nên được làm rõ ràng, minh bạch, tránh làm ảnh hưởng đến gia đình của người con nuôi, nhằm phát huy mục tiêu bảo vệ quyền trẻ

em trong pháp luật về nuôi con nuôi Đó là chi phi giải quyết con nuôi trong nước

Trang 10

Trong dự thảo, đã có nêu ra việc thu lệ phí đăng ký nuôi con nuôi và chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài Nhưng việc cơ sở nuôi dưỡng vừa là nơi tiếp nhận trẻ, vừa nhận tài trợ từ nước ngoài, đồng thời cũng là nơi giới thiệu trẻ em dẫn đến tình trạng thiếu vô tư, khách quan, thường “nhắm” giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài nhằm hưởng lợi Đây cũng là một quy trình cần tổ chức lại, tách việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi với việc tiếp nhận tài trợ, và quản lý nhà nước

là cần thiết trong vấn đề này Nếu duy trì quy trình tổ chức này, thì sẽ không đảm bảo được quyền lợi của trẻ khi những người có nghĩa vụ không làm việc một cách khách quan, quan tâm đến lợi ích của trẻ, cố gắng tìm một mái ấm phù hợp với nhu cầu và hạnh phúc của trẻ em Vì vậy mà trong dự thảo đã chỉnh ly theo hướng quy trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, tổ chức cho từng khâu công việc Theo đó, cơ

sở nuôi dưỡng đảm đương việc tiếp nhận trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi và thông báo cho

Sở Tư pháp những trường hợp cần tìm gia đình thay thế Bộ Tư pháp làm khâu thông báo tìm người nuôi, kiểm tra xử lý hồ sơ người nhận nuôi Sở Tư pháp kiểm tra hồ sơ trẻ, giới thiệu trẻ làm con nuôi nước ngoài, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, Công an tỉnh xác minh hồ sơ trẻ bị bỏ rơi Việc phân trách nhiệm cho từng cơ quan cụ thể là một cách làm hợp lý Điều này nhằm hạn chế nghĩa vụ cũng như quyền lợi của các cơ quan có thẩm quyền khác nhau

Vấn đề về chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài cũng là một vấn đề đáng quan tâm và còn vướng mắc nhiều băn khoăn Tại sao cùng là nhận con nuôi mà người nước ngoài lại phải nộp lệ phí và chi phí, và chi phí này được tính như thế nào? Bởi ngoài lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam phải trả rất nhiều các khoản chi phí khác nhau như chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ khi được giới thiệu làm con nuôi đến khi hoàn thành thủ tục giao nhận con nuôi, xác minh nguồn gốc của người được giới thiệu làm con nuôi, giao nhận con nuôi và thù lao hợp lý cho nhân viên của cơ sở nuôi dưỡng Tuy nhiên có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này: Có người cho rằng việc quy đinh chi phí xác minh nguồn gốc của người được giới thiệu làm con nuôi

Ngày đăng: 02/10/2023, 10:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w