Ngày soạn 03/09/2023 Tiết 1 Chủ đề 1 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN HÒ SÔNG MÃ I MỤC TIÊU 1 Kiến thức Xuất xứ và các làn điệu hò sông Mã 2 Năng lực a Năng lực đặc thù Năng lực nhận thức và tư duy[.]
Trang 1Ngày soạn: 03/09/2023
Tiết 1
Chủ đề 1 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN HÒ SÔNG MÃ
I MỤC TIÊU
1 Kiến thức:
- Xuất xứ và các làn điệu hò sông Mã
2 Năng lực
a Năng lực đặc thù
- Năng lực nhận thức và tư duy: Khai thác và sử dụng được thông tin một số tư
liệu lịch sử của di sản trong bài học dưới sự hướng dẫn của giáo viên
- Năng lực tìm hiểu lịch sử di sản: Tìm kiếm và sưu tầm đuợc tư liệu để phục vụ
cho bài học và thực hiện các hoạt động thực hành, vận dụng
- Năng lực sử dụng khai thác tranh ảnh, video và tưu liệu lịch sử
b Năng lực chung
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: Trao đổi, thảo luận để thực hiện các nhiệm vụ học
tập; vận dụng năng lực hợp tác để cùng trả lời các vấn đề đặt ra
- Năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo: Sử dụng được các kiến thức đã học ứng
dụng vào thực tế, tìm tòi phát hiện giải quyết các vấn đề được đặt ra
- Năng lực tự chủ và tự học: Tự chủ trong tìm hiểu kiến thức và vận dụng kiến thức vào cuộc sống
3 Phẩm chất
- Chăm chỉ: Giáo dục ý thức và tìm hiểu văn hóa
- Trách nhiệm: Có trách nhiệm trong học tập và có ý thức trong tìm hiểu, giữ gìn,
phát huy di sản
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Tài liệu, tranh ảnh, video, các phiếu bài tập, các hình ảnh…
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1 Hoạt động 1: Mở đầu
a Mục tiêu: Tạo tình huống tâm thế cho HS hào hứng khám phá nội dung bài học.
b Nội dung:
- Cho học sinh quan sát tranh ảnh và trả lời các câu hỏi theo yêu cầu của giáo viên
c Sản phẩm:
- Các ảnh chụp những hình ảnh về những tư liệu lịch sử di sản Những hoạt động
đó góp phần giúp cho con người hiểu rõ về lịch sử và di sản dân tộc
d Tổ chức
Quan sát các hình ảnh và cho biết đây là những hình ảnh liên quan di sản nào?
Trang 22 Hoạt động 2: Khám phá
Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu xuất xứ hò sông Mã.
a Mục tiêu:
Học sinh biết được lịch sử xây dựng thành nhà Hồ cũng như nắm được đôi nét về nhà Hồ đóng đô ở Thanh Hóa
b Nội dung: Cho HS theo dõi sách giáo khoa cũng như những hiểu biết của
mình để lần lượt tìm hiểu nội dung bài thông qua hệ thống câu hỏi hướng dẫn của GV
c Sản phẩm: Câu trả lời của học sinh.
d Tổ chức
Bước 1: Giao nhiệm vụ
Học sinh hoạt động cá nhân:
¿ Em biết gì về "Hò sông Mã"? Theo em, vì sao lại
gọi là Hò Sông Mã?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
- Học sinh cùng lắng nghe câu hỏi
- Học sinh làm việc cá nhân: Suy nghĩ và trả lời câu
hỏi giáo viên đặt ra
Bước 3: Báo cáo, thảo luận
- Đại diện HS trả lời
- HS phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả của
nhóm trình bày
Bước 4: Kết luận, nhận định
GV bổ sung phần phân tích nhận xét, đánh giá,
kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh
Kết luận lại nội dung
1 Đôi nét về xuất xứ hò sông
Mã
Trang 3- Hò Là một loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc
- Hò sông Mã là một thể loại dân ca đặc biệt của
người dân Thanh Hóa Về hình thức, chúng bao
gồm nhiều thể thơ khác nhau: Thơ 4 chữ, 7 chữ, 8
chữ, lục bát, song thất lục bát nhưng phần lớn lời
các làn điệu hò thuộc thể thơ lục bát Nhịp điệu của
các làn điệu hò chủ yếu là nhịp chẵn
- Ở Thanh Hóa, trong các thể loại hò, hò sông nước
là phổ biến nhất, vì có nhiều điệu hò và số lượng lời
hò có hàng ngàn câu Sở dĩ hò sông nước xứ Thanh
phong phú và đa dạng như vậy, bởi từ xa xưa giao
thông đường thủy ở Thanh Hóa rất phát triển, gồm
4 hệ thống: Sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông
Bạng, cộng với chi lưu của sông Mã Với chiều dài
thủy trình gồm chục vạn tầm (mỗi tầm bằng 8 thước
ta đời Hậu Lê, tức 2,56m) Xưa kia, khi đường bộ
chưa được mở mang, phương tiện vận tải ô tô chưa
có, trên các con sông ngang dọc xứ Thanh biết bao
là những con đò dọc, đò ngang, thuyền chiến,
thuyền tải quân sự, thuyền mành chở hàng xuôi
ngược Đó là cơ sở, cái nôi của các điệu hò sông
nước ra đời Hò sông nước là sản phẩm tinh thần
của những người làm nghề chài lưới sông nước
Tiếng hò của các trai đò dọc giao duyên với các cô
khách hàng đò, họ cùng hò lên để giãi bày nỗi lòng
của người giang hồ sông nước Tiếng hò thúc giục
các cuộc đua thuyền trong các dịp lễ hội, tiếng hò
hùng mạnh gấp gáp của các chiến binh trên các
chiến thuyền Tiếng hò lúc khoan thai khi con
thuyền xuôi dòng mát mái Tiếng hò nặng nhọc khi
con thuyền ngược nước, tiếng hò dứt khoát khi con
đò vượt thác và tiếng hò háo hức khi con thuyền cập
bến Tiếng hò sông nước đó đã một thời vang vọng
suốt chiều dài lịch sử Theo các nhà nghiên cứu,
những nhạc sĩ đầu tiên đặt danh xưng “hò sông Mã”
cho loại hình nghệ thuật đặc sắc này là Lê Quang
Nghệ và Mai Hoàng Lan Tuy nhiên, phạm vi sưu
tầm tư liệu của họ cũng chỉ từ Nam Ngạn (thành
phố Thanh Hóa) lên tuyến nguồn và góc độ sưu tầm
chủ yếu là phần nhạc điệu Nghiên cứu về điệu hò
sông Mã còn có nhóm Lam Sơn, nhóm này có
những nghiên cứu phân tích, nhưng chủ yếu trên
- Hò là một loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc
- Thanh Hóa có rất đa dạng các thể loại hò, nhưng hò sông nước
là phổ biến nhất vì hệ thống giao thông đường thủy rất phát triển với nhiều hệ thống sông
- Khi xưa chủ yếu con người đi bằng đường thủy (cuộc sống gắn với sông nước) nên các điệu hò sông nước ra đời
- Hò sông nước là sản phẩm tinh thần của những người làm nghề chài lưới sông nước
- Theo các nhà nghiên cứu, những nhạc sĩ đầu tiên đặt danh xưng “hò sông Mã” cho loại hình nghệ thuật đặc sắc này là Lê Quang Nghệ và Mai Hoàng Lan
- Hò sông Mã không phải chỉ trong phạm vi sông Mã, mà bao gồm cả 4 tuyến đi dọc nối với sông Mã
Trang 4văn bản lời hò của người sưu tầm về văn học dân
gian Cách đặt tên của dân gian chủ yếu là người lái
đò thì gọi là “hò đò dọc” Hò sông Mã không phải
chỉ trong phạm vi sông Mã, mà bao gồm cả 4 tuyến
đi dọc nối với sông Mã Tuyến thứ nhất gọi là
“tuyến Nguồn” từ Hàm Rồng - Bến Ngự (thành phố
Thanh Hóa) đi Hồi Xuân (huyện Quan Hóa); tuyến
thứ hai là “tuyến Vạn” bắt đầu từ Bến Ngự đến Ngã
Ba Đầu nguồn theo sông Chu lên đến Trịnh Vạn,
huyện Thường Xuân; tuyến thứ ba là “tuyến Kim
Tân” khởi đầu từ Bến Ngự đến Hồ Nam rẽ sang
sông Bưởi đi Kim Tân, huyện Thạch Thành và
tuyến cuối cùng là “tuyến Lạch” từ Bến Ngự đến
Ngã Ba Bông rẽ theo sông Lèn xuống Lạch Sung,
huyện Nga Sơn Cả 4 tuyến này từ xa xưa đều có đò
dọc, hành trình theo định kỳ thường xuyên và có rất
nhiều bến đậu liên quan đến các chợ trung tâm của
các địa phương Đò dọc là đò chở khách buôn hàng
chuyến từ các chợ tỉnh, mỗi tháng có 6 phiên vào
các ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27 Xưa kia bến trung tâm
của đò dọc là bến Giàng vì tỉnh lỵ đặt ở làng Dương
Xá Đến năm Gia Long thứ 3 (1804) tỉnh lỵ mới
chuyển về Thọ Hạc và từ đó Nam Ngạn - Bến Ngự
mới trở thành bến trung tâm của đò dọc sông Mã
Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu các làn điệu hò sông Mã.
a Mục tiêu:
- Học sinh ghi nhớ được một số làn điệu phổ biến của hò Sông Mã
b Nội dung:
Cho học sinh khai thác kiến thức trong sách giáo khoa, tranh ảnh,video để tìm hiểu kiến thức
c Sản phẩm học tập
- Qua bài học thấy được những nét đặc sắc của các điệu hò
d Tổ chức
Gi Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập
- Học sinh hoạt động cá nhân:
? ? Hãy kể tên các làn điệu hò sông Mã mà em biết và
đã được nghe?
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
- Học sinh cùng lắng nghe câu hỏi
- Học sinh làm việc cá nhân: Suy nghĩ và trả lời
câu hỏi giáo viên đặt ra
2 Các làn điệu Hò Sông Mã
- Hò sông Mã có 5 làn điệu
chính:
+ Hò rời bến: Vang, nhộn nhịp,
khẩn trương mời khách xuống thuyền
+ Hò đò xuôi: Êm ả, nhẹ nhàng + Hò đò ngược: Lại tỏ rõ sự
Trang 5* *Bước 3: Báo cáo, thảo luận
- HS trả lời, HS khác nhận xét bổ sung
* Bước 4: Kết luận, nhận định
GV bổ sung phần phân tích nhận xét, đánh giá, kết
quả thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh Kết
luận lại nội dung
- Hò sông Mã được chia ra nhiều làn điệu, nhưng
phổ biến hơn cả vẫn là 5 làn chính, gồm: Hò rời
bến, Hò đò xuôi, Hò đò ngược, Hò mắc cạn, Hò
cập bến Còn theo nhiều nhà nghiên cứu, hò sông
Mã có gần 20 làn điệu, mỗi làn lại có nhiều lời
khác nhau, luyến láy đa dạng
- Hầu hết các điệu hò sông Mã được hát theo lối
xướng - xô, đối - đáp Sau câu bắt nhịp của người
cầm cái, các trai đò sẽ phụ họa theo, chủ yếu là
những câu ngắn như: “dô tả, dô tà”, “dô khoan, hò
khoan” Nếu Hò rời bến phải vang, nhộn nhịp,
khẩn trương mời khách xuống thuyền, thì Hò
ngược thác lại tỏ rõ sự nặng nhọc, vất vả của tốp
trai đò khi chống sào đẩy thuyền ngược dòng
nước, cả câu xướng và xô trong hò ngược thác đều
ngắn gọn Khi qua đền, chùa, đôi khi còn được
nghe Hò niệm phật êm ái, nhẹ nhàng, cầu mong
chuyến đi thuận buồm xuôi gió Khi thuyền đi sai
lạch, vào bãi cát ngầm, trai đò vừa Hò mắc cạn,
vừa lội xuống nước dùng sức vác thuyền hoặc
dùng dây kéo thuyền qua chỗ sa lầy
nặng nhọc, vất vả của tốp trai đò khi chống sào đẩy thuyền ngược dòng nước, cả câu xướng và xô trong hò ngược thác đều ngắn gọn
+ Hò mắc cạn: Nặng nhọc, có
chút hài hước để khỏe khoắn đầy thuyền ra
+ Hò cập bến: Háo hức.
-
Xác nhận của Tổ chuyên môn
Tổ trưởng Giáo viên dạy
Nguyễn Thị Nghi Nguyễn Văn Thăng