Trong chương này, chúng tôi trình bày về khái niệm, phân loại Kanji, phương pháp học được đút kết từ một số bài nghiên cứu của các tác giả đi trước có liên quan và trình bày về nét tương
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tuy đã cố gắng rất nhiều nhưng do chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như còn có những hạn chế về kiến thức, thời gian nghiên cứu có hạn nên bài nghiên cứu của chúng
em không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì thế, kính mong nhận được góp ý từ quý thầy/
cô để bài nghiên cứu của chúng em được hoàn thiện hơn Lời cuối cùng, chúng em xin kính chúc thầy/ cô có nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Nai, tháng 05 năm 2023
Sinh viên thực hiện đề tài
Đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô ngành Nhật Bản học, khoa Đông Phương, trường Đại học Trong suốt 4 năm học tập tại trường, chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ quý thầy cô Trong suốt thời gian qua, quý thầy cô đã dành hết tâm huyết và tri thức của mình để truyền đạt lại vốn kiến thức quý báu cho chúng em, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, chúng em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy , thầy đã dẫn dắt và chỉ bảo chúng em một cách tận tình, chu đáo nhất trong suốt quá trình thực hiện bài nghiên cứu này Chúng em xin cảm ơn thầy, nhờ có những góp ý, hướng dẫn quý báu của thầy mà chúng em đã hoàn thành một cách tốt nhất
Sau cùng, chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn sinh viên năm
3, năm 4 ngành Nhật Bản học, khoa Đông Phương, trường Đại học Nhờ các bạn tham gia khảo sát mà chúng em đã có căn cứ, số liệu khách quan để viết nên bài nghiên cứu này
Trang 2MỤC LỤC
A-PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu 8
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Đối tượng nghiên cứu 9
5 Phạm vi nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Cấu trúc của đề tài 10
B-PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG I 11
GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP HỌC KANJI QUA ÂM HÁN VIỆT 11
1.1 Khái niệm chữ Kanji (Hán tự) 11
1.2 Phân loại Kanji (Hán tự) 13
1.3 So sánh cách học Kanji (Hán tự) của người phương Tây, người Trung Quốc và người Việt Nam 13
1.4 Phương pháp học Kanji qua âm Hán Việt có sử dụng phương pháp chuyển âm 16
1.4.1 Sự hình thành và phổ biến của chữ Hán 16
1.4.1.1 Tại Việt Nam (Hán Việt) 16
1.4.1.2 Tại Nhật Bản (Hán Nhật) 21
1.4.1.3 Nét tương đồng 32
1.5 Phương pháp chuyển âm Hán Việt sang âm On đối với sinh viên Việt Nam học tiếng Nhật 33
1.5.2 Phụ âm cuối 35
1.5.3 Nguyên âm 36
CHƯƠNG II 38
GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP HỌC KANJI QUA BỘ THỦ 38
2.1 Khái niệm bộ Thủ 38
2.2 Vai trò của bộ Thủ 38
Trang 32.3 214 bộ Thủ 39
2.4 Phân biệt nghĩa của những chữ gần giống nhau qua bộ Thủ 48
Tiểu kết: 50
CHƯƠNG III 54
KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ Ý THỨC HỌC TẬP, HIỆU QUẢ HỌC TẬP CỦA HAI PHƯƠNG PHÁP TRÊN……… 54
3.1 Những lỗi sai sinh viên thường mắc phải khi học Kanji 54
3.2 Hiệu quả phương pháp học âm Hán Việt có sử dụng phương pháp chuyển âm 56
3.2.1 Đối với K20 56
3.2.2 Đối với K19 58
3.3 Hiệu quả phương pháp học bộ Thủ có giải thích Bộ 60
3.3.1 Đối với K20 60
3.3.2 Đối với K19 61
Tiểu kết: 64
3.4 Kiến nghị 67
C-PHẦN KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 71
BẢNG KHẢO SÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC HÁN TỰ (KANJI) 71
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 K19: Khóa 19 (sinh viên năm 4, ngành Nhật Bản học, trường Đại học Lạc Hồng)
2 K20: Khóa 20 (sinh viên năm 3, ngành Nhật Bản học, trường Đại học Lạc Hồng)
3 Phương pháp học qua âm Hán Việt: Phương pháp học Kanji (Hán tự) qua âm Hán Việt có sử dụng phương pháp chuyển âm
4 Kanji: Hán tự
5 Phương pháp học qua bộ Thủ: Phương pháp học Kanji (Hán tự) qua bộ Thủ có phân biệt bộ
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.3.1.1 Cách học Kanji (Hán tự) của người phương Tây 14
Sơ đồ 1.3.1.2 Cách học Kanji (Hán tự) của người Trung Quốc 15
Sơ đồ 1.3.1.3 Cách học Kanji (Hán tự) của người Việt Nam 15
Bảng 2.4 1 Phương pháp chuyển âm Hán Việt sang âm On 52
Bảng 2.4 2 50 bộ Thủ được sử dụng nhiều nhất 53
Biểu đồ 3.1 1 Phần khó học nhất khi học Kanji (Hán tự) của sinh viên K19, K20 55
Biểu đồ 3.1 2 Việc sinh viên K19, K20 bỏ qua khi học Kanji (Hán tự) 55
Biểu đồ 3.2.1 1 Phương pháp học Kanji (Hán tự) của sinh viên K20 57
Biểu đồ 3.2.1 2 Hiệu quả phương pháp học âm Hán Việt của K20 58
Biểu đồ 3.2.2 1 Phương pháp học Kanji (Hán tự) của sinh viên K19 59
Biểu đồ 3.2.2 2 Hiệu quả phương pháp học âm Hán Việt của K19 60
Biểu đồ 3.3.1 1 Hiệu quả phương pháp học bộ Thủ của K20 61
Biểu đồ 3.3.2 1 Hiệu quả phương pháp học qua bộ Thủ của K19 62
Biểu đồ 3.3.2 2 Ý thức học tập Kanji (Hán tự), ý thức về học Kanji (Hán tự) qua âm Hán Việt và qua bộ Thủ, ý thức tiêu cực về Kanji (Hán tự) của K20 63
Biểu đồ 3.3.2 3 Ý thức học tập khi học Kanji (Hán tự), ý thức về học Kanji (Hán tự) qua âm Hán việt và qua bộ Thủ, ý thức tiêu cực về Kanji (Hán tự) của K19 64
Trang 6Bảng 1: Ý thức học tập của K20 64 Bảng 2: Ý thức học tập của K19 65 Bảng 3 Điểm trung bình 3 nhóm ý thức: ý thức học tập khi học Kanji (Hán tự), ý thức học Kanji (Hán tự) qua âm Hán Việt và bộ Thủ, ý thức tiêu cực về Kanji (Hán tự) của K20 65 Bảng 4 Điểm trung bình 3 nhóm ý thức: ý thức học tập khi học Kanji (Hán tự), ý thức học Kanji (Hán tự) qua âm Hán Việt và bộ Thủ, ý thức tiêu cực về Kanji (Hán tự) của của K19 66
Trang 7A-PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình thúc đẩy mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và Nhật Bản hiện nay thì tiếng Nhật đã và đang trở nên phổ biến hơn Tiếng Nhật là một trong những ngôn ngữ khó bởi hệ thống tiếng Nhật hiện đại được viết bằng 4 loại ký tự gồm Hiragana (ひらがな), Katakana (カタカナ), Kanji (漢字) và Romaji (ローマ字) Trong đó Kanji (Hán tự) là một trong những khó khăn lớn đối với người học tiếng Nhật Bởi khi học Kanji (Hán tự) người học phải biết cách đọc, cách viết và ý nghĩa của chữ Kanji (Hán tự) đó Ngoài ra, người học còn phải nhớ số lượng lớn chữ Kanji và từ được cấu tạo từ chữ đó Theo Ishida Toshiko (1995), đối với người học tiếng Nhật ở trình độ cao cấp thì lượng chữ Hán cần nhớ là 2500 từ và 7000 từ ghép từ Hán tự đó Kanji (Hán tự) là loại chữ tượng hình với nhiều nét viết phức tạp Đối với nước sử dụng hệ thống chữ Latinh như nước ta thì việc ghi nhớ, viết Kanji (Hán tự) lại càng trở nên khó khăn hơn Hiện nay, có rất nhiếu sinh viên gặp trở ngại khi học Kanji (Hán tự) và gặp khó khăn trong việc tìm ra được phương pháp học mang lại hiệu quả Dẫn đến sự chán nản, mất đi niềm đam mê với việc học tiếng Nhật và khó có thể nâng cao khả năng tiếng Nhật của bản thân Trong đó, sinh viên ngành Nhật Bản học, trường Đại học Lạc Hồng cũng như vậy Ngay từ đầu khi học tiếng Nhật, các bạn chưa sử dụng đúng phương pháp hiệu quả và ôn tập toàn diện khiến cho việc học Kanji càng trở nên khó khăn hơn Vì thế mà có một số sinh viên có thể đọc nhưng không thể viết hay thường xuyên quên cách viết của Kanji, nhìn chữ Kanji có thể hiểu nghĩa nhưng không thể đọc và có một số không nhớ được nghĩa Hán Việt của chữ Kanji (Hán tự) Thấu hiểu được sự khó khăn của sinh viên khi học Kanji (Hán tự) nên chúng tôi đã quyết định chọn đề tài này với mong muốn tìm ra được những phương pháp mang lại hiệu quả, khiến cho người học cảm thấy thoải mái hơn và tiết kiệm được nhiều thời gian hơn khi học Kanji Thông qua đó, chúng tôi muốn truyền đạt phương pháp học này rộng rãi hơn nữa, để nhiều bạn sinh viên biết đến phương pháp này và áp dụng vào việc học của bản thân
Trang 8có trình độ tiếng khác nhau (N3, N2, N1) thông qua các câu hỏi khảo sát
Đề tài “Giới thiệu chữ Hán” của tác giả Nguyễn Đức Hùng Bài viết đã trình bày nguồn gốc du nhập chữ Hán vào Nhật Bản và Việt Nam Ngoài ra, tác giả cũng viết một cách chi tiết về cấu tạo, quy tắc viết, phân chia các bộ Thủ qua số nét
Đề tài “Vài nét về sự du nhập chữ Hán và việc sử dụng chữ Hán ở Nhật Bản” của tác giả Nguyễn Thị Oanh (Viện nghiên cứu Hán Nôm) Bài viết đã trình bày rất chi tiết,
cụ thể quá trình du nhập chữ Hán vào Nhật Bản, quá trình sử dụng, quá trình tiếp thu chữ Hán rồi Nhật hóa và phát triển thành hệ thống chữ viết như ngày nay
Ngoài ra còn có đề tài “Thực trạng và giải pháp học Kanji trình độ sơ cấp của sinh viên ngành Nhật Bản học - Đại học Lạc Hồng” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung (Nghiên cứu khoa học) Bài viết xoay quanh thực trạng học tập Kanji của các bạn sinh viên ngành Nhật Bản học, trường Đại học Lạc Hồng bằng các câu hỏi khâo sát Ngoài ra, tác giả còn
đề xuất ra một số kiến giải giúp sinh viên có phương pháp học và ôn tập Kanji phù hợp và hiệu quả hơn
Những bài nghiên cứu trên đã trở thành nguồn tài liệu tham khảo và là cơ sở để chủng tôi hoàn thành đề tài “Ý thức học Hán tự thông qua học tập bằng Hán - Việt và Bộ Thủ”
Từ đó, tiến hành khảo sát và rút ra được hiệu quả khách quan mà hai phương pháp mang đến trong việc học Kanji của sinh viên ngành Nhật Bản học, trường Đại học Lạc Hồng Trên cơ sở hiệu quả khách quan đó, chúng tôi hy vọng giúp sinh viên biết đến hai phương pháp này và áp dụng vào việc học Kanji
Trang 94 Đối tượng nghiên cứu
Nhóm tác giả lấy thực trạng việc học Kanji của sinh viên làm đối tượng nghiên cứu
và tiến hành khảo sát với sinh viên khóa 19, 20 ngành Nhật Bản học, khoa Đông phương, trường Đại học Lạc Hồng
5 Phạm vi nghiên cứu
Nhóm tác giả tiến hành khảo sát với sinh viên khóa 19, 20 ngành Nhật Bản học, khoa Đông phương, trường Đại học Lạc Hồng trong phạm vi kiến thức Kanji sơ cấp, trung cấp
và cao cấp
6 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm tác giả đã sử dụng một số phương pháp sau để hoàn thành bài nghiên cứu: Phương pháp luận: Chúng tôi đã dẫn một số dữ liệu, luận điểm, lý luận của các tác giả đã nghiên cứu trước để làm căn cứ, cơ sở và làm nền tảng cho những luận điểm trong bài nghiên cứu này
Phương pháp thu thập số liệu: Chúng tôi đã tiến hành thu thập, phân tích và tổng hợp
số liệu từ kết quả của bài khảo sát dành cho sinh viên khóa 19 và khóa 20 bằng phương pháp này, từ đó làm cơ sở để viết bài nghiên cứu này
Trang 10Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu: Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này
để tìm kiếm, thu thập và tổng hợp những tài liệu đáng tin cậy và hữu ích nhằm chứng minh hiệu quả của hai phương pháp học mà chúng tôi đưa ra Từ đó, giúp sinh viên biết và áp dụng vào việc học Kanji
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo
và bảng câu hỏi khảo sát thì đề tài được chia làm 3 chương chính như sau:
Chương 1: Giới thiệu phương pháp học Kanji qua âm Hán Việt Trong chương này, chúng tôi trình bày về khái niệm, phân loại Kanji, phương pháp học được đút kết từ một
số bài nghiên cứu của các tác giả đi trước có liên quan và trình bày về nét tương đồng giữa
âm Hán trong tiếng Nhật (Hán Nhật) và âm Hán trong tiếng Việt (Hán Việt), và đua ra phần so sánh cách học Kanji của người phương Tây, người Trung quốc, người Việt Nam thông qua sơ đồ
Chương 2: Giới thiệu phương pháp học Kanji qua bộ Thủ Trong chương này, chúng tôi trình bày về khái niệm, phân loại và phương pháp học được đút kết từ một số bài nghiên cứu của các tác giả đi trước có liên quan
Chương 3: Kết quả khảo sát về ý thức học tập, hiệu quả học tập của hai phương pháp trên Chúng tôi tiến hành khảo sát đối với sinh viên khóa 19 và khóa 20 ngành Nhật Bản học, trường Đại học Lạc Hồng Từ đó, rút ra kết luận khách quan nhất về hiệu quả mà hai phương pháp mang lại trong việc học Kanji
Trang 11B-PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP HỌC KANJI QUA ÂM HÁN VIỆT
1.1 Khái niệm chữ Kanji (Hán tự)
Hệ thống chữ viết của Nhật Bản gồm có 4 loại chữ viết: Kanji, Hiragana, Katakana
và Romaji Trong đó, Kanji (漢字- かんじ- Hán tự) là kiểu chữ viết tượng hình của người Trung Quốc Từ các chữ cơ bản ban đầu, người Trung Quốc tiếp tụng dùng Lục Thư (六書) phát triển lên thành hệ thống chữ Lục Thư (六書) gồm có chữ tượng hình (象形文字), chữ chỉ sự (指事文字), chữ hội ý (會意文字), chữ hình thanh (形聲文字) và hai cách
sử dụng chữ: chữ chuyển chú (轉注文字), chữ giả tá (假借文字) Từ cơ sở đó mà người Nhật mượn các chữ đó tạo nên chữ viết cho riêng mình để biểu âm và biểu ý Có hàng ngàn chữ Hán khác nhau và được phân loại theo 214 bộ Thủ Mỗi chữ Hán đều có ít nhất
1 bộ Thủ Nhờ bộ Thủ mà có thể phân biệt được ý nghĩ của các chữ Hán gần giống nhau Kanji trong tiếng Nhật có hai loại âm đọc là âm Onyomi (音読み- おんよみ) - âm đọc do người Nhật mô phỏng âm tiếng Trung của người Trung mà mình nghe được và âm Kunyomi ( 訓 読 み - く ん よ み ) - âm đọc cố hữu trong tiếng Nhật Trong đó, theo Wikipedia thì Onyomi được chia làm 4 kiểu đọc:
Cách đọc Go-on (呉音 - "Ngô âm" - âm của tiếng Ngô) có xuất xứ từ cách phát âm trong thời kỳ Nam - Bắc triều ở Trung Quốc hay Bách Tế ở Triều Tiên, vào thế kỷ thứ 5 -
6 "Ngô" ở đây chính là khu vực nước Ngô thời Xuân Thu hoặc nước Đông Ngô thời Tam Quốc ở Trung Quốc (đều có có trung tâm là thành phố Thượng Hải ngày nay)
Trang 12Cách đọc Kan-on (漢音 - "Hán âm" - âm của tiếng Hán) có xuất xứ từ cách phát âm trong thời kỳ nhà Đường1 vào khoảng thế kỷ thứ 7 - 9, chủ yếu lấy cách phát âm ở kinh
đô Trường An của nhà Đường làm tiêu chuẩn
Cách đọc To-on (唐音 - "Đường âm") có xuất xứ từ cách phát âm của các triều đại sau đó, như nhà Tống2 (宋) và nhà Minh3 (明) Đây là cách đọc chủ yếu được du nhập trong các thời kỳ Heian (平安) cho đến Edo (江戸) Ngoài ra còn một dạng khác là Toso-
on (唐宋音 - "Đường Tống âm")
Cách đọc Kanyo-on (慣用音 - "Quán dụng âm"- âm đọc theo thói quen) là những cách đọc ra đời do bị biến đổi, nhầm lẫn và được người Nhật chấp nhận trong ngôn ngữ của họ
1 Nhà Đường, hay Đế quốc Đại Đường, là một hoàng triều cai trị Trung Quốc từ năm 618 đến năm
907 Thành lập bởi gia tộc họ Lý, nhà Đường là triều đại kế tục nhà Tùy (581–618) và là tiền thân của giai đoạn Ngũ đại Thập quốc (907–979) Triều đại này bị gián đoạn trong thời gian ngắn từ năm 690 đến năm 705, khi Võ Tắc Thiên lên ngôi, tuyên bố sáng lập nhà Võ Chu và trở thành nữ hoàng đế chính thống duy nhất trong lịch sử Trung Quốc
2 Nhà Tống là hoàng triều cai trị Trung Quốc từ năm 960 đến năm 1279 Triều đại này được sáng lập bởi Tống Thái Tổ sau khi ông soán ngôi Hoàng đế Hậu Chu rồi kết thúc thời kỳ Ngũ đại Thập quốc Trong suốt thời gian tồn tại, nhà Tống thường xuyên xung đột với các quốc gia phương bắc là Liêu, Tây
Hạ và Kim Cuối cùng, nhà Tống bị chinh phục bởi nhà Nguyên do người Mông Cổ lãnh đạo
3 Nhà Minh, quốc hiệu chính thức là Đại Minh, là triều đại cai trị Trung Quốc từ năm 1368 đến năm
1644 sau sự sụp đổ của nhà Nguyên do người Mông Cổ lãnh đạo Nhà Minh là hoàng triều Trung Quốc cuối cùng của người Hán Mặc dù kinh đô chính Bắc Kinh đã thất thủ vào năm 1644, trước cuộc nổi dậy
do Lý Tự Thành (người thành lập nhà Đại Thuận sớm bị thay thế bởi nhà Thanh của người Mãn Châu) cầm đầu, nhiều quốc gia tàn dư được cai trị bởi những thành viên còn lại của hoàng tộc nhà Minh – gọi chung là Nam Minh – vẫn tồn tại đến năm 1662
Trang 131.2 Phân loại Kanji (Hán tự)
Trong bảng chữ cái tiếng Nhật Kanji cũng được coi là một phần của bảng chữ cái Được sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày, để giảng dạy, đặt tên cho người, địa danh hay tên danh lam, tên công ty, báo chí, thơ văn,…
Số lượng chữ Kanji được quy dịnh bởi Hiệp Hội Văn Hóa Nhật Bản là 2136 chữ và được phân chia theo 214 bộ Thủ Với khối lượng chữ khổng lồ cũng như sự kết hợp các
từ với nhau để tạo ra các từ có ý nghĩa khác nhau
Số lượng Hán tự được phân cấp ra các cấp độ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp từ trình độ sơ cấp đến trình độ cao cấp (N5~N1)
Số liệu ước lượng từ tài liệu JEE
1.3 So sánh cách học Kanji (Hán tự) của người phương Tây, người Trung Quốc và người Việt Nam
1.3.1 Sơ đồ cách học Kanji (Hán tự) của người phương Tây
Theo bài viết của Chieko Kano (30/03/2001) thì người Phương Tây học Kanji theo hai cách:
+ Cách 1: Hình dạng chữ cách đọc ý nghĩa
+ Cách 2: Hình dạng chữ ý nghĩa cách đọc
Trang 141.3.2 Sơ đồ cách học Kanji (Hán tự) của người Trung Quốc
Theo Roumei Chen và Tomohide Sakanishi (1992) thì giữa tiếng Trung và tiếng Nhật có một số nét tương đồng về Kanji (Hán tự) Khi nhìn thấy chữ Kanji (Hán tự) thì người Trung Quốc có thể hiểu được nghĩa của chữ, nhưng họ lại gặp khó khăn khi đọc Bởi Kanji gồm hai loại âm đọc là âm On và âm Kan Cả hai âm đọc trên được viết bằng chữ Hiragana và chữ Katakana Mà chữ Hiragana và Katakana là một ngoại ngữ hoàn toàn mới đối với người Trung Quốc khi học tiếng Nhật
Từ cơ sở trên chúng tôi đã hình thành nên sơ đồ học chữ Kanji của người Trung Quốc như sau:
Hình dạng chữ (1)
Cách
Hình dạng chữ (1)
Âm On (2)
Âm Kun (2)
Trang 15
Sơ đồ 1.3.1.2 Cách học Kanji (Hán tự) của người Trung Quốc Trích từ (Roumei Chen và Tomohide Sakanishi, “中国人留学生の日本語学習における 困難一漢字・ひらがな・カタカナの習熟一”, Bản tin Khoa Giáo dục Đại học Saitama (Khoa học Giáo dục), Tập 4T, Số 1 (1992), tr.37-43) 1.3.3 Sơ đồ cách học Kanji (Hán tự) của người Việt Nam Sơ đồ dưới đây là sơ dồ chúng tôi lấy trường hợp người Việt Nam khi học tiếng Nhật qua âm Hán Việt và qua bộ Thủ Gồm có hai cách học: + Cách 1: Hình dạng chữ âm Hán + nghĩa âm On, âm Kun + Cách 2: Hình dạng chữ bộ Thủ + nghĩa âm On, âm Kun
Sơ đồ 1.3.1.3 Cách học Kanji (Hán tự) của người Việt Nam
Hình dạng chữ (1)
Âm Hán
Việt + nghĩa
(2)
Âm On, âm Kun (3)
Hình dạng chữ (1)
Bộ Thủ + nghĩa (2)
Âm On, âm Kun (3)
Trang 161.4 Phương pháp học Kanji qua âm Hán Việt có sử dụng phương pháp chuyển âm
1.4.1 Sự hình thành và phổ biến của chữ Hán
1.4.1.1 Tại Việt Nam (Hán Việt)
Trong cuốn “Từ và từ vựng học tiếng Việt” năm 1978, Nguyễn Thiện Giáp xác định cách đọc Hán Việt như sau: "Cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ Hán ở Việt Nam của người Việt Nam Cách đọc đó phản ánh dạng ngữ âm của chữ Hán thời nhà Đường được dạy và học ở Việt Nam lúc bấy giờ Tất nhiên so với dạng ngữ âm của chữ Hán thời nhà Đường thì cách đọc Hán Việt cũng đã được Việt hoá ít nhiều cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt thời đó
Theo Wikimedia quá trình du nhập chữ Hán ở Việt Nam được chia làm hai giai đoạn (thời kỳ Bắc thuộc và sau thời kỳ Bắc thuộc)
Thời kì Bắc Thuộc (179TCN-938) chữ Hán bắt đầu du nhập vào Việt Nam Khi Giao Chỉ bị nhà Hán chinh phục thì tiếng Hán cũng theo chân quan lại nhà Hán sang Giao Chỉ
Từ đó, người Việt được tiếp xúc trực tiếp với tiếng Hán, trực tiếp vay mượn từ ngữ tiếng Hán Văn hóa Hán xâm nhập và chi phối sinh hoạt xã hội người Việt Nam một cách sâu đậm Về mặt ngôn ngữ, nhất là trong phạm vi triết học, chính trị và kỹ thuật thì những từ vay mượn chữ Hán được sử dụng rất nhiều
Sau thời kì Bắc thuộc, đầu thế kỷ X, từ và âm Hán Việt từ đó bị cách ly khỏi dòng chính của tiếng Hán và đi theo một hướng riêng của tiếng Việt Phần lớn kho từ vựng Hán Việt ngày nay được định hóa thuộc giai đoạn này Từ Hán Việt đã góp phần làm phong phú vốn từ của tiếng Việt, bổ túc cho những từ ngữ không có trong tiếng Việt, ngoài ra gia tăng ngữ nghĩa thêm tinh tế cho dù có sẵn những chữ thuần Việt song hành Nhu cầu dùng từ Hán Việt càng tăng cao trong thế kỷ XX, khi người Việt dùng chữ Quốc ngữ (chữ Latin) mà không muốn mất đi vốn từ vựng chữ Hán đã quen dùng trước đó, mà cách dễ nhất là dùng chữ Quốc ngữ để phiên âm các từ được viết bằng chữ Hán Ngày nay, khi muốn sử dụng một thuật ngữ mới, người ta đều có xu hướng dùng từ Hán Việt như: "lập trình", "vi mạch", "cộng hòa", "Wiki hóa", v.v
Trang 17Theo bài viết của tác giả Mã Đạt do Nguyễn Hải Hoành lược dịch thì quá trình du nhập chữ hán vào Việt Nam được chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn học tập:
Chữ Hán và Hán ngữ du nhập Việt Nam theo sự di chuyển nhân dân Trung Nguyên
cổ đại Dân tộc chủ thể của Việt Nam ngày nay – Việt tộc (Kinh tộc) từng là một nhánh của Bách Việt cổ đại, tức Lạc Việt Tương truyền vào thời đại Việt Vương Câu Tiễn, một
số người trong bọn họ đã có thể lợi dụng chữ Hán và Hán ngữ làm công cụ giao tiếp, bắt đầu lịch sử Ngô quốc và Sở quốc đi lại với nhau Năm 333 TCN, sau khi nước Sở diệt nước Việt, trong quá trình người Việt liên tục di cư về phía Nam, người Việt đã mang chữ Hán, Hán ngữ (Mân Việt ngữ) cùng văn hoá và kỹ thuật sản xuất tiên tiến đến lưu vực sông Hồng Năm 316 TCN, Tần diệt Thục, hơn 30 nghìn người bộ tộc Thục sau đó cũng dần dần di cư về phía Nam Tại đồng bằng sông Hồng, năm 257 TCN, Hoàng Tử Thục [蜀王子泮 Thục Phán] tự lập mình là An Dương Vương Người Thục một lần nữa mang chữ Hán đến lưu vực sông Hồng
Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, sau đó từng “đưa những người thường trốn tránh, người ở rể và người đi buôn” “đến đấy canh giữ” Thời Triệu Đà,
“Đồ dân” [dân di cư] từ Trung Nguyên không ngừng di cư tới sống chung với người Việt Nam Trong quá trình sinh hoạt lâu dài hôn nhân lẫn nhau và trong quá trình sản xuất, đi lại, họ cũng dần dần trở thành người Việt Nam chính cống Vì thời đó bộ tộc Việt Nam chưa có chữ viết nên chữ Hán và tiếng Hán bèn mọc rễ, nở hoa, trở nên lưu hành trong Việt tộc
Đời Hán, các quan lại địa phương vùng Giao Chỉ, Cửu Chân như Nhâm Diên, Tích Quang “mở trường học, dạy lễ nghĩa”, tiến hành truyền bá chữ Hán và tiếng Hán một cách
có ý thức, có tổ chức, có kế hoạch Qua nhiều năm hăng hái chăm lo công việc, dốc sức giáo hoá, chẳng những trừ bỏ được những hủ tục mà còn “Dạy dân dần dần có lễ nghĩa”, làm tăng số người biết chữ Hán và tiếng Hán trong Việt tộc
Từ các sự thực kể trên ta thấy, trong thời kỳ Tần Hán, chữ Hán và tiếng Hán truyền vào Việt Nam xảy ra kèm theo sự di cư dân chúng gây ra bởi chiến tranh Từ đời Tần Hán
Trang 18về sau, các đời phong kiến thống trị Trung Quốc xuất phát từ nhu cầu chính trị, kinh tế, đã không ngừng tăng cường truyền bá văn hoá Điều đó khách quan đã làm cho Việt Nam sớm tiến sang thời kỳ văn minh, rút ngắn thời kỳ mông muội
Khi chữ Hán bắt đầu du nhập Giao Chỉ, vùng này còn ở trạng thái ngu muội nguyên thuỷ Chữ Hán và văn hoá Trung Quốc truyền vào đã thúc đẩy Giao Chỉ chuyển sang xã hội văn minh Thời kỳ này là “giai đoạn học tập” chữ Hán
Giai đoạn mượn dùng:
Trong hơn 1000 năm kể từ khi chữ Hán truyền vào cho tới năm 968 Việt Nam độc lập [tức thời kỳ Bắc thuộc], các quan lại quận huyện vùng Giao Chỉ (Giao Châu, An Nam) đều do các vương triều phong kiến Trung Quốc phái đến Thái thú Giao Chỉ Tích Quang cuối đời Tây Hán, Thái Thú Cửu Chân Nhâm Diên đầu đời Đông Hán và Thái thú Giao Châu Sĩ Nhiếp thời kỳ Tam Quốc là những nhân vật nổi bật Họ ra sức đẩy mạnh dạy chữ Hán, mở trường, thực hành giáo dục văn hoá Hán, dạy lễ nghĩa, thực hành chế độ một vợ một chồng, mở rộng áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến và văn hoá vùng Trung Nguyên Các biện pháp cai trị như vậy đã thúc đẩy vùng Giao Chỉ từ chỗ ngu muội đi lên xã hội phong kiến “Thông thi thư, tập lễ nhạc” [Đọc hiểu Tứ thư ngũ kinh, tuân theo lễ nghi] Đời Đường lập An Nam Đô hộ phủ Các quan lại địa phương chú ý ra sức làm văn hoá giáo dục, dùng học thuyết Nho giáo để giáo hoá dân tục của xứ An Nam Trong các thời
kỳ lịch sử, do chiến tranh, loạn lạc mà có nhiều dân cư vùng Trung nguyên đã di chuyển đến Giao Châu Trong số này có nhiều văn nhân, danh sĩ Họ viết sách, lập chủ thuyết, truyền thụ các kinh điển Nho học Những hoạt động học thuật đó đã nâng cao trình độ văn hoá và dân trí trong vùng, có tác dụng quan trọng đối với sự truyền bá văn hoá Hán Vào đời Đường, tại xứ An Nam đã hình thành trào lưu nghiên cứu, học tập văn hoá Hán Các nhân sĩ An Nam cũng tham gia khảo thí khoa cử như các nhân sĩ Trung nguyên Khi ấy
âm đọc chữ Hán, việc sử dụng Hán ngữ và dạy Hán ngữ ở An Nam đã hình thành hệ thống hoàn chỉnh, chính quy Học giả Việt Nam Nguyễn Tài Cẩn cho biết: “Cách đọc Hán Việt (đối với chữ Hán của Việt Nam hiện nay) bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm chữ Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm được giảng dạy tại Giao Châu vào thế kỷ 8 – 9” Năm 968, Việt Nam độc lập Sau đó các triều đại phong kiến đều chủ động đẩy mạnh phổ cập và sử
Trang 19dụng chữ Hán, học văn hoá Hán tiên tiến để phục vụ sự cai trị của mình Thời kỳ này là
“giai đoạn mượn dùng” chữ Hán của Việt Nam
Giai đoạn phỏng tạo:
Khi tìm hiểu lịch sử sử dụng chữ Hán của Việt Nam, không thể bỏ qua lịch sử sử dụng chữ Nôm Vào giữa thế kỷ 10, Việt Nam thoát khỏi ách cai trị phong kiến của Trung Quốc, xây dựng quốc gia tự chủ Tuy Việt Nam luôn giữ mối “quan hệ chính quốc – phiên quốc” với các vương triều Trung Quốc và sử dụng chữ Hán, nhưng cùng với sự không ngừng thức tỉnh và trỗi dậy về ý thức dân tộc và ý thức quốc gia, nước này luôn luôn có ý
đồ sáng chế chữ viết của mình Việc họ làm ra và sử dụng chữ Nôm là một chú giải tốt nhất của tâm trạng đó
Chữ Nôm là nói “Chữ Việt Nam được làm ra trong những năm mượn dùng chữ Hán,
vì để viết tiếng Việt mà mượn dùng chữ Hán và bắt chước hình thức chữ Hán” Chữ Nôm tức là “chữ viết của nước Nam” Người sáng tạo chữ Nôm dùng các phương pháp hội ý, giả tá, hình thanh trong “Lục thư” làm phép tạo chữ Chữ Nôm gồm chữ Hán mượn để viết tiếng Việt và chữ Việt Nam tự sáng tạo Chữ Hán mượn dùng chỉ mượn âm không mượn nghĩa Chữ tự tạo thì hoàn toàn mô phỏng kết cấu của chữ Hán, thường ghép hai chữ Hán thành một chữ Nôm, một bên biểu thị ngữ âm, một bên biểu thị ý nghĩa; có thể nói là vật thứ sinh [nguyên văn: diễn sinh] tại Việt Nam của chữ Hán Hán ngữ đã có cống hiến cực lớn vào việc hình thành và làm giàu ngôn ngữ quốc gia chính thức mà Việt Nam đang sử dụng – Việt ngữ Latin hoá Ít nhất có 60% từ vựng tiếng Việt là mượn từ Hán ngữ; sử gia Việt Nam Văn Tân cho rằng tỷ lệ này lên tới 70%
Chữ viết là sản phẩm của sự phát triển xã hội đến một giai đoạn nhất định, “Nó tích
tụ lắng đọng kết cấu văn hoá tâm lý của một dân tộc, phản ánh quan niệm tư duy của những người làm ra chữ viết, là sự chiếu rọi của lịch sử trên bình diện một thời đại” Sự xuất hiện chữ Nôm phản ánh tâm trạng của tầng lớp sĩ đại phu phong kiến Việt Nam mong muốn độc lập với Trung Quốc về văn hoá Thế nhưng qua việc xem xét lịch sử phát triển văn học chữ Nôm, chúng tôi thấy thứ sản phẩm “dùng chữ tạo chữ” này đã thất bại
Trang 20Văn học chữ Nôm ra đời vào thế kỷ 13, hưng thịnh vào thế kỷ 18, trải qua quá trình phát triển gian nan quanh co hơn 5 thế kỷ Kể từ ngày xuất hiện, chữ Nôm hầu như chưa nhận được sự thừa nhận và coi trọng của các vương triều Việt Nam Cho dù triều nhà Hồ (1400 – 1407) và triều Nguyễn Tây Sơn (1771 – 1792) có thừa nhận và coi trọng chữ Nôm,
Hồ Quý Ly còn hạ lệnh dịch các thư tịch Hán ngữ thành chữ Nôm, ba anh em họ Nguyễn [Tây Sơn] trong quá trình khởi nghĩa và sau khi lập triều đình đều đã đưa chữ Nôm lên địa
vị chữ viết chính thức Nhưng tiếc rằng triều nhà Hồ và triều Tây Sơn đều là những vương triều đoản mệnh, không kịp và không thể trong thời gian cai trị (7 và 20 năm) có thể phát huy rực rỡ vai trò của chữ Nôm Hoàng đế Minh Mạng nhà Nguyễn (1820 – 1841) sau khi lên ngôi từng ra chiếu thư cấm dùng chữ Nôm, nhất loạt lấy “Tự điển Khang Hy” làm tiêu chuẩn, sử dụng chữ Hán chính xác để viết lách Chiếu thư này nhằm chấm dứt tình trạng giới sĩ phu trong xã hội khi viết văn bản thường viết chen chữ Nôm lẫn với chữ Hán Thời kỳ Việt Nam sử dụng chữ Nôm là “giai đoạn phỏng tạo” chữ Hán
Giai đoạn sáng tạo
Công cuôc Latin hoá tiếng Việt bắt đầu vào thế kỷ 16 – 17 Thời đó, các nhà truyền giáo châu Âu xuất phát từ nhu cầu truyền bá giáo lý Ki-tô giáo và khai thác thuộc địa, bắt đầu sử dụng chữ cái Latin để ghi chú các phát âm của tiếng Việt Về sau họ dần dần mở rộng, hoàn thiện, mở màn giai đoạn Latin hoá tiếng Việt Thập niên 30 thế kỷ 17, giáo sĩ người Pháp Alexander de Rhodes (1593 – 1660) làm ra phương án phiên âm Latin đầu tiên cho tiếng Việt - chữ Quốc ngữ Năm 1651, tại Rome, ông xuất bản “Từ điển Việt –
Bồ – La”, được coi là sự mở đầu công cuộc phiên âm Latin hoá tiếng Việt Từ đó chữ viết Latin hoá của Việt Nam trở thành một công cụ nữa để người Việt Nam thu nhận tri thức văn hoá Nhưng mãi đến năm 1935, Chính phủ Việt Nam [triều đình Huế] dưới quyền cai trị của thực dân Pháp mới chuẩn y cho các nhà trường dùng chữ viết phiên âm để giảng dạy, và năm 1936 ra lệnh chính thức bỏ chữ Hán Tháng 9 - 1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà do Chủ tịch
Hồ Chí Minh đứng đầu chính thức xác định chữ viết phiên âm là chữ viết chính thức của Nhà nước Việt Nam
Trang 21Việc sử dụng phổ biến loại chữ viết mới này, về hình thức dường như đã quét sạch dấu vết của văn hoá Hán, nhưng trên thực tế, ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc đối với Việt Nam vừa sâu sắc vừa lâu dài, một mệnh lệnh ban ra tuyệt đối không thể xoá bỏ được ảnh hưởng đó Cho tới nay, trong ngôn ngữ của nhân dân Việt Nam vẫn còn có nhiều từ Hán ngữ; trong tập quán sinh hoạt và phong tục xã hội của dân Việt Nam còn giữ lại nhiều truyền thống của dân tộc Hán; trong giới trí thức và nhà cách mạng Việt Nam cận - hiện đại còn có nhiều người tinh thông Hán ngữ như: Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Hoàng Văn Hoan đều có trình độ Hán văn rất cao
1.4.1.2 Tại Nhật Bản (Hán Nhật)
Theo bài viết của tác giả “ Nguyễn Thị Oanh” thì nguồn gốc du nhập và phát triển chữ Hán tại Nhật Bản đã được người Trung Quốc ghi lại trong sách vở là vào khoảng giữa thế kỷ 1, một tiểu quốc đầu tiên đã được hình thành ở miền Bắc đảo Kyushu Sách Hán thư chép “Trong biển Lạng Lãng có người Nuynô, chia làm hơn trăm nước” Tuy nhiên người Nhật Bản biết đến Trung Quốc sớm hơn, từ thế kỷ 3 (TCN) (theo Sơn hải kinh) Nhưng mãi tới đời Hậu Hán, người Nhật Bản cổ đại mới có điều kiện tiếp xúc với chữ Hán qua chiếc ấn vàng trên khắc dòng chữ “Hán ủy nô quốc vương ấn” (漢委奴國王) do vua Hán ban tặng cho quốc vương nước Nô4 Ở Trung Quốc vào thời Lục triều, người ta làm những chiếc ấn bằng phiến đá nhỏ, trên có khắc lời bùa chú của đạo giáo để phát cho mọi người Từ ngày xưa người ta đã có ấn tượng về một vật “như là văn tự” nhưng mang
uy quyền, và sức mạnh Họ cho rằng nếu mang một ấn vàng hoặc một trát trên có khắc bùa chú thì bản thân như có sức mạnh kỳ lạ Vì vậy các vương triều Trung Quốc đối với các nước chư hầu Xung quanh mình từ xa xưa đã ban tặng ấn vàng ấn bạc, tiến hành cái gọi là “ấn thụ sắc phong” để dễ bề phụ dụ dân các nước chư hầu Đến thế kỷ thứ 3 vua Ngụy theo lệ ban ấn cho nữ vương nước Oải
Theo Oải nhân truyện (委人傳) (Oải đọc là Noải hoặc Nụy, chỉ người Nhật Bản hoặc giống người lùn thấp), khoảng thế kỷ thứ 3, thời đó Nữ vương Himako nước Yamato (耶
4
Chữ Oải nô (委奴) âm Nhật đọc là wana
Trang 22馬臺) lợi dụng việc bói toán đồng cốt, tiếp xúc với nhiều thổ hào, liên kết các bộ tộc, lấy quận Đới Phương của Ngụy làm đất trung gian, vì vậy giữa Oải và Ngụy đã có nhiều cuộc tiếp xúc đi lại với nhau Tuy nhiên Trung Quốc và Nhật Bản thực sự có quan hệ có lẽ từ thời Tống Theo sử sách ghi chép có khoảng 10 cuộc tiếp xúc giữa Tống và Oải từ năm Vĩnh Sơ thứ 2 (421) thời Tống Vũ Đế, đến năm Thăng Minh thứ 2 (478) thời Tống Thuận
Đế Từ đầu thế kỷ thứ 5, Nhật Bản đã có ý dòm ngó sang bán đảo Triều Tiên và cuộc xâm lăng Triều Tiên bắt đầu Theo truyền thuyết vua O zin (應神) 5đã đưa đại quân đi chinh phạt, cướp bóc và bắt rất nhiều nhân viên kỹ thuật của Triều Tiên đưa về Nhật Bản Trong các năm đó vua Oải tự xưng mình là An Đông tướng quân Oải quốc vương (安東將軍委
國王), là người cai quan tối cao các công việc binh nhung ở 6 nước bao gồm: Oải (委), Bách Tế (百濟), Tân La (新羅), Nhậm Na (任那), Tần Hán (秦韓), Mộ Hàn (慕韓) Vua Oải là Yuryaku (雄略)6 năm 478 gửi bức thư dài cho vua Tống trình bày lý do phải đưa quân đi đánh Cao Lệ Chúng ta có thể xem một đoạn trong bức thư này
… 對國偏遠、作藩于外、自昔祖禰躬 擐 甲 冑、跋涉 山 川 、 不 遑 寧 處 、
東 征 毛 人 五 十 五 國 。 西服眾夷六十六國、渡平海北九十五國…
“ Đối mặt với phương xa, quy phục chư hầu, bái phục áo giáp của tổ tiên, vượt núi vượt sông, không buông hòa bình, tiến về phía đông đến năm mươi lăm nước Mao Chinh phục sáu mươi sáu vương quốc ở phía Tây và vượt qua chín mươi lăm vương quốc ở Bắc Bình Hải ”
Đây là bức thư viết bằng chữ Hán theo thể văn biền ngẫu, đã được Thẩm Ước (沈約) 7gia công lại rất nhiều Nhưng dù sao đây cũng là bức thư dài của vua Oải gửi vua
5 Thiên hoàng Ojin: Thiên hoàng đời thứ 15, tên là Homutawake
6 Thiên hoàng Yuryaku: Thiên hoàng đời thứ 21, ở ngôi từ nửa thế kỷ V
7 Thẩm Ước: Tác giả sách Tống thư
Trang 23Tống, đã cho ta thấy ở Nhật Bản từ thế kỷ thứ 5 chữ Hán đã được coi là công cụ chính thức trong việc bang giao với đại lục
Sau các cuộc chinh phạt Triều Tiên của vua Oải, nhiều người Triều Tiên cũng như người Trung Quốc đã bị bắt đưa về Nhật Bản Theo sử sách ghi chép thì ông tổ nghề tằm tang, dệt vải và rèn kiếm đều là người Hán Đây là những “quy hóa nhân” đầu tiên thời sơ
kỳ Họ đều được coi là những người truyền bá lại kỹ thuật và văn hóa Trung Quốc Thủ lĩnh của họ được triều đình Yamato ban cho địa vị gọi là Tomono miyatsuko (伴造)8, lại được quy hóa nhân ủng hộ, họ đã thành lập các nghiệp đoàn, phân công nhau đảm đương các nghề thủ công và làm thư ký ghi chép Lúc đó ngoài việc truyền bá công nghệ như nghề làm đá quý, làm gươm, làm gương…, việc ghi chép sử cũng được chú ý “Đầu tiên đặt nhân viên chép sử ở các nước để ghi chép ca dao ngạn ngữ, biểu đạt ý chí của bốn phương”9, tuy những điều chép ra không được coi là sự thật lịch sử để đời sau ghi chép tiếp, nhưng việc đặt các cơ quan chép sử như Tạng sử (藏史) (Kura no fuhito), Mã sử (馬史) (Umano fuhito), Thuyền sử (船史) (Funa no fuhito) đã phản ánh đúng yêu cầu bức thiết đương thời và việc ghi chép đã được thực dụng hóa ở Nhật Bản
Những người mang kỹ thuật mới đến cũng là người thuộc phái khai minh, họ là những sứ giả mang văn minh lục địa đến cho người quần đảo Khoảng giữa thế kỷ thứ 6, cùng với việc tăng cường học tập các kỹ thuật mới, kinh Phật và sách vở Nho giáo cũng được đưa sang từ Bách Tế Ở triều đình Yamato lúc đó trực tiếp điều hành đất nước là các Đại Omi và Muraji là những người đứng đầu các gia tộc và các Tomono miyatsuto Gián tiếp cai trị là các Omi có thế lực ở địa phương Lúc đó dòng họ Soga (蘇我) là một hào
Trang 24tộc lớn thời Asuga (飛鳥) đã củng cố ảnh hưởng của họ bằng cách gả con gái cho các hoàng tử, sau khi trở thành ngoại thích của nhà vua, thế lực mỗi ngày một lớn mạnh Các thủ lĩnh Tomono miyatsuko thuộc các thế hệ Tomono miyatsuko cũ do thất bại trong cuộc ngoại giao với Triều Tiên, thế lực ngày một sa sút Sau khi Thiên hoàng Yomei (用明)10, mất, nhà Monotabe (物部) cũng là một tộc lớn thời bấy giờ, và là tộc có tư tưởng bài trừ Phật giáo quyết liệt, đã đấu tranh một mất một còn với nhà Suga trong việc đưa ai lên thừa kế ngôi vị, nhưng cuối cùng đã thất bại Monotabe bị giết, Soga Umanoko (蘇我馬子) ám sát Thiên hoàng Sujun (崇峻) 11lập cháu gái của ông ta là Nukatabe Đây chính
là Nữ hoàng Suiko (推古)12 Sau Nữ hoàng Suiko lập Shotokutaishi13 (聖德大子) người được coi là thông minh, con của Thiên hoàng Yomei lên nhiếp chính Bắt đầu một nền thống trị gồm hai thủ lĩnh Suga Umanoko và Thái tử Shotoku Họ một mặt tiếp thu văn hóa Phật giáo, thành lập chế độ hành chính quan liêu thay cho các Tomono miyatsuko, hạn chế bớt quyền lực của các hào tộc, coi trọng tư nhân, trực tiếp cai trị với khẩu hiệu
“Công dân của thiên hạ” Năm 645 với cải cách Taika (大化) quyền lực về thực chất đã thay đổi Các Okimi đã trực tiếp cai trị thay sự cai trị gián tiếp của thổ hào trước đây Chế
độ nhà nước trung ương tập quyền từng bước được củng cố
Sau khi nẩy sinh chế độ quan chế thời Bắc Ngụy, tùy và đi tới chỗ khai hoa của chế
độ quân điền chế thời Đường, dưới triều đại của Nữ hoàng Suiko việc học tập chế độ quan
10 Thiên hoàng Yomei: Thiên hoàng đời thứ 31, tên là Tachibananotoyhi Ở ngôi từ năm 585-587
11 Thiên hoàng Sushun: Thiên hoàng đời thứ 33, tên là Hatsusebe, ở ngôi từ năm 587-592
12
Nữ hoàng Suiko: Thiên hoàng đời thứ 33, tên là Toyomikekashiki yahime, Nữ hoàng đầu tiên của Nhật Bản Bà là con gái thứ 3 của Thiên hoàng Kimei Sau khi lên ngôi bà đưa Thái tử Shotoku lên nhiếp chính, cùng với Thái tử chế định chế độ quan vị 12 bậc, ban bố 17 điều hiến pháp Bà ở ngôi từ năm 592-628
13
Thái tử Shotoku: Con trai của Thiên hoàng Yomei, tên là Yumayado Ông ra nhiếp chính với tư cách là Hoàng thái tử của nữ hoàng Suiko Ông là người thông minh, ham học, từ thuở nhỏ ông đã thông thạo cả Hán học và Phật học Ông là người sáng lập Phật giáo ở Nhật Bản và giúp cho Phật giáo phát triển Dưới thời của ông rất nhiều chùa chiền được xây dựng Ông còn là tác giả cuốn Tam kinh nghĩa sớ Sinh thời ông thích thú rất nhiều kinh điển Phật giáo Ông cùng với Nữ hoàng Suiko chế didnhj 12 bậc quan vị và 17 điều hiến pháp Ông ở ngôi từ năm 574 đến 622
Trang 25lại của Trung Hoa không thể chờ các quy hóa nhân mang lại, cùng với những tiến bộ vượt bậc trong kỹ thuật làm thuyền, người Nhật Bản đã có thể trực tiếp tiếp xúc với Trung Quốc bằng đường thủy, không cần qua trung gian Triều Tiên Theo sử sách ghi chép, từ năm Suiko thứ 10 (600) Nhật Bản đưa sứ giả sang Tùy Năm Yomei (舒明) thứ 2 (630) lần đầu tiên cử sứ giả sang Đường Năm Yomei thứ 12 (640) các lưu học sinh Nhật từ Trung Quốc trở về Trong số đó có cả người Trung Quốc, họ đã góp phần tích cực trong công cuộc cải cách Taika năm 645
Lúc này việc bang giao giữa Nhật và Đại lục trở nên nhộn nhịp, các sứ giả đi lại như con thoi Vua Nhật Bản cũng tự coi mình ngang hàng với hoàng đế Trung Quốc Trong bứct hư gửi nhà Tùy năm 607, Thái tử Shotoku viết: 日出處天子致書日沒處天子。無
羕 (Thiên tử nơi mặt trời mọc gửi Thiên tử nơi mặt trời lặn Chúc sức khỏe) Do trực tiếp tiếp xúc với Trung Quốc nên kinh điển Phật giáo, sách vở Nho giáo tràn đầy vào Nhật Bản Năm Hakuchi (白雉) thứ 2 (651) tại chùa Kawahara tập trung khoảng 2100 sư ni chép kinh Nhất thiết Do sự đỡ đầu của nhà vua và một số gia tộc lớn lúc đó, Phật giáo phát triển mạnh Người ta xây nhiều chùa chiền và cho sao chép một số kinh thịnh hành để phân phát cho các chùa, đích thân nhà vua cũng chép kinh và được đặt trong các ngôi tháp, việc chép kinh trở thành công việc quan trọng, nhờ đó việc ghi chép bằng chữ Hán ngày một mở rộng
Sau khi Thiên hoàng Tenchi (天智) mất, Thiên hoàng Tenmu (天武)14 em trai của Tenchi đã đi ở ẩn ở Yoshino (Nay thuộc Nara), song do cuộc nổi loạn năm Nhâm Thân (672) Thiên hoang Tenmu đã giành được chính quyền Sau khi lên ngôi, ông chính thức cho tiến hành ngay việc biên soạn sách sử Đầu tiên cho đọc và học lại các “Đế kỷ” và
14 Thiên hoàng Tenmu: Thiên hoàng đời thứ 40, tên là Amano nunaharaokino mahito Ông là con trai thứ
3 của Thiên hoàng Yomei Năm 671 ông xuất gia, ở ẩn tại Yoshino (Nay thuộc Na ra) Sau khi Thiên hoàng Tenchi mất, ông giành được thắng lợi trong cuộc nổi loạn năm Nhâm Thân Năm sau ông lên ngôi, xây cung đienẹ Kyomiharano miya ở Suga, chế định lại chế độ Kabane (chế độ xưng hiệu của các hào tộc mang tính chính trị và xã hội), cải cách quan vị, chế định luật lệ, biên soạn quốc sử Ông ở ngôi từ năm 673 đến
686
Trang 26“Cựu từ” Sau đó khoảng 10 năm, Kojiki (古事記) (712) 15 và Nihonshoki (日本書紀) (720)16 ra đời Qua lời tựa cuốn Kojiki thì mục đích của việc biên soạn sách sử là “Giường mối của nước nhà, là nền móng to lớn của vương hóa” cho thấy việc biên soạn sách sử được nhà nước Nhật Bản đương thời đề cao
Nếu Kojiki là tác phẩm do các Fuhitobe viết bằng chữ Hán theo cách pha trộn, phần thì theo nguyên tắc biểu ý, phần thì theo nguyên tắc biểu âm, thì Nihonshoki đã đạt được đến cực điểm của tác phẩm thuần Hán văn Đây là tài liệu quý cung cấp cho chúng ta những hình mẫu có lẽ là cổ nhất hiện còn cho đến nay về văn xuôi viết bằng tiếng Nhật Không chỉ văn xuôi, thơ chữ Hán từ chỗ chỉ được các sứ giả là người Trung Quốc
và Triều Tiên sáng tác ngâm vịnh trong các buổi gặp gỡ ngoại giao, hoặc được giai cấp quý tộc dùng trong các buổi thết yết của vương triều đã đi đến chỗ được yêu thích và phát triển rộng khắp Kaifuso (懷風藻) 17 tập thơ chữ Hán cổ nhất của Nhật hiện còn, được biên soạn năm 751, không rõ người biên soạn, nhưng trong lời tựa tập thơ có ghi “Các thời đại kế tiếp nhau, không phân biệt giàu nghèo đẳng cấp” cho thấy tác phẩm không chỉ bó hẹp trong giai cấp quý tộc, là sản phẩm tinh thần riêng của giai cấp này mà đã phát triển
15
Kojiki: Là cuốn sử cổ nhất còn của Nhật Bản 3 quyển Biên soạn năm 712 Hiedano are tuyển chọn trong các sách Đế kỷ và Cựu từ theo sắc lệnh của Thiên hoàng Tenmu Còn Oonoyasumaro tuyển chọn theo sắc lệnh của Thiên hoàng Genmei Kojiki ghi lại lịch sử của các Thiên hoàng cho tới khi thống nhất Nhật Bản Ngoài ra còn ghi chép Thần thoại, truyền thuyết, ca dao… Quyển Thượng ghi chép từ thời khai thiên lập địa cho đến thời Ugayabukiaezuno mikoto Trung quyển từ thời Thiên hoàng Jinmu Hạ quyển từ thời Thiên hoàng Ojin đến thời Thiên hoàng Nintoku
Trang 27rộng khắp tới mọi người, mọi thành viên trong xã hội Đây là tư tưởng ảnh hưởng mạnh của Trung Quốc trên thi đàn
Tuy nhiên như chúng ta đã biết, tiếng Nhật thuộc loại ngôn ngữ đa âm tiết, chắp dính
Vì vậy tiếng Nhật khác xa cả về vốn từ, và cấu trúc từ, và cấu tạo câu so với tiếng Hán thuộc ngôn ngữ đơn âm tiết Đây là một khó khăn lớn khi tiếp thu các cơ sở của nền học vấn Trung Hoa Do không có chữ viết riêng, nên người Nhật phải dùng chữ Hán để ghi tiếng Nhật Một chữ Hán thường có hai cách đọc Lối đọc theo Ondoku (音讀) và lối đọc theo Kundoku (訓讀) Ví dụ chữ 林 (Lâm) theo âm độc đọc là rin, theo Huấn độc đọc là Hayashi đều có cùng một nghĩa là rừng Tuy nhiên để ghi địa danh hoặc nhân danh, người Nhật buộc phải dùng chữ Hán để ghi âm Ví dụ địa danh Nara người Nhật dùng chữ Hán
có âm na ná như Nại Lương (奈良), Nặc Lạc (諾樂) hoặc Bình Thành (平成)
Động lực chính của thứ chữ viết ghi âm là việc người Nhật rất yêu thơ và hay ngâm vịnh Ngay trong hai bộ sử lớn nói trên và một số tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán đương thời như Nihonryoiki (日本靈異記) cũng có rất nhiều thơ và ca dao được đưa vào Ngoài tập thơ chữ Hán nổi tiếng Kaifuso nói trên, còn có tập thơ “Hòa Hán lãng vịnh tập” (和漢郎詠集) do Satohara biên soạn năm 1013 Tập thơ này hình thức được viết bằng chữ Hán nhưng khi đọc lại đọc theo lối Kun (Huấn độc)
Đương thời cách đọc Kun cùng song song tồn tại với câu tiếng Nhật rất phát triển Khi thơ chữ Hán và cách đọc Hòa văn nhập vào làm một thì trong con mắt của người đọc chỉ còn vỏ hình thức đối cú của chữ Hán Khi đọc mắt, miệng, tai phải kết hợp cùng lúc
Có lẽ đây là sản phẩm Hán văn đã bị Nhật Bản hóa Trong thơ Nôm lục bát của Việt Nam tuy có sử dụng nhiều từ Hán song do tiếng Việt cũng là thứ tiếng đơn âm tiết nên vẫn có thể ghép các từ Hán đi với từ thuần Việt Nhưng trong tiếng Nhật, người ta nhìn vào thơ
và đọc thơ và đọc theo cách khác không phải âm Hán như âm Hán Việt của Việt Nam Tình hình này cũng xẩy ra trong một số tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán
Như trên đã trình bày, truyền tải chữ Hán đến Nhật Bản là những ông đồ người Trung Quốc và Triều Tiên, sau họ trở thành fuhitobe là những nhân viên ký hộ được quy hóa sau các cuộc xâm lăng Triều Tiên của triều đình Nhật Bản Những người này trải qua hai ba
Trang 28đời sống trên đất Nhật, đã rơi vào tình trạng: người thì không thể nói chính xác cách nói Hán văn, người thì không thể đọc được biểu tấu của Cao Lệ Và trong khi thực hiện nhiệm
vụ ghi chép đăng ký hộ tịch và kiểm kê hàng hóa đồ vật trên thuyền bằng tiếng Nhật họ
đã dùng lẫn cả hai cách đọc on và kun, vì thế đã nẩy sinh ra một thứ văn tự Hán mang tính biến tắc (không theo quy tắc Hán văn), được gọi là Fuhitobe.s
Các từ như Tân Tỵ (辛巳), đọc là Shinshi; Tăng (僧) đọc là so; Phóng Quang tự (放
光寺) đọc là Hokoji theo Ondoku (âm độc) Còn các từ Đa đi di túc (多多彌足) được đọc
là Tataminosuku theo Kundoku (Huấn độc), và chữ Nê (泥) là âm chữ na trong Manyogana (Vạn diệp giả danh) Ngoài ra từ Mẫu vi (母為) nếu là Hán văn sẽ nói Vi mẫu (為母) và Định tứ (定賜) đương nhiên cũng không phải cách nói Hán văn Các kim thạch văn triều Suiko phần lớn cũng được sử dụng theo lối Nhật Bản hóa
Đương thời khi chữ Hán được giới thiệu ở Nhật Bản người ta đã dùng tự âm (字音)
để ghi các danh từ chỉ sự vật bằng tiếng Nhật Trong các bi văn và minh văn của Nhật Bản
từ thế kỷ 5 đến 6 có rất nhiều ví dụ về cách ghi tên người, tên đất như dùng chữ Hán Tư quy tư ma (斯歸斯麻) để ghi âm Shikishima; ý tử sa ca (意紫沙迦) ghi âm Oshisaka Từ khai trung phí trực (開中費直) trong bài minh của chiếc chuông đồng ở cung Sumida Hachiman, là điển hình của cách dùng gọi là Hóa Hán đối dịch để biểu thì từ tiếng Nhật Khai Trung (開中) là âm chữ Kana tương đương với từ Hakachi (河內) địa danh Kochi, còn đối với chức danh atahi, một chức quan cao cấp được chế định ở triều Yamato thì người ta dùng song song từ Phí (費) và Trực (直) Tiếng Nhật atahi có nghĩa tương đương với phí dụng (費用) và giá trị (價值) trong Hán ngữ
Khi cách dùng này trở nên phổ biến thì nó hình thành một cách ghi dịch ý với một
bộ phận biểu âm dựa vào âm chữ kana, còn nghĩa lại gần với nghĩa của chữ Hán Trong các tư liệu cuối thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 7 xuất hiện rất nhiều hình thức này Ví dụ: Dùng chữ Himi (比彌) để đọc chữ (姬)
Dùng chữ Mikoto (彌已等) để đọc chữ (命)
Trang 29Dùng chữ Shima (斯麻) để đọc chữ (島);
Dùng chữ Tori (止利) để đọc chữ (鳥)
Và như vậy, người ta đã cố định cách đọc “Kun” cho các chữ này, hình thành một cách đọc dịch như chữ (姬) được đọc là Himi, chữ (命) được đọc là Mikoto, chữ (鳥) được đọc là Tori, so với cách ghi chỉ dựa vào âm chữ Kana để biểu thị tiếng Nhật bằng Tự huấn mỗi chữ một âm, cách đọc này đã rút ngắn được rất nhiều Cách ghi này sau khi ra đời đã nhanh chóng được phổ biến rộng khắp Trong sổ hộ tịch hiện còn từ năm Taiho (大保) thứ
2 (720) người ta đã dùng hai cách để ghi tên người như thay vì 4 chữ Hán (久麻止利) bằng 3 chữ Hán (久麻鳥) để ghi từ Kumatori, hoặc thay vì 4 chữ Hán (加良比止) bằng hai chữ Hán (辛人) để ghi từ karahito
Cách ghi âm trong Kojiki (古事記) và Shoki (書紀) hầu như dựa theo nguyên tắc
“nhất tự nhất âm” (mỗi chữ một âm) Đối với tiếng Nhật là một thứ tiếng có cấu tạo âm tiết khá đơn giản khác với tiếng Triều Tiên thì nguyên tác ghi âm trên lại là điều kiện rất tốt để sáng tạo ra một văn tự kana Trong Manyoshu (萬葉集)18 rất nhiều từ được đọc theo Kunkana Ví dụ từ Natsukashi nếu ghi âm chữ thì người ta dùng 4 chữ Hán (奈都可之) nếu ghi theo cách huấn tự thì dùng 2 chữ Hán (夏借) Và như vậy, một loại ký hiệu vừa đơn giản hơn về cách viết gọi là Mayogana ra đời Tuy nhiên trong Manyogana với cách dùng tự âm (âm chữ) người Nhật dùng cả 3 hình thức:
1 Dùng âm thượng cổ Trung Quốc để ghi Ví dụ:
Ka (奇), ga (宜), ma (明), na (寧), ki (支), chi (至), o (意), to (止),…Đây là âm được dùng từ thế kỷ thứ 7 trở về trước
18 Manyoshu: Tập thơ ca dao cổ nhất hiện còn 20 quyển, ước khoảng 4500 bài thơ, bao gồm các thể loại, trường ca, đoản ca, ca dao được sáng tác trong vòng 350 năm từ thời Thiên hoàng Nitoku đến thời Thiên hoàng Junnin Tập thơ biên soạn vào năm 745-746
Trang 30Manyogana mặc dù được các triều đại sau thay thế bằng Hirakana và Katakana song thời gian đầu nó đã được dùng để ghi âm kana trong Tự thư và văn chương trong sách Tuyên mệnh, và còn được dùng nhiều năm sau đó Với sự ra đời của Manyogana, người Nhật Bản đã có thể dùng chữ Hán để sáng tác văn thơ bằng tiếng Nhật
Từ cuối triều đại Nara, tức khoảng giữa thế kỷ thứ 8 trở về sau, người ta đã chọn những chữ Hán đơn giản để ghi Mayogana, và đó chính là bước chuẩn bị để cho chữ Katakana và Hirakana ra đời Không rõ ai là người sáng tạo đầu tiên ra chữ Katakana và Hirakana Theo truyền thuyết đó là công lao của Kobo Daishi, vì ông là một nhà thư đạo nổi tiếng Tuy nhiên để cho nó phát triển trở thành ký tự không thể thiếu trong tiếng Nhật lại là công lao của các nhà sư và giới phụ nữ yêu thích văn học
Chữ Hirakana có lẽ được xuất hiện từ trung kỳ thời Heian (thế kỷ thứ 9) Người ta dùng chữ Hán viết thảo để tạo chữ Hiragana Ví dụ người ta dùng chữ Hán (以) để ghi âm
i, chữ Hán (波) để ghi âm ha, chữ Hán (仁) để ghi âm ni, chữ Hán (保) để ghi âm ho v.v…
Có tất thảy 48 chữ Hiragana trong hệ thống chữ cái của Nhật Lúc đầu người ta dùng nó
để viết thư, làm thơ và viết nhật ký Nó cũng được giới tác gia nữ sử dụng để viết chuyện
kể Monogatari Tuy nhiên, Hirakana không phải của riêng của phái đẹp, trong các Waca (Hòa ca) chủ yếu do nam giới sáng tác cũng sử dụng nhiều chữ Hirakana Còn Katakana
do nam giới dùng là chủ yếu Lúc đầu các tăng lữ ở triều Heian khi nghe giảng đọc kinh Phật, để nhớ cách chú giải và âm đọc, họ đã dùng chữ Hán đơn giản rồi lược bỏ bớt bộ phức tạp, ví dụ họ dùng chữ (伊) lược bớt để ghi âm i, lược chữ (保) để ghi âm ho… và
hệ thống 48 chữ Katakana đối với 48 chữ Hirakana ra đời Sau khi ra đời, Hiragana và
Trang 31Katakana tỏ ra thích ứng, trong thời gian ngắn nó được phổ biến rộng rãi, cùng với chữ Hán nó đã trở thành ký tự không thể thiếu trong tiếng Nhật cho tới tận ngày nay
Trong việc sử dụng chữ Hán, người Nhật còn biết dùng các chất liệu Hán để tạo nên những chữ Hán mới, gọi là Waseikanji (和暈漢字) (Chữ Hán do người Nhật sáng chế) Trong Shisenjikyo (新撰字鏡), 12 quyển do nhà sư Shozyo (昌住) biên soạn năm 892 thời Thiên hoàng Daigo (醍醐) (897-930)19, phần Tiểu học thiên, ông đã thống kê được khoảng 400 chữ Hán Tất nhiên không thể nói tất cả đều là chữ Hán do Nhật sáng chế, trong số 400 chữ đó còn có các tục tự được dùng ở thời Lục triều, thời nhà Đường và những chữ Hán của người Trung Quốc nhưng lại được dùng với ý nghĩa riêng biệt của Nhật
Chữ Hán do người Nhật được tạo từ khi nào? Theo một số nhà nghiên cứu Nhật Bản
có lẽ từ rất xa xưa vào thời kỳ đầu triều Heian Tuy nhiên trong Nhật Bản linh dị ký, truyện
31, quyển Thượng, tác giả Keikai, soạn năm 787, hoàn thành năm 822 đã xuất hiện Waseikanji, đó là chữ seto (夬), chỉ chị em gái hoặc anh em trai Ở đây được dùng với nghĩa anh trai
Đại bộ phận chữ Hán do Nhật tạo đều được xây dựng trên nguyên tắc văn tự hội ý Cũng giống như chữ Nôm của Việt Nam, các bộ thủ và chữ Hán đều tham gia vào việc cấu tạo nên chữ Hán mới Các thành tố tham gia tạo chữ có khi có vai trò ngang bằng, nhưng cũng có trường hợp thành tố này là chính, thành tối kia là phụ Thành tố chính nói lên khái niệm chung, còn thành tố phụ chỉ đóng vai trò phân loại Vị trí của thành tố chính
có lúc nằm bên phải, có lúc nằm bên trái, cũng có lúc nằm bao bên ngoài chữ Còn thành
tố phụ thì ngược lại Ví dụ:
(為) Kuruma: Xe người kéo
(車) Yếu tố chính chỉ xe nói chung,
19 Thiên hoàng Daigo: Thiên hoàng đời thứ 60 tên là Astugimi (敦仁), ở ngôi từ năm 897-930, cũng có thuyết nói từ năm 885-930
Trang 32(幹) Phân biệt xe người kéo với các loại xe khác
(凪) Nagi: Lặng gió hoặc sóng lặng Thành tố chính là gió, thành tố phụ chỉ sự dừng lại
Như vậy, bằng một lối quan sát tinh tế và sự liên tưởng sâu xa các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, người Nhật đã tạo ra được nhiều chữ Hán mới, bổ sung vào kho
từ vựng, làm cho nó luôn phong phú và đa dạng
Trở lên là vài nét về sự du nhập chữ Hán và việc sử dụng chữ Hán ở xứ sở mặt trời mọc Khác với thân phận bị áp đặt không mời mà đến như ở Triều Tiên và Việt Nam, chữ Hán tới Nhật Bản bằng con đường rải chiếu hoa Người Nhật đã biết sàng lọc và sáng tạo trong việc sử dụng chữ Hán, làm cho chữ Hán và văn hóa Hán đã thực sự được phát huy tác dụng, tạo tiền đề cho sự phát triển như vũ bão ở thời cận và hiện đại của Nhật Bản
1.4.1.3 Nét tương đồng
Theo bài viết “Mối quan hệ giữa tiếng Nhật và tiếng Việt thông qua Kanji” của trường Nhật ngữ Mina được dựa theo bài viết của Nguyễn Thanh Bình “Một số cách học chữ Kanji trong tiếng Nhật”- Viện nghiên cứu Đông Bắc Á thì giữa tiếng Việt và tiếng Nhật có một số nét tương đồng như sau:
Cũng như Việt Nam và nhiều nước Đông Á khác chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa Trung Quốc thì Nhật Bản cũng như vậy Hiện nay, dấu ấn văn hóa Trung Quốc rõ ràng nhất ở Nhật Bản là về văn tự Người Nhật vẫn còn sử dụng Kanji (Chữ Hán) - một sản phẩm của nền văn minh Trung Hoa Nếu Tiếng Việt có ba loại từ đó là từ thuần Việt
và từ Hán Việt, từ ngoại lai (ngoài gốc Hán) thì tiếng Nhật cũng vậy, từ thuần Nhật yomi), từ Hán Nhật (On-yomi) và từ ngoại lai (Gairaigo)
(Kun-Về cơ bản hiểu trong tiếng Việt, những từ Hán Việt có từ thuần Việt mang ý nghĩa tương ứng thường được sử dụng trong văn cảnh trang trọng.Trong tiếng Nhật cũng như thế, đa phần những từ Hán Nhật có từ Hán Nhật thay thế cũng được sử dụng trong những bối cảnh trang trọng, lích sự Do cùng có nguồn gốc từ âm Hán nên chắc chắn khi biết được ý nghĩa chữ Hán trong tiếng Việt ta cũng có thể hiểu được phần nào hoặc hiểu được toàn bộ ý nghĩa trong tiếng Nhật của chữ Hán đó
Trang 33Theo bài viết “Tiếng Hán và sự hình thành Hán Nhật (có đối chiếu, so sánh với Hán Việt)” của tác giả Trần Sơn thì về cơ bản cách tạo từ Hán trong tiếng Nhật và tiếng Việt giống nhau theo cách cấu tạo từ Hán trong tiếng Hán
Một yếu tố Hán có thể ghép trước hoặc sau một yếu tố Hán khác để tạo
ra một từ mới nhiều nghĩa
- Yếu tố đại 大 trong đại cách mạng, đại sứ quán
- Yếu tố tân 新 trong tân thế giới, tân lục địa
- Yếu tố nhân 人 trong bần yên nhân, ý trung nhân
1.5 Phương pháp chuyển âm Hán Việt sang âm On đối với sinh viên Việt Nam học tiếng Nhật
Phương pháp chuyển âm dưới đây trích từ kết quả nghiên cứu trong luận văn
Trang 34Chữ ( m ) và ( v ) tương ứng với hàng「マ」và「バ」
MINH - mei (明/めい ) MỆNH - mei (命/めい ) MỤC - moku, boku (木/も
く,ぼく )VẠN - man (万/まん ) VONG - bou (亡/ぼう ) VÔ - mu, bu (無/む、ぶ)
+ Âm cứng:
Chữ ( tr ), ( t ), ( th ) tương ứng với hàng「サ」và hàng「ザ」
TRÀ - sa (茶/さ) TRANG – sou (裝/そう) TRUY –shi (輺/シ)
TÀI – sai (才/さい) TÍCH - seki (踖/せき) TẤT – shitsu (悉/しつ) THỰC – syoku (食/しょく) THÀNH – sei (誠/せい) THU – syuu (秋/しゅう) Chữ (s ), ( x ), ( ch ) tương ứng với hàng「サ」
SƠN - san (山/さん ) SÁNG - sou (創/そう ) SUY- sui (推/すい )
XA - sya (車/しゃ) XÃ - sya (社/ しゃ) XA - sya (硨 /しゃ)
Trang 35NHU – juu, nyuu (柔/じゅ
う, にゅう)
NHO – ju (儒 /じゅ) NHƯỢC – jyaku, nyaku,
nya (若/じゃく, にゃく, にゃ)
NGHIÊM – gen, gon (厳/
げん, ごん) Chữ ( h ) tương ứng với hàng「カ」và hàng「ガ」
HÀ – ka (何/ か) HOA – ka, ke (花/か, け) HOÀN – gan (丸/がん) Chữ ( d ) thì có khuynh hướng tương ứng với hàng「ヤ」
DUNG - you (溶/よう ) DỊCH - yaku (訳/やく ) DU - yuu (遊/ゆう )
1.5.2 Phụ âm cuối
Chữ ( m ), ( n ) tương ứng với chữ「ん」trong tiếng Nhật
PHẠM - han (犯/はん ) NHAM - gan (岩/がん ) TÂM - shin (心/しん ) HÔN - kon (婚/こん ) QUYỀN - ken (権/けん ) AN - an (安/あん )
Chữ ( p ), ( nh ), ( o ), ( u ) tương ứng với trường âm trong tiếng Nhật
PHÁP – hou (法/ほう) TRANH – sou (錚/そう)
Trang 36LAO – rou (癆/ ろう) DU – yuu, ryuu (游/ゆう, りゅう)
Chữ ( c ) tương ứng với chữ「く」, ( ch ) tương ứng với「く」và「き」trong tiếng Nhật
ÁC – aku (握/あく) CÁC – kaku (各/かく) SẮC – cyoku (敕/ちょく) TRÁCH – seki (責/せき) ÁCH – aku, seku ( 戹 / あ
く、せく)
HÁCH – kaku (嚇/かく)
Chữ ( t )tương ứng với chữ「ち」và「つ」trong tiếng Nhật
CÁT – katsu (割/かつ) KẾT – ketsu, kechi (結/け
つ, けち)
ẤT – otsu, itsu (乙/おつ, いつ)
Chữ ( i ), ( uyê ), ( iê ) tương ứng với chữ「え」trong tiếng Nhật
VINH – ei (栄/えい) NGUYÊN – gen (元/げん) VIÊN – en (\園/えん) Chữ ( a ), ( oa ) tương ứng với chữ「お」trong tiếng Nhật
Chữ ( ă ), ( ư ), ( ươ ), ( ô ) tương ứng với chữ「お」trong tiếng Nhật
Trang 37TẰNG – sou (曽/そう) THỨC – soku (式 /そく) TƯƠNG – sou (将/そう) TỐ - so (素/そ)
Chữ ( u ) có khuynh hướng tương ứng với chữ「う」trong tiếng Nhật
VŨ – bu (武/ぶ)
Chữ ( ê ) tương ứng với chữ「え」trong tiếng Nhật
ĐÊ – tei (低 /てい)
+ Ngô âm và Hán âm
Chữ ( a ) tương ứng với chữ「あ」trong tiếng Nhật
*Chú thích: (_) là các chữ cái, âm trong tiếng Việt
「_」là các chữ cái, hàng chữ cái tương đương trong tiếng Nhật