Qua bài viết này, ta sẽ làm rõ hơn các quy định của pháp luật hiện hành về việc mua lại cổ phần, chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần và mua lại vốn, chuyển nhượng vốn góp trong c
Trang 1A Nêu vấn đề.
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã làm thay đổi cơ bản tính chất của các quan
hệ trong kinh doanh Điều này cũng đưa đến yêu cầu phải có sự thay đổi trong luật kinh tế cho phù hợp với thực tế khách quan Quá trình kinh doanh trong giai đoạn này cũng có những thay đổi về cả chủ thể lẫn phương thức kinh doanh, cho nên các quan hệ trong quá trình này cũng có những thay đổi cơ bản Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh được tham gia rộng rãi vào các mô hình kinh doanh như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân… đặc biệt là vấn đề lưu động vốn Nhằm đáp ứng cho những người có nhu cầu muốn sở hữu vốn của công ty hay những người muốn chuyển nhượng số vốn của mình thông qua cổ phiếu trong công ty cổ phần hay vốn trong các công ty trách nhiệm hữu hạn Qua bài viết này, ta sẽ làm rõ hơn các quy định của pháp luật hiện hành về việc mua lại cổ phần, chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần và mua lại vốn, chuyển nhượng vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
B Giải quyết vấn đề.
1 Khái niệm công ty cổ phần, cổ phiếu.
- Công ty cổ phân là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cố phần, người sở hữu cổ phần gọi là
cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu Công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản sau đây Trong suối quá trình hoạt động ít nhất phải có 3 thành viên tham gia công ty cổ phần bởi đây là loại công ty đối vốn nên có sự liên kết của rất nhiều thành viên Việc quy định số thành viên tối thiểu phải có đã trở thành thông lệ quốc tế trong mấy trăm năm tồn tại của công ty cổ phần Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cố phần Giá trị mỗi cổ phần đó gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần Luật không hạn chế mỗi
Trang 2thành viên được mua tối đa bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ nhưng các thành viên
có thể thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tối đa số cổ phần mà một thành viên có thể mua Phần vốn góp của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các
cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa Người có cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật Công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty Các cổ đông chịu trách nhiệm
về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn Công ty cố phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty, được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Giá trị mỗi cổ phần do công ty quyết định và ghi vào cổ phiếu
Cổ phần của công ty cổ phần có thể tồn tại dưới hai loại là cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi Công ty phải có cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông Công ty có thể có cổ phần ưu đãi, người sở hữu cổ phần
ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi, cổ phần ưu đãi có nhiều loại như ưu đãi biểu quyết, ưu đãi cổ tức… Cổ phần phổ thông của công ty không thể chuyển đổi thành cổ phần
ưu đãi những cố phần ưu đãi thì có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông Cổ phần là căn cứ pháp lý chứng minh tư cách thành viên công ty bất kể họ có tham gia sáng lập công ty hay không
- Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Cổ phiếu là giấy tờ có giá trị chứng minh tư cách chủ sở hữu cổ phần và đồng thời là tư cách thành viên công ty của người có cổ phần Theo luật doanh nghiệp năm 2005 thì cổ phiếu có thể là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ
2 Các quy định của pháp luật hiện hành về việc chuyển nhượng cổ phần.
Trang 3a Chủ thể có quyền chuyển nhượng cổ phần.
Khoản 5 Điều 87 Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Các cổ phần được tự
do chuyển nhượng, trừ trường hợp được quy định tại các khoản 3 Điều 81 và khoản 5 điều 84 Luật này Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng văn bản theo cách thông thường hoặc bằng cách trao tay cổ phiếu Giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của
họ ký Bên chuyển nhượng vẫn là người sở hữu cổ phần có liên quan cho đến khi tên của người nhận chuyển nhượng được đăng ký vào số đăng ký cổ đông” Các trường hợp quy định trong điều luật trên bao gồm: khoản 3 Điều 81: “Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác”; khoảng 5 Điều 84: “Trong thời hạn 3 năm kể từ khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền từ do chuyển nhượng
cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác; nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trong trường hợp này, cổ đông
dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty Sau thời hạn ba năm kể từ ngày đăng ký kinh doanh các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ” Với các quy
định trên, ta có thể thấy chủ thể có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình bao gồm các cổ đông phổ thông và những cổ đông sáng lập sau khi đã hết thời hạn ba năm kể từ ngày đăng ký kinh doanh Còn các cổ đông sáng lập còn trong thời hạn ba năm kể từ ngày đăng ký kinh doanh muốn chuyển nhượng cổ phần phồ thông của mình thì phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Quy định này nhằm đảm bảo việc “sinh ra” nhiều cổ đông sáng lập của công ty nếu
cố đông sáng lập dự định chuyển nhượng cổ phần chỉ chuyển nhượng một phần cổ phần của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập Bởi Những người nhận chuyển nhượng cổ phần sẽ đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty
Trang 4Ngoài ra thì các cổ phần ữu đãi cũng được tự do chuyển nhượng trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết Những cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết thì không được chuyển nhượng cho người khác để đảm bảo sự khách quan và công bằng trong biểu quyết
b Trình tự thủ tục chuyển nhượng cổ phần.
Trên thực tế, chưa có một văn bản cụ thể nào quy định chính xác về trình tự thủ tục chuyển nhượng cổ phần Tuy nhiên, mỗi công ty thường tự đặt ra các thủ tục và mẫu văn bản chuyển nhượng cổ phần cho công ty mình Các mẫu văn bản và trình
tự thủ tục của các công ty tuy không thống nhất nhưng về cơ bản thì sẽ thông qua các bước sau: hai bên (bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng) tự thỏa thuận với nhau về việc chuyển nhượng cổ phần bằng văn bản phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành (hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hoặc giấy chuyển nhượng cổ phần); Khi làm thủ tục chuyển nhượng tại công ty, các bên liên quan xuất trình sổ chứng nhận sở hữu cổ phần, giấy tờ tùy thân và cùng xác nhận việc chuyển nhượng sở hữu cổ phần dưới sự chứng kiến của đại diện công ty; Việc chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phần chỉ được coi là hợp lệ sau khi đã được bút toán vào “sổ đăng ký cổ đông” của công ty Những giấy tờ cần thiết đối với các bên như sau: đối với cá nhân: sổ cổ đông bản gốc (chỉ yêu cầu với bên chuyển nhượng), chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, giấy ủy quyền và chứng minh nhân dân hoặc
hộ chiếu của người ủy quyền (nếu có); đối với tổ chức: sổ cổ đông bản gốc (chỉ yêu cầu với bên chuyển nhượng); giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; văn bản chấn thuận việc chuyển nhượng của Hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Điều lệ tổ chức Một số lưu ý trong vấn đề chuyển nhượng đó là trong trường hợp chỉ chuyển nhượng một số cổ phần trong cố phiếu có ghi tên thì cổ phiếu cũ bị hủy bỏ và công ty sẽ phát hành cố phiếu mới ghi nhận số cố phần đã chuyển nhượng và số cổ phần còn lại Có thể hiểu là cổ phiếu
cũ được tách ra thành hai cổ phiếu mới ghi số cổ phần còn lại và số cổ phần được chuyển nhượng và giao tương ứng cho hai bên chuyển nhượng và nhận chuyển
Trang 5nhượng Nếu bên nhận chuyển nhượng nhận một lượng cổ phiếu chiếm từ 5% trở lên vốn điều lệ của công ty thì phải làm thủ tục đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày chuyển nhượng hoàn thành
3 Các quy định của pháp luật hiện hành về việc mua lại cổ phần.
Mua lại cổ phần là một trong những biện pháp nhằm tăng cường kiểm soát công
ty và tăng giá cổ phần Có 2 trường hợp mua lại cổ phần theo quy định của pháp luật là mua lại cổ phần theo quy định của cổ đông và mua lại cổ phần theo quy định của công ty
- Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông được quy định tại Điều 90 luật
doanh nghiệp năm 2005: “Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty
có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn mười ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định về các vấn
đề nói tại khoản này; Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn chín mươi ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì cổ đông đó có thể bán cổ phần cho người khác hoặc các bên có thể yêu cầu một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Công ty giới thiệu ít nhất ba tổ chức định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng” Với quy định trên, những
cổ đông không đồng ý với quyết định của công ty về các vấn đề có ảnh hưởng đến lợi ích của mình có thể yêu cầu công ty mua lại cồ phần của mình hoặc bán lại cho người khác Đây cũng là hai cách duy nhất để rút vốn ra khỏi công ty nếu không muốn tiếp tục tham gia làm cổ đông của công ty nữa Việc bán lại cổ phần cho người khác sẽ phải tuân thủ những nguyên tắc của việc chuyển nhượng cổ phần
Trang 6như đã phân tích ở trên Công ty được cổ đông yêu cầu mua lại cổ phần phải mua lại theo đúng yêu cầu của cổ đông với giá thị trường hoặc giá theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty hoặc do thỏa thuận nhưng ko được trái với quy định của pháp luật Nếu không thỏa thuận được giá hoặc một trong hai bên không đồng ý với giá thị trường hay giá trong Điều lệ công ty thì có thể yêu cầu đến một tổ chức định giá chuyên nghiệp Công ty sẽ phải đưa ra ít nhất ba tổ chức định giá và cổ đông có quyền lựa chọn các tổ chức ấy định giá cho trị giá cổ phần của mình Quyết định của cổ đông sẽ là quyết định cuối cùng, nghĩa là khi đã có tuyên bố về giá trị của cổ phần được bán lại thì cổ đông không thể bán lại cho người khác và công ty cũng sẽ phải mua lại số cổ phần ấy với giá mà tổ chức định giá đưa ra Thủ tục mua lại cổ phần này phải được thực hiện trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của cổ đông muốn bán lại cổ phiếu
- Mua lại cổ phần theo quyết định của công ty được quy định tại Điều 91 luật
doanh nghiệp năm 2005: “Công ty có quyền mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán theo quy định sau đây: Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã được chào bán trong mỗi 12 tháng Trong trường hợp khác, việc mua lại cổ phần do Đại hội đồng cổ đông quyết định; Công ty có thể mua lại cổ phần của từng cổ đông tương ứng với tỷ lệ cổ phần của họ trong công ty Trong trường hợp này, quyết định mua lại cổ phần của công ty phải được thông báo đến tất cả cổ đông trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày quyết định
đó được thông qua Thông báo phải có tên và trụ sở công ty, tổng số cổ phần và loại cổ phần được mua lại, giá mua lại hoặc nguyên tắc định giá mua lại, thủ tục
và thời hạn thanh toán, thủ tục và thời hạn để cổ đông chào bán cổ phần của họ cho công ty Thông báo phải được gửi đến các cổ đông bằng phương thức đảm bảo đến được các cổ đông trong thời hạn nói trên” Quy định trên cho phép công ty
được mua lại các cổ phần đã bán ra nhưng không được vượt quá 30% tổng số cổ phiếu phổ thông đã bán, ngoài ra có thể mua lại một phần hoặc toàn bộ số cổ phần
Trang 7ưu đãi cổ tức đã bán Công ty có thế mua lại cổ phần dưới sự quyết định của hội đồng quản trị mỗi 12 tháng, mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại
đã được chào bán Giá mua lại cổ phần sẽ do hội đồng quản trị quyết định nhưng không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại đối với cổ phần phổ thông trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 91 luật doanh nghiệp năm 2005 Còn đối với các loại cổ phần khác thì trước tiên giá sẽ phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa người bán cổ phần và công ty Nếu không có thỏa thuận khác và Điều lệ công ty không có quy định thì giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường Trong trường hợp công ty mua lại cổ phần của từng cổ đông tương ứng với tỷ lệ cổ phần của họ trong công ty thì cổ đông đồng ý bán lại cổ phần phải gửi chào bán cổ phần của mình đến công ty trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày thông báo Chào bán phải có đầy đủ tên, địa chỉ, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc xác nhận
cá nhân hợp pháp khác; số quyết định thành lập hoặc đăng ký; số cổ phần sở hữu
và số cổ phần chào bán; phương thức thanh toán; chữ ký của cổ đông hoặc người đại diện theo pháp luật của cổ đông Chào bán phải được gửi bằng biện pháp đảm bảo đến được công ty Công ty chỉ mua lại cổ phần được chào bán trong thời hạn nói trên
Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào công ty cũng được phép mua lại cổ phần của các cổ đông mà còn phải tùy thuộc vào tình hình tài chính và khả năng thanh toán nợ của công ty sau khi mua lại số cổ phần đó Vấn đề này được quy định
tại khoản 1 Điều 92 luật doanh nghiệp năm 2005: “Công ty chỉ được quyền thanh toán cổ phần được mua lại cho cổ đông theo quy định tại các điều 90 và 91 Luật này nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác” Ngoài ra sau khi thánh
toán hết số cổ phần mua lại, nếu tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty giảm hơn 10% thì công ty phải thông báo điều đó cho tất cả các chủ nợ biêt trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thanh toán hết cổ phần mua lại Quy định này là cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán của công ty cho các chủ nợ, bảo vệ lợi
Trang 8ích hợp pháp cho các chủ nợ Bởi điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán của công ty, và trong một số trường hợp, các chủ nợ có thể có những biện pháp nhất định để đảm bảo lợi ích của mình Một số quy định cần lưu ý tại khoản 2
và khoản 3 Điều 92 luật doanh nghiệp: “Các cổ phần được mua lại theo quy định tại các điều 90 và 91 luật này được coi là cổ phần thu về và sau này thuộc số cổ phần được quyền chào bán; Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu cổ phần đã được mua lại phải được tiêu hủy ngay sau khi cổ phần tương ứng đã được thanh toán
đủ Chủ tịch hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hai do không tiêu hủy hoặc chậm tiêu hủy cổ phiếu gây ra đối với công ty” Như vậy là số cổ phần mua lại từ cổ đông thì công ty có thể đem ra
chào bán một cách hợp pháp theo quy định của luật chứng khoán Đây cũng là mục đích của công ty khi mua lại cổ phần của các cổ đông, trên thực tế có thể thấy việc mua lại cổ phần làm gia tăng lợi nhuận cho các nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu
đó Việc mua lại cổ phần sẽ giới hạn số cổ đông được chia cổ tức và lợi nhuận trên mỗi cổ phần cũng sẽ tăng lên Nếu việc thanh toán cổ phần mua lại trái với quy định tại khoản 1 Điều 92 luật doanh nghiệp năm 2005 thì tất cả cổ đông phải hoàn trả cho công ty số tiền hoặc tài sản khác đã nhận; trường hợp có cổ đông không hoàn trả được cho công ty thì cổ đông đó và tất cả các thành viên Hội đồng quản trị phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số tiền và tài sản đã trả cho cổ đông mà chưa được hoàn lại
4 Khái niệm công ty TNHH hai thành viên, vốn công ty.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình công ty gồm không quá 50 thành viên góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về cá khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình Theo Điều 38 Luật doanh nghiệp thì công ty trách nhiệm hữu hạn có những đặc điểm cơ bản sau: Là doanh nghiệp có không quá 50 thành viên trong suốt quá trình hoạt động; Công ty trách nhiệm hữu hạn là một pháp nhân; Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
Trang 9của công ty bằng tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn) Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm
vi số vốn đã cam kết góp vào công ty Như vậy, trong công ty trách nhiệm hữu hạn
có sự phân tách tài sản giữa công ty và thành viên Nguyên tắc phân tách tài sản được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm của công ty; Công
ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng; Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật
- Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình công ty đối vốn không được phát hành cổ phiếu ra thị trường để công khai huy động vốn trong công chúng Khi thành lập công ty, các thành viên phải cam kết góp vốn vào công ty với giá trị vốn góp và thời hạn góp vốn cụ thể Thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn như
đã cam kết Khi góp đủ giá trị phần vốn góp, thành viên được công ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp Giấy chứng nhận phần vốn góp có các nội dung được quy định tại khoản 4 Điều 39 Luật doanh nghiệp Trường hợp có thành viên không góp đầy đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty và thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết Người đại diện theo pháp luật của công ty, nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh (khoản 1 Điều 39 Luật doanh nghiệp) thì phải cùng với thành viên chưa góp đủ vốn liên đới chịu trách nhiệm đối với công ty về phần vốn chưa góp và các thiệt hại phát sinh do không đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết
5 Các quy định của pháp luật hiện hành về việc mua lại vốn góp và chuyển nhượng vốn góp.
- Thành viên có yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình theo quy định
tại Điều 43 luật doanh nghiệp năm 2005: “Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó bỏ phiếu chống hoặc phản đối bằng văn bản đối với quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề sau đây: Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa
Trang 10vụ của thành viên, Hội đồng thành viên; Tổ chức lại công ty; Các trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty Yêu cầu mua lại phân vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày thông qua quyết định vấn đề quy định tại các điểm a, b, và c khoản này” Khi có yêu cầu của thành
viên công ty như ở khoản trên thì công ty phải xem xét và mua lại phần vốn góp đó nếu thấy hợp lý Giá mua lại sẽ do sự thỏa thuận giữa công ty và thành viên bán xác định, nếu không thỏa thuận được thì có thể bán theo giá thị trường hoặc định giá theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty Việc mua lại vốn góp phải được thực hiện trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày công ty nhận được yêu cầu mua lại vốn góp của thành viên Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp công ty đều có thể mua lại phần vốn góp của thành viên mà còn phải tuân thủ điều kiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác Việc này để bảo vệ quyền của các chủ nợ và những người có lợi ích liên quan, bảo đảm khả năng thanh toán của công ty Nếu công ty không mua lại phần vốn vì không thỏa thuận được giá hay không đủ khả năng thanh toán đối với phần vốn góp đó thì thành viên đó có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại công ty cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên của công ty Vấn đề này còn được quy định tại khoản 3 Điều 12 nghị định
139/2007/NĐ-CP ngày 5 tháng 9 năm 2007: “Trường hợp công ty không mua lại phần vốn góp, không thanh toán được phần vốn góp được mua lại hoặc không thỏa thuận được về giá mua lại phần vốn góp như quy định tại Điều 43 của Luật doanh nghiệp thì thành viên yêu cầu công ty mua lại có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác Trong trường hợp này, việc chuyển nhượng không bắt buộc phải thực hiện theo quy định tại Điều 44 của Luật doanh nghiệp” Có
nghĩa là thành viên đó không bắt buộc phải chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên trong công ty với cùng điều kiện mà có thể chuyển nhượng cho người ngoài công ty