1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ngữ văn cụm 5 tài liệu ôn thi tn thpt 2023

160 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Ôn Thi TN THPT
Người hướng dẫn Tổ Ngữ Văn
Trường học Trường THPT Krông Bông
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Đắk Lắk
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 908,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chăm chỉ: là sự siêng năng cần cù, không ngại khó, không ngại khổ, chịu thươngchịu khó, cần mẫn thực hiện một công việc gì đó; là sự cố gắng, nỗ lực hết mình đểhoàn thành công việc, là

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẮK LẮK

Trang 2

PHẦN I: PHẦN ĐỌC – HIỂU

ÔN TẬP CÁC DẠNG CÂU HỎI ĐỌC- HIỂU THƯỜNG GẶP

1 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 1: Nhận diện phong cách ngôn ngữ.

Đây là một câu hỏi rất hay xuất hiện ở trong mọi đề thi, nó thường nằm ở câu 1 của phần đọc hiểu và chiếm 0.5đ Chính vì thế, để làm được câu này là hoàn toàn đơn giản các bạn chỉ cần nhớ khái niệm của mỗi phong cách ngôn ngữ là có thể giải quyết dễ dàng

2 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 2: Phương thức biểu đạt.

Câu hỏi này cũng tương tự như trên và nó cực kì đơn giản để mọi người có thể kiếm được0,5đ

3 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 3: Thao tác lập luận.

Đây là một câu hỏi trong phần 1 của bài đọc hiểu nhưng điều đáng nói và cũng hơi buồn

đó là rất nhiều bạn không làm được câu hỏi này, và cũng rất nhiều bạn có sự nhầm lẫn taihại là không phân biệt được như thế nào là thao tác lập luận và phương thức biểu đạt

4 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 4: Chỉ ra biện pháp tu từ và nêu hiệu quả.

Câu hỏi này chắc chắn đã rất quen thuộc với các bạn Hầu như (mình nói hầu như chứ không phải tất cả) bài nào cũng có câu này và nó thuộc vào câu hỏi số 2 hoặc số 3 trong phần đọc hiểu Tuy là quen thuộc nhưng để lấy 1 điểm của nó thì không phải dễ dàng Nhưng các bạn yên tâm trong phần 2 của bài viết này mình sẽ cho các bạn thấy “câu thần chú để mở mọi cách cửa ” đối với câu hỏi này

5 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 5: Phân biệt thể thơ

6 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 6: Xác định nội dung chính của văn bản

7 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 7: Xác định câu chủ đề và cấu trúc đoạn văn

8 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 8: Từ bài đọc hiểu trên, anh chị hãy rút ra cho bản thân mình một bài học sâu sắc nhất/ một thông điệp ý nghĩa nhất.

Trang 3

Đây là câu hỏi có khả năng vào rất cao, mình xin nhắc lại là rất cao Vì một vài năm gần đây kiểu hỏi này rất được ưa chuộng trong cả thi cử hay kiểm tra…

9 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 9: anh/ chị suy nghĩ thế nào về…anh/ chị hiểu như thế nào về…(một vấn đề nào đó được trích ra một văn bản )

Câu hỏi này thuộc vào câu 3 hoặc câu 4 của bài đọc hiểu và chắc chắn nhiều bạn sẽ cảm thấy khó khăn với câu hỏi này

10 Dạng câu hỏi đọc hiểu số 10: Tại sao các giả lại nói:”… “

Kiểu câu này khá giống với câu hỏi số 9 và đòi hỏi bạn phải trình bày khá chi tiết vì đây

là một câu hỏi 1đ

II: Cách làm các dạng câu hỏi thường gặp

1 Câu Hỏi 1:

Tính tới hết lớp 12 thì các bạn sẽ được học tổng cộng 6 phong cách ngôn ngữ gồm:

 Phong cách ngôn ngữ khoa học

 Phong cách ngôn báo chí

 Phong cách ngôn sinh hoạt

 Phong cách ngôn hành chính

 Phong cách ngôn chính luận

 Phong cách ngôn nghệ thuật

các dạng phong cách ngôn ngữ

Nhưng trong 6 phong cách ngôn ngữ này thì quan trọng nhất và hay xuất hiện trong đề thi

nhất chỉ có gồm 3 phong cách là: Báo chí, nghệ thuật và chính luận.Và để xác định nó thì cũng rất đơn giản bạn chỉ cần nhớ một cách nôm na là phong cách ngôn ngữ báo chí thì dùng trong các thể loại như bản tin, phóng sự, phỏng vấn, tiểu phẩm,… hay phong cách ngôn ngữ sinh hoạt thì được dùng trong một số thể loại như: trò chuyện, tin nhắn, thư từ,

nhật kí

Nói chung để phát hiện văn bản thuộc phong cách nào thì chỉ cần xác định thể loại của

văn bản đó và từ đó suy ra được phong cách ngôn ngữ.Chỉ riêng phong cách ngôn ngữ khoa học là hơi phức tạp một chút nhưng các bạn cũng chỉ cần nhớ một số thể loại của

phong cách này như: tiểu luận, luận văn, giáo án, giáo trình, sách giáo khoa,…

2 Câu hỏi 2: phương thức biểu đạt

Trang 4

Gồm có: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính – công cụ Thì

trong tất cả các phương thức kể trên thì nghị luận và biểu cảm là phổ biến hơn cả, khi có

một câu hỏi dạng này bạn hãy để ý đầu tiên tới 2 phương thức trên.(còn việc xác định chắc mình không phải nói thêm nữa )

3 Câu hỏi 3: Thao tác lập luận

Đây là một câu hỏi không quá khó nhưng lại có rất rất nhiều bạn mất điểm một cách đáng tiếc vì một số lý do và đặc biệt lý do đáng tiếc nhất đó là hiểu nhầm thao tác lập luận thành phương thức biểu đạt Thế nên mình sẽ nhắc lại kĩ cho các bạn phần này và giúp các bạn có cách để ghi nhớ nó tốt nhất

 Bình luận: Là nêu ra ý kiến của mình về một vấn đề, nó giống với việc các bạn ngồi

“chém gió” với nhau về việc có nên bỏ thi THPT Quốc Gia Đứa thì bảo tao đồng ý, nhưng mà có đứa lại cho rằng đó là không nên

 Bác bỏ: Thao tác này cũng rất dễ xác định, bạn thấy rằng nhận định này là sai không căn cứ và bạn cho rằng nhận định của bạn mới là đúng

Nói chung hãy liên tưởng về một hình ảnh liên quan nó sẽ giúp bạn dễ hiểu và nhớ lâu hơn rất nhiều

4 Câu hỏi 4: Biện pháp tu từ và nêu hiệu quả

Trang 5

Đây mới là điều quan trọng mình cần nói Có một số biện pháp quan trọng như: So sánh, nhân hóa, các phép điệp, ẩn dụ, hoán dụ, liệt kê Nhưng cho dù là gì đi nữa thì việc của

bạn chỉ cần xác định được biện pháp tu từ đó còn việc nêu hiệu quả đã có câu thần

chúcủa mình lo Với việc áp dụng đúng câu thần chú này bạn có thể giải quyết được mọi

5 Phân biệt thể thơ:

Trong chương trình học thì các bạn đã được học khá nhiều thể thơ: thơ cổ thì có thất ngônbát cú đường luật, thơ dân tộc thì có lục bát, song thất lục bát… hay hiện đại thì có thể thơ

tự do, năm tiếng, bảy tiếng…Vậy cách làm tối ưu nhất trong dạng câu hỏi này là đếm số chữ trong câu thơ để xác định Và chủ yếu nó sẽ rơi vào thể thơ tự do, năm tiếng và lục bát

6 Xác định nội dung chính của văn bản

Đây là câu hỏi khá dễ vì nó đã có sẵn trong văn bản rồi nhưng rất tiếc là rất nhiều bạn vẫn

bị mất điểm do trả lời thiếu ý Vậy để làm dạng câu hỏi này các bạn phải nhớ: muốn xác định đúng nội dung chính thì phải căn cứ vào:

Trang 6

 Căn cứ vào tiêu đề(nhan đề ) và nguồn của văn bản được trích.

 Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc

 Căn cứ vào những câu văn, lời thơ, từ ngữ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần

7 Xác định câu chủ đề và cấu trúc đoạn văn

Với dạng câu này thì xác định được câu chủ đề đồng nghĩa với việc biết được cấu trúc đoạn văn Thường thì câu chủ đề nằm ở đầu hoặc cuối đoạn văn đồng nghĩa với cấu trúc diễn dịch hay quy nạp

8 Câu hỏi số 8 : Từ bài đọc hiểu trên, anh chị hãy rút ra cho bản thân mình một bài học sâu sắc nhất/ một thông điệp ý nghĩa nhất.

Đây là câu hỏi có khả năng vào rất cao, mình xin nhắc lại là rất cao Vì một vài năm gần đây kiểu hỏi này rất được ưa chuộng trong cả thi cử hay kiểm tra…

Kiểu câu hỏi này khá khó nên mình có một lưu ý là các bạn nên rút ra thông điệp nào có tầm khái quát nhất chứ đừng rút ra thông điểm quá ngắn gọn, quá cá nhân Đây là câu hỏi

1 điểm thế nên đừng nghĩ chiếm được 1 điểm của người ta dễ như vậy.Nhưng các bạn yêntâm là mình vẫn sẽ có công thức cho phần này Nó sẽ gồm 6 ý như sau, nhớ là 6 ý

1 Thông điệp sâu sắc nhất đối với tôi là: chúng ta cần…; nên…; phải…; đừng…; (ở dấu 3 chấm các bạn điền vào đó ý nghĩa của thông điệp, tổng quát như: cần làm gì, nên làm gì, phải làm gì và đừng làm gì )

2 Theo tôi đây là thông điệp ý nghĩa nhất đối với tôi vì nó cho tôi thấy rằng… hoặc

nó cho tôi nhận ra rằng…

3 Chốt lại rằng không những vậy thông điệp này không chỉ có ý nghĩa với riêng tôi

mà chắc chắn nó còn có ý nghĩa với tất cả mọi người

9 Câu hỏi số 9 : anh/ chị suy nghĩ thế nào về…anh/ chị hiểu như thế nào về…(một vấn đề nào đó được trích ra một văn bản )

Câu hỏi này thuộc vào câu 3 hoặc câu 4 của bài đọc hiểu và chắc chắn nhiều bạn sẽ cảm thấy khó khăn với câu hỏi này

Câu hỏi này là câu hỏi mình thấy các bạn gặp khá nhiều khó khăn cho dù đáp án đã nằm sẵn trong đầu của các bạn rồi Nhưng tiếc là các bạn không đủ tự tin để trình bày nó ra Thế nên từ giờ hãy tự tin hơn, nói hết suy nghĩ của mình ra và áp nó vào công thức này:

1 Theo tôi, vấn đề này có ý nghĩa như sau:…(bạn có thể nêu ra một hoặc vài ý kiến, quan niệm của mình không sao cả Miễn là bạn thấy nó là đúng nhất )

2 Nhận định điều này đúng hay sai

3 Tán thành/ không tán thành

Trang 7

10 Dạng câu hỏi: Tại sao các giả lại nói:”… “

Mình thấy nhiều bạn cho rằng đây là câu hỏi khó nhất của bài, nhưng mà nó hoàn toàn không quá khó như vậy, chỉ là do các bạn chưa biết cách làm cho nó dễ thôi Thế nên sau

bài đọc này hãy nhớ cho mình quy tắc “3 vì “ Nó đơn giản là trong câu trả lời của bạn sẽ

có 3 phần là: vì 1, vì 2, vì 3

quy tắc 3 vì

 Vì 1: Là các bạn đi tìm ý trong văn bản, những ý mà tác giả cho là tại sao cho là như vậy, rồi ghi ra

 Vì 2: Là trình bày suy nghĩ của các bạn về vấn đề đó

 Vì 3: Là lật ngược lại vấn đề: Nếu không như vậy thì sao…

Trang 8

PHẦN II: VIẾT ĐOẠN VĂN NLXH

I CẤU TRÚC MỘT ĐOẠN VĂN NLXH

*Đoạn nghị luận hiện tượng đời sống xã hội:

1 Mở đoạn:

– Giới thiệu luận điểm

– Sử dụng 1 đến 2 câu văn để dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận

2 Thân đoạn: Cần đảm bảo các nội dung sau:

– Nêu được thực trạng của vấn đề (có dẫn chứng, số liệu cụ thể)

– Nguyên nhân của vấn đề (Vận dụng kiến thức để giải thích rõ nguyên nhân của vấn đề)

– Hậu quả (hoặc kết quả) của vấn đề (kết hợp đưa dẫn chứng, số liệu để làm rõ hậu quả hoặc kết quả của vấn đề)

– Đưa ra các giải pháp để thực hiện vấn đề Trình bày các biện pháp để khắc phục hạn chếhoặc phát huy mặt ưu điểm

– Liên hệ bản thân, nêu lên những việc cần thiết bản thân cần thực hiện cũng như trách nhiệm của cộng đồng, của thế hệ trẻ hiện nay

3 Kết đoạn: Sử dụng 1 câu văn để khẳng định tính đúng đắn, tầm quan trọng của vấn đề

*Đoạn nghị luận vấn đề tư tưởng đạo lý:

1 Mở đoạn:

– Giới thiệu luận điểm

– Sử dụng 1 đến 2 câu văn để dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận

2 Thân đoạn

– Nêu khái niệm, giải thích rõ vấn đề cần nghị luận

Trang 9

– Bàn luận giải quyết vấn đề Phân tích và chứng minh những mặt đúng của tư tưởng , đạo lí cần bàn luận:

+ Biểu hiện của vấn đề trong cuộc sống

+ Tại sao ta cần phải thực hiện đạo lý đó

+ Chúng ta cần phải làm gì để thực hiện đạo lý đó

– Bày tỏ quan điểm của người viết:

+ Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề, mức độ đúng – sai, đóng góp – hạn chế của vấn đề

+ Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập,trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm…

+ Đề xuất phương châm đúng đắn…

3 Kết đoạn: Khẳng định vấn đề

– Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài (…)

– Lời nhắn gửi đến mọi người (…)

Dựa vào cấu trúc đề thi mẫu của Bộ GD- ĐT, dạng bài nghị luận – xã hội sẽ lấy một ý nhỏ trong bài đọc hiểu để làm đề thi viết đoạn văn 200 từ Vì vậy cần lưu ý như sau:

 Trước hết các em phải đọc kỹ bài đọc hiểu, nắm được cốt lõi nội dung Từ đó xem

đề yêu cầu mình bàn về vấn đề gì? Nhất là phải xác định được vấn đề đó thuộc về dạng

bài Tư tưởng đạo lý hay Hiện tượng đời sống.

 Xác định xong dạng bài nghị luận xã hội, các em viết dàn ý mẫu của dạng bài đó

Ví dụ được trích từ Bài phát biểu tại buổi lễ tốt nghiệp trường trung học Wellesley của thầy Hiệu trưởng David McCullough

“Leo lên đỉnh núi không phải để cắm cờ mà là để vượt qua thách thức, tận hưởng bầu

không khí và ngắm nhìn quang cảnh rộng lớn xung quanh Leo lên đỉnh cao là để các em

Trang 10

có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em Hãy đến Paris để tận hưởng cảm giác đắm chìm trong Paris chứ không phải lướt qua đó để ghi Paris vào danh sách các địa điểm các em đã đi qua và tự hào mình là con người từng trải.

Tập luyện những suy nghĩ độc lập, sáng tạo và táo bạo không phải để mang lại sự thỏa mãn cho bản thân mà là để đem lại lợi ích cho 6,8 tỷ người trên trái đất của chúng ta Rồi các em sẽ phát hiện ra sự thật vĩ đại và thú vị mà những kinh nghiệm trong cuộc sống mang lại, đó là lòng vị tha mới chính là điều tốt đẹp nhất mà các em có thể làm cho bản thân mình Niềm vui lớn nhất trong cuộc đời thực ra lại đến vào lúc các em nhận ra các

em chẳng có gì đặc biệt cả Bởi tất cả mọi người đều như thế “.

Câu nghị luận xã hội cho là: Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em.”

Như vậy, để có thể làm tốt dạng bài nghị luận – xã hội các em cần đọc kỹ phần đọc hiểu

Có như vậy, các em mới nắm bắt được những ý tác giả muốn nói tới Cùng cảm nhận thế giới và cảm nhận thái độ ứng xử văn hóa trước thế giới, trước cuộc đời

Giống như phần mở bài vậy, câu mở đoạn phải có cái nhìn tổng quát, khái quát được nội dung mà đề thi yêu cầu Phải hiểu được đề thi bàn về vấn đề gì? Câu mở đoạn có thể dùng1-3 câu

Cách xây dựng câu mở đoạn: nêu nội dung khái quát rồi dẫn câu nói vào (hoặc không dẫnnguyên câu thì trích vào cụm từ khóa)

Ví dụ theo đề trên ta có thể viết như sau:

Thành công luôn là khao khát của mỗi con người trên hành trình chinh phục những ước

mơ và khát vọng – nhưng khi lên đến đỉnh của thành công, điều quan trọng nhất vẫn là

để “ngắm nhìn thế giới” chứ không phải là để cho ai đó nhận ra mình.

Đi thẳng vào vấn đề: Giải thích các cụm từ khóa, giải thích cả câu (cần ngắn gọn,

Trang 11

– Quan điểm của mình về vấn đề đó, đồng tình hay không đồng tình, phân tích theo quan điểm đó.

 Liên hệ với bản thân

 Liên hệ với những vấn đề tương tự Hoặc mở rộng vấn đề, có thể kết lại bằng một danh ngôn hay câu nói nổi tiếng

II Kỹ năng viết đoạn văn nghị luận 200 chữ

1 Phân loại dạng đề nghị luận: Có thể chia làm ba dạng

 Dạng 1: Nghị luận về một câu nói, ý kiến,tư tưởng trong phần ngữ liệu đọc hiểu → Đọc hiểu tích hợp nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

 Dạng 2: Nghị luận về một hiện tượng đời sống được đề cập đến trong phần đọc hiểu → Đọc hiểu tích hợp về một hiện tượng đời sống, xã hội

 Dạng 3: Nghị luận về một thông điệp, ý nghĩa rút ra, gợi ra trong phần đọc hiểu → Đọc hiểu tích hợp nghị luận về một thông điệp, ý nghĩa gợi ra từ phần đọc hiểu

 Dạng 3: Đề yêu cầu rút ra thông điệp, ý nghĩa trong ngữ liệu phần đọc hiểu (thường

là đoạn thơ, bài thơ hoặc đoạn trích, đoạn văn, bài văn)

3 Cách làm dạng đề cụ thể

a Dạng 1: Đọc hiểu tích hợp nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.

Các ý triển khai:

Trang 12

 Bàn luận mở rộng, lật ngược vấn đề nghị luận.

 Vấn đề đó đang diễn ra trong xã hội như thế nào?

* Bài học và liên hệ bản thân

 Từ đó, rút ra bài học cho bản thân và mọi người

 Hành động thực tế

 Kết thúc vấn đề bằng câu thơ, châm ngôn, khẩu hiệu, danh ngôn tạo ấn tượng

Ví dụ:

Đề bài: Viết đoạn văn ( khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được

nêu trong phần đọc hiểu: “Cách tốt nhất thích ứng với cuộc sống này là chấp nhận thực

 Thực tế là gì? Thực tế là trạng thái của những điều thực sự tồn tại hiện thực

 “Chấp nhận thực tế”: là biết chấp nhận hiện thực, chấp nhận tình trạng hiện tại và sống hòa hợp với nó; “tin vào chính mình” là tin tưởng khả năng, sự lựa chọn của bản thân

* Phân tích, chứng minh

 Vì cuộc sống luôn chứa đựng nhiều điều bất ngờ không thể biết trước, không ngoại trừ những điều không như mong muốn có thể xảy đến với chúng ta Như khi không thể vượt qua những khó khăn, nghịch cảnh, khả năng của bản thân có giới hạn, … thì nên chấp nhận hiện tại, sống hòa hợp với nó Tại sao vậy? Vì khi ta chấp nhận hiện tại ta sẽcảm thấy dễ chịu, đầu óc cũng đủ tỉnh táo để tìm ra giải pháp tốt nhất

 Và hãy “tin vào chính mình”, tin vào nghị lực, tài năng, lòng can đảm, sức mạnh và

sự tự tin đều tiềm ẩn bên trong con người và sẽ có đủ khả năng vượt qua những khó khăn ấy Đó là cách tốt nhất để vực lại chính mình

* Bình luận

 Nếu không “chấp nhận hiện thực và tin vào chính mình” thì sau những vấp ngã, lỗi lầm ta sẽ dễ trách móc bản thân, như “ giá như…”, “ nếu biết trước thì…” Những việc làm ấy không những vô nghĩa, mà ngược lại còn khiến cho ta dễ rơi vào tuyệt vọng, căng thẳng, giày vò bản thân Không chỉ vậy, không biết “ chấp nhận hiện thực” còn tạo nên lối sống thiếu thực tế, tạo thói quen đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh, thiếutrách nhiệm với hành động, lời nói của bản thân

Trang 13

 Và cũng cần hiểu chấp nhận thực tế không phải là buông xuôi.

* Bài học và liên hệ bản thân

 Vì vậy, hãy biết “chấp nhận thực tế và tin vào chính mình” để mình luôn vui vẻ, hạnh phúc và trưởng thành

b Dạng 2: Đọc hiểu nghị luận tích hợp về một hiện tượng xã hội.

Dạng đề về hiện tượng tiêu cực: Các ý triển khai:

* Giải thích (nếu có)

* Thực trạng: Vấn đề đó đang diễn ra như thế nào?

* Nguyên nhân do đâu và hậu quả để lại?

* Giải pháp thiết thực và bài học

1 Mở đoạn: … Hiếu thảo là truyền thống tốt đẹp bao đời nay của dân tộc ta

… “ Hiếu thảo với cha mẹ giúp chúng ta trưởng thành hơn”

2 Thân đoạn:

*Giải thích:

- Hiếu thảo với cha mẹ : biết thương yêu, kính trọng cha mẹ; biết gần gũi quan tâmchăm sóc lúc cha mẹ già yếu ốm đau; biết vâng lời; biết chia sẻ những buồn vuitrong cuộc sống với đấng sinh thành…

- Trưởng thành: sự chững chạc, sự lớn lên về ý thức đạo đức, có cách cư xử đúngmực, hài hòa…

- Ý nghĩa cả câu: Khi ta biết hiếu thảo với cha mẹ là lúc ta bắt đầu có cách hành xửđúng đắn,biết sống đúng sống đẹp…

*Bình : Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến: Tại sao phải hiếu thảo với cha mẹ ?Vì:

Trang 14

- Công ơn cha mẹ lớn lao như trời biển Cha Mẹ là người mang nặng đẻ đau, nuôinấng yêu thương , chăm sóc dạy dỗ mỗi chúng ta…

- Mỗi người con chúng ta không tự nhiên mà có mặt ở trên

cõi đời này Chúng ta không tự lớn lên, không tự trưởng

thành được, không tự mình biết đúng sai, hay dở mà cần phải có sự hướng dẫn dạy dỗcủa cha mẹ

- Hiếu thảo giúp chúng ta hoàn thiện nhân cách, giúp ta sống đúng, sống đẹp, biếtsống yêu thương, biết sống vì người khác, biết đền ơn đáp nghĩa…

- Người có tấm lòng hếu thảo là người có trái tim đẹp, sẽ được mọi người yêu mến …

- Dẫn chứng: Tấm gương về lòng hiếu thảo: Cụ Nguyễn Đình Chiểu vì thương mẹ mấtnên bỏ thi về hộ tang mẹ, trên đường về cụ khóc đến mù cả hai mắt…, Thuý Kiều bánmình chuộc cha và em…

* Luận: - Phê phán những kẻ bất hiếu…

- Còn phải hthảo với ông bà, người có công nuôi dưỡng…

- “ Hãy biết quý trọng thời gian bên cha mẹ, để ta sẽ không bao giờ phải ân hận."

- "Lời cảm ơn cha mẹ không bao giờ là sớm cả."

- “Chữ Trung, chứ Hiếu, chữ Hòa,

Hỏi trong ba chữ, thờ cha chữ nào ?

Chữ Trung, thì để thờ cha,

Chữ Hiếu thờ mẹ, chữ Hòa thờ anh” (Ca dao)

- “Đêm rằm tháng bảy VuLan

Phận con báo hiếu muôn ngàn ghi ân” (Ca dao)

- “Trên thế giới có bảy kì quan nhưng không có kỳ quan nào vĩ đại bằng trái tim người Mẹ!”



Chủ đề 2: Đức tính chăm chỉ

Đề: Suy nghĩ của em về câu nói sau: “Chăm chỉ sẽ giúp bạn trở nên giàu có hơn”

Gợi ý

1.Mở đoạn: - Chăm chỉ cần cù là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người

Việt Nam ta

- “Chăm chỉ sẽ giúp bạn trở nên giàu có hơn”…

2 Thân đoạn:

* Giải thích:

Trang 15

- Chăm chỉ: là sự siêng năng cần cù, không ngại khó, không ngại khổ, chịu thương

chịu khó, cần mẫn thực hiện một công việc gì đó; là sự cố gắng, nỗ lực hết mình đểhoàn thành công việc, là không lười biếng, không bỏ bê công việc, không bỏ cuộc

cho dù có vất vả đến đâu…

- Giàu có: gia tăng về của cải vật chất và vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng

sống…

- Ý nghĩa câu nói: Chăm chỉ cần cù học tập và lao động sẽ giúp ta có cuộc sống

sung túc, vốn hiểu biết phong phú…

* Bình : Đức tính chăm chỉ cần cù thật vô cùng cần thiết và quan trọng trong cuộc

sống của mỗi cá nhân, nó cho ta sự giàu có về vật chất và tinh thần

- Chăm lao động: Mang lại cuộc sống no đủ, giàu có…

bản thân sẽ tích lũy được nhiều kinh nghệm, trau dồi kĩ năng sống…

- Chăm học tập: kiến thức vững vàng, hiểu biết rộng, biết cách ứng xử, giiao tiếp tốt…

- Chăm chỉ còn giúp ta không gục ngã, không chịu đầu hàng trước khó khăn, biết vươnlên, biết khắc phục khó khăn thử thách, giúp ta hoàn thiện nhân cách…

- Mọi người sẽ thật yêu mến những con người siêng năng, chăm chỉ… vì không ai muốnlàm bạn với những người lười biếng…

- Dẫn chứng: Bác Hồ kính yêu khi ra nước ngoài tìm đường cứu nước, Bác đã không ngạikhó ngại khổ mà làm đủ mọi nghề để kiếm sống từ bồi bàn đến quét tuyết Bác còn chănchỉ học tập để biết rất nhiều ngoại ngữ… Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí chăm chỉ rèn viếtchữ bằng chân, chịu khó học tập để trở thành người thầy giỏi và đáng kính, nhà khoa họcEdison nhẫn nại tìm tòi nghiên cứu để sáng chế ra bóng đèn điện cho nhân loại…

Trang 16

1 Mở đoạn: - Con đường đi đến thành công của mỗi người luôn có nhiều chông gai

thử thách, đòi hỏi mỗi người phải trang bị cho mình thật nhiều kĩ năng sống…

- “Trong bất kì công việc gì, sự tự tin là một trong những điều kiện cần thiết, giúp chúng ta dễ dàng đi đến thành công”.

- Thành công: kết quả đạt được mĩ mãn của quá trình nỗ lực mà mỗi người mong đợi

- Câu nói trên khuyên ta hãy biết tin vào bản thân trong mọi tình huống để gặt hái được thành công…

*Bình: Sự tự tin có một ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của mỗi người:

- Sự tự tin giúp ta vượt qua tâm lí sợ sệt, nhút nhát, lo lắng không cần thiết có thể ảnh hưởng lớn đến công việc

- Tin vào bản thân là cơ hội, điều kiện hợp lí để mỗi người thể hiện bản thân mình, năng lực của mình, để mọi người hiểu mình hơn

- Sự tự tin sẽ tạo được ấn tượng tốt cho người đối diện, giúp ta đến gần hơn với những cơ hội tốt trong việc làm, trong tình cảm…

- Tự tin giúp ta sống hài hòa, biết trải lòng mình, mở rộng nhiều mối quan hệ tốt đẹp…

- Tự tin còn giúp ta vượt q ua những khó khăn thử thách, sống có ý chí nghị lực, có quyết tâm chinh phục khó khăn một cách hoàn hảo, giúp ta tự hoàn thiện bản thân…

- Dẫn chứng: Hồ Chí Minh tự tin trong hơn ba mươi năm đi khắp năm châu… , Giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu tự tin với kiến thức của mình…, một người dẫn chương trình tự tin trong mọi tình huống… Tất cả họ đều đã rất thành công trong cuộc sống…

* Luận: - Thật đáng chê trách những con người quá nhút nhát, dễ mất niềm tin, dễ sa

ngã và thiếu bản lĩnh nên đánh mất chính mình, sống thụ động, hèn nhát nên dễ bỏ qua những cơ hột tốt có khi chỉ đến một lần



Chủ đề 4: Đoàn kết

Đề: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công” (Hồ Chí Minh)

Suy nghĩ của em về lời kêu gọi trên của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Gợi ý 1.Mở đoạn: - Để đi đến thành công, để tạo nên sức mạnh cho một tập thể, một quốc

gia, tinh thần đoàn kết là yếu tố vô cùng quan trọng…

- “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”

(Hồ Chí Minh)

Trang 17

2.Thân đoạn

* Giải thích:

- “Đoàn kết”: sự hợp sức đồng lòng, sự gắn bó thống nhất giữa các cá nhân với nhau trongmột tập thể, trong một quốc gia Đoàn kết còn là không chia rẽ, không tách rời, tất cả vìmục đích chung tốt đẹp của tập thể, của dân tộc…

- “Thành công”: là những thành quả, kết quả tốt đẹp do sức mạnh của sự đoàn kết manglại

- Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở chúng ta rằng nếu biết đoàn kết, chúng ta sẽ gặt hái đượcnhiều thành công trong cuộc sống

* Bình: Giá trị của tinh thần đoàn kết quả là rất lớn lao:

- Đoàn kết tạo nên sức mạnh cho riêng mỗi cá nhân và cho cả tập thể…

- Đoàn kết sẽ mang lại thành công trong bất kì công việc gì…

- Đoàn kết tạo sự gắn bó mật thiết, gắn kết tình cảm, xua tan oán hận, chấm dứt chiếntranh…

- Đoàn kết tạo nên một môi trường thân thiện, an bình, mang lại những kết quả tích cựccho cuộc sống…

- Dẫn chứng: Ngày xưa, trong chiến tranh, nhân dân ta một lòng đoàn kết để chiến đấuđánh đuổi giặc ngoại xâm… Hoà bình trở lại, nhân dân ta đoàn kết để kiến thiết đất nước.Ngày nay, chúng ta đoàn kết để cùng nhau

xây dựng đật nước ngày càng giàu đẹp hơn Trong gia đình, anh chị em đoàn kết để cómột cuộc sống ấm no hạnh phúc., giữ được hòa khí gđ.Trong nhà trường, bạn bè đoànkết để tạo môi trường học tập tốt, mang lại kết quả học tập cao…

* Luận: - Phê phán những kẻ sống thiếu sự hoà đồng ,lối sống bao che , cục bộ

- Cần mở rộng đoàn kết với bè bạn năm châu…

* PHHĐ : - Học tập chăm chỉ để trở thành người có tài năng, cống hiến cho đời…

- Không ngừng phát huy tinh thần đoàn kết: trong gia đình, trong nhà trường, ngoài xãhội…

3 Kết đoạn Câu chuyện bó đũa mà người cha đem ra để khuyên dạy các con của mình

cũng là một bài học hay đối với mỗi chúng ta về sức mạnh của sự đoàn kết…

- “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”

- “Một cây làm chẳng nên non,

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.

Trang 18

* Giải thích: - “Tiết kiệm” nghĩa là không hoang phí , không xa xỉ về sức

khoẻ ,thời gian và của cải

* Bình:

- “Tiết kiệm” là yêu cầu cần thiết đối với mọi người ( Dẫn chứng )

- “Tiết kiệm” là nền tảng để dân giàu , nước mạnh ( Dẫn chứng )

- “Kiệm” (tiết kiệm ) có quan hệ chặt chẽ với “cần” ( cố gắng , siêng năng , chăm chỉ ) + “Kiệm” mà không “cần” thì lấy gì mà “kiệm”

+ “Cần” mà không “kiệm” thì như “gió vào nhà trống” , như “thùng không đáy”…

- “Tiết kiệm” còn là thước đo đạo đức của mỗi con người

* Luận: - Phê phán những biểu hiện lãng phí …, những kẻ keo kiệt , bủn xỉn …

* PHHĐ: Nêu phương hướng hành động của bản thân

3 Kết đoạn: “Tiết kiệm” là một đức tính tốt đẹp của con người Chúng ta cần gìn giữ và

phát huy…

-“Sản xuất mà không đi đôi với tiết kiệm thì như gió vào nhà trống” (Hồ Chí Minh)

- “Tiết kiệm sẵn có đồng tiền

Phòng khi túng lỡ không phiền lụy ai” (Ca dao)



Chủ đề 6: Đức hi sinh Đề: Bàn về đức hi sinh.

Gợi ý 1.Mở đoạn:

Có những tên tuổi đã trở thành bất tử Họ sống mãi trong lòng mọi người bởi họsống đúng, sống đẹp và đã hy sinh bản thân mình Đức hy sinh là phẩm chất thường

có trong những tâm hồn cao cả, vĩ đại

Trang 19

* Trong cuộc sống đời thường:

- Người mẹ hy sinh cho đàn con thơ

- Người công nhân tuy cuộc sống còn nghèo, chật vật vẫn hy sinh một ngày lương đểủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt, hoặc ngày khác là để ủng hộ nhân dân Nhật Bảnsau động đất.v.v

* Trong lịch sử giữ nước

- Người chiến sĩ hy sinh cho dân tộc Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, Nguyễn VănTrỗi, Đặng Thùy Trâm…

- Người đã hy sinh vì lý tưởng luôn được mọi người yêu mến, kính trọng, ca ngợi

* Liên hệ bản thân:

- Biết ơn người hy sinh cho mình

- Cần phải rèn luyện năng lực, phẩm chất đạo đức một cách bền bỉ, đều đặn Để có thểsống đẹp, bản thân mỗi người phải có sự nỗ lực, cố gắng tự đấu tranh chống lại thói ích

kỷ vô trach nhiệm và ý chí mạnh mẽ để vươn lên,

“Nếu là con chim chiếc lá

Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

Lẽ nào vay mà không trả

- “Tự lập” là tự làm lấy, tự giải quyết công việc của mình, tự lo liệu, tạo dựng cho

cuộc sống của mình; không trông chờ, dựa dẫm, phụ thuộc vào người khác

Tự lâp thể hiện sự tự tin, bản lĩnh cá nhân, dám đương đầu với những khó khăn, thử

Trang 20

thách; ý chí nỗ lực phấn đấu, vươn lên, đây là một trong những yếu tố cần thiết làm

nên sự thành công trong học tập cũng như trong cuộc sống

*Bình :

- Tự lập là một đức tính quý báu mà mỗi chúng ta cần học tập và rèn luyện

- Tuy nhiên tự lập trong cuộc sống không phải dễ dàng Người có tính tự lập sẽ vượt quađược khó khăn gian khổ để vươn lên có cuộc sống tốt đẹp, thường gặt hái nhiều thànhcông trong cuộc sống Người đời sẽ luôn ca ngợi, khâm phục, sẻ chia cùng với những conngười biết tự lập

- Trong thời đại ngày nay,học sinh chúng ta không thể ỷ lại người khác thì sau này mới cócuộc sống tốt đẹp

+ Tính tự lập là một đức tính vô cùng quan trọng mà học sinh cần có, vì không phải lúcnào cha mẹ, bạn bè và thầy cô cũng ở bên cạnh họ để giúp đỡ họ Nếu không có tính tựlập, khi ra đời học sinh sẽ dễ bị vấp ngã, thất bại và dễ có những hành động nông nỗi,thiếu kiềm chế

- Trong học tập, người học sinh có tính tự lập sẽ có thái độ chủ động, tích cực, có động cơ

và mục đích học tập rõ ràng, đúng đắn Từ đó, nó sẽ giúp cho học sinh tìm được phươngpháp học tập tốt Kiến thức tiếp thu được vững chắc Bản lĩnh được nâng cao

- Tính tự lập trong học tập là tiền đề để tạo nên sự tự lập trong cuộc sống Điều đó, là mộtyếu tố rất quan trọng giúp cho học sinh có được tương lai thành đạt

- Dẫn chứng: Bác Hồ với hai bàn tay trắng bôn ba khắp năm châu tìm ra con đường cứunước giải phóng dân tộc, Thầy Nguyễn Ngọc Ký tự tập viết bằng chính đôi chân củamình và trở thầy giáo ưu tú…

* Luận:

- Phê phán những kẻ sống dựa dẫm vào người khác, không í chí nghị lực phấn đấuvươn lên trong cuộc sống…

- Phê phán những học sinh không có tính tự lập trong học tập, ỷ lại, dựa dẫm vào bạn

bè, cha mẹ Từ đó, họ có những thái độ tiêu cực : quay cóp, gian lận trong kiểm tra,trong thi cử; không chăm ngoan, không học bài, không làm bài, không chuẩn bị bài.Kết quả: những học sinh đó thường rơi vào loại yếu, kém cả về hạnh kiểm và học tập

Trang 21

- “Khiêm tốn”: là sự nhún nhường, có ý thức và thái độ đúng mực trong việc đánh

giá bản thân, không tự kiêu tự mãn, không tự cho mình hơn người…

- “Bé nhỏ đi”: những hạn chế của bản thân về nhân cách, năng lực, trình độ…

- “Lớn lao hơn”: gia tăng những giá trị của bản thân…

- Câu trên được hiểu : khiêm tốn sẽ không làm người khác đánh giá thấp về bạn màngược lại bản thân mình càng tỏa sáng hơn…

* Bình: + Những biểu hiện của đức tính khiêm tốn:

- Người khiêm tốn luôn có thái độ nhã nhặn, biết lắng nghe ý kiến của người khác, tựcho mình còn kém cỏi, luôn cố gắng học hỏi để tiến bộ và nhận ra mặt hạn chế củabản thân

- Người có đức tính khiêm tốn không khoe khoang, không khinh thường người khác,không đòi hỏi được tôn vinh đề cao

+ Ý nghĩa của đức tính khiêm tốn:

- Khiêm tốn là một đức tính quí báu nâng cao giá trị con người giúp ta có được mối quan

hệ gần gũi hòa hợp trong giao tiếp với những người xung quanh…

- Khiêm tốn giúp ta đánh giá đúng chính mình…

- Khiêm tốn còn giúp ta không tự bằng lòng với chính mình mà biết phấn đấu vươn lênkhông ngừng…

- Dẫn chứng: HCM vị lãnh tụ đáng kính của dân tộc là một tấm gương sáng về đức tínhkhiêm tốn Là Chủ tịch nước nhưng cuộc sống của Bác rất đơn sơ bình dị, còn trong giaotiếp Bác cư xử nhã nhặn với mọi người và được mọi người yêu mến kính trọng Huy Cậnsinh thời ông không nhận mình là nhà thơ lớn của dân tộc …

* Luận: - Phê phán những người tự kiêu tự mãn, tự vỗ ngực xưng tên, không chịu lắng

nghe, không biết học hỏi những người xung quanh…

- Nhưng khiêm tốn không phải là tự ti, tự hạ thấp mình, chấp nhận thua thiệt mà phải cốgắng phấn đấu để đạt được thành công

* PHHĐ:

- Cần rèn luyện đức tính khiêm tốn từ những việc nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày

- Luôn học hỏi, không ngừng phấn đấu vươn lên, không ngừng hòan thiện nhân cách

3.Kết đoạn: Khiêm tốn là một đức tính cần thiết đối với mỗi con người, nó sẽ tạo

động lực giúp chúng ta tự điều chỉnh bản thân, thực hiện được mục đích, vượt quakhó khăn và thành công trong tương lai… ./



Chủ đề 9: Thời gian

Trang 22

Đề: “Thời gian nhàn rỗi có thể là vàng hay gỉ sắt, cái đó tùy thuộc vào từng người”

Từ ý nghĩa của câu nói trên, em hãy cho biết suy nghĩ của mình về thời gian nhànrỗi

Gợi ý

1 Mở đoạn

Thời gian là một trong những thứ quí giá nhất của con người…

- Có ý kiến cho rằng: “Thời gian nhàn rỗi có thể là vàng hay gỉ sắt, cái đó tùy thuộc vào từng người”…

2.Thân đoạn:

*Giải thích:

- Thời gian nhàn rỗi: thời gian rảnh của mỗi người, là quĩ thời gian thừa ra sau học tập,sau lao động và sau giờ ngủ nghỉ Có thể chia một ngày 24 tiếng ra như sau: 8 tiếng làmviệc, học tập; 8 tiếng để ngủ nghỉ và 8 tiếng còn lại là thời gian nhàn rỗi Con người cóthể sử dụng quĩ thời gian này một cách tuỳ tiện, tự do mà không bị gò bó hay bắt buộc…

- “Vàng”: tượng trưng cho những lợi ích, những giá trị mà thời gian nhàn rỗi mang lại

- “Gỉ sắt”: tượng trưng cho sự vô nghĩa, những tác hại không mong muốn

-> Thời gian nhàn rỗi thật sự có ý nghĩa hay không tùy thuộc vào người sử dụng nó

*Bình:

- Giá trị của thời gian nhàn rỗi:

+ Mình có thể làm những gì mình muốn … D/C

+ Giúp con người rèn luyện nâng cao sức khoẻ…D/C

+ Giúp con người giải trí vui chơi, nâng cao giá trị của đời sống tinh thần, tình cảm…D/C

- Thực tế không phải ai cũng biết sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hiệu quả …

- Tác hại…

*Luận: - Phê bình những người không sắp xếp thời gian trong ngày hợp lí, những

người tham công tiếc việc dẫn đến không có thời gian nhàn rỗi

- Những người không sử dụng quĩ thời gian nhàn rỗi một cách hiệu quả…

- Tuy nhiên, cần linh động trong tổ chức cuộc sống chứ không nên máy móc , cứngnhắc…

* PHHĐ:

- Cần sắp xếp mọi việc để có thời gian hợp lí ( lên kế hoạch, thời gian biểu cụ thể)…

- Sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hiệu quả, thiết thực, bổ ích…

- Vận động mọi người biết quí trọng thời gian vàng ngọc ấy…

3 Kết đoạn:

- Thời gian nhàn rỗi là yếu tố không thể thiếu đối với mỗi người, đặc biệt trong xãhội hiện đại như ngày nay…

***Tham khảo:

- “Cách duy nhất để tiết kiệm thời gian là sử dụng nó một cách khôn ngoan”.

- “Ba điều trong đời một khi đã qua không lấy lại được:

* Thời gian * Lời nói * Cơ hội”

Trang 23

- “Có 3 thứ không thể lấy lại được : Mũi tên đã bay, lời đã nói ra và những ngày đã xa"

=>“Giản dị là một cách trang điểm cho tâm hồn cao đẹp” => Dung mạo bên ngoài

giản dị nhưng đẹp , đó là vẻ đẹp toát ra từ sâu thẳm tâm hồn: có trí tuệ, thông minh,

có lòng nhân hậu, có mục đích cuộc sống , biết quan tâm chia sẻ, biết nghĩ cho ngườikhác Đó chính là những tâm hồn cao đẹp

* Bình :

- Giản dị, tiết kiệm vừa phải là đức tính quý báu mà không phải ai cũng có được

“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”

- Giản dị , chân thật giúp ta hòa đồng với mọi người , giúp họ hiểu được tấm lòng ta ,

dễ kết bạn, có cơ hội học hỏi từ họ làm phong phú đời sống tâm hồn ta

- Người giản dị, tâm hồn đẹp luôn được mọi người yêu mến, kính trọng, nên dễ thànhcông và sống hạnh phuc

- Dẫn chứng: Bác Hồ có lối sống giản dị, tâm hồn cao đẹp …

* Luận:

- Giản dị là một phẩm chất để khẳng định nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn của một con người

- Phê phán kẻ sống xa hoa, phô trương, lãng phí , chạy theo sự hào nhoáng giả dối bênngoài

- Phê phán kẻ để cho tâm hồn mình cằn cỗi, không làm đẹp tâm linh, sống hời hợt, vôcảm ,vô nghĩa, bị người đời khinh ghét

* Liên hệ bản thân:

- Sống giản dị, biết chăm lo vẻ đẹp nội tâm là một ưu điểm

Trang 24

- Cần phải rèn luyện năng lực, phẩm chất đạo đức một cách bền bỉ, đều đặn Để tâm hồnđẹp hơn nữa, bản thân mỗi người phải có sự nỗ lực, cố gắng tự đấu tranh chống lại thói xahoa, phô trương, kiểu cách, lố bịch…

3 Kết đoạn

Lối sống giản dị, tiết kiệm, chân thật là phẩm chất truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam nói chung và những người đang được hưởng hạnh phúc nhờ tâm hồn đẹp nói riêng



PHẦN III: ÔN TẬP PHẦN LÀM VĂN

TÂY TIẾN Quang Dũng

-A KHÁI QUÁT

1 Tác giả:

Quang Dũng là một nghệ sỹ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, viết văn… nhưnghơn hết ông vẫn là một nhà thơ xuất sắc của thi ca Việt Nam hiện đại, một nhà thơ trưởngthành từ cuộc kháng chiến chống Pháp, một hồn thơ phóng khoáng và tâm huyết, tinh tế

2.2 Cảm hứng sáng tác:

Trang 25

Với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, bài thơ đã trở thành khúc ca bitráng phản ánh chân thực cuộc sống, chiến đấu gian khổ, sự hy sinh anh dũng và vẻ đẹphào hoa, hào hùng của người chiến sỹ Tây Tiến.

- Cảm hứng lãng mạn: thường tô đậm cái “tôi” tràn đầy cảm xúc, tô đậm sự phithường, dữ dội, những vẻ đẹp thơ mộng, tuyệt mỹ, thường lý tưởng hóa, thi vị hóa hiệnthực

- Cảm hứng lãng mạn luôn sử dụng bút pháp đối lập để tạo ra những hình tượngtương phản, đem đến những ấn tượng sâu đậm cho người đọc

- Cảm hứng bi tráng: sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và bút pháp hiện thực đãtạo ra chất bi tráng rất đặc biệt cho bài thơ, đem đến những màu sắc và âm hưởng mạnh

mẽ, hào hùng cho sự hy sinh, mất mát của người chiến sỹ Tây Tiến

a) Hoàn cảnh sáng tác:

- Đoàn quân Tây Tiến:

+ Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợpvới bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt - Lào, đánh tiêu hao lực lượng của quân đội Pháp ởThượng Lào và miền Tây Bắc bộ của Việt Nam

+ Địa bàn đóng quân và hoạt động của Trung đoàn là một miền rừng núi rộng lớn

và hiểm trở của biên giới Việt - Lào gồm các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tâyThanh Hóa và Sầm Nứa

+ Sau một thời gian hoạt động, đoàn quân Tây Tiến trở về Hòa Bình, thành lậptrung đoàn 52

- Chiến sỹ Tây Tiến:

+ Chiến sỹ Tây Tiến phần đông là học sinh thanh niên Hà Nội nên tâm hồn mangđậm nét hào hoa lãng mạn

+ Bài thơ được viết trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, đời sống bộ đội gặprất nhiều khó khăn, đặc biệt đơn vị Tây Tiến chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức gian khổ,

vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội Tuy nhiên họ vẫn sống rấtlạc quan và chiến đấu rất dũng cảm với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”

- Quang Dũng (vị trí tác giả trong hoàn cảnh):

+ Năm 1947, Quang Dũng là đại đội trưởng trong trung đoàn Tây Tiến Tới cuối

1948, ông được lệnh chuyển sang đơn vị khác Một thời gian sau, khi đang ở Phù Lưu

Trang 26

Chanh, một làng thuộc tỉnh Hà Đông, nhớ đơn vị cũ, Quang Dũng đã viết bài thơ “NhớTây Tiến”.

+ Năm 1957, khi in lại trong tập “Mây đầu ô”, tác giả đổi nhan đề bài thơ thành

“Tây Tiến”

=> Hoàn cảnh sáng tác cho thấy rõ hơn nỗi nhớ da diết của nhà thơ với đơn vị cũ vàmảnh đất miền Tây đầy kỷ niệm, nỗi nhớ đã trở thành cảm xúc trữ tình xuyên suốt bàithơ

Hoàn cảnh sáng tác cũng đồng thời giúp người đọc hiểu rõ hơn vẻ đẹp hòa hoa, hào hùngcủa chiến sỹ Tây Tiến, hiểu được ng/x bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn - nhữngyếu tố làm nên chất bi tráng rất đặc biệt cho bài thơ

B TÌM HIỂU TÁC PHẨM:

Nỗi nhớ về chặng đường hành quân gian lao vất vả của chiến sỹ Tây Tiến

qua vùng núi rừng miền Tây

1 Hai câu đầu: thể hiện cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ và của bài thơ

- Câu thơ đầu chia thành 2 vế trong nhịp ngắt 4/3:

“Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi!”

+ Sông Mã là dòng sông chảy dọc theo địa bàn biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh MộcChâu, Sầm Nưa, Mai Châu, Quan Hóa… Đây là dòng sông nhiều ghềnh thác, đổ dốc dữdội, một mình băng băng giữa núi rừng hùng vĩ, hai bên bờ sông còn rải rác mồ chiến sỹTây Tiến Vì thế, Sông Mã vừa là 1 cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, vừa là hình ảnh củavùng đất miền Tây Sông Mã còn là 1 dòng sông gắn liền với chặng đường hành quân củatrung đoàn, từng chứng kiến và chia sẻ những buồn vui, những mất mát hy sinh, từng

“gầm lên khúc độc hành” tiễn đưa tử sỹ Sông Mã là 1 hình ảnh thiên nhiên miền Tâyđựng đầy kỷ niệm về trung đoàn Tây Tiến Hành hương về quá khứ, Quang Dũng đã nhắcđến Sông Mã như 1 biểu tượng đầu tiên của nỗi nhớ nhung

+ Bài thơ được viết khi Quang Dũng đang ở Phù Lưu Chanh, xa trung đoàn, xađồng đội, xa núi rừng miền Tây và dòng sông Mã thân yêu Nhịp 4/3 với dấu ngắt giữadòng tạo cảm giác như có 1 phút ngừng lặng để cảm nhận sự trống trải mênh mông trongthực tại bởi “Sông Mã xa rồi”, để rồi sau đó hiện tại mờ đi, nỗi nhớ ùa vào trong tiếng gọitha thiết hướng về quá khứ: “Tây Tiến ơi!” Tiếng gọi ấy không dừng lại trong câu 1 mànhư được ngân nga, nối tiếp trong những vần “ơi” của từ láy “chơi vơi” ở câu 2 - phép

Trang 27

điệp vần tinh tế khiến tiếng gọi như âm vang, đập vào vách đá, dội lại lòng người, da diết,bâng khuâng…

- Câu sau: Sau tiếng gọi ấy, nỗi nhớ ào ạt, trào dâng trong câu thơ tiếp theo:

“Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”

+ Từ “nhớ” điệp lại ở đầu 2 vế câu diễn tả nỗi nhớ da diết, ám ảnh, không thể nguôingoai

+ Vế đầu của câu thơ xác định đối tượng của nỗi nhớ “nhớ về rừng núi” - đó làkhông gian mênh mông của miền Tây với những địa danh như Sài Khao, Mường Lát, PhaLuông…, những địa danh vừa gợi lên kỷ niệm về con đường hành quân gian truân, vất vả,vừa gây ấn tượng mạnh mẽ về miền đất heo hút, hoang sơ; và vì thế nỗi nhớ không chỉdừng lại ở rừng núi, nỗi nhớ còn hướng tới những năm tháng quá khứ đầy kỷ niệm vànhững người đồng đội thân yêu, nay kẻ còn, người mất…

+ Vế sau câu thơ dành miêu tả trạng thái của nỗi nhớ “Chơi vơi” là 1 từ láy vần,gợi độ cao phiêu du, bay bổng, là 1 từ láy rất phù hợp để miêu tả nỗi nhớ nhung về miềnnúi cao Hơn nữa, từ láy “chơi vơi” gợi cảm giác về một nỗi nhớ vô hình, vô lượng,không thể đo đếm, một nỗi nhớ da diết, mơ hồ, đầy ám ảnh, một nỗi nhớ lơ lửng, ăm ắp,không nguôi…

=> Hai câu thơ đầu đã thể hiện cảm hứng chủ đạo của cả bài thơ, đó là nỗi nhớ thathiết hướng về những kỷ niệm không thể nào quên trong quá khứ với miền Tây và trungđoàn Tây Tiến

2 Mười hai câu sau: trong 12 câu sau, nỗi nhớ ấy chủ yếu hướng về vùng đất miền Tây qua chặng đường hành quân gian nan vất vả của trung đoàn Tây Tiến Thông qua những kỷ niệm về thiên nhiên và con người, Quang Dũng khắc họa vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người chiến sỹ Tây Tiến.

a) Nỗi nhớ về thiên nhiên miền Tây:

Thông qua những nét phác tài hoa, vừa hiện thực, vừa thấm đẫm chát lãng mạn, QuangDũng đã làm hiện lên bức tranh thiên nhiên miền tây heo hút, hiểm trở nhưng cũng hùng

vĩ, thơ mộng, biết bao kỳ thú

- Sương: Nét đặc sắc đầu tiên về thiên nhiên miền Tây qua ký ức của Quang Dũngchính là màu sương rừng mờ ảo Sương phủ dày ở Sài Khao, sương bồng bềnh ở MườngLát, nhưng đó không chỉ là màn sương của thiên nhiên mà còn là màn sương mờ của kỷniệm, của nỗi nhớ thương:

Trang 28

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏiMường Lát hoa về trong đêm hơi”

+ Bút pháp hiện thực trong câu trên đã mô tả một đoàn quân dãi dầu, mệtmỏi, thấp thoáng ẩn hiện trong sương Nhịp ngắt 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào từ

“lấp” ở cuối vế đầu Với việc này, nhà thơ đã cho thấy màn sương rừng miền Tây mênhmông, dày đặc, che kín cả một đoàn quân, trùm phủ, khuất mờ rừng núi, khiến con đườnghành quân của các chiến sỹ thêm vất vả, gian nan

+ Với câu sau, hiện thực khắc nghiệt đã được thi vị hóa bởi cảm hứng lãngmạn: Đêm sương thành “đêm hơi” bồng bềnh, những ngọn đuốc soi đường di chuyển dọctheo hàng quân được nhìn như những đóa hoa chập chờn, lung linh, huyền hoặc… Nhữngthanh bằng nhẹ bẫng trong câu thơ càng làm đậm thêm sắc hư ảo của màu sương rừng Sựkhắc nghiệt của thiên nhiên đã được cảm nhận một cách thi vị bởi những tâm hồn lãngmạn, hào hoa…

- Dốc núi: Nhắc đến miền Tây không thể nào quên sự hiểm trở và hùng vĩ vô cùng

của dốc núi Đoạn thơ mô tả dốc núi miền Tây đã làm hiện ra sắc nét khung cảnh thiênnhiên hùng vĩ và hiểm trở ấy, qua đó cũng đồng thời làm hiện ra cuộc hành quân gian lao

và vất vả, ý chí bất khuất kiên cường, tinh thần lạc quan, yêu đời của người lính Tây Tiến

Đọc đoạn thơ mô tả dốc núi của Quang Dũng, người đọc có thể nhớ tới con đườngkhó khăn lên xứ Thục của Lý Bạch xưa:

“Thục đạo nan! Thục đạo nanNan ư hướng thiên thanh”

Nghĩa là:

Đường lên xứ Thục khó thayKhó như đi lên trời xanh+ Câu thơ đầu trực tiếp miêu tả dốc núi miền Tây:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”

Câu thơ ngắt nhịp 4/3, từ “dốc” điệp lại ở đầu 2 vế câu thể hiện sự trùngđiệp, chồng chất, nối tiếp như tới vô tận của những con dốc, cũng phần nào gợi ra nhữngnỗi nhọc nhằn của người lính trên đường hành quân: con dốc này chưa qua, con dốc kháclại đợi sẵn, núi rừng miền Tây như muốn thử thách nghị lực của các anh

Sự hiểm trở của dốc núi miền Tây đã hiện ra trong ý nghĩa tạo hình củabiểu cảm của các từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” Từ láy “khúc khuỷu” miêu tả sự gồghề, gập ghềnh ngay dưới chân chiến sỹ, còn từ láy “thăm thẳm” lại gợi độ cao, độ xa vời

Trang 29

vợi khi đưa mắt nhìn tiếp con đường hành quân vẫn cheo leo ngút ngàn như không cùng,con đường lên miền Tây quả là “nan ư hướng thiên thanh” (Lý Bạch)

Sự hiểm trở ấy còn được hiện ra trong nhạc điệu bởi sự phối hợp dày đặc

5 thanh trắc ghập ghềnh trong một câu 7 chữ

+ Câu thơ thứ hai: Dốc núi miền tây còn được gợi tả gián tiếp trong câu thơsau với việc tô đậm ấn tượng về độ cao chót vót:

“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

Từ láy “heo hút” được đảo lên đầu cao nhấn mạnh sự hoang sơ xa vắng,thăm thẳm như vô tận

“Cồn mây” là một ẩn dụ đặc sắc cho thấy mây núi miền Tây bộn bề,chồng chất, dựng lên thành cồn, thành dốc Từ đó câu thơ dán tiếp cho thấy dốc núi caođến mức con đường như lẫn vào mây, bao phủ đường núi, mây mờ mịt trập trùng, mâykhiến con đường hành quân của chiến sỹ càng cheo leo, hiểm trở, hoang vu…

Vế sau của câu thơ cũng tiếp tục gợi tả độ cao của dốc núi khi người lính

đi trong mây, mũi súng như chạm tới đỉnh trời Đây là một cảm nhận chính xác của nhàthơ về địa hình heo hút, hiểm trở trên đường hành quân của chiến sỹ Sự hiểm trở ấy đãlàm tăng thêm những gian truân vất vả cho người lính Nhưng bằng cách nói tếu táo, hómhỉnh, đầy chất lính trong hình ảnh “súng ngửi trời” Quang Dũng đã cho thấy tâm hồn trẻtrung của những người lính phong trần, coi thường mọi gian lao vất vả Vũ Quần Phươngcòn cho rằng hình ảnh “súng ngửi trời” là: “Trung tâm hùng tráng của bức tranh hiểm trở,bởi ở chỗ cao ấy có con người” Và do vậy, câu thơ không chỉ gợi sự hiểm trở của dốcnúi, sự tươi trẻ lạc quan của chiến sỹ Tây Tiến, nó còn khiến các anh hiện ra trong dáng

vẻ ngang tàng kiêu dũng của những chàng trai chinh phục độ cao

+ Câu thơ thứ ba: Dốc núi tiếp tục được miêu tả trong một nét vẻ sắc sảo,gân guốc:

“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

Điệp ngữ “ngàn thước” là một ước lệ nghệ thuật có tính định lượng đãkhắc họa vẻ đẹp kỳ vĩ, chênh vênh, kỹ thú của núi rừng miền Tây Yếu tố tương đồng củađiệp ngữ “ ngàn thước” cộng chất tương phản của các động từ “ lên”, “xuống” trong hai

vế câu đã tạo ra một nét gập đột ngột, dữ dội đặc tả độ cao của dốc, độ sâu của vực, bênnày đường lên núi dựng đứng vút cao, bên kia vực đổ xuống hun hút hiểm trở

=> Trong 3 câu thơ đặc biệt giàu chất tạo hình, dốc núi miền Tây đã được miêu tảmột cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng đều khắc họa được đồng thời cả sự hiểm trở lẫn

Trang 30

vẻ đẹp ký thú, thông qua bức tranh thiên nhiên có thể thấy những vẻ đẹp trong tâm hồnngười lính Tây Tiến: Họ lạc quan, mạnh mẽ, coi thường mọi gian truân, những khó khănthử thách của thiên nhiên chỉ làm rõ hơn ý chí, sức mạnh tâm hồn trẻ trung và tư chấtnghệ sỹ của họ

- Mưa rừng: Sau những câu thơ hun hút nhọc nhằn miêu tả dốc núi, câu thơ tả mưamiên man trong 7 thanh bằng với rất nhiều âm thanh mở, câu thơ đã gợi tả một khônggian mênh mông, dàn trải, nhạt nhòa trong mưa:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Hình ảnh “mưa xa khơi” có thể coi là một ẩn dụ cho thấy cả thung lũng mờmịt như loãng tan trong biển mưa, không gian bỗng như mênh mông, xa vời hơn Saunhững chặng đường hành quân gian khổ, người lính như đang dừng chân đâu đó đưa mắtnhìn cảnh núi rừng chìm trong mưa Ánh mắt những người lính xa nhà bâng khuânghướng tới những ngôi nhà bồng bênh thấp thoáng trong màn mưa hư ảo… Sắc thái phiếmchỉ khiến cụm từ “nhà ai” trở nên mơ hồ, xa xăm; sắc thái nghi vấn gợi nỗi trăn trở tronglòng người Cả câu thơ chỉ có duy nhất tiếng “nhà” mang thanh huyền như một thoángtrầm lắng suy tư để rồi sau đó tất cả là những thanh không chơi vơi trong nỗi nhớ

+ Giữa mưa rừng buốt lạnh, giữa núi rừng mênh mông, hình ảnh những ngôinhà đã gợi cảm giác ấm áp, nhớ nhung, dễ làm xao xuyến lòng người xa quê

- Núi rừng thâm u: Núi rừng miền Tây được miêu tả trong những nét vẽ đầy ấn

tượng:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thétĐêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

+ “Thác gầm thét” và “cọp trêu người” là hai hình ảnh nhân hóa thể hiện sự

dữ dội, hoang sơ đầy bí hiểm của núi rừng miền Tây Bút pháp đối lập của cảm hứng lãngmạn được sử dụng trong phép đối thanh rất tinh tế ở hai câu thơ này: nếu câu trên có

“thác”, “thét” mang thanh trắc ở âm vực cao thì âm dưới là “hịch”, “cọp” cũng mangthanh trắc nhưng thuộc âm vực thấp Những dấu sắc trong câu trên như gợi âm thanhtiếng thác nước man dại ở vòm cao thăm thẳm, những dấu nặng liên tiếp trong câu dướilại như mô phỏng bước chân nặng nề của thú dữ, gợi cái thâm u, bí ẩn đầy đe dọa ở vòmtối thấp của núi rừng

+ “Chiều chiều” và” đêm đêm” là những trạng ngữ chỉ thời gian lặp lạinhững miên viễn, vĩnh hằng, những sức mạnh thiên nhiên khủng khiếp đã ngự trị nơi núirừng miền Tây không phải một chiều, một đêm mà là chiều chiều, đêm đêm - sự ngự trịmuôn đời! Nhưng cũng chính điều này lại càng khiến chân dung người chiến sỹ Tây Tiến

Trang 31

thêm hào hùng, mạnh mẽ Họ đã hành quân qua những vùng đất hoang sơ, dữ dội, vắngbóng con người, họ đã vượt qua tất cả những gian truân vất vả bằng ý chí kiên cường vàlòng dũng cảm

b) Nỗi nhớ về người chiến sỹ Tây Tiến trong chặng đường hành quân

Sự vất vả gian truân cũng như vẻ đẹp trong tâm hồn người lính đã ít nhiều thể hiện trongnhững câu thơ miêu tả cảnh thiên nhiên miền Tây và hành trình qua miền Tây; Ngoài racòn có những câu thơ trực tiếp miêu tả hình ảnh người lính cũng như những kỷ niệm của

họ trên đường hành quân

- Trước hết là một ký ức sâu đậm của Quang Dũng về hình ảnh một người chiến sỹTây Tiến trên đường hành quân

“Anh bạn dãi dầu không bước nữaGục lên súng mũ bỏ quên đời”

+ Từ láy “dãi dầu” đã thể hiện tất cả những vất vả nhọc nhằn của các anh khihành quân qua miền Tây, khi phải vượt qua những núi cao vực thẳm, những thác ghềnh

dữ dội, những sương gió nắng mưa

+ Hai câu thơ tựa như một bức ký họa đầy ấn tượng về người lính Có thể hiểu đây

là hình ảnh người lính phong trần buông mình vào giấc ngủ hiếm hoi trong phút dừngchân, một giấc ngủ mệt nhọc, vô tư, trẻ trung; Cũng có thể hiểu đây là câu thơ miêu tảthực tế đau xót trên chiến trường khi người lính kiệt sức, gục ngã, không thể bước tiếpcùng đồng đội Cũng có thể thấy người lính quỵ xuống khi đang đi giữa hàng quân nhưng

“súng mũ” vẫn bên mình - như vậy là dù không vượt qua được khó khăn nhưng anh cũngkhông thoái lui, chùn bước, không đầu hàng khó khăn, không rời bỏ đội ngũ Và nhất làhiện thực khắc nghiệt của chiến tranh đã được Quang Dũng biểu hiện bằng cách nói thậtlãng mạn để qua đó làm hiện lên không phải khó khăn mà là tinh thần dũng cảm vượt lênkhó khăn, đó chính là vẻ đẹp hào hùng của người chiến binh Tây Tiến

- Con đường hành quân của chiến sỹ Tây Tiến không chỉ có gian truân vất vả màcòn có cả những kỷ niệm ngọt ngào, thắm thiết ân tình Miền Tây không chỉ có núi cao,rừng sâu…, miền Tây còn còn có những bản làng nên thơ với khói lam chiều ấm áp quệnbên sườn núi, có hương thơm quyến rũ của xôi nếp hương và nhất là có những sơn nữ tình

tứ và xinh đẹp:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khóiMai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Trang 32

+ Hai câu thơ là những cụm từ ngữ đã được xóa đi các yếu tố kết nối khiến cho nómang dáng dấp như một bức tranh ấn tượng, một bức tranh của nghệ thuật sắp đặt, trong

đó ghi lại tổng hợp những ấn tượng của cả thị giác, thính giác, khứu giác và thậm chí cảxúc giác

+ Mở đầu bằng cụm từ “nhớ ôi…”, câu thơ đã bộc lộ cảm xúc nhớ nhung dâng tràomãnh liệt sau những chặng đường hành quân giữa mưa rừng buốt lạnh, giữa những tiếngchân thú rình rập đầy đe dọa, bát cơm mới thơm ngào ngạt cùng làn khói bếp mỏng manhvương vấn quấn quýt phút dừng chân ở Mai Châu, một bản làng miền Tây, tất cả đã đemđến cảm giác thanh bình thật hiếm hoi, quý giá trong chiến tranh Giống như âm thanhtiếng gà trưa trên đường hành quân của anh chiến sỹ trong bài thơ Xuân Quỳnh, hươngthơm bát xôi nếp đầu mùa ở Mai Châu sẽ mãi là một kỷ niệm khó quên về tình cảm quândân ấm áp trong cả đời người lính chiến

+ Câu “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” gợi ra nhiều cách hiểu Có thể hiểu cácchiến sỹ Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín, đón nhận bát xôi ngào ngạthương nếp đầu mùa và tình em thơm thảo… Cũng có thể hiểu theo một nét thật lãng mạncủa cụm từ “mùa em” Người ta thường chỉ nói “mùa hoa”, “mùa quả”… Đó là thời điểmcăng tràn, sung mãn, đầy ắp sắc hương của hoa trái… Quang Dũng đã tạo ra một nghĩamới mẻ, táo bạo và thật đa tình về mùa em khiến cho Mai Châu không chỉ là một địa danhvới kỷ niệm thơm thảo của hương nếp đầu mùa, Mai Châu còn gợi nhớ hình ảnh về những

cô gái miền Tây duyên dáng Có người lính nào quên được giây phút dừng chân ở MaiChâu, khi nồng ấm xung quanh các anh là dân làng, là các sơn nữ sóng sánh ánh mắt,rạng rỡ nụ cười, nồng nàn hương sắc… Những thanh bằng trong câu thơ đã gợi tả tinh tếcảm giác bồng bênh, xao xuyến tới đê mê của những chàng trai Hà thành hòa hoa và lãngmạn

 Với sự kết hợp uyển chuyển giữa họa và nhạc, giữa bút pháp hiện thực và cảm hứnglãng mạn, 14 câu thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng đã tái hiện sinh động và biểucảm về một vùng đất hiểm trở, khắc nghiệt mà thơ mộng kỳ thú, gắn liền với chặngđường hành quân của người chiến sỹ Tây Tiến qua miền Tây Từ những kỷ niệm hiện lêntrong nỗi nhớ da diết về quá khứ, Quang Dũng đã thể hiện chân thực bức chân dung củanhững người lính Tây Tiến kiêu dũng và hào hoa, góp phần làm đậm thêm cảm hứng chủđạo của bài thơ Tây Tiến

Trang 33

Cảm nhận đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng (8 câu đoạn 2) I/ Mở bài:

- Tác giả (A.1), tác phẩm (A.2.1)

- Cả bài thơ là nỗi nhớ tha thiết của Quang Dũng hướng về những kỷ niệm không thể nàoquên với miền Tây và trung đoàn Tây Tiến Tám câu thơ được bình giảng nằm trong đoạnthứ hai của bài thơ Đây là đoạn thơ tái hiện những ấn tượng sâu sắc về một đêm lửa trại

và sau đó là nỗi nhớ của nhà thơ về cảnh và người miền Tây Thông qua những kỷ niệm

và nỗi nhớ ấy, Quang Dũng đã khắc họa sinh động vẻ đẹp lãng mạn và hào hoa của ngườichiến sỹ Tây Tiến

II/ Thân bài:

Nếu 14 câu đầu chủ yếu thể hiện sức mạnh hào hùng của người chiến sỹ Tây Tiến trongcuộc hành quân giữa núi rừng miền Tây hiểm trở thì tới đoạn 2, qua những kỷ niệm ngọtngào tươi sáng, nhà thơ đã tập trung miêu tả nét hào hoa nghệ sỹ trong tâm hồn nhữngchàng trai Hà thành lãng mạn, mộng mơ

1 Bốn câu đầu: Miêu tả những ấn tượng sâu sắc, những cảm nhận tinh tế của người

chiến sỹ Tây Tiến về một đêm lửa trại nơi trú quân giữa một bản làng nào đó ở miền Tây

- Câu thơ đầu tiên tựa như một tiếng reo vui:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa+ Đây là lần thứ hai “đuốc” được liên tưởng đến “hoa” - nếu trong đêm sươngMường Lát, chiến sỹ Tây Tiến nhìn đuốc soi đường lung linh, huyền ảo như “hoa về trongđêm hơi” thì lần này, trong một đêm lửa trại giữa bản mường miền Tây, bút pháp lãngmạn đã khiến ảnh lửa bập bùng nơi đóng quân trở thành đuốc hoa rực rỡ, gợi những liêntưởng thú vị, đem đến sự náo nức, rạo rực trong lòng người, khiến đêm liên hoan giữa bộđội và dân làng trở thành đêm hội tưng bừng

+ Cụm từ “bừng lên” là một nốt nhấn tươi sáng cho cả câu thơ, nó đem đến ấntượng về ánh sáng và đây là ánh sáng chói lòa, đột ngột của lửa, của đuốc, xóa đi cái tốităm lạnh lẽo của núi rừng, thể hiện niềm vui sướng, rạo rực trong lòng người Người đọccòn có thể hình dung ra những ánh mắt ngỡ ngàng, những gương mặt bừng sáng của cácchiến sỹ, bừng sáng vì sự phản chiếu của ánh lửa bập bùng đêm hội, bừng sáng còn vì

Trang 34

ngọn lửa ấm nóng trong tâm hồn, ngọn lửa của niềm vui trẻ trung, lạc quan, ngọn lửa củatình yêu với con người và mảnh đất miền Tây.

- Câu 2: Hình ảnh trung tâm của hội đuốc hoa là các thiếu nữ miền sơn cước:

“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”

+ Từ “kìa” và cụm từ nghi vấn “tự bao giờ” đã bộc lộ cảm giác vừa ngỡ ngàng thú

vị, vừa ngưỡng mộ trìu mến của các chiến sỹ trước sự xuất hiện của các cô gái miền Tây

Đó là cảm giác rất chân thực trong một dịp vui hiếm hoi sau bao ngày hành quân giữarừng già với núi cao, dốc thẳm, sương dày, với mua rừng và thú dữ Với niềm vui tỏa ra

từ câu thơ, Quang Dũng còn đưa người đọc đến một cảm nhận thú vị khi liên tưởng tớicâu thơ đầu “Doanh trại bừng lên” hình như không chỉ vì ánh sáng của lửa, của đuốc màcòn vì sự xuất hiện đột ngột của các sơn nữ miền Tây

+ Các cô gái hiện lên với hai ấn tượng đẹp đẽ bởi bút pháp mỹ lệ hóa trong “xiêmáo” lộng lẫy và nét “e ấp” đầy nữ tính Những ấn tượng ấy khiến các cô đẹp hơn trướcmột đoàn quân “xanh màu lá”, duyên dáng hơn trước những người lính “dữ oai hùm” Néttương phản của cảm hứng lãng mạn đã tạo nên chất thi vị làm dịu đi rất nhiều hiện thựckhắc nghiệp của chiến tranh

+ Người lính Tây Tiến không chỉ ngỡ ngàng, say đắm trước vẻ đẹp của những thiếu

nữ miền Tây e ấp và duyên dáng mà còn mơ màng trong “man điệu” núi rừng “Manđiệu” có thể hiểu là vũ điệu uyển chuyển của các sơn nữ, cũng có thể là giai điệu mới mẻcủa vùng đất lạ trong tiếng “khèn lên” mê hoặc lòng người Với tâm hồn hào hoa nghệ sỹ,đặc biệt nhạy cảm với cái đẹp, người lính Tây Tiến say đắm chiêm ngưỡng và cảm nhậnnhững hình ảnh rực rỡ, những âm thanh ngọt ngào, những đường nét duyên dáng… trongđêm lửa trại để được thả hồn phiêu diêu bay bổng trong thế giới mộng mơ với những vẻđẹp say người của phương xa đất lạ Câu thơ có tới 6 thanh bằng đã diễn tả tinh tế cảmgiác mơ màng chơi với ấy

2 Bốn câu sau: Thể hiện nỗi nhớ về cảnh của người miền Tây Những hoài niệm rực

rỡ và sống động về một đêm lửa trại đã được thay bằng những bâng khuâng xa vắng trong nỗi nhớ tha thiết mênh mông về cảnh sắc con người miền Tây

- Câu 1:

+ Nỗi nhớ miền Tây được gửi vào lời nhắn với “người đi”, nhưng đâu chỉ là nhắnvới ai đó mà thực ra nhà thơ đang để lòng mình hướng về Châu Mộc, hướng về núi rừngMiền Tây, trong một chiều sương nhạt nhòa, màn sương huyền ảo của núi rừng, mànsương huyền ảo của hoài niệm, nhớ nhung

Trang 35

+ Trong tiếng Việt, “ấy” là một đại từ chỉ định luôn đem đến sắc thái xa xôi, mơ hồcùng nỗi nhớ tiếc cho những danh từ đứng cùng với nó như: thuở ấy, ngày ấy, người ấy…

Và bây giờ, khi đang ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng cũng nhắc về chiều sương ấyvới bao nỗi nhớ thương lưu luyến khi Châu Mộc trở nên nhạt nhòa trong sương khói vàbuổi chiều miền Tây với cảnh, với người… đã bị đẩy về một quá khứ thật xa xăm

- Câu 2, 3, 4: Sau lời nhủ thầm xao xuyến, nhà thơ cất lên những tiếng hỏi mà phépđiệu trong cấu trúc câu: “Có thấy hồn lau… có nhớ dáng người…” đã thể hiện nỗi nhớnhung đầy trăn trở hướng về cảnh và người miền Tây

+ Câu hỏi thứ nhất hướng về những hàng lau xám buồn bên bờ sông hoang dại:

“Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”

Nét đặc sắc trong câu thơ chính là hình ảnh ẩn dụ về “hồn lau” thay vì bờ lau, hàng lauhay rừng lau… Hoa lau có màu xám trắng, bông lau được tạo bởi muôn ngàn hạt nhỏ li linên chỉ cần một chút gió rất nhẹ hoa cũng xao động, cả bờ lau đung đưa mềm mại Sắctrắng của hoa lau trong chiều sương nhạt nhòa, mơ ảo, cái phơ phất của ngàn lau trongxạc xào gió núi… đã khiến rừng lau như có hồn, như biết sẻ chia nỗi niềm với con người,

sự giao cảm khiến nỗi nhớ càng mênh mông da diết

Khi đã xa miền Tây, câu hỏi “có thấy hồn lau nẻo bến bờ” càng làm “xao xác”lòng người Hoa lau thường mọc ven bờ sông, triền núi, nơi vắng người qua lại Trongnhững năm tháng quá khứ, người chiến sỹ Tây Tiến hành quân giữa núi rừng miền Tây,bên dòng sông Mã, giữa phơ phất ngàn lau, lau như linh hồn của rừng núi chia sẻ buồnvui với chiến sỹ trên đường hành quân Nay người đã đi xa, ngàn lau vẫn ở lại giữa mênhmông gió núi, cảm giác về những bờ lau cô đơn “nẻo bến bờ” khiến nỗi nhớ càng xao xáctrong lòng người đã chia xa miền Tây

+ Câu hỏi thứ hai dành cho con người miền Tây:

“Có nhớ dáng người trên độc mộcTrôi dòng nước lũ hoa đung đưa”

Trong làn sương mờ của hoài niệm, con người miền Tây chỉ hiện lên như một bóngdáng mờ xa huyền ảo Dáng người ấy vừa cứng cỏi, kiên cường trên con thuyền “độcmộc” đè thác lũ băng băng lướt tới, vừa mềm mại, duyên dáng trong hình ảnh ẩn dụ “hoađung đưa” Nếu “hoa đung đưa” gợi hình hơn biểu cảm và chủ yếu gợi hình ảnh nhữngcánh hoa dập dờn đôi bờ sông thì “hoa đung đưa” không dừng lại ở nét nghĩa cụ thể ấy

mà còn gợi tả tinh tế dáng vẻ dịu mềm, tình tứ của những sơn nữ miền Tây - đó là mộtsáng tạo mới mẻ về ngôn từ, thể hiện chất lãng mạn rất đặc sắc của hồn thơ Quang Dũng

Trang 36

III/ Kết luận:

- Nghệ thuật: Đoạn thơ đã sử dụng những từ ngữ đặc biệt có giá trị biểu hiện vàbiểu cảm như “bừng”, “hồn lau”, “đung đưa”… bút pháp thi trung hữu nhạc và thi trunghữu họa đã đem đến chất nhạc, chất họa đặc sắc cho bài thơ, với những câu thơ tái hiệnsinh động một không gian huyền ảo, với những đường nét thi vị, tràn ngập âm thanh, lunglinh ánh sáng; những câu thơ khi rạo rực hân hoan, khi bâng khuâng xa vắng, khi mơmộng bồng bềnh

- Nội dung: Bút pháp lãng mạn đậm nét trong đoạn thơ đã khắc họa vẻ đẹp thơmộng của cảnh và người miền tây qua cảm nhận của những người lính phong trần có tâmhồn nghệ sỹ Giữ được tâm hồn mộng mơ lãng mạn ngay trong những năm tháng vất vảgian truân không chỉ thể hiện được nét hào hoa mà còn là nhân tố quan trọng tạo nên sứcmạnh hào hùng để các anh chiến đấu và chiến thắng Những giá trị nội dung và nghệ thuậtđặc sắc trong bài thơ đã góp phần khắc họa vẻ đẹp toàn vẹn cho bức chân dung người línhTây Tiến trong bài thơ cùng tên của Quang Dũng

Cảm nhận đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng (đoạn 3 + 4 câu cuối) I/ Mở bài:

- Tác giả (A.1), tác phẩm (A.2.1)

Đoạn thơ được bình giảng là phần cuối của bài thơ Tây Tiến Thông qua nỗi nhớ về cuộcsống chiến đấu gian khổ và sự hy sinh anh dũng của chiến sỹ Tây Tiến, đoạn thơ đã trởthành một bức tượng đài về hình ảnh những người chiến binh miền Tây với vẻ đẹp hàohùng của lý tưởng cao cả, của ý chí kiên cường, của sự hy sinh dũng cảm cùng vẻ đẹp hàohoa lãng mạn của những tâm hồn đằm thắm mộng mơ

II/ Thân bài:

1 Bốn câu đầu: Nhà thơ đã tái hiện chân thật cuộc sống chiến đấu gian khổ kiên cường của các chiến sỹ Tây Tiến trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

a) Hai câu đầu:

- Trong ký ức của Quang Dũng, Tây Tiến là một “đoàn binh không mọc tóc” Nét

vẽ ngoại hình này xuất phát từ một hiện thực trong cuộc sống của người lính Tây Tiến: họphải cạo trọc đầu để giảm bớt những bất tiện trong cuộc sống ở rừng; cũng có thể đó làhậu quả của những trận sốt rét liên miên nơi rừng thiêng nước độc Dù hiểu theo cáchnào, hình ảnh ấy cũng gợi lên sự gian khổ, thiếu thốn, nghiệt ngã của chiến tranh Nhưng

Trang 37

với cách diễn đạt độc đáo của Quang Dũng, cũng như trong câu thơ “Anh bạn dãi dầukhông bước nữa”, câu thơ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” đã chuyển hoàn toàn tìnhthế bị động sang trạng thái chủ động Sự chủ động khiến người lính Tây Tiến hiện lênkhông tiều tụy, nheo nhếch mà kiêu bạc, ngang tàng Hơn thế nữa, còn có thể coi hình ảnh

“đoàn binh không mọc tóc” là một nét vẽ phi thường làm đậm thêm cảm hứng lãng mạncho hình tượng thơ

- Câu 2: Chân dung người lính còn được vẽ tiếp trong một nét ngoại hình đặc sắc:

“Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

+ Có thể hiểu đây là màu xanh áo lính hay màu xanh của lá ngụy trang khiếncho cả đoàn quân “xanh màu lá” Nhưng theo mạch thơ, có lẽ nên hiểu đây là câu thơmiêu tả những gương mặt xanh xao gầy ốm vì sốt rét, vì cuộc sống kham khổ ở rừng Cóthể nhận ra các diễn đạt tinh tế của Quang Dũng khi nhà thơ miêu tả một đoàn quân “xanhmàu lá” chứ không phải “xanh xao”, người lính Tây Tiến như hòa với thiên nhiên cây lá -

ốm mà không yếu, gầy ốm mà vẫn tràn đầy sức sống Cũng có thể thấy “không mọc tóc”

và “xanh màu lá” là cách diễn đạt đẹp và thanh về một hiện thực thô ráp nặng nề trongchiến tranh

+ Và ngay trong vế sau của câu thơ đã là một tương phản độc đáo với hìnhảnh “dữ oai hùm” - trên những gương mặt xanh xao gầy ốm của người lính vẫn toát lênnét dữ dội kiêu hùng, vẻ uy nghi lẫm liệt, tựa như những vị chúa tể rừng xanh! Cũng vớihình ảnh về một “đoàn binh không mọc tóc”, những gương mặt “dữ oai hùm” cũng là nét

vẽ đặc sắc, ấn tượng của cảm hứng lãng mạn trong bức chân dung phi thường về ngườichiến binh Tây Tiến

+ Hình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm” còn gợi liên tưởng tới “cọp trêu người” ởđoạn trên - một liên tưởng thú vị, tự hào: dường như ở miền đất có bóng hổ rình rập đedọa với “cọp trêu người” thì người lính cũng phải có “oai hùm” dữ dội, uy nghi để chếngự và chiến thắng

=> Miêu tả người chiến sỹ Tây Tiến trong gian khổ, bệnh tật nhưng QuangDũng không chú trọng vào gian khổ cùng hậu quả của nó mà nghiêng về ca ngợi vẻ đẹpphi thường, lãng mạn, hào hùng

b) Hai câu sau:

Bức tượng đài chiến sỹ Tây Tiến không chỉ có nét ngang tàng oai phong trong dáng vẻ uynghi dữ dội mà còn được thể hiện ở chiều sâu đẹp đẽ trong tâm hồn:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Trang 38

Đêm mơ Hà Nội dáng kiềm thơm”

+ “Mắt trừng” là ánh mắt mở to hướng thẳng về phía trước, ánh mắt ngời lên

ý chí chiến đấu, khát vọng chiến thắng, cái khát vọng gửi trong mộng chiến trường, giấcmộng cao đẹp của những người trai thời loạn Ánh mắt ấy thực chất là một hình ảnh ước

lệ của cảm hứng lãng mạn nhằm tôn thêm sự oai phong lẫm liệt trong dáng vẻ, nét kiêuhùng ngạo nghễ trong tâm hồn những người lính có lý tưởng và khát vọng lớn lao, ra đi vìnghĩa lớn như những tráng sỹ xưa “Giã nhà đeo bức chiến bào - Thét roi cầu vị ào ào gióthu”

+ Những chàng trai Hà Nội ra đi vì sức vẫy gọi mãnh liệt của lý tưởng songtrái tim của họ vẫn dành một góc lưu luyến nhớ nhung về “Hà Nội dáng kiều thơm” Theocấu trúc câu, có thể hiểu người lính miền viễn xứ khi xa quê vẫn mơ màng nhớ về Hà Nội,nhớ về thủ đô hoa lệ đẹp như một dáng kiều thơm; cũng có thể hiểu theo một cách rấtlãng mạn đó là nỗi nhớ về những thiếu nữ Hà thành với vóc dáng đáng yêu, kiều diễm.Qua hình ảnh ẩn dụ về “dáng kiều thơm”, câu thơ đã gợi tả vóc dáng sắc hương những côgái Hà Nội hào hoa thanh lịch trong nỗi nhớ nhung của người lính xa nhà

+ Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng: “hai câu thơ như chứa đựng cả hai thếgiới” Sự tương đồng trong 2 nét nghĩa của “mộng” và “mơ”, sự tương phản của 2 thế giớinghĩa chung và tình riêng đã làm nên vẻ đẹp toàn vẹn cho tâm hồn người lính: họ khôngchỉ có lý tưởng cao cả, ý chí kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn mà còn là nhữngchàng trai lãng mạn mộng mơ có trái tim chan chứa tình yêu thương

+ Cũng như hình ảnh: “Người ra đi đầu không ngoảnh lại - Sau lưng thềmnắng lá rơi đầy” trong sáng tác mùa thu trước Cách mạng, và sau đó là người lính trong:

“Những đêm dài hành quân nung nấu - Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”, những chàngtrai Hà Nội trong đoàn quân Tây Tiến cũng thật lãng mạn, kiêu hùng; tình yêu thương trởthành động cơ đẹp đẽ để họ ra đi chiến đấu vì những điều yêu thương, đó là những nétkhắc họa chân thực, cảm động về cả một thế hệ người Việt Nam dằn lòng gạt tình riêng ra

đi vì nghĩa lớn

2 Bốn câu sau: Trực tiếp miêu tả sự mất mát hy sinh anh dũng của người chiến sỹ

- Câu thơ đầu: Đem đến một cảm giác buồn bã, ảm đạm về cái chết:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ”

+ Có thể nhận ra một nét nghĩa tương đồng trong cả 4 từ của câu thơ khi tất

cả đều ít nhiều gợi tới sự xa xôi: “rải rác” gợi ra hình ảnh của những nấm mồ nằm xanhau dọc đường hành quân, “biên cương” là nơi cuối cùng của đất nước, cũng có thể coi

Trang 39

là “viễn xứ”, xứ xa; “mồ” là hình ảnh của cái chết gợi sự chia lìa xa cách của tử biệt sinh

ly, của sự sống và cái chết, của cõi dương và cõi âm, của những nấm mồ miền viễn xứ vớinhững người thân yêu chờ đợi nơi quê nhà Những nét nghĩa ấy cũng hướng tới miêu tảmột thực tế: rất nhiều cái chết, rất nhiều nấm mồ của những con người xa quê nằm lạimiền viễn xứ - có lẽ đó chính là nguyên nhân đưa đến cảm giác ảm đạm lạnh lẽo cho cảcâu thơ

+ Trong một câu thơ và đoạn thơ dùng rất nhiều từ Hán Việt thì “mồ" là một

từ thuần Việt có giá trị biểu hiện và biểu cảm thật xúc động Không sử dụng từ “mộ”trang trọng, “mồ” là một danh từ miêu tả chính xác thực tế chiến trường lúc đó khi cácanh hy sinh trên đường hành quân, việc chôn cất sơ sài, vội vã, đồng đội xót lòng để cácanh lại trong những nấm đất hoang lạnh, hiu hắt, đơn sơ trên đường Bản thân cái chết đãgợi nên sự buồn bã, càng lạnh lẽo hơn khi các anh không được nằm bên nhau, những nấm

mồ cứ rải rác trên từng chặng đường hành quân gian khổ, những nấm mồ thiếu hơi ấmcủa gia đình, quê hương - sự hy sinh của các anh càng làm đau lòng người sống Tây Tiến

là một trong số ít những tác phẩm văn chương thời chống Pháp trực tiếp miêu tả sự mấtmát hy sinh của người lính, thậm chí bằng những câu thơ gợi nỗi bi thương, đau xót nhất

- Câu thứ hai: Tuy nhiên Tây Tiến bi mà không lụy, ảm đạm mà không yếu mềm,cảm hứng bi tráng đã trở thành âm hưởng chủ đạo của đoạn thơ và của bài thơ

+ Một trong những yếu tố đem đến sắc thái mạnh mẽ và hào hùng cho đoạnthơ chính là việc Quang Dũng đã sử dụng một loạt các từ Hán Việt như: biên cương, viễn

xứ, chiến trường, độc hành khiến sự hy sinh của chiến sỹ Tây Tiến được đặt vào mộtkhông khí thiêng liêng trang trọng tạo tâm thế ngưỡng mộ đầy tôn kính cho người đọc

+ Và cảm giác ảm đạm ngậm ngùi trong câu 1 đã nhanh chóng được xóa đibởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 2:

“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Hình tượng thơ đậm nét bi tráng, phảng phất hình ảnh những tráng sỹxưa: “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”, những con người sẵn sàng gạt tình riêng ôm chílớn “ra đi không vương thê nhi” Cũng với cách diễn đạt chủ động trong kiểu câu phủđịnh,, câu thơ đã tô đậm lý tưởng cao cả và khí phách kiên cường của những người chiến

sỹ anh hùng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”

“Đời xanh” là hình ảnh ẩn dụ cho tuổi thanh xuân, thời gian đẹp nhấttrong đời, quãng thời gian một đi không trở lại; nhịp đi liền mạch trong câu thơ “chiếntrường đi chẳng tiếc đời xanh” cho thấy ý chí quyết tâm cao độ của những người thanhniên ưu tú sẵn sàng hiến dâng cuộc đời và tuổi thanh xuân, cũng có nghĩa là sẵn sàng hiến

Trang 40

dâng phần đời đẹp nhất cho đất nước, đó cũng là tâm nguyện, là ý chí cao đẹp của nhữngngười thanh niên Việt Nam thời chống Mỹ đã được Thanh Thảo thể hiện trong những câuthơ chânh thành, xúc động:

“Chúng tôi - đã đi không tiếc đời mìnhNhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếcNhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”

+ Như vậy, sau câu thơ đầu nói về cái chết, về những nấm mồ, câu thơ tiếptheo lại khẳng định ý chí, lý tưởng và khí phách của chiến sỹ Tây Tiến Phải chăng đâycũng là hàm ý sâu xa của nhà thơ: các anh nằm lại trong những nấm mồ miền viễn xứnhưng khí phách tinh thần vẫn sống mãi tuổi hai mươi, và với Tổ quốc các anh là bất tử,

vẻ đẹp hào hùng của các anh vẫn có sức cổ vũ mãnh liệt tới muôn đời

- Câu thứ ba: Không chỉ hình ảnh của cái chết, câu thơ miêu tả việc chôn cất tử sỹcũng gây ấn tượng rất mạnh mẽ cho người đọc:

“Áo bào thay chiếu anh về đất”

+ Cảm hứng lãng mạn trong bút pháp mỹ lệ hóa đã biến tấm áo quân phụcsờn rách của người lính chiến thành tấm áp bào đẹp đẽ, thiêng liêng Quang Dũng có kểlại: “Khi tử sỹ nằm xuống không đủ manh chiếu để liệm, nói áo bào thay chiếu là mượncách nói của thơ trước đây để an ủi những người đồng chí vừa ngã xuống” Vượt lên trênhiện thực khắc nghiệt của chiến tranh, trong cảm nhận của Quang Dũng, những ngườiđồng đội thân yêu của ông khi ngã xuống vẫn được khâm liệm trong những tấm áo bàotrang trọng vốn chỉ dành cho những tráng sỹ anh hùng xả thân vì đất nước

+ Hình ảnh “áo bào thay chiếu” còn gợi liên tưởng đến lý tưởng cao quý mộtthời, coi việc chết ngoài chiến địa lấy “da ngựa bọc thây” làm niềm tự hào của đấngtrượng phu, coi “chí làm trai dặm nghìn da ngựa” là điều thiêng liêng cao quý; nhữngngười lính Tây Tiến hôm nay cũng xem việc hy sinh nơi chiến trường, được khâm liệmbằng tấm áo của chính mình là niềm vinh quang của những con người “quyết tử cho Tổquốc quyết sinh”

+ Sự bi thảm của cái chết đã được xóa đi không chỉ vì lý tưởng cao cả và khíphách hào hùng mà còn bởi cách nói giảm khi coi chết chỉ là “về đất” Không chỉ làm dịunhẹ nỗi đau, hai chữ “về đất” còn gợi ra những tầng nghĩa sâu sắc: “đất” là hình ảnh gợi

sự bền vững muôn đời của non sông đất nước, “về” gợi bao ấm áp bởi sự đón nhận và ấp

ủ, nâng niu Các anh đã từ biệt gia đình, quê hương ra đi về miền viễn xứ với mộngchiến trường cao cả, đã chiến đấu kiên cường, đã hy sinh anh dũng vì Tổ quốc, nay Tổquốc trìu mến, yêu thương, mở rộng vòng tay đón nhận những người con thân yêu trở về

Ngày đăng: 29/09/2023, 23:07

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w