Khoản 1 điều 133 Bộ luật Hình sự quy định như sau: “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể c
Trang 1MỤC LỤC
Tran
g
ĐỀ BÀI 2
BÀI LÀM 3
1 Hành vi của A và B cấu thành tội gì? Tại sao? ( 3 điểm ) 3
2 Trường hợp C và D biết là súng giả, chống cự lại, A và B không lấy được tài sản thì trách nhiệm hình sự của A, B được giải quyết như thế nào? Tại sao? ( 2 điểm ) 5
3 E có phạm tội không? Tại sao? ( 2 điểm ) 7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 2ĐỀ BÀI
Bài 1:
A và B có ý định chiếm đoạt tài sản của người khác Để việc chiếm đoạt thuận lợi chúng cùng nhau tìm mua súng Sau một thời gian tìm mua súng không được, chúng ra một cửa hàng đồ chơi trẻ em mua một khẩu súng nhựa
Một hôm, A và B đem khẩu súng này ra bờ sông (nơi thanh niên hay ngồi hóng mát) Bọn chúng gặp C, D đang ngồi bên cạnh một chiếc xe máy
A rút súng ra dọa: “ngồi im không tao bắn chết” Tưởng đây là súng thật và lo lắng cho tính mạng nên khi B lấy chiếc xe máy mang đi, C và D không có phản ứng gì A, B đem xe máy bán cho người quen là E được 8.000.000 đồng
và ăn tiêu hết
Hỏi:
1 Hành vi của A và B cấu thành tội gì? Tại sao? ( 3 điểm )
2 Trường hợp C và D biết là súng giả, chống cự lại, A và B không lấy được tài sản thì trách nhiệm hình sự của A, B được giải quyết như thế nào? Tại sao? ( 2 điểm )
3 E có phạm tội không? Tại sao? ( 2 điểm )
Trang 3BÀI LÀM
1 Hành vi của A và B đã cấu thành tội cướp tài sản theo điều 133 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 điều 133 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi
khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm”.
Từ định nghĩa trên về tội cướp tài sản, ta có thể thấy, tội cướp tài sản có hành vi khách quan không chỉ xâm phạm tới quan hệ sở hữu mà con xâm phạm tới quan hệ nhân thân Người phạm tội phải xâm phạm trước hết đến quan hệ nhân thân và thông qua việc xâm phạm đến quan hệ nhân thân này mà người phạm tội xâm phạm tới quan hệ sở hữu, hay nói cách khác, nếu không xâm phạm tới quan hệ nhân thân thì người phạm tội không thể xâm phạm tới quan hệ sở hữu được Nếu chỉ xâm phạm tới một trong hai quan hệ này thì chưa phản ánh được tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội cướp tài sản, đây cũng là một dấu hiệu, đặc điểm để phân biệt tội cướp tài sản với các tội xâm phạm sở hữu khác Vì vậy cả hai quan hệ nhân thân và sở hữu đều được coi là khách thể trực tiếp của tội cướp tài sản
Trong vụ án này, hành vi dùng súng đồ chơi của A đã khiến cho C và D sợ hãi, không dám có hành động kháng cự, đây chính là hành vi xâm phạm đến quan
hệ nhân thân Hành vi sau đó là B là lấy chiếc xe máy của C và D mang đi đã xâm phạm tới quan hệ sở hữu Vì vậy A và B đã xâm phạm vào cả hai quan hệ nhân thân và sở hữu
Về mặt khách quan của tội phạm:
Tội cướp tài sản có ba dạng được coi là hành vi phạm tội, đó là:
- Hành vi dùng vũ lực
- Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc
Trang 4- Hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được
A và B trong vụ án này tuy chỉ sử dụng súng giả để đe dọa C và D nhưng cũng được coi là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc Hành vi đe dọa dùng
vũ lực ngay tức khắc là trường hợp người phạm tội bằng lời nói, cử chỉ dọa sẽ dùng
vũ lực ngay tức khắc nếu chống cự lại việc chiếm đoạt Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện
có thể nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người khác có quan hệ thân thuộc với người bị đe dọa Tính chất của sự đe dọa trong tội cướp tài sản theo quy định của luật phải là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc Ngay tức khắc vừa dùng để chỉ sự nhanh chóng về mặt thời gian, sẽ xảy ra ngay lập tức, vừa dùng
để chỉ sự mãnh liệt của hành vi đe dọa Dấu hiệu ngay tức khắc này chỉ đòi hỏi người phạm tội đã có hành vi, cử trỉ, thái độ thể hiện ra bên ngoài là sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc mà không đòi hỏi họ phải thực sự có ý định sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc cũng như phải có đủ điều kiện để dùng vũ lực ngay tức khắc Như vậy trường hợp chỉ làm ra vẻ sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng không có ý định hoặc không
có điều kiện dùng vũ lực ngay tức khắc cũng bị coi là cướp tài sản
A đã có hành vi rút súng ra dọa: “ngồi im không tao bắn chết” A đã đe dọa trực tiếp C và D, hành vi đe dọa bằng lời nói của A cũng thể hiện là A sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc đối với C và D nếu C và D không làm theo mặc dù súng của A
và B là giả Như vậy hành vi rút súng ra dọa của A đã làm C và D không còn khả năng chống cự vì nếu chống cự thì tính mạng của C và D sẽ bị nguy hiểm, C và D không còn sự lựa chọn nào khác là làm theo lời của A Do đó hành vi đe dọa dung
vũ lực ngay tức khắc của A đã phù hợp với mặt khách quan cấu thành tội cướp tài sản Mặc dù A là người cầm súng ra dọa và B là người lấy chiếc xe máy nhưng hành vi của cả A và B mới xâm phạm tới cả hai quan hệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Cả A và B đều có sự chuẩn bị phương tiện, bàn bạc kế hoạch trước
Trang 5rồi khi tiến hành thì sẽ làm theo sự phân công ban đầu nên A và B là đồng phạm và cùng phải chịu TNHS về tội đã phạm
Về mặt chủ quan của tội phạm:
Lỗi của người phạm tội cướp tài sản là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội không chỉ cố ý thực hiện hành vi phạm tội mà còn phải có mục đích chiếm đoạt tài sản thì mới là tội cướp tài sản Nhự vậy, ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội phải có trước khi thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc Người phạm tội mong muốn sử dụng những hành vi khách quan nói trên nhằm đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của người bị tấn công, để có thể thực hiện được mục đích chiếm đoạt tài sản Ở đây, A và B đã bàn trước với nhau mua súng giả với ý định ngay từ đầu là chiếm đoạt tài sản của người khác và dùng khẩu súng đó để nhằm khống chế người bị hại nếu chống cự Hành vi dùng súng với mục đích chiếm đoạt tài sản của A và B là cố ý với mong muốn khống chế C và D để lấy đi chiếc xe máy A và B biết trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội cụ thể là xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản nhưng vẫn
cứ thực hiện hành vi, hậu quả xảy ra phù hợp với mong muốn của A và B là chiếm đoạt được tài sản Như vậy lỗi của A và B là lỗi cố ý trực tiếp
Từ các phân tích về hành vi, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm
ở trên có thể kết luận A và B phạm tội cướp tài sản theo điều 133 BLHS
2 Trong trường hợp C và D biết là súng giả, chống cự lại, A và B không lấy được tài sản thì hành vi của A và B vẫn cấu thành tội cướp tài sản
Theo khoản 1 điều 133 Bộ luật Hình sự có mô tả về hành vi khách quan để cấu thành tội cướp tài sản mà không nhắc tới hậu quả là tài sản đã bị người phạm tội chiếm giữ hay chưa, vì vậy hậu quả xảy ra là người bị hại bị chiếm đoạt tài sản không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội nên tội cướp tài sản là tội có cấu thành
Trang 6tính tiết để xem xét khi quyết định hình phạt Vì vậy, khi A và B thực hiện hành vi dùng súng để đe dọa, uy hiếp, khống chế C và D để nhằm chiếm đoạt chiếc xe máy
là phù hợp với hành vi khách quan đã được mô tả trong khoản 1 điều 133 BLHS là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc
Mặc dù C và D biết là súng giả và chống cự lại nên A và B không lấy được tài sản thì đây cũng không được coi là A và B đã phạm tội ở giai đoạn chưa đạt bởi hành động chống cự của C và D là nằm ngoài ý muốn chủ quan của A và B nhưng hành động đó được thực hiện sau khi A thực hiện hành vi dùng khẩu súng giả đó để đe dọa Như vậy hành vi của A và B đã hoàn thành tại thời điểm A rút súng ra dọa “ ngồi im không tao bắn chết ” mà không cần biết C và D có biết là súng giả và có chống cự hay không B có nhiệm vụ lấy tài sản khi A rút súng đe dọa nhưng C và D đã chống cự nên B không thực hiện được hành vi của mình nhưng B vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự vì A và B là đồng phạm cũng tiến hành thực hiện tội phạm Nếu một trong hai người không thực hiện được phần việc của mình như đã phân công thì cả hai đều không đạt được mục đích Hành vi của A là tạo điều kiện cho B dễ dàng hơn trong việc chiếm đoạt tài sản Ở đây không thể nói
B là người không trực tiếp cầm súng đe dọa và B cũng chưa chiếm đoạt được tài sản tức là B vẫn chưa thực hiện hành vi của mình để kết luận rằng B không phải chịu trách nhiệm hình sự bởi A và B đã có kế hoạch bàn bạc với nhau trước là mua súng giả và phân công nhiệm vụ trước khi thực hiện tội phạm nên B phải thấy trước được hành vi của mình sẽ gây nguy hiểm cho xã hội nhưng B lại mong muốn cho hậu quả xảy ra tức là chiếm đoạt được tài sản Như vậy, lỗi của B cũng là lỗi cố ý trực tiếp B chưa thực hiện được hành vi của mình là việc C và D chống cự nằm ngoài chủ ý của B nhưng nếu A không thực hiện hành vi đe dọa trước thì B cũng sẽ không chiếm đoạt được tài sản
Trang 7Tóm lại, trong trường hợp C và D biết là súng giả, chống cự lại, A và B không lấy được tài sản thì A và B vẫn phải chịu TNHS về tội cướp tài sản theo điều 133 BLHS
3 A, B đem xe máy bán cho người quen là E được 8.000.000 đồng
thì E có phạm tội hay không phải xét theo 3 trường hợp sau:
- Trường hợp E là người quen của A và B nhưng không biết chiếc xe máy A
và B đem đến bán là do phạm tội mà có
Trong trường hợp này E không phạm tội Vì là người quen của A và B nên khi bán xe cho E, E sẽ không hỏi nguồn gốc của chiếc xe nên E sẽ không biết chiếc
xe do A và B phạm tội mà có Thông thường vì xe máy là tài sản có đăng kí nên E
là chủ tiệm cầm đồ hay chỉ là người bình thường thì khi thực hiện giao dịch cũng cần phải có giấy tờ chứng minh chiếc xe minh bạch Nhưng trong một số trường hợp có thể do quen biết và tin tưởng nên E không hỏi đến giấy tờ xe nên E không biết chiếc xe mà A và B có được là do phạm tội mà có Nếu bị cơ quan chức năng phát hiện thì E phải trả lại chiếc xe cho C và D và có quyền đòi yêu cầu bồi thường thiệt hại với A và B bằng giá trị của chiếc xe đã bán là 8.000.000 đồng
- Trường hợp E là người quen của A và B và E biết chiếc xe máy A và B đem đến bán là do phạm tội mà có
Trong trường hợp này, mặc dù biết A và B đã chiếm đoạt chiếc xe máy và bán cho mình nhưng E vẫn không báo cho cơ quan chức năng mà lại để ở nhà chờ tiêu thụ thì hành vi này của E sẽ phạm vào tội quy định tại khoản 1 điều 250 Bộ luật Hình sự 1999 quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:
“Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là
do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi
Trang 8triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến
ba năm”.
Hành vi khách quan của tội phạm này là chứa chấp hoặc hành vi tiêu thụ tài sản khi đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có Tài sản do phạm tội mà có được hiểu là tài sản được một người chiếm hữu bất hợp pháp và tài sản đó là đối tượng của tội phạm Điều kiện truy cứu trách nhiệm đối với người phạm tội là:
_ Không có sự hứa hẹn trước giữa hai người: người phạm tội và người có tài sản do phạm tội;
_ Tội phạm để có được tài sản đã xảy ra;
_ Người phạm tội biết rõ tài sản này là của người khác phạm tội mà có
Mặt chủ quan của tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là người phạm tội có lỗi cố ý
Trong vụ án này, rõ ràng hành vi phạm tội cướp chiếc xe máy của A và B đã xảy ra E và A, B đã không có hứa hẹn trước rằng sau khi A, B đi cướp thì E sẽ mua chiếc xe do A và B cướp được mà chỉ khi A, B mang xe đến bán thì E mới biết Như vậy, E có phạm tội theo điều 250 BLHS
- Trường hợp E có hứa hẹn trước với A, B là sẽ chứa chấp và tiêu thụ tài sản
do A, B chiếm đoạt được
Trong trường hợp này, mặc dù A, B không bàn trước về kế hoạch sẽ thực hiện như thế nào, chuẩn bị công cụ, phương tiện ra sao với E mà chỉ biết cứ tài sản nào mà A, B chiếm đoạt được thì sẽ đem bán cho E Như vậy, tuy không tham gia trực tiếp vào vụ án nhưng E đã tạo điều kiện tinh thần cho A, B thực hiện tội phạm,
cụ thể là E hứa sẽ mua bất kì tài sản nào mà A, B chiếm đoạt được A, B sẽ không phải lo đến việc tài sản mình chiếm đoạt được sẽ để ở đâu và tiêu thụ như thế nào bởi lẽ đã có E đằng sau giúp đỡ Do đó, theo khoản 1 và 2 điều 20 BLHS:
Trang 9“ 1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2.…Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm ”
Theo quy định trên, E sẽ phải chịu TNHS về tội cướp tài sản theo điều 133 BLHS với vai trò đồng phạm giúp sức
Tóm lại, E có phạm tội hay không phụ thuộc vào ba trường hợp đã phân tích
ở trên Điều đó cho chúng ta thấy rằng dù có là người quen thì trước khi thực hiện những giao dịch với tài sản có số lượng hay giá trị lớn thì cũng phải kiểm tra giấy
tờ chứng minh nguồn gốc của tài sản để đảm bảo cho lợi ích của cá nhân và tránh những hậu quả không đáng có
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập 2 – Trường Đại học Luật
Hà Nội – NXB Công an nhân dân.
2 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – NXB Lao động – xã hội.
3 Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm tập II – Th.S Đinh Văn Quế - NXB TP HCM.