KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG THUỘC LƯU VỰC NHIÊU LỘC –THỊ NGHÈ
K HÁI QUÁT VỀ TP.HCM
TP.HCM nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 11 0 10’ vĩ độ Bắc và 106 0 22’ –
Thành phố có tọa độ 106°0'45" kinh độ Đông, với điểm cực Bắc là xã Phú Mỹ (huyện Cần Giờ), điểm cực Tây ở xã Thái Mỹ (huyện Củ Chi) và điểm cực Đông thuộc xã Tân An (huyện Cần Giờ) Chiều dài thành phố theo hướng Tây Bắc - Đông Nam là 150 km, chiều Tây - Đông là 75 km, và có 12 km bờ biển Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông khoảng 59 km theo đường chim bay và cách Thủ đô Hà Nội 1730 km theo đường bộ về phía Nam Thành phố giáp ranh với các địa phương: phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh.
Bà Rịa – Vũng Tàu và Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
(Nguồn http://www.congdantretphcm.com/)
Hình 1.2 Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh
Hình 1.1 Vị trí TP.HCM trong bản đồ
Ho Chi Minh City University of Technology
Theo thông tin từ cổng điện tử của Ủy ban nhân dân TP.HCM, tổng diện tích tự nhiên của thành phố là 2.095 km², chiếm 6,36% diện tích cả nước, bao gồm 24 đơn vị hành chính Trong số đó, 19 quận nội thành có tổng diện tích là 442,13 km².
TP.HCM bao gồm 12 quận được đánh số từ 1 đến 12, cùng với 7 quận mang tên chữ như Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, Bình Tân, Tân Phú và Thủ Đức Ngoài ra, còn có 5 huyện ngoại thành với tổng diện tích 1.652,88 km², bao gồm Bình Chánh, Nhà Bè, Củ Chi, Cần Giờ và Hóc Môn.
1.1.2.1 Địa hình và địa mạo
TP.HCM có địa hình đa dạng, nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, với các điều kiện tự nhiên phong phú Khu vực này được phân chia thành ba vùng địa hình chính: vùng đồi dốc thấp ở phía Tây Bắc và Đông Bắc, cùng với vùng thấp bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông rạch ở phía Nam.
Vùng 1 có cao trình mặt đất dưới 2,0 m MSL, bao gồm các khu vực đồng bằng thấp và trũng, chủ yếu nằm ở phía Tây – Tây Nam thành phố, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn, cùng với huyện Nhà Bè và Cần Giờ Với địa hình thấp và bị chia cắt bởi hệ thống sông rạch, vùng này thường xuyên bị ngập nước và chịu ảnh hưởng mạnh từ chế độ thủy triều trong khu vực.
Vùng 2 có cao độ mặt đất từ 2,0 – 5,0 m MSL, là khu vực chuyển tiếp giữa Vùng 1 và Vùng 3 Khu vực này bao gồm nội thành và các khu dân cư tập trung tại các huyện Hóc Môn, Bình Chánh, Củ Chi, cùng với các cồn gò rải rác của Vùng 1 Hoạt động sản xuất chủ yếu trong vùng này là trồng rau màu, cây ăn trái và cây công nghiệp.
(c) Vùng 3: Có cao độ mặt đất rừ 5,0 – 25,0 m MSL: tập trung ở các huyện Củ Chi, bắc
Thủ Đức, quận 9 và quận 12 là những khu vực có mật độ dân cư cao Theo bảng 1.1, địa hình được thống kê dựa trên diện tích và cao độ theo hệ VN.2000, lấy mốc cao độ từ trạm thủy văn Hòn Dấu, huyện Kiến An, Hải Phòng, nơi chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều biển Đông Nhận xét cho thấy, nếu xét vùng đất có cao độ dưới +2,0m MSL, khoảng 60 - 70% diện tích Thành phố có khả năng bị ngập do ảnh hưởng của chế độ thủy triều.
1.1.2.2 Địa chất và thổ nhưỡng:
Ho Chi Minh City University of Technology
Dữ liệu thu thập từ nghiên cứu địa chất và thổ nhưỡng, kết hợp với khảo sát bổ sung của chuyên gia Nhật (JICA) trong giai đoạn 1998-2000, cho thấy cấu trúc địa chất khu vực nghiên cứu bao gồm lớp trầm tích Holocene dày từ 2,5m đến 35m, nằm trên lớp trầm tích Pleistocene với độ dày chưa xác định Lớp trầm tích Holocene có chiều dày trung bình khoảng 10m dọc theo tuyến cống bao tại các quận 1, 4 và 5, trong khi quận 8 có chiều dày lớn hơn 20m Lớp trầm tích này chủ yếu là sét hữu cơ dẻo, rất mềm, bao gồm sét cát và lớp sét mịn, với khả năng chịu lực thấp.
Theo bản đồ đất TP.HCM do Phân Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam (Sub-NIAPP) lập, khu vực này có đặc trưng thổ nhưỡng đa dạng, hình thành 17 loại đất khác nhau.
Nhóm đất phù sa và phù sa trên nền phèn có tổng diện tích 12.573 ha, chiếm 6% diện tích tự nhiên Loại đất này phân bố ven sông Đồng Nai, Sài Gòn, và ở phía Bắc huyện Nhà Bè, Nam Bình Chánh Đất phù sa rất thích hợp cho việc trồng cây lúa nước ở vùng thấp và rau màu ở vùng cao.
Nhóm đất xám chiếm 21,8% tổng diện tích, tương đương 45.696 ha, chủ yếu phân bố ở các khu vực cao như Củ Chi, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, Thủ Đức và các quận nội thành, rất thích hợp cho việc trồng rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày Trong khi đó, đất đỏ vàng chỉ chiếm 2,1% với diện tích 436 ha, tập trung tại Thủ Đức và Củ Chi, cũng phù hợp cho việc trồng rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày.
Nhóm đất phèn có tổng diện tích lớn nhất lên tới 108.474 ha, chiếm 51% diện tích tự nhiên, chủ yếu phân bố tại huyện Cần Giờ, Nam Bình Chánh, và các khu vực như nông trường Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai, quận 2, quận 9 Phần lớn diện tích này là rừng ngập mặn, trong khi một số khu vực sâu trong đất liền đã được cải tạo để trồng lúa, mía và nhà vườn nhờ có nguồn nước ngọt Đất mặn, với diện tích chỉ 2,1% diện tích tự nhiên, chủ yếu nằm ở Nam Bình Chánh, được sử dụng để trồng lúa tại những khu vực có hệ thống tưới tiêu.
Nhóm đất cát : Với diện tích 1.312 ha, chiếm 0,6% diện tích tự nhiên, phân bố ở huyện
Ho Chi Minh City University of Technology
TP.HCM có khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, với bức xạ dồi dào và nhiệt độ tương đối ổn định quanh năm Mùa mưa gió phân hóa rõ rệt, tạo nên một vùng khí hậu ôn hòa với sự dao động nhiệt độ không cao giữa các thời điểm trong năm và trong ngày Độ ẩm ở đây cũng thấp hơn so với các vùng như Đồng bằng sông Hồng hoặc ĐBSCL Các thông số cơ bản về khí tượng được tóm tắt trong bảng 1.1.
Bảng 1.1 Tổng hợp số liệu khí tượng trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Hòa - TPHCM
Hướng gió NE NE SE SE E W SW W W W N N
(Nguồn: Sở tài nguyên môi trường Tp.HCM)
1.1.2.4 Tài nguyên nước a) Tài nguyên nước ngầm
Khu vực phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh nhờ trầm tích Pleistocen có nguồn nước ngầm phong phú, trong khi phía nam với trầm tích Holocen thường gặp tình trạng nước ngầm bị nhiễm phèn và nhiễm mặn Mặc dù nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, chất lượng nước không cao, nhưng vẫn được khai thác chủ yếu từ ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170 m.
200 m (tầng trầm tích Miocen) Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng
Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM sở hữu nguồn nước ngầm dồi dào, thường được khai thác từ độ sâu 60-90 m, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước bổ sung Bên cạnh đó, tài nguyên nước mặt cũng là một yếu tố cần được chú trọng.
T ÓM TẮT DỰ ÁN VSMT THUỘC LƯU VỰC NL-TN
1.2.1 Lưu vực kênh NL-TN
1.2.1.1 Vị trí và quy mô
Kênh NL – TN từng được coi là một trong những con kênh đẹp nhất của Thành phố Hồ Chí Minh, được người Pháp gọi là “Arroyo de l’Avalanche - Kênh Tuyết đổ” nhờ vẻ đẹp và sự trong sạch của nó Trong quá trình phát triển đô thị Sài Gòn, kênh NL – TN đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cảnh quan của thành phố.
Kênh NL – TN, một nhánh của sông Sài Gòn, có diện tích 3.324 ha và nằm trong khu trung tâm TP.HCM, chảy qua 7 quận: Tân Bình, Phú Nhuận, Gò Vấp, quận 1, quận 3, quận 10, và quận Bình Thạnh Với chiều dài khoảng 8,7 km, kênh này uốn khúc trong nội thành, bắt đầu từ quận Tân Bình, đi qua các quận Phú Nhuận, 3, 1, và Bình Thạnh, trước khi đổ vào sông Sài Gòn gần xưởng đóng tàu Ba Son Hình 1.6 và Hình 1.7 mô tả sơ đồ mặt bằng và vị trí lưu vực kênh NL – TN.
Lưu vực kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, trải dài qua 7 quận, chịu tác động mạnh mẽ từ hoạt động kinh tế và đời sống của cư dân trong khu vực.
Ho Chi Minh City University of Technology
Quận 1 là trung tâm của Thành phố, là nơi tập trung các hoạt động kinh tế, văn hóa, du lịch, thương mại, giáo dục là chủ yếu Đây là nơi có cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh trên địa
Tuyến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè tại thành phố có mặt bằng chủ yếu là các hộ dân sinh sống và kinh doanh theo mô hình nhỏ lẻ, không có sự hiện diện của các doanh nghiệp lớn.
Theo thống kê, lưu vực kênh có hơn 1.250.000 nhân khẩu, chiếm khoảng 30,7% dân số nội thành, với sự phân bố không đồng đều.
Khu vực NL – TN chủ yếu có cư dân là người nhập cư, với mật độ dân số trung bình đạt 361 người/ha, phân bố không đồng đều giữa các quận và phường Các quận như Quận 3, Quận 10, Quận Tân Bình, và Quận Phú Nhuận tập trung đông dân cư, với mật độ lên đến 500-1000 người/ha, đặc biệt phường 12, Quận Phú Nhuận có mật độ cao nhất là 1.016 người/ha Ngược lại, một số khu vực như phường 8, Quận Phú Nhuận có mật độ thấp nhất chỉ 91 người/ha, trong khi các khu biệt thự trung tâm Quận 3 và các khu quân sự chuyển đổi sang dân cư có mật độ từ 90-200 người/ha Mật độ dân số trung bình ở các khu vực còn lại trong lưu vực dao động xung quanh con số này.
200 - 500người/ha (Nguồn: Viện Quy hoạch xây dựng và thiết kế Đô thị)
1.2.2 Các hạng mục thoát nước trong lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè
Ho Chi Minh City University of Technology
Hình 1.7 Lưu vực kênh NL-TN (màu hồng) nằm trong vùng trung tâm thành phố
Vùng đô thị trung tâm TP.HCM sở hữu hệ thống cống chung nhằm thu gom nước mưa và nước thải sinh hoạt Hệ thống thoát nước bao gồm mạng lưới cống ngầm và mương hở, giúp thu gom và thải bỏ nước ra các kênh, rạch, cuối cùng dẫn nước vào sông Sài Gòn, Đồng Nai và Vàm.
Sông và kênh trong Thành phố được kết nối với nhau về mặt thủy lực, với đặc điểm là độ dốc thủy lực rất nhỏ và chịu ảnh hưởng của thủy triều sông Sài Gòn Thủy triều có biên độ dao động đáng kể từ 1,7 – 2,5 mét, tối đa lên đến 3,95 mét, với sự thay đổi từ 20 – 30 cm theo từng tháng âm lịch Hệ thống sông và kênh được chia thành 5 lưu vực chính.
TN (33km 2 ) cùng với hệ thống thoát nước hiện hữu
Mạng lưới thoát nước chính (cấp 1, 2, và 3) của Thành phố gồm 92 km kênh, rạch và 530 km cống ngầm, được phân loại thành 4 cấp như sau:
Cấp 1: Các kênh, rạch hở tự nhiên tiếp nhận nước thải sinh hoạt và nước mưa Kênh cấp 1 chia làm 2 loại: cấp 1a và 1b loại kênh cấp 1a là các kênh rạch hở thoát nước tự nhiện sẽ chỉ cải tạo nhỏ Loại kênh cấp 1b sẽ được cải tạo thành cống cấp 2
Cấp 2: các tuyến cống ngầm và kênh dùng để thu nước từ các tuyến cấp 3 Cống cấp 2 tương đối lớn, đa số được cải tạo thành cống hộp, đường kính hoặc bề rộng cống 1m
Do n g N ai R ive r i a S go n R i v er
Ho Chi Minh City University of Technology
Cấp 3: các tuyến cống ngầm trên các trục đường phố thu nước từ các tuyến cấp 4
Nhìn chung, cống cấp 3 thường có đường kính 600-800 mm hoặc cống vòm 400800 mm, 600800 mm
Cấp 4: cống trong hẻm hay trên các trục đường nội bộ nối vào cống cấp 3, đường kính thường từ 400 mm trở xuống
Kênh NL – TN chảy từ Tây Bắc đến Đông Nam, tiếp nhận nước mưa và nước thải qua 29 cửa xả chính và 9 kênh nhánh Hệ thống thoát nước trong lưu vực NL đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý nguồn nước.
Tại TP.HCM, hệ thống thoát nước bao gồm khoảng 130 km cống ngầm do Công ty Thoát nước Đô thị quản lý và 150 km cống ngầm do các Công ty Công ích quận duy tu Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc thoát nước và thu gom nước thải chưa xử lý cho khoảng 1,25 triệu dân trong lưu vực Nước thải từ các kênh cấp 2 được dẫn trực tiếp vào hệ thống NL-TN hoặc các kênh nhánh liên quan.
Rạch cống Bà Xếp được cải tạo thành cống hộp 2,5x2m Rạch Bùng Binh được cải tạo thành cống hộp 2(2,5x2m), Rạch Miễu và rạch Ông Tiêu chuyển thành cống
Rạch Miếu có chiều rộng từ 1 đến 6 mét và chiều dài 640 mét, trong khi Rạch Bùi Hữu Nghĩa rộng từ 2 đến 8 mét và dài 620 mét Vai trò chính của kênh Rạch Bùi Hữu Nghĩa là thoát nước cho lưu vực nhỏ giữa hai tuyến đường Đinh Tiên Hoàng và Bùi Hữu Nghĩa.
Rạch cầu Bông rộng 10 – 16m dài 1480m nối liền với rạch Cầu Sơn Rạch cầu Sơn (rộng 8 – 10m) dài 960m
Rạch Phan Văn Hân, với chiều rộng từ 1 đến 12m và chiều dài 1.020m, đóng vai trò quan trọng trong việc thoát nước cho các tuyến đường Xô Viết Nghệ Tĩnh và Điện Biên Phủ Tuy nhiên, hiện nay, do sự phát triển đô thị, hai đầu rạch đã được cải tạo bằng cống kín.
Rạch Văn Thánh (rộng 12 – 24m, dài 1.465m) là khu vực vùng trũng thấp, rạch chức năng điều hòa lưu lượng nước