LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Đặc điểm sinh học của cá lóc nói chung
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá lóc có đặc điểm phân loại như sau:
Cá lóc, hay còn gọi là cá “đầu rắn” (Snakehead) trong tiếng Anh, được nhận diện bởi cái đầu thuôn và tròn giống như đầu rắn Chúng thuộc họ cá lóc Channidae, bao gồm 2 chi: Channa chủ yếu ở châu Á với 26 loài và Parachanna chủ yếu ở châu Phi với 3 loài.
Cá lóc ở Việt Nam thuộc chi Channa với 8 loài, bao gồm cá trèo đồi, cá lóc bông, cá chuối, cá lóc đen, cá dày, cá quả, cá chành dục, và cá trầu mắt Tại Đồng bằng sông Cửu Long, có 4 loài cá lóc chính là cá lóc bông, cá lóc đen, cá dày và cá chành dục Từ những năm 80 của thế kỷ 20, khu vực này còn xuất hiện thêm các giống cá lóc môi trề, cá lóc đầu vuông và cá lóc đầu nhím, chủ yếu phân bố ở các tỉnh thượng nguồn như Đồng Tháp, An Giang và Cần Thơ.
Cá lóc có đặc điểm nổi bật với đầu lớn, đỉnh đầu rộng và dẹp, cùng với mõm ngắn và miệng to hướng lên Răng của cá sắc bén, không có râu, mắt lớn và lỗ mang phát triển Thân cá dài, hình trụ, tròn ở phần trước và dẹp ở phần sau, được phủ bởi vảy lược lớn Đường bên của cá lóc có cấu trúc gãy khúc tại hai vị trí khoảng vảy 15-20, và phần sau của đường bên chạy liên tục giữa thân.
Cá sống có màu sắc đa dạng, với lưng màu xanh đen, nâu đen hoặc đen, nhạt dần về phía bụng, tạo nên màu trắng sữa ở phần bụng Cá nhỏ có từ 10-14 sọc đen lợt chạy ngang thân, nhưng các sọc này sẽ mờ dần và biến mất khi cá lớn Ngoài ra, vi lưng, vi hậu môn và vi đuôi cũng có các đốm đen trải đều qua các tia vi.
Hình 2.1 Hình dạng cá Lóc
2.1.3 Đặc điểm phân bố và sự thích nghi
Cá lóc phân bố rộng rãi tại nhiều quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Ấn Độ, Campuchia và khu vực ĐBSCL Việt Nam Loài cá này có khả năng sinh sống trong nhiều loại thủy vực, bao gồm sông, kênh rạch, đồng ruộng, lung và trũng, với nhiệt độ lý tưởng từ 20-35 độ C Cá lóc có thể tồn tại trong điều kiện kiềm tính hoặc đất phèn và mặc dù chủ yếu sống ở nước ngọt, chúng cũng có khả năng phát triển trong vùng nhiễm mặn.
Cá lóc thường sinh sống ở vùng nước đục, nơi có nhiều rong cỏ, và thường nằm dưới đáy nước nông Chúng có khả năng thích nghi cao với môi trường xung quanh, nhờ vào cơ quan hô hấp phụ, cho phép cá sống ở những nơi có hàm lượng ôxy hòa tan thấp và hít thở không khí Cá lóc cũng có thể tồn tại trong điều kiện khó khăn, như khi nguồn nước cạn kiệt, miễn là da và mang cá giữ được độ ẩm cần thiết.
Cá lóc là một loài cá dữ với hình dáng tròn dài, mang đặc điểm lược mang hình núm Thực quản của chúng ngắn và có vách dày, bên trong chứa nhiều nếp nhăn Dạ dày của cá lóc có hình dạng chữ Y (Dương Nhựt Long, 2003).
Cá có tính ăn rộng, đặc biệt trong giai đoạn ấu trùng mới nở, khi chúng sử dụng noãn hoàng để dinh dưỡng trong khoảng 3 - 4 ngày Sau khi hết noãn hoàng, cá bắt đầu tìm mồi xung quanh, chủ yếu là các loài động vật phù du như luân trùng và giáp xác chân chèo, với kích thước phù hợp với miệng cá Đối với cá có chiều dài 3cm, chúng thường ăn giáp xác.
Cá lóc có kích thước từ 3 - 8 cm thường ăn ấu trùng côn trùng, tôm non, nòng nọc và các loại cá nhỏ khác, trong khi những con cá dài hơn 20 cm có thể ăn cá tạp và ếch (Ngô Trọng Lư; Thái Bá Hồ, 2003) Ngoài việc ăn thức ăn tự nhiên, cá lóc cũng có thể tiêu thụ thức ăn chế biến (Huỳnh Thu Hòa, 2004) Trong giai đoạn ương cá bột, Moina được xem là thức ăn tốt trong 3 tuần đầu, còn đối với cá giống, sâu gạo và dòi là những loại thức ăn ưa thích (Dương Nhựt Long, 2003).
Cá lóc là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh, đặc biệt trong giai đoạn nhỏ khi chúng chủ yếu phát triển về chiều dài Khi cá lóc lớn lên, tốc độ tăng trọng của chúng cũng gia tăng đáng kể Tuy nhiên, sự phát triển của cá lóc trong tự nhiên không đồng đều và phụ thuộc vào điều kiện thức ăn có sẵn trong môi trường sống.
Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt với thức ăn đầy đủ, cá có thể đạt trọng lượng từ 0,5 đến 0,8 kg/năm và có tỷ lệ sống cao (Phạm Văn Khánh, 2000) Sau 6 tháng nuôi, cá có thể đạt khối lượng từ 0,8-1,2 kg/con với tỷ lệ sống từ 75-85%, năng suất nuôi có thể đạt từ 30-60 tấn/ha Cá phát triển nhanh nhất trong tháng thứ tư và thứ năm khi trọng lượng vượt quá mức nhất định.
Vào mùa xuân - hè, cá ăn rất mạnh và hoạt động tích cực, dẫn đến sự phát triển nhanh chóng Đây cũng là thời điểm cá béo nhất trước khi bước vào mùa sinh sản vào đầu mùa mưa.
Trong giai đoạn phát triển, cá lóc đực thường có chiều dài lớn hơn cá lóc cái, trong khi đó, cá lóc cái lại nặng hơn cá lóc đực (Dương Nhựt Long, 2003).
Cá lóc từ 1-2 năm tuổi bắt đầu sinh sản, với mùa vụ chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 8, tập trung vào tháng 4 và 5 Cá cái đạt một tuổi có thể tham gia sinh sản, với số lượng trứng phụ thuộc vào kích cỡ của chúng Một cá cái nặng 0,5 kg có thể đẻ từ 8.000 đến 10.000 trứng mỗi lần Sau khi đẻ, cá cái không rời khỏi ổ mà cùng cá đực bảo vệ trứng cho đến khi nở, sau đó dẫn đàn con tìm thức ăn.
2.2 Sơ lƣợc về tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL
Nghề nuôi cá nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long đã phát triển đa dạng với nhiều mô hình như nuôi trong ao và lồng bè Từ những năm 1960, nghề nuôi cá lóc lồng bè đã xuất hiện tại Châu Đốc (An Giang) và Hồng Ngự (Đồng Tháp) Kể từ năm 1990, nuôi cá lóc ở vùng ảnh hưởng lũ ngày càng trở nên phổ biến Cá lóc dễ nuôi và có thể áp dụng nhiều hình thức như nuôi bán thâm canh, thâm canh trong ao đất, bể lót bạc, lồng bè, nuôi vèo, trên mương hoặc ruộng lúa.
Sơ lược về tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL
Giá cá lóc đang tăng cao do khan hiếm, trong khi nguồn thức ăn viên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu Mạng lưới tiêu thụ cá lóc còn hạn chế và chủ yếu tập trung vào thị trường nội địa (Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2012) Tại khu vực ĐBSCL, các tỉnh như Đồng Tháp, Hậu Giang và An Giang có nghề nuôi cá lóc phát triển với nhiều mô hình khác nhau Cụ thể, ở Đồng Tháp, tỷ lệ các mô hình nuôi cá lóc bao gồm bể lót bạt 25,4%, lồng bè 20,3%, ao đất 23,7% và vèo ao 30,5% Trong đó, nuôi cá lóc thương phẩm chiếm 78%, ương và nuôi giống 16,1%, còn sản xuất giống và ương giống chỉ đạt 3,6% (Nguyễn Đặng Thùy, 2009).
2.2.1 Một số hình thức nuôi cá lóc ở ĐBSCL
Ao nuôi cá có diện tích từ 400 - 500m² và độ sâu nước từ 2,5 - 3m, với bờ ao cao và chắc chắn cùng hệ thống cống cấp thoát nước Mật độ nuôi dao động từ 15-50 con/m², có thể kết hợp thêm một số loài cá khác để tận dụng thức ăn dư thừa Thức ăn cho cá lóc bao gồm tép, cá tạp, cá biển, cua, ốc, trong đó 4 tháng đầu thức ăn được xay nhuyễn và bổ sung vitamin, khoáng chất Từ tháng thứ 5, cá có thể ăn thức ăn cắt nhỏ Nước trong ao cần được thay 1/3 - 1/2 thể tích mỗi 5 - 10 ngày, sau 6 - 8 tháng cá đạt khối lượng 0,7 - 0,8 kg/con và thường thu hoạch bằng cách kéo lưới Mô hình nuôi này đạt hiệu quả cao tại ĐBSCL, trung bình từ 300-400 tấn/ha/vụ, có thể lên đến 500 - 550 tấn/ha/vụ Tuy nhiên, cá nuôi chậm lớn, kích cỡ không đồng đều, tốn nhiều công lao động và chi phí cao cho thức ăn, thuốc hóa chất và thay nước, đồng thời cần chú ý đến cách thu hoạch để tránh cá chết do ngạt sình.
2.2.1.2 Nuôi cá lóc trong vèo (mùng lưới)
Hàng năm, khi lũ về, nguồn nước dồi dào và thức ăn tự nhiên phong phú như phiêu sinh vật, động vật đáy, tôm, cá, cua, ốc tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình nuôi cá lóc trong vèo Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá lóc trong vèo phát triển mạnh mẽ tại các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang Người dân đã áp dụng lưới thưa để dễ dàng quản lý, quan sát khi cho cá ăn, đồng thời giảm chi phí đầu tư và thu hoạch.
Vèo nuôi cá lóc có kích thước trung bình từ 6 đến 10m² và chiều cao khoảng 2m Vèo có thể được đặt trong ao hoặc trên sông với mức nước cao hơn 2m Khi đặt vèo trên sông, cần chọn vị trí có dòng chảy nhẹ từ 0,3 đến 0,4 m/s, có ánh sáng và gió nhẹ, đồng thời tránh xa những nơi có sóng lớn và gió mạnh, cũng như khu công nghiệp, để thuận lợi cho việc chăm sóc cá.
Tay Do University nuôi cá lóc đầu vuông hoặc cá lóc đầu nhím trong vèo, sử dụng thức ăn từ cá tạp, cua, ốc và thức ăn công nghiệp, cho ăn 2-3 lần mỗi ngày với thức ăn đặt trên sàn để tránh thất thoát Mô hình nuôi này có thể thực hiện quanh năm, nhưng tối ưu nhất từ tháng 5 đến 9, cần xem xét nhu cầu thị trường và nguồn cung cấp thức ăn để điều chỉnh thời gian nuôi Việc nuôi cá lóc trong vèo giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu và phù hợp cho nông hộ nghèo ít đất, đồng thời ít bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, có thể nâng vèo lên khi nước dâng Nếu nuôi trong ao, có thể tận dụng không gian còn lại để nuôi các loài cá khác, từ đó giảm ô nhiễm môi trường và tăng thu nhập.
Sau 5 - 6 tháng nuôi thì thu hoạch trọng lượng trung bình 0,7 - 0,8 kg/con nếu nuôi tốt, nhìn chung đây là mô hình nuôi đã mang lại rất nhiều thu nhập cho người dân tạo công ăn việc làm trong mùa lũ Theo Nguyễn Văn Dính (2004) thì nuôi cá lóc trong mùng lưới là giải pháp xóa đói giảm nghèo nhanh nhất cho nông dân
Hình thức nuôi này đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm quản lý chất lượng nước, kỹ thuật nuôi trồng, nguồn thức ăn và giá cả trên thị trường Đồng thời, tác động của phương pháp nuôi này đến môi trường, như ô nhiễm nước và ảnh hưởng đến nguồn lợi tự nhiên, vẫn chưa được đánh giá đầy đủ.
2.2.1.3 Nuôi cá lóc trên ruộng lúa
Diện tích ruộng nuôi cá lóc cần từ 0,5 đến 3ha, được bao quanh bởi mương và bờ bao với mương rộng 1,5 - 2m và sâu 0,8 - 1m Hệ thống cống cấp thoát nước cũng cần thiết để đảm bảo điều kiện nuôi Mật độ thả nuôi cá lóc là từ 0,5 đến 1 con/m², với thời gian nuôi khoảng 6 - 7 tháng Mô hình nuôi này thường không cần cho cá ăn, nhưng để tăng trưởng nhanh hơn, có thể kết hợp thả thêm một số loài cá khác như cá mè vinh và cá rô phi nhằm nâng cao năng suất.
Cách nuôi này yêu cầu diện tích ruộng lớn, tốn kém cho thiết kế và thu hoạch, đồng thời khó khăn trong việc quản lý và chăm sóc cá nuôi, dẫn đến tốc độ phát triển chậm.
2.2.1.4 Nuôi cá lóc trong rừng
Con người đã chuyển từ việc làm đìa nhử cá tự nhiên sang nuôi cá trên diện tích rừng gần 4.000 ha, chủ yếu tập trung ở rừng U Minh, khu Tràm Chim và các rừng nước ngọt Những khu vực này, với môi trường sống lý tưởng và nguồn thức ăn tự nhiên phong phú, rất phù hợp cho việc nuôi cá lóc Cá lóc có thể được nuôi trong 2 - 3 năm và đạt trọng lượng lên tới vài kg mỗi con (Dương Tấn Lộc, 2001).
Rừng lý tưởng để nuôi cá lóc thường có nhiều lung bào trũng, với cây cối thưa vừa phải hoặc đất có khoảng trống và cây dày đặc Đặc biệt, khu vực này cần có độ ngập từ 0,3m trở lên trong suốt thời gian nuôi.
Diện tích rừng từ 50 đến 5.000 ha có thể được thiết kế cho việc nuôi cá lóc quanh năm hoặc trong 7 tháng Cỡ cá giống thả có chiều dài từ 8 đến 10 cm với mật độ 0,5 đến 1 con/m² mặt nước Nguồn thức ăn chính cho cá lóc chủ yếu đến từ tự nhiên, bao gồm cá sặc, cá rô đồng, cá tạp nhỏ và ốc nhái.
Tại Trường Đại học Tây Đô, việc nuôi cá lóc thường kết hợp với các loài cá khác như cá sặc và cá rô đồng để tăng sinh khối Quy trình thu hoạch cá được thực hiện bằng lưới chụp đìa, với tần suất 1 - 2 lần mỗi năm (Dương Tấn Lộc, 2001).
Mô hình nuôi cá lóc này tận dụng hiệu quả nguồn thức ăn tự nhiên, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức như tỷ lệ hao hụt cao, năng suất không ổn định, khó khăn trong quản lý do diện tích nuôi rộng lớn, và nguy cơ trộm cắp cũng như sự tấn công của các động vật ăn thịt.
2.2.1.5 Nuôi cá lóc trong lồng bè
Năng suất và tỷ lệ mắc bệnh của cá lóc nuôi trong lồng bè phụ thuộc vào vị trí đặt bè, nên chọn nơi có dòng nước tốt, không ô nhiễm, chảy chậm và sâu, gần nơi tiêu thụ sản phẩm Kích thước bè nuôi thường là 4x3 hoặc 5x2,5m, với cỡ cá từ 6 - 10 cm và mật độ thả trung bình 120 - 130 con/m³ Thức ăn chính là cá cắt nhỏ và phế phẩm từ chợ, được xay nhuyễn cho cá ăn Sau 5 tháng nuôi, cá có thể đạt trọng lượng 1 kg Phương pháp này giúp cá lớn nhanh, nhưng đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu cao, vị trí đặt bè phù hợp, và dễ bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, cũng như khó khăn trong quản lý dịch bệnh và nguồn nước.
Tổng quan về tỉnh Đồng Tháp
2.3.1 Vị trí địa lý Đồng Tháp là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên là 3375,4 km 2 , phía Bắc giáp tỉnh Prây Veng (Cam pu chia) trên chiều dài biên giới 48,7 km với 4 cửa khẩu: Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước, phía Nam giáp Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, phía Tây giáp An Giang, phía Đông giáp Long An và Tiền Giang Tỉnh lỵ của Đồng Tháp hiện nay là thành phố Cao Lãnh, cách thành phố Hồ Chí Minh 165 km về phía Tây Nam
2.3.2 Đặc điểm địa hình Địa hình Đồng Tháp được chia thành 2 vùng lớn: vùng phía Bắc sông Tiền có diện tích tự nhiên 250.731 ha, thuộc khu vực Đồng Tháp Mười, địa hình tương đối bằng phẳng, hướng dốc Tây Bắc - Đông Nam, vùng phía Nam sông Tiền có diện tích tự nhiên 73.074 ha, nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, địa hình có dạng lòng máng, hướng dốc từ hai bên sông vào giữa
2.3.3 Đất đai Đồng Tháp có 4 nhóm đất chính: nhóm đất phù sa (có diện tích 191.769 ha, chiếm 59,06% diện tích đất tự nhiên), nhóm đất phèn (có diện tích 84.382 ha, chiếm 25,99%
Đại học Tây Đô nằm trên diện tích tự nhiên với các nhóm đất khác nhau: đất xám chiếm 28.150 ha (8,67% tổng diện tích), và đất cát chiếm 120 ha (0,04% tổng diện tích) Tại Đồng Tháp, đất đai có kết cấu mặt bằng kém bền vững và tương đối thấp, dẫn đến chi phí xây dựng cao, nhưng lại rất phù hợp cho sản xuất lương thực.
2.3.4 Sông ngòi Đồng Tháp ở đầu nguồn sông Cửu Long, có nguồn nước mặt khá dồi dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn Ngoài ra còn có hai nhánh sông Sở Hạ và sông
Sở Thượng, một nhánh sông bắt nguồn từ Campuchia, đổ ra sông Tiền tại Hồng Ngự, cùng với các con sông như Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng và sông Sa Đéc, tạo nên một hệ thống kênh rạch phong phú tại Đồng Tháp Khu vực này còn sở hữu nhiều vỉa nước ngầm với độ sâu khác nhau, cung cấp nguồn nước dồi dào phục vụ cho sinh hoạt đô thị và nông thôn, nhưng chưa được khai thác cho mục đích công nghiệp.
2.3.5 Khí hậu Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng nhất trên địa giới toàn tỉnh, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 82,5%, số giờ nắng trung bình 6,8 giờ/ngày Lượng mưa trung bình từ 1.170 - 1.520 mm, tập trung vào mùa mưa, chiếm 90 - 95% lượng mưa cả năm Đặc điểm khí hậu này tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện
2.3.6 Dân số Đồng Tháp có dân số năm 2008 là 1.682,7 ngàn người với mật độ dân số là 499 người/km 2 với dân tộc Kinh chiếm 99,3% dân số, các dân tộc còn lại như dân tộc Hoa, Khơme chiếm 0,7% dân số
Đồng Tháp, một tỉnh nông nghiệp nổi bật, sản xuất đa dạng lương thực và nông, thủy sản có giá trị xuất khẩu cao Đất đai nơi đây màu mỡ nhờ phù sa từ sông Tiền và sông Hậu, tạo nên những xóm làng trù phú giữa cảnh sắc thiên nhiên xanh tươi Chính vì vậy, Đồng Tháp được công nhận là vựa lúa quan trọng của cả nước.
Giáo dục và đào tạo đã phát triển đa dạng về quy mô và loại hình trường lớp, với các nhiệm vụ trọng tâm được triển khai nghiêm túc và đúng quy chế Hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường được chú trọng, cùng với việc đẩy mạnh công tác dân số và chăm sóc sức khỏe nhân dân Văn hóa và thể dục thể thao cũng tiếp tục phát triển, trong khi việc làm, giảm nghèo và chính sách xã hội luôn được quan tâm và thực hiện hiệu quả.
Sơ lược về huyện Hồng Ngự
Huyện Hồng Ngự, nằm ven Sông Tiền thuộc hệ thống sông Mê Kông, có vị trí địa lý thuận lợi với đường biên giới Campuchia dài 18km, tạo điều kiện cho giao thông đường thủy và đường bộ Là một huyện thuần nông, Hồng Ngự mang đậm đặc trưng của đô thị nông nghiệp, đồng thời sở hữu tiềm năng phát triển hàng hóa, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh - dịch vụ.
+ Phía Nam giáp huyện Thanh Bình và tỉnh An Giang
+ Phía Đông giáp thị xã Hồng Ngự, huyện Tam Nông
+ Phía Tây giáp tỉnh An Giang
Huyện Hồng Ngự bao gồm 11 xã, cụ thể là Thường Phước 1, Thường Phước 2, Thường Thới Tiền, Thường Lạc, Thường Thới Hậu A, Thường Thới Hậu B, Long Thuận, Phú Thuận A, Phú Thuận B, Long Khánh A và Long Khánh B.
Hồng Ngự, huyện biên giới phía Bắc tỉnh Đồng Tháp, có diện tích 20.973,70 ha, chiếm 6,21% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Dân số năm 2010 là 145.431 người, với mật độ 693 người/km², chiếm 3,78% dân số toàn tỉnh Cách trung tâm tỉnh khoảng 68 km, Hồng Ngự được kết nối bởi tỉnh lộ ĐT 841 và mạng lưới sông rạch phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội với các khu vực lân cận.
2.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Hồng Ngự, huyện biên giới đầu nguồn sông Tiền của tỉnh Đồng Tháp, chủ yếu phát triển kinh tế nông nghiệp với cây lúa và nuôi trồng thủy sản là hai ngành chủ lực Người dân tận dụng diện tích mặt nước trên sông Tiền để nuôi cá, mang lại hiệu quả kinh tế cao Bên cạnh đó, lĩnh vực xây dựng, thương mại - dịch vụ và công nghiệp cũng có nhiều khởi sắc, góp phần cải thiện đời sống nhân dân Văn hóa xã hội phát triển, an ninh chính trị và trật tự xã hội được đảm bảo.
Huyện Hồng Ngự có địa hình tương đối bằng phẳng, có những nét đặc thù do điều kiện tự nhiên, nhìn chung huyện Hồng Ngự được chia thành 2 vùng:
Vùng chiều cao ven sông Tiền có địa hình với độ cao phổ biến từ 0,1m đến 2,5m, cao nhất đạt trên 4m và thấp nhất là 0,7m Đặc biệt, khu vực ven sông Tiền ở các xã cù lao có địa hình tương đối cao hơn Hiện trạng khu vực này chủ yếu là dân cư sinh sống, cùng với cây lâu năm, cây ăn quả và rau màu.
Vùng địa hình đồng bằng thấp trũng bao gồm các khu vực thấp, bằng và trũng nằm bên đất liền cùng với các cù lao có hình dạng lòng chảo, có độ cao phổ biến từ 1,8 - 2,5m, trong khi các cù lao cao hơn đạt từ 2 - 2,5m Hiện trạng khu vực chủ yếu là cây lúa và nuôi trồng thủy sản Đặc biệt, sông Tiền tại huyện Hồng Ngự xuất hiện nhiều cồn có diện tích không ổn định do quá trình bồi mới và sạt lở hàng năm.
Huyện Hồng Ngự có địa hình đồng bằng tương đối đồng nhất, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, do nằm ở đầu nguồn ven sông Tiền, huyện thường xuyên phải đối mặt với tình trạng sạt lở, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân.
2.4.5 Khí hậu Đồng Tháp nói chung huyện Hồng Ngự nói riêng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, quanh năm nóng ấm, lượng mưa phong phú, các yếu tố khí tượng có sự phân hoá rõ rệt theo mùa
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với hướng gió thịnh hành là gió mùa
+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau trùng với hướng gió mùa Đông - Bắc
Huyện Hồng Ngự, nằm ở hạ lưu châu thổ sông Mê Kông, chịu ảnh hưởng từ dòng chảy của sông Mê Kông, thủy triều biển Đông và lượng mưa trong khu vực Sông Tiền, một nhánh của sông Mê Kông ở phía hạ lưu, có chế độ thủy văn phụ thuộc trực tiếp vào thủy văn thượng nguồn, thủy triều biển Đông và mưa trong khu vực Chế độ thủy văn sông Tiền được chia thành hai mùa: mùa cạn và mùa lũ.
Tình hình nuôi trồng thủy sản tỉnh Đồng Tháp
Tỉnh Đồng Tháp, nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, có nguồn nước ngọt dồi dào và hệ thống kênh rạch phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản Với diện tích mặt nước khả năng nuôi trồng thủy sản lên đến 70.000 ha, trong đó 20.000 ha là sông và kênh lớn, Đồng Tháp đã ghi nhận sản lượng thủy sản tăng mạnh từ 58.236 tấn năm 2000 lên 297.794 tấn năm 2008 Đáng chú ý, sản lượng nuôi trồng thủy sản đã tăng từ 34.723 tấn năm 2000 lên 281.366 tấn năm 2008, trong khi sản lượng khai thác giảm từ 23.871 tấn xuống còn 16.428 tấn trong cùng thời gian.
So với tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh, sản lượng khai thác tại Tay Do University đang giảm, trong khi sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) lại tăng nhanh chóng Năm 2008, tổng diện tích mặt nước NTTS đạt 5,8 nghìn ha, tăng 3,9 nghìn ha so với năm 2000 (Tổng cục thống kê, 2008) Các đối tượng nuôi chủ yếu bao gồm cá tra, cá basa, tôm càng xanh và cá lóc.
Nghề nuôi cá lóc thương phẩm tại tỉnh Đồng Tháp đã phát triển mạnh mẽ, với tổng sản lượng thu hoạch đạt 4,98 nghìn tấn vào năm 2008 từ 1.975 hộ nuôi trên diện tích 195,4 ha Ba huyện Tam Nông, Tân Hồng và Hồng Ngự là những khu vực nuôi cá lóc chủ yếu, chiếm 61,2% sản lượng toàn tỉnh với 3.069 tấn Đến năm 2009, số hộ nuôi tăng lên 3.299 và tổng sản lượng đạt 6.558,7 tấn, trong đó nuôi ao đạt 2.744 tấn, vèo ao 2.561 tấn và lồng bè 1.253,7 tấn Tuy nhiên, diện tích nuôi ao giảm 165 ha so với năm trước, trong khi số lượng vèo và lồng bè tăng lên, cho thấy sự chuyển biến trong phương thức nuôi trồng.
Theo Chi cục Thủy sản tỉnh Đồng Tháp, diện tích nuôi trồng thủy sản đã tăng trưởng bình quân 6,80% mỗi năm trong giai đoạn 2001-2012.
Tính đến năm 2012, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 1.730 ha, trong đó cá nuôi trong ao chiếm 66,80%, cá nuôi trên ruộng lúa vào mùa lũ chiếm 32,40%, và phần còn lại là các loại thủy sản khác với khoảng 842 vèo nuôi cá Sản lượng thủy sản có mức tăng trưởng bình quân 3,40% mỗi năm trong giai đoạn 2001-2012 Sau năm 2012, sản lượng đạt 12.146 tấn, bao gồm 9.168 tấn cá ao, 2.010 tấn cá nuôi lồng và vèo, 924 tấn cá nuôi trên ruộng lúa, cùng với khoảng 44 tấn các loại thủy sản khác như tôm càng xanh và thủy sản đặc sản.
Tình hình nuôi cá lóc ở huyện Hồng Ngự
Hồng Ngự, huyện thuộc tỉnh Đồng Tháp, có diện tích 20.973,7 ha với điều kiện thiên nhiên thuận lợi và nguồn nước ngọt phong phú Hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc cùng với ảnh hưởng của lũ tạo điều kiện lý tưởng cho việc nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là mô hình nuôi cá lóc Thông tin này được xác nhận qua thống kê của Trạm thủy sản huyện Hồng Ngự.
Tính đến năm 2012, toàn huyện có 430 hộ nuôi cá lóc, trong đó 191 hộ nuôi trong ao và 239 hộ nuôi bằng vèo, bể bạt Tổng diện tích mặt nước dành cho nuôi cá lóc đạt 117,96 ha, với sản lượng đạt 2.232,01 tấn.
Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá lóc đã phát triển mạnh mẽ về diện tích và sản lượng, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống nông dân, giải quyết vấn đề dinh dưỡng và tăng thu nhập Nghề này đặc biệt phổ biến ở vùng lũ, tận dụng điều kiện tự nhiên, nguồn lao động và hệ thống thủy lợi phong phú Hồng Ngự nổi bật với truyền thống nuôi cá lóc, là một trong ba huyện có nhiều hộ nuôi cá lóc nhất tỉnh Đồng Tháp.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2017 - 06/2017
Công tác thu số liệu được thực hiện ở các hộ nuôi cá lóc ở huyện huyện Hồng Ngự - Đồng Tháp cụ thể là 3 xã Long Thuận, Phú Thuận A, Phú Thuận B
Hình 3.1 Bản đồ vị trí thu mẫu tại huyện Hồng Ngự Địa điểm thu mẫu
Phương pháp nghiên cứu
Phiếu phỏng vấn được soạn sẵn trình bày ở phụ lục A
Cá lóc tại địa bàn huyện Hồng Ngự - Đồng Tháp
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp về diện tích nuôi, sản lượng và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá lóc ao đất và vèo tại huyện Hồng Ngự được thu thập từ báo cáo hàng năm của Phòng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như Chi cục Nuôi trồng thủy sản Ngoài ra, thông tin cũng được lấy từ các tạp chí và trang web chuyên ngành liên quan.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 60 nông hộ nuôi cá lóc tại ba xã Long Thuận, Phú Thuận A và Phú Thuận B, sử dụng phiếu phỏng vấn đã được chuẩn bị sẵn (phụ lục A).
Bảng 3.1 Địa điểm và số hộ phỏng vấn
STT Địa điểm Số hộ
Nội dung của phiếu phỏng vấn gồm các thông tin sau:
Tuổi tác, giới tính, trình độ văn hóa, số năm kinh nghiệm, hình thức tham gia, nguồn kiến thức NTTS
Thông tin về mô hình nuôi:
Mô hình nuôi, thiết kế ao nuôi, diện tích hoặc thể tích ao nuôi, số lượng ao, kích thước của mô hình nuôi: chiều dài, chiều rộng, độ sâu
Chi phí ban đầu và nhu cầu vốn là yếu tố quan trọng trong việc xác định hình thức nuôi và mật độ nuôi phù hợp Số vụ nuôi và thời gian thả giống cần được lên kế hoạch cẩn thận, cùng với nguồn cung cấp con giống đáng tin cậy Cần chú ý đến các bệnh thường gặp và tỷ lệ sống của vật nuôi để đảm bảo hiệu quả Kích cỡ bình quân khi thu hoạch cũng ảnh hưởng đến giá trị sản phẩm Cuối cùng, việc vận chuyển và khâu tiêu thụ sản phẩm, cùng với phương thức thanh toán, đều đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng.
Sử dụng thức ăn nuôi cá lóc:
Loại thức ăn, lượng thức ăn, giá cung cấp
Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật
Sản lượng nuôi trồng, tổng chi phí, tổng thu nhập, lợi nhuận, tỷ lệ lời lỗ, mức lời lỗ trung bình
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích thông tin chung: Độ tuổi, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nuôi
Phân tích số liệu kỹ thuật trong nuôi trồng thủy sản bao gồm tổng diện tích nuôi, quy trình chuẩn bị và cải tạo ao nuôi, xác định mùa vụ, lựa chọn nguồn giống và kích cỡ giống nuôi phù hợp Ngoài ra, việc chăm sóc và quản lý ao nuôi, phòng và trị bệnh cho thủy sản cũng đóng vai trò quan trọng, cùng với quy trình thu hoạch hiệu quả để đảm bảo năng suất cao.
Phân tích số liệu kinh tế: Theo Lê Xuân Sinh (2010), các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu được tính theo các công thức sau:
Tổng chi phí (TC): TC = TFC + TVC (3.1)
Trong đó: TFC: Tổng chi phí cố định
TVC: Tổng chi phí biến đổi
Tổng chi phí cố định (TFC): TFC = AFC.Q (3.2)
Tổng chi phí biến đổi (TVC): TVC = AVC.Q (3.3)
AFC: Chi phí cố định bình quân
AVC: Chi phí biến đổi bình quân
Lợi nhuận = Doanh thu – chi phí (triệu đồng) (3.4)
Doanh thu = giá bán * sản lượng thu hoạch (3.5)
Hiệu quả chi phí = (Tổng thu/ Tổng chi phí)*100 (3.6)
Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận/ Tổng chi phí (3.7)
Tỉ lệ số hộ nuôi lỗ = số hộ lỗ/ tổng số hộ nuôi (theo số hộ khảo sát)*100 (3.8)
Tỉ lệ số hộ nuôi lời = số hộ lời/ tổng số hộ nuôi (theo số hộ khảo sát)*100 (3.9)
3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi thu thập, số liệu sơ cấp sẽ được kiểm tra sơ bộ trước khi nhập vào máy tính Phần mềm Microsoft Excel được sử dụng để xử lý số liệu thu thập từ phiếu điều tra nông hộ.