Sự cố y khoa là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan và chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, làm tác động sức khỏe và tính mạng của người bệnh(1). Sự cố y khoa gây nên nhiều hậu quả trên người bệnh, nhẹ thì có thể làm tăng chi phí điều trị và kéo dài thời gian nằm viện, ảnh hưởng tới một số chức năng và các cơ quan, nặng có thể gây thương tật vĩnh viễn hoặc có thể dẫn tới tử vong(1, 2).
Trang 1NGUYỄN MAI QUỲNH NHƯ
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ SỰ CỐ Y KHOA TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN
TRÃI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2019
Tp HCM, năm 2019
Trang 2NGUYỄN MAI QUỲNH NHƯ
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝSỰ CỐ Y KHOA TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN
TRÃI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2019
Chủ nhiệm đề tài: NGUYỄN MAI QUỲNH NHƯ
Tp HCM, năm 2019
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Các định nghĩa và khái niệm về sự cố y khoa 4
1.2 Phân loại sự cố y khoa 5
1.3 Quản lý sự cố y khoa và An toàn người bệnh 7
1.3.1 Quản lý sự cố y khoa 7
1.3.1.1 Hệ thống quản lý sự cố y khoa 7
1.3.1.2 Các hoạt động trong quản lý sự cố y khoa 11
1.3.2 An toàn người bệnh 14
1.4 Thực trạng quản lý sự cố y khoa 17
1.4.1 Nghiên cứu về thiết lập hệ thống quản lý sự cố 17
1.4.2 Nghiên cứu về đánh giá và xử lý sự cố 18
1.4.3 Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và khả năng tiếp cận tới quản lý sự cố y khoa 21
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý sự cố y khoa 22
1.5.1 Yếu tố cá nhân 23
1.5.2 Yếu tố hệ thống 25
1.6 Khái quát về địa điểm nghiên cứu 27
1.6.1 Khái quát về Bệnh viện Nguyễn Trãi 27
1.6.2 Quy trình báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện Nguyễn Trãi 28
1.7 Khung lý thuyết nghiên cứu 29
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 30
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 30
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
2.3 Thiết kế nghiên cứu 31
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 31
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng 31
Trang 42.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính 32
2.5 Phương pháp chọn mẫu 33
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 33
2.6.1 Số liệu định lượng 33
2.6.2 Thu thập số liệu định tính 33
2.7 Biến số nghiên cứu 35
2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng 35
2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính 38
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 39
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 39
2.10 Hạn chế của nghiên cứu 40
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Thực trạng sự cố y khoa tại bệnh viện 41
3.1.1 Nhận diện sự cố và khắc phục tức thời y khoa 41
3.1.2 Báo cáo sự cố y khoa 42
3.1.3 Đánh giá sự cố y khoa 43
3.1.4 Xử lý sự cố y khoa 46
3.1.5 Theo dõi, giám sát 46
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sự cố y khoa 47
3.2.1 Yếu tố cá nhân 47
3.2.2 Yếu tố hệ thống 47
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 48
KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
(Sự cố không mong muốn/Sự cố y khoa)
AHRQ Agency for Healthcare Research and Quality
(Cơ quan nghiên cứu và quản lý chất lượng y tế)
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Phân loại sự cố y khoa theo mức độ tổn thương 5
Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu định lượng 35 Bảng 3 1 Đặc điểm nhận diện sự cố y khoa 41 Bảng 3 2 Đặc điểm biện pháp khắc phục sự cố 41
Bảng 3 3 Thời gian báo cáo sự cố y khoa kể từ khi phát hiện sự cố 42
Bảng 3 4 Đặc điểm các báo cáo sự cố y khoa 42
Bảng 3 5 Thời gian từ khi tiếp nhận đến khi đơn vị quản lý sự cố tiến hành đánh giá sự cố 43
Bảng 3 6 Phân loại sự cố theo nhóm nguyên nhân 43
Bảng 3 7 Phân loại sự cố theo nguyên nhân gây ra sự cố 44
Bảng 3 8 Đặc điểm đánh giá sự cố y khoa 45
Bảng 3 9 Thực trạng xử lý sự cố 46
Bảng 3 10 Thời gian từ khi tiếp nhận đến khi đơn vị quản lý sự cố tiến hành công khai sự cố 46
Bảng 3 11 Hoạt động theo dõi, giám sát 46
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hệ thống quản lý sự cố y khoa 8
Sơ đồ 1 2 Khung lý thuyết Quản lý sự cố y khoa 29
Biểu đồ 3 1 Phân bố số lượng sự cố y khoa theo khoa phòng 41 Biểu đồ 3 2 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm thực hiện quy trình kỹ thuật, thủ thuật chuyên môn 43
Biểu đồ 3 3 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm nhiễm khuẩn bệnh viện 43
Biểu đồ 3 4 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm thuốc và dịch truyền 43
Biểu đồ 3 5 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm máu và các chế phẩm máu 43
Biểu đồ 3 6 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm thiết bị y tế 44
Biểu đồ 3 7 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm hành vi 44
Biểu đồ 3 8 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm tai nạn đối với người bệnh 44
Biểu đồ 3 9 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm hạ tầng cơ sở 44
Biểu đồ 3 10 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm quản lý nguồn lực, tổ chức 44
Biểu đồ 3 11 Phân bố nguyên nhân sự cố nhóm hồ sơ, tài liệu, thủ tục hành chính .44
Biểu đồ 3 12 Phân nhóm sự cố theo diễn tiến tình huống (A-I) 45
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự cố y khoa là các tình huống không mong muốn xảy ra trong quá trình chẩnđoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan và chủ quan mà không phải dodiễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, làm tác động sức khỏe và tính mạng củangười bệnh(1) Sự cố y khoa gây nên nhiều hậu quả trên người bệnh, nhẹ thì có thểlàm tăng chi phí điều trị và kéo dài thời gian nằm viện, ảnh hưởng tới một số chứcnăng và các cơ quan, nặng có thể gây thương tật vĩnh viễn hoặc có thể dẫn tới tửvong(1, 2)
Sự cố y khoa do phẫu thuật theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới chỉ ra rằng,trong 25 bệnh nhân thì có một người phẫu thuật và biến chứng do phẫu thuật chiếm
tỉ lệ từ 3% đến 16%, trong đó tỉ lệ tử vong liên quan đến phẫu thuật chiếm từ 0,4%đến 0,8%(3) Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra sự cố y khoa như: vi phạmcủa cá nhân, lỗi hệ thống, hoặc nguy cơ tiềm ẩn Các tình huống gây ra sự cố khôngthể đoán trước và có thể xảy ra trong quá trình chăm sóc, điều trị người bệnh(2) Quản lý sự cố y khoa là hệ thống nhận diện, theo dõi, báo cáo và phân tíchnguyên nhân xác định xu hướng, các tình huống xung quanh sự cố từ đó đưa ra cácbiện pháp phòng ngừa lặp lại sự cố Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Namcho thấy, kiểm soát tốt sự cố y khoa sẽ giúp phát hiện sớm, góp phần giảm thiểu cácnguy cơ và sự cố có thể ảnh hưởng tới người bệnh, từ đó nâng cao chất lượng và antoàn người bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh(4), (5)
Theo nghiên cứu của Wright và cộng sự tại các bệnh viện NHS, 10% trườnghợp nhập viện xảy ra các rủi ro gây ảnh hưởng tới sức khoẻ củangười bệnh, với chiphí cho NHS là trên 2 tỷ bảng anh (4) Khoảng một phần ba các sự kiện có hại đượccho là có thể ngăn ngừa được.Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy để ngăn ngừa các sự
cố bất lợi phải cải thiện về kiến thức y tế, xác định nguyên nhân và phát triển cácphương pháp để ngăn ngừa lỗi hoặc giảm tác động của nó (5) Tại Việt Nam, kếtquả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Bích Bo (2017) tại bệnh viện Quận Thủ Đứccho thấy khi có sự cố xảy ra nhân viên phải báo cáo lãnh đạo khoa trước khi thựchiện báo cáo sự cố Có 88,4% đồng tình với việc báo cáo sự cố, tuy nhiên còn30,5% có rào cản và lo sợ khi báo cáo sự cố(6)
Trang 9Bệnh viện Nguyễn Trãi là Bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Sở Y tế thànhphố Hồ Chí Minh, thực hiện khám chữa bệnh cho người dân trên địa bàn thành phố
và các tỉnh thành khác Ban lãnh đạo bệnh viện luôn đạt mục tiêu lấy người bệnhlàm trung tâm và An toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu Hiện nay, bệnh viện tiếpnhận khám ngoại trú trung bình mỗi ngày gần 2.500 bệnh nhân, 350 bệnh nhân điềutrị nội trú và từ 100-150 ca cấp cứu
Từ năm 2015, Bệnh viện Nguyễn Trãi đã xây dựng quy trình quản lý và báocáo sự cố y khoa theo HPI (Healthcare Performance Improvement) (7) Đến tháng 4năm 2019, bệnh viện cập nhật quy trình quản lý và báo cáo sự cố theo thông tư43/2018/TT-BYT, trong thông tư này là căn cứ hướng dẫn công tác phòng ngừa sự
cố y khoa tại các cơ sở y tế(1, 8)
Trong quá trình triển khai quản lý sự cố y khoa tại bệnh viện ghi nhận tìnhtrạng nhiều sự cố y khoa không được ghi nhận, phân tích nguyên nhân gốc rễ vàphản hồi chưa kịp thời do các yếu tố cá nhân của nhân viên y tếvà yếu tố hệthống…Vấn đề đặt ra là: công tác quản lý sự cố y khoa được Bệnh viện NguyễnTrãi triển khai như thế nào?Các hoạt động của quản lý sự cố: nhận diện, khắc phục,báo cáo, phân tích nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm đã được bệnh việnthực hiện như thế nào?Các yếu tố cá nhân và hệ thống ảnh hưởng như thế nào đếncác hoạt động trong quản lý sự cố y khoa tại Bệnh viện Nguyễn Trãi
Để trả lời cho các câu hỏi trên cũng như cung cấp thông tin để cải thiện hệthống quản lý sự cố y khoa, nâng cao chất lượng và an toàn người bệnh tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sự
cố y khoa tại Bệnh viện Nguyễn Trãi., thành phố Hồ Chí Minh năm 2019”.
Trang 10MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng quản lý sự cố y khoa tại Bệnh viện Nguyễn Trãi., thànhphố Hồ Chí Minh năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sự cố y khoa tại Bệnh việnNguyễn Trãi., thành phố Hồ Chí Minh năm 2019
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các định nghĩa và khái niệm về sự cố y khoa
Sự cố không mong muốn hay sự cố y khoa (Adverse Event) được các tài liệu ykhoa trên thế giới sử dụng ngày càng nhiều, thay thế cho các thuật ngữ như: “sai sótchuyên môn”; “sai lầm y khoa’’, nhằm tránh hiểu sai lệch đối tượng gây ra sự cố ykhoa là nhân viên y tế, hay người chịu trách nhiệm hoàn toàn về sự cố là nhân viên
y tế(1, 9)
Theo Bộ Y tế năm 2018: Sự cố y khoa (SCYK) là những tình huống khôngmong muốn xảy ra trong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tốkhách quan, chủ quan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh,tác động sức khỏe, tính mạng của người bệnh(1)
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization năm 2011): sự cố ykhoa là những tác hại liên quan đến quản lý y tế (khác với biến chứng do bệnh), baogồm các lĩnh vực chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, sử dụng trang thiết bị y tế để cungcấp dịch vụ y tế Các sự cố này có thể có hoặc không phòng ngừa được(10)
Nguyên nhân gốc: yếu tố ban đầu trực tiếp dẫn đến xảy ra sự cố y khoa mà
không thông qua yếu tố nào khác, nguyên nhân này có thể can thiệp được được đểphòng ngừa sự cố y khoa
Tình huống có nguy cơ gây ra SCYK (near-miss): (1) tình huống đã xảy ra
nhưng chưa gây hậu quả hoặc (2) tình huống gần như xảy ra nhưng được phát hiện
và ngăn chặn kịp thời Đồng thời, 2 tình huống trên đều chưa gây tổn hại đến sứckhỏe NB(1)
Sai sót: thất bại (thiếu sót hay làm sai quy trình) trong việc thực hiện hành
động để đạt được kết quả dự kiến hoặc áp dụng sai lúc lên kế hoạch hành động đểhoàn tất mục tiêu(10)
Sai sót y khoa: khi một thất bại (thiếu sót hay làm sai quy trình) xảy ra trong
quá trình chăm sóc sức khỏe và hậu quả là gây tổn hại đến sức khỏe NB(10)
Hệ thống quản lý sự cố: là hệ thống nhận diện, theo dõi, báo cáo và phân tích
nguyên nhân xác định xu hướng, các tình huống xung quanh sự cố từ đó đưa ra các
Trang 12biện pháp phòng ngừa lặp lại sự cố Quản lý các sự cố một cách phù hợp nhằm kịpthời thực hiện quản lý rủi ro - nguy cơ và cải tiến chất lượng hiệu quả.
Quản lý sự cố: là qui trình có tính hệ thống nhằm nhận diện sự cố - rủi ro; báo
cáo sự cố rủi ro; phân tích sự cố - rủi ro, đề xuất kế hoạch khắc phục - giải quyết;triển khai kế hoạch; theo dõi giám sát việc hoàn tất các kế hoạch đã đề xuất
1.2 Phân loại sự cố y khoa
Hiện nay có nhiều cách phân loại sự cố y khoa khác nhau tùy vào bản chất vàcác tính năng của nó Một sự cố y khoa có thể chỉ là những sai sót tiềm ẩn trong quátrình thực hiện các thao tác chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, hoặc có thể lànhững trục trặc nhỏ về kiến thức đối với trang thiết bị y tế, hoặc là những lỗi lớnhơn do yếu tố chủ quan của con người gây ra hay là tất cả những nguyên nhân khácxuất phát từ nhiều khía cạnh mà con người có thể hoặc không thể dự đoán trướcđược Thông tư 43/2018/TT-BYT năm 2018 quy định các cơ sở khám chữa bệnhquản lý sự cố thực hiện phân loại sự cố theo 3 cách phân nhóm sau: mức độ tổnthương của sự cố; nhóm tác động của sự cố và nhóm nguyên nhân gây ra sự cố(1)
Tiêu chí 1: Phân loại sự cố y khoa theo nhóm mức độ tổn thương
Bảng 1 1 Phân loại sự cố y khoa theo mức độ tổn thương
Phân nhóm Theo diễn
biến tình huống
Theo mức độ tổn thương đến sức khỏe, tính mạng NB (Cấp độ nguy cơ – Nguy cơ)
1 Tình huống có nguy cơ gây ra
2 Sự cố đã xảy ra, chưa tác động
tiếp đến NB, cần phải theo dõi
hoặc can thiệp điều trị kịp thời
D
Trang 13STT Mô tả SCYK
Phân nhóm Theo diễn
biến tình huống
Theo mức độ tổn thương đến sức khỏe, tính mạng NB (Cấp độ nguy cơ – Nguy cơ)
nên không gây nguy hại
5
Sự cố đã xảy ra gây nguy hại
tạm thời và cần phải can thiệp
điều trị
ETổn thương trung bình
(NC2)
6
Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại
tạm thời, cần phải can thiệp
điều trị và kéo dài thời gian
nằm viện
F
7 Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại
kéo dài, để lại di chứng G
Tổn thương nặng (NC3)
8 Sự cố đã xảy ra, gây nguy hại
và cần phải hồi sức tích cực H
9 Sự cố đã xảy ra, có ảnh hưởng
hoặc trực tiếp gây tử vong I
Đối với các sự cố được xác định là “Tổn thương nặng (NC3)” cần tiếp tụcphân loại chi tiết theo “Danh mục SCYK nghiêm trọng”
Tiêu chí 2: Phân loại SCYK theo nhóm sự cố
Sự cố y khoa được phân thành 11 nhóm sự cố: Thực hiện quy trình kỹ thuật,thủ thuật chuyên môn; Nhiễm khuẩn bệnh viện; Thuốc và dịch truyền; Máu và cácchế phẩm máu; Thiết bị y tế; Hành vi; Tai nạn đối với người bệnh; Hạ tầng cơ sở;Quản lý nguồn lực, tổ chức; Hồ sơ, tài liệu, thủ tục hành chính; Khác(1)
Tiêu chí 3: Phân loại SCYK theo nhóm nguyên nhân gây ra sự cố
SCYK được phân thành 6 nhóm nguyên nhân gây ra: NVYT; NB; Môi trườnglàm việc; Tổ chức, dịch vụ; Yếu tố bên ngoài; Khác(1)
Trang 141.3 Quản lý sự cố y khoa và An toàn người bệnh
Mọi loại hình tổ chức, dù lớn hay nhỏ, đều phải đối mặt với các yếu tố và ảnhhưởng cả bên trong và bên ngoài làm cho tổ chức không chắc chắn liệu mình có đạtđược mục tiêu hay không và khi nào sẽ đạt được mục tiêu Tác động của sự khôngchắc chắn này lên các mục tiêu của một tổ chức chính là "sự cố"(11, 12)
Mục tiêu hàng đầu của một cơ sở y tế là vấn đề An toàn người bệnh Trongmôi trường y tế các sự cố, sai sót có thể xảy ra tại bất cứ thời điểm nào trong quytrình khám chữa bệnh Có thể khẳng định rằng ở bất cứ công đoạn nào từ quá trìnhchẩn đoán cho đến điều trị và khi người bệnh xuất viện đều chứa đựng các nguy cơtiềm tàng có thể gây ra các sự cố, rủi ro cho người bệnh Khi sự cố không mongmuốn xảy ra, cả người bệnh và thầy thuốc đều là nạn nhân, đặc biệt đối với ngườibệnh phải gánh chịu thêm hậu quả của các sự cố không mong muốn làm ảnh hưởngtới sức khỏe hoặc bị khuyết tật tạm thời hay vĩnh viễn, thậm chí chết người
1.3.1 Quản lý sự cố y khoa
1.3.1.1 Hệ thống quản lý sự cố y khoa
Tất cả các sự cố rủi ro xảy ra tại bệnh viện gây ảnh hưởng đến người bệnh vànhân viên y tế đều được coi là sự cố y khoa Việc can thiệp kịp thời và loại bỏ cácnguy cơ sớm nhất có thể là vô cùng cần thiết Để thực hiện được điều đó đòi hỏi cơsở y tế phải xây dựng hệ thống quản lý sự cố y khoa một cách đồng bộ Trong đócần quy định rõ cách thức nhận diện – báo cáo – phân tích nguyên nhân – kế hoạchkhắc phục hay biện pháp phòng ngừa – hoạt động theo dõi giám sát – báo cáo kếtquả thực hiện, các kinh nghiệm rút ra từ hoạt động quản lý sự cố, cũng như tráchnhiệm của mỗi cá nhân và đơn vị trọng quản lý sự cố y khoa
Quản lý sự cố y khoa: hay nói cách khác là quản lý sự cố trong môi trườngbệnh viện chính là giảm thiểu những sai sót, sự cố gây ảnh hưởng đến sức khỏe,tính mạng của người bệnh, giảm chi phí bồi thường hậu quả gây ra trên sức khỏecon người, cũng như tránh những tổn hại tới nhân viên, các học viên công tác tạibệnh viện Từ đó giữ cho danh tiếng của bệnh viện không bị ảnh hưởng bởi nhữngtác động tiêu cực từ sự cố
Trang 15Sơ đồ 1.1 Hệ thống quản lý sự cố y khoa(11-13)
Quản lý sự cố y khoa cần thực hiện theo một trình tự khép kín, để công tácquản lý sự cố y khoa có được hiệu quả cần tiến hành theo dõi và giám sát liên tụctrong tất cả các công đoạn ngay từ nhận diện cho đến xử lý sự cố y khoa và đưa racác bài học kinh nghiệm hay khuyến cáo phòng ngừa
a) Thiết lập hệ thống quản lý sự cố y khoa
Thiết lập hệ thống quản lý sự cố y khoa được thực hiện bởi Hội đồng quản lýchất lượng bệnh viện, việc thiết lập hệ thống quản lý sự cố y khoa cần xác định rõmục tiêu, phương thức hoạt động, phạm vi hoạt động và các tiêu chí đánh giá cáchoạt động của bệnh viện, các khoa/ phòng và đơn vị áp dụng quản lý sự cố Khitriển khai hệ thống quản lý sự cố cần quy định rõ chức năng nhiệm vụ của các cánhân, đơn vị thành viên trong quản lý sự cố
ĐÁNH GIÁ SỰ CỐ Y KHOA
Phân tích sự cố y khoa Nhận diện sự cố y khoa
Thiếp lập hệ thống quản lý sự
cố y khoa
The
o dõi và giám sát
Trang 16Xác định rõ giới hạn trong xử lý sự cố y khoa (hoạt động nào trong quy trìnhkhám chữa bệnh cần quản lý và hoạt động nào không quản lý) và liên kết các hoạtđộng với các bước công việc chính trong quy trình quản lý sự cố y khoa.
b) Đánh giá sự cố y khoa
Đánh giá sự cố y khoa là quá trình tổng hợp bao gồm: nhận diện sự cố, phântích sự cố và xác định mức độ nghiêm trọng của sự cố Việc đánh giá sự cố đượcthực hiện bởi phòng Quản lý chất lượng bệnh viện
Nhận diện sự cố
Đối tượng thực hiện nhân diện sự cố là tất cả nhân viên, người bệnh tại bệnhviện Nhận diện sự cố phải bắt đầu từ mục tiêu (ở tất cả các cấp từ bệnh viện đếncác khoa/phòng), cần xác định nguồn sự cố, đối tượng/khu vực chịu tác động,nguyên nhân và hệ quả tiềm ẩn của sự kiện Mục đích của bước này nhằm tạo mộtdanh mục các sự cố có thể xảy ra
Các phương pháp nhận diện sự cố thông dụng:
Kỹ thuật thu thập thông tin nhận diện từ sự cố xảy ra tại khoa/phòng, củachính bệnh viện của chúng ta và cả bệnh viện khác Đây là một kênh nhậndiện sự cố quan trọng, do đó nên phát triển hệ thống báo cáo tự nguyện và hệthống báo cáo sự cố nghiêm trọng bắt buộc Một viên thuốc hết hạn ở mộtkhoa, có thể là dấu hiệu cho việc phát hiện việc hết hạn cả lô thuốc trongkhoa dược và toàn bệnh viện nếu được báo cáo;
Thông qua các cuộc phỏng vấn, khảo sát người bệnh và nhân viên y tế
Thông qua các than phiền, khiếu nại từ người bệnh về chất lượng dịch vụ,quá trình khám chữa bệnh của người bệnh tại bệnh viện
Thông qua quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát các khoa/phòng; kiểm định,kiểm tra hồ sơ, thanh tra hiện trường;
Thông qua các hoạt động chuyên môn của bệnh viện như bình hồ sơ bệnh ánnội ngoại trú, bình toa thuốc
Thông qua thực hiện phân tích điểm mạnh điểm yếu tại bệnh viện
Thông qua ý kiến chuyên gia, kiểm toán;
Trang 17Khi nhận diện sự cố, cần kết hợp nhiều cách thức khác nhau để nhận diện sự
cố y khoa để có thể phát hiện nhiều sự cố hơn và không lệ thuộc quá nhiều vào bất
kỳ một cách thức nào Nhận dạng sự cố là một quá trình cập nhật liên tục vì các yếu
tố gây ra sự cố cũng không ngừng thay đổi Các khoa/phòng sẽ tự nhận diện các sự
cố của khoa/phòng mình và báo cáo cho đơn vị quản lý sự cố Điều này giúp BanGiám đốc có cái nhìn toàn diện về các sự cố mà bệnh viện phải đối mặt thông quabảng tổng hợp sự cố này
Phân tích sự cố
Phân tích sự cố nhằm phân loại, xác định mức độ sự cố xem có quyết định xửlý sự cố hay không Công việc này được thực hiện bởi phòng Quản lý chất lượng.Nếu có thì cần lựa chọn, xác định những chiến lược, phương pháp xử lý sự cố thíchhợp nhất Thực hiện phân tích sự cố sẽ cung cấp thông tin cho việc ra quyết định khinào phải thực hiện các biện pháp can thiệp với từng trường hợp khác nhau Do đó,người phân tích sự cố phải có hiểu biết toàn diện về sự cố và cách thức xử lý chúng.Phân tích sự cố cần xem xét nguyên nhân gốc rễ của sự cố Các yếu tố bị ảnhhưởng bởi sự cố Phân tích sự cố có thể được thực hiện bằng phương pháp địnhlượng hoặc định tính, cũng có thể sử dụng đồng thời cả hai phương pháp này, tuỳthuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể xoay quanh sự cố
c) Xác định mức độ nghiêm trọng của sự cố
Mục đích của xác định mức độ nghiêm trọng của sự cố nhằm cung cấp thôngtin cho việc xác định thứ tự ưu tiên trong xử lý sự cố, những sự cố nghiêm trọng cầnphải ưu tiên xử lý trước Đây cũng là căn cứ để lựa chọn các hình thức xử lý
Việc xác định mức độ nghiêm trọng của sự cố có thể dẫn đến quyết định thựchiện phân tích kỹ hơn và cũng có thể dẫn đến một quyết định không xử lý sự cốtheo bất kỳ cách Quyết định này sẽ bị ảnh hưởng bởi thái độ của tổ chức đối với sự
cố và tiêu chí sự cố đã được thiết lập ban đầu
Trang 18phù hợp, chấp nhận được không đưa ra biện pháp, xử lý mới và đánh giá lạihiệu quả của việc xử lý.
Các phương án xử lý sự cố không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau hoặc thíchhợp trong mọi tình huống Các phương án có thể bao gồm: Tạm dừng hoặc chấmdứt hoạt động gây ra sự cố; tiếp tục hoặc tiếp diễn sự cố để theo đuổi một yếu tốnguy cơ; ngăn chặn nguồn gây ra sự cố; tác động vào khả năng xảy ra sự cố và kếtquả; Trao đổi sự cố với các bên liên quan (bao gồm các khoa, phòng và đơn vịkhác); Kiềm chế sự cố bằng quyết định sáng suốt
Khi chọn lựa các phương pháp xử lý sự cố: cần cân đối giữa chi phí, tính khảthi và mức độ phù hợp của phương pháp xử lý Cần tính toán đến khả năng tính khảthi tuy nhiên chi phí không phù hợp Cần xác định rõ thứ tự ưu tiên của các phương
án, trong đó các xử lý sự cố riêng lẻ cần được ưu tiên thực hiện trước thực hiện
Theo dõi và giám sát
Theo dõi và giám sát là hoạt động quan trọng trọng quản lý sự cố Được thựchiện bởi Phòng Quản lý chất lượng bệnh viện Có thể thực hiện định kỳ hoặc độtxuất, cần phân rõ trách nhiệm thực hiện theo dõi, giám sát Trách nhiệm theo dõi vàxem xét cần được xác định rõ ràng Mục đích của quá trình này nhằm: Kiểm soátđược kế hoạch đã đề ra, tiến độ thực hiện; Cung cấp thêm thông tin để đánh giá,Phân tích và rút ra bài học kinh nghiệm từ các sự cố; Xác định sự cố có nguy cơ,suýt xảy ra
1.3.1.2 Các hoạt động trong quản lý sự cố y khoa
Nhận diện sự cố y khoa
Nhận diện sự cố phải bắt đầu từ mục tiêu (ở tất cả các cấp từ bệnh viện đếncác khoa/phòng), cần xác định nguồn sự cố, đối tượng/khu vực chịu tác động,nguyên nhân và hệ quả tiềm ẩn của sự kiện Mục đích của bước này nhằm tạo mộtdanh mục các sự cố có thể xảy ra
Các phương pháp nhận diện sự cố thông dụng:
Kỹ thuật thu thập thông tin nhận diện từ sự cố xảy ra tại khoa/phòng, củachính bệnh viện của chúng ta và cả bệnh viện khác Đây là một kênh nhậndiện sự cố quan trọng, do đó nên phát triển hệ thống báo cáo tự nguyện và hệ
Trang 19thống báo cáo sự cố nghiêm trọng bắt buộc Một viên thuốc hết hạn ở mộtkhoa, có thể là dấu hiệu cho việc phát hiện việc hết hạn cả lô thuốc trongkhoa dược và toàn bệnh viện nếu được báo cáo;
Thông qua các cuộc phỏng vấn, khảo sát người bệnh và nhân viên y tế
Thông qua các than phiền, khiếu nại từ người bệnh về chất lượng dịch vụ,quá trình khám chữa bệnh của người bệnh tại bệnh viện
Thông qua quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát các khoa/phòng; kiểm định,kiểm tra hồ sơ, thanh tra hiện trường;
Thông qua các hoạt động chuyên môn của bệnh viện như bình hồ sơ bệnh ánnội ngoại trú, bình toa thuốc
Thông qua thực hiện phân tích điểm mạnh điểm yếu tại bệnh viện
Thông qua ý kiến chuyên gia, kiểm toán;
Khi nhận diện sự cố, cần kết hợp nhiều cách thức khác nhau để nhận diện sự
cố y khoa để có thể phát hiện nhiều sự cố hơn và không lệ thuộc quá nhiều vào bất
kỳ một cách thức nào Nhận dạng sự cố là một quá trình cập nhật liên tục vì các yếu
tố gây ra sự cố cũng không ngừng thay đổi Các khoa/phòng sẽ tự nhận diện các sự
cố của khoa/phòng mình và báo cáo cho đơn vị quản lý sự cố Điều này giúp BanGiám đốc có cái nhìn toàn diện về các sự cố mà bệnh viện phải đối mặt thông quaBảng đăng ký sự cố này
Hành động khắc phục sực ố
Ngay sau khi phát hiện sự cố, cá nhân nhân viên y tế, khoa, phòng hay Lãnhđạo đơn vị cần xem xét và đưa ra các biệp pháp can thiệp để khắc phục sự cố tứcthời tránh gây ảnh hưởng hay nguy hại thêm cho người bệnh Đồng thời cần thôngbáo đến các cá nhân và đơn vị có liên quan đến sự cố để nắm rõ tình hình Việc thựchiện các hành động khắc phục sự cố cũng cần căn cứu theo các quy định, khuyếncáo đã ban hành của bệnh viện
Báo cáo sự cố
Trách nhiệm của NVYT là cần báo cáo sự cố ngay, hoặc sớm nhất có thể kể từthời điểm nhận diện sự cố Cần minh bạch trong báo cáo sự cố Không bao che, nétránh hay nể nang
Trang 20Đối với các sự cố y khoa nghiêm trọng và sự cố đặc biệt nghiêm trọng phảibáo ngay cho trưởng khoa/phòng sau đó mới báo cáo vào hệ thống ghi nhận sự cố Theo WHO (2011): Báo cáo SCYK là thành tố quan trọng trong chương trìnhATNB hay xây dựng nền văn hóa ATNB Báo cáo sự cố được xem là biện pháp làmgiảm áp lực cho bệnh viện Bệnh viện có số liệu, đánh giá được nguy cơ và có biệnpháp phòng hay can thiệp hiệu quả cho từng sự cố(10).
Đồng thời, theo quy tắc Heinrich: Phát hiện nhiều “near miss” hay “tình huốngcó nguy cơ gây ra sự cố” và có biện pháp khắc phục sẽ hạn chế các SCYK nghiêmtrọng(1)
BYT Việt Nam (2018) quy định 2 hình thức báo cáo SCYK gồm: tự nguyện
và bắt buộc(1) Hai hình thức báo cáo này tùy thuộc vào nhóm mức độ tổn thương
mà SCYK gây ra:
+ Báo cáo tự nguyện: Chưa xảy ra (NC0); Tổn thương nhẹ (NC1); Tổn
thương trung bình (NC2)
+ Báo cáo bắt buộc: Tổn thương nặng (NC3).
Để phù hợp với những nguyên tắc đạo đức, báo cáo sự cố được triển khai bằngphương pháp cụ thể trong khuôn khổ pháp lý rõ ràng có tính bảo mật Chương trìnhgiáo dục và các hoạt động tăng cường năng lực cần thiết cho các bên liên quan khácnhau để giúp mọi người hiểu rõ hơn về công cụ báo cáo nên được sử dụng
Phân tích nguyên nhân sự cố
Tất cả những trường hợp sự cố y khoa nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọngphải được điều tra và phân tích nguyên nhân gốc rễ bởi nhóm chuyên gia đượcthành lập từ các thành viên thuộc các khoa phòng trong bệnh viện Các sự cố cómức độ vừa thì căn cứ theo tần suất xảy ra để tiến hành lựa chọn đưa vào phân tích.Điều tra các yếu tố nguy cơ xoay quanh sự cố cần thực hiện khi mới xảy ra sự cố đểxác định nguyên nhân, các yếu tố cấu thành và đề xuất giải pháp phòng ngừa tronglặp lại sự cố
Biện pháp can thiệp
Trang 21Căn cứ theo kết quả phân tích nguyên nhân sự cố cần đưa ra các can thiệpnhằm khắc phục và phòng ngừa sự cố Tuỳ theo mức độ nghiêm trọng để đưa rahành động cụ thể, đồng thời triển khai theo dõi giám sát các hoạt động can thiệp.
Quản lý tất cả các sự cố
Tất cả các sự cố tại bệnh viện, cần được theo dõi, giám sát và quản lý mộtcách có hệ thống bằng sổ theo dõi sự cố, báo cáo sự cố hoặc phần mềm quản lý…các sự cố cần được mã hoá thông tin và cập nhật đầy đủ các nội dung xoay quanh sự
cố (nhận diện, phân tích, đánh giá mức độ nặng …) Công tác này cần được thựchiện bởi đơn vị quản lý sự cố
Đơn vị quản lý sự cố phải theo dõi, giám sát và báo cáo theo tiến độ đầy đủcác thông tin: Danh mục sự cố, các thông tin về sự cố, phân tích và đánh giá sự cố,nguyên nhân gốc và các can thiệp liên quan đến sự cố
Cải tiến chất lượng từ phân tích sự cố
Việc đưa ra các cải tiến chất lượng, an toàn người bệnh từ các kết quả phântích sự cố cần được thực hiện dưới sự đồng thuận của Ban giám đốc
Phản hồi thông tin
Cung cấp thông tin phản hồi về kết quả điều tra và các hành động khắc phục
sự cố sẽ giúp cải tiến chất lượng cung cấp dịch vụ, hạn chế lặp lại sự cố Nội dungquản lý sự cố phải được cập nhật thường xuyên và công khai tới các khoa/ phòng
Tính bảo mật: Trong quản lý sự cố mọi thông tin đều được yêu cầu bảo mật.
1.3.2 An toàn người bệnh
An toàn người bệnh là nguyên tắc cơ bản của ngành y tế Tại mỗi thời điểmtrong quá trình chăm sóc y tế đều có một mức độ sự cố nhất định đối với bệnh nhân.Đảm bảo an toàn người bệnh đòi hỏi nỗ lực của toàn bộ hệ thống y tế, bao gồm cảithiện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, đảm bảo an toàn môi trường và quản lý
sự cố, cụ thể như kiểm soát nhiễm khuẩn, sử dụng thuốc và thiết bị đúng cách, thựchành lâm sàng an toàn Để cung cấp dịch vụ y tế an toàn và có chất lượng cao, cácquốc gia cần xây dựng một hệ thống y tế với các quy trình cụ thể nhằm phòng ngừa
sự cố y khoa, rút kinh nghiệm từ các sự cố đã xảy ra, và hệ thống này cần được xâydựng với sự tham gia của các cán bộ y tế, bệnh viện và bệnh nhân(2)
Trang 22An toàn người bệnh (ATNB) là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hạicho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc(14) ATNB là một chuyênngành trong lĩnh vực y tế, áp dụng các phương pháp an toàn nhằm hướng đến mụcđích xây dựng một hệ thống cung ứng dịch vụ y tế đáng tin cậy (14) ATNB còn làmột thuộc tính của ngành y tế, tối thiểu hóa các sự cố và tối đa hóa sự phục hồi từcác sự cố ATNB ngày nay được xem là một môn học trong khoa học quản lý baogồm các nguyên lý chính về ATNB như sau, cách tiếp cận hệ thống, văn hóa khôngbuộc tội, tư duy yếu tố con người vào môi trường làm việc tạo nên một hệ thốngkhó mắc lỗi và văn hóa ATNB Nguyên lý tiếp cận hệ thống, hệ thống là một thuậtngữ được dùng để mô tả bất kỳ tập hợp nào gồm hai hoặc nhiều thành phần tươngtác với nhau, hoặc “một nhóm sự vật/thành phần độc lập tạo thành một thể thốngnhất (15).
An toàn người bệnh là nền tảng cho việc chăm sóc người bệnh tốt An toàncủa người bệnh là trung tâm của chất lượng chăm sóc sức khỏe Tất cả các bệnhnhân đều muốn được an toàn khi nằm viện, người bệnh sẽ tin tưởng hơn khi cơ sở y
tế đó chưa xảy ra bất kỳ sự cố nghiêm trọng nào Quan trọng hơn hết, an toàn là mộtyếu tố hỗ trợ sự lành bệnh cho người bệnh(16)
Theo BYT Việt Nam năm 2016: An toàn là 1 trong 6 khía cạnh đo lường chấtlượng dịch vụ KCB An toàn là phản ánh nguy cơ đối với sức khỏe của NB, NVYT
và cộng đồng khi cung cấp dịch vụ y tế(17)
Theo WHO (2011): An toàn là làm giảm các nguy cơ gây tổn hại không cầnthiết(10) WHO (2002) đã nhất trí thông qua nghị quyết của hội đồng y tế thế giới
về ATNB là giảm bớt tổn hại cho NB và gia đình họ, công nhận những lợi ích kinh
tế mà việc cải thiện ATNB mang lại ATNB theo định nghĩa của WHO (2009) làlàm giảm nguy cơ xảy ra các sự cố không cần thiết đến mức tối thiểu chấp nhậnđược trong chăm sóc sức khỏe(18)
IOM định nghĩa ATNB là công tác phòng ngừa các tác hại cho NB; nhấnmạnh đến các yếu tố (1) ngăn ngừa những sai sót, sự cố; (2) học hỏi từ các saisót, sự cố đã xảy ra; (3) xây dựng nền văn hóa an toàn dựa trên kết nối với các
Trang 23NVYT; NB và tổ chức(2) ATNB là mục tiêu “nền tảng” trong 7 mục tiêu của hệthống dịch vụ chăm sóc sức khỏe(19).
(1) ATNB: Tránh gây hại cho NB trong quá trình chăm sóc nhằm giúp đỡ họ (2) Lấy người bệnh làm trung tâm: Cung cấp dịch vụ chăm sóc tôn trọng và đáp
ứng các sở thích, nhu cầu và giá trị của từng NB và đảm bảo rằng NB có thểđưa ra tất cả các quyết định lâm sàng
(3) Hiệu lực: Cung cấp dịch vụ dựa trên kiến thức khoa học cho tất cả những
người có thể hưởng lợi và hạn chế cung cấp dịch vụ cho những người khôngcó khả năng hưởng lợi
(4) Hiệu quả và hiệu suất: Tránh lãng phí, bao gồm lãng phí thiết bị, vật tư, ý
tưởng và năng lượng
(5) Kịp thời: Giảm chờ đợi và chậm trễ có hại cho cả NB và NVYT
(6) Công bằng: Cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe như nhau về chất lượng cho
các đối tượng có đặc điểm cá nhân khác nhau như giới tính, dân tộc, vị trí địalý và tình trạng kinh tế xã hội
Giải pháp đảm bảo an toàn người bệnh
BYT Việt Nam đã triển khai thực 5 giải pháp đảm bảo ATNB trong quản lýchất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại bệnh viện(20):
(1) Thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm ATNB vàNVYT với các nội dung chủ yếu sau:
Xác định chính xác NB, tránh nhầm lẫn khi cung cấp dịch vụ y tế
An toàn trong phẫu thuật, thủ thuật
An toàn trong sử dụng thuốc
Phòng và kiểm soát NKBV
Phòng ngừa sự cố, sai sót do trao đổi, truyền đạt thông tin sai lệch giữaNVYT
Phòng ngừa NB bị té, ngã
An toàn trong sử dụng trang thiết bị y tế
(2) Bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho NB, khách thăm và NVYT; tránhtai nạn, sự cố, phơi nhiễm nghề nghiệp
Trang 24(3) Thiết lập hệ thống thu thập, báo cáo sai sót chuyên môn, SCYK tại các khoalâm sàng và toàn bệnh viện, bao gồm báo cáo bắt buộc và tự nguyện
(4) Xây dựng quy trình đánh giá sai sót chuyên môn, SCYK để xác định nguyênnhân gốc, nguyên nhân có tính hệ thống và nguyên nhân chủ quan củaNVYT; đánh giá các sự cố tiềm ẩn có thể xảy ra
(5) Xử lý sai sót chuyên môn, SCYK và có các hành động khắc phục đối vớinguyên nhân gốc, nguyên nhân có tính hệ thống và nguyên nhân chủ quan đểgiảm thiểu sai sót, sự cố và phòng ngừa sự cố
1.4 Thực trạng quản lý sự cố y khoa
Bệnh viện luôn tiềm ẩn các nguy cơ không an toàn cho người bệnh bất chấpnền y học ngày càng tiến bộ Theo báo cáo của Viện Y học Hoa Kỳ, mỗi năm tạiHoa Kỳ từ 44 đến 98 nghìn bệnh nhân nhập viện ở Hoa Kỳ tử vong mỗi năm do lỗi
y tế và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và chính phủ nên nỗ lực cảithiện sự an toàn của bệnh nhân (2),(10) Theo cục Quản lý KCB ước tính nước ta có493.500 trường hợp xảy ra SCYK trong năm Nếu chấp nhận tỷ lệ tai nạn 7% (tần
số trung bình ở Mỹ, Úc, Canada và Châu Âu) và tổng số bệnh nhân điều trị nội trú7.050.000 (số liệu BYT năm 2003) Tuy nhiên, ước tính này sẽ thấp hơn thực tế vìkhông tính số lượt người bệnh điều trị ngoại trú(9) Hiện nay đã có nhiều nghiêncứu trên thế giới thực hiện về các hoạt động trong hệ thống quản lý sự cố y khoa,các nghiên cứu này đã cho thấy phần nào thực trạng quản lý sự cố y khoa trên thếgiới
1.4.1 Nghiên cứu về thiết lập hệ thống quản lý sự cố
Việc thiết lập một hệ thống quản lý sự cố y khoa sẽ góp phần kiểm soát và làmgiảm các sự cố y khoa có thể ngăn ngừa được, hệ thống quản lý sự cố yếu kém sẽ lànguyên nhân gây gia tăng sự cố(12)
Hàng năm, số người chết vì các vụ tai nạn giao thông, HIV/AIDS và ung thư
vú, đây là ba nguyên nhân tử vong nhận được nhiều sự chú ý của công chúng, tuynhiên con số này còn thấp hơn so với số người chết vì sự cố y khoa tại bệnh viện(1).Chi phí giải quyết các hậu quả các sai sót trong y tế đứng hàng đầu trong các vấn đềcấp bách, phổ biến của xã hội Các chuyên gia đều đồng ý rằng những sai sót trong
Trang 25môi trường y tế và vấn đề an toàn người bệnh có thể được cải thiện thông qua việcthiết lập một hệ thống y tế an toàn hơn(2).
Tác giả Baines R.J cũng cho rằng có đến 70% những sự cố y khoa xảy ra tại
Hà Lan có thể phòng ngừa được thông qua quản lý sự cố y khoa hiệu quả(21).Nghiên cứu tại một bệnh viện ở Hàn Quốc nhằm khám phá các rào cản và các yếu
tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận hành hệ thống báo cáo sự cố an toàn bệnhnhân, kết quả cho thấy tỷ lệ báo cáo thấp là do hệ thống quản lý sự cố được thiết kếyếu kém và thiếu sự quản lý của các nhà lãnh đạo cấp khoa/phòng về an toàn ngườibệnh và những người tham gia nghiên cứu kiến nghị cần có hệ thống khen thưởngtrong báo cáo sự cố; và cải tiến hệ thống báo cáo sự cố bằng cách thiết kế nhiềukênh báo cáo sự cố khác nhau, bảo mật thông tin của người báo cáo, và xây dựngvăn hoá an toàn người bệnh (22)
Tại Việt Nam, nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa khu vực Cai Lậy, Tiền Giangcũng cho thấy các sự cố y khoa có thể phòng tránh được thông qua tuân thủ quytrình chuyên môn và xây dựng văn hoá an toàn, hay thực hiện quy trình quản lý sự
cố hiệu quả (23)
1.4.2 Nghiên cứu về đánh giá và xử lý sự cố
Theo WHO (2018), cứ 10 bệnh nhân thì có 1 bệnh nhân gặp phải sự cố khôngmong muốn khi được cung cấp các dịch vụ chăm sóc tại BV ở các nước đang pháttriển Đồng thời, một nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại 26 nước có thu nhập thấp
và trung bình ghi nhận: tỷ lệ SCYK chiếm khoảng 8% và 30% gây tử vong trong sốđó Tuy nhiên, trong những SCYK này có khoảng 83% sự cố là có thể phòng ngừađược(24)
Các nghiên cứu hiện nay đều cho thấy việc nhận diện sự cố y khoa chưa thực
sự đem lại hiệu quả:
Nghiên cứu tại Mỹ của David C Classen và công sự (2011) hồi cứu bằngphương pháp xem xét hồ sơ tại 3 bệnh viện lớn tại Hoa Kỳ ghi nhận với 1.000 lượtkhám trong một ngày thì có 91 trường hợp xảy ra SCYK Đồng thời, tỷ lệ sự cố ykhoa tăng 1,13% mỗi năm Nếu tỷ lệ này được áp dụng cho tất cả các trường hợpnhập viện tại các bệnh viện ở Hoa Kỳ trong năm 2013 thì ước tính có hơn 400.000
Trang 26bệnh nhân tử vong mỗi năm, cao hơn bốn lần so với ước tính Nghiên cứu cũng chothấy các phương pháp phát hiện sự cố thường được sử dụng để theo dõi sự an toàncủa bệnh nhân ở Hoa Kỳ là báo cáo tự nguyện và các theo dõi các Chỉ số An toànngười bệnh của AHRQ, các phương pháp này hoạt động rất kém so với các phươngpháp khác và bỏ sót 90% các sự kiện bất lợi Công cụ kích hoạt toàn cầu của IHI đãtìm thấy các sự kiện nghiêm trọng được xác nhận nhiều hơn ít nhất mười lần so vớicác phương pháp khác này Nhìn chung, các tác dụng phụ xảy ra ở một phần ba sốngười nhập viện Việc phụ thuộc vào báo cáo tự nguyện và các Chỉ số An toànngười bệnh có thể đưa ra kết luận sai lệch về sự an toàn của dịch vụ chăm sóc hiệntại trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của Hoa Kỳ và những nỗ lực sai lầm để cảithiện sự an toàn của bệnh nhân (25).
Trong một khảo sát các giảng viên và bác sĩ nội trú ở các vùng Trung tây, giữaĐại Tây Dương và đông bắc của Hoa Kỳ để điều tra việc báo cáo lỗi thực tế, khảnăng báo cáo lỗi giả định, thái độ đối với việc báo cáo lỗi và các yếu tố nhân khẩuhọc Đã nhận được phản hồi từ 338 người tham gia (tỷ lệ phản hồi, 74,0%) Hầu hếtnhững người được hỏi đều đồng ý rằng báo cáo sai sót sẽ cải thiện chất lượng chămsóc cho bệnh nhân trong tương lai (84,3%) và có khả năng báo cáo một lỗi giả địnhdẫn đến tổn hại nhỏ (73%) hoặc lớn (92%) cho bệnh nhân Tuy nhiên, chỉ 17,8% sốngười được hỏi báo cáo một lỗi nhỏ thực sự (dẫn đến việc điều trị kéo dài hoặc khóchịu), và chỉ 3,8% báo cáo một lỗi lớn thực sự (dẫn đến tàn tật hoặc tử vong) Hơnnữa, 16,9% thừa nhận không báo cáo một lỗi nhỏ thực sự và 3,8% thừa nhận khôngbáo cáo một lỗi lớn thực sự Chỉ có 54,8% số người được hỏi biết cách báo cáo lỗi
và chỉ 39,5% biết loại lỗi nào cần báo cáo Các phân tích đa biến về câu trả lời chocác thông tin mô tả giả định cho thấy rằng việc sẵn sàng báo cáo có liên quan tíchcực với việc tin rằng báo cáo cải thiện chất lượng chăm sóc, biết cách báo cáo lỗi,tin vào sự tha thứ và là một bác sĩ so với một người dân (26)
Tại Hà Lan, Nghiên cứuBaines R.J (2018), đã cung cấp thông tin chi tiết vềcác sự số liên quan đến thuốc khi nhập viện Một tỷ lệ đáng kể các sự cố có liênquan đến thuốc (n = 218, 15,2%), trong đó 18,4% (n = 55) được đánh giá là có thểphòng ngừa được Vì khả năng ngăn chặn các sự cố liên quan đến thuốc đặc biệt
Trang 27cao trong điều trị chống đông máu (n = 17, 42,5%), những loại thuốc đó là mối đedọa đối với sự an toàn của bệnh nhân Do đó, các nghiên cứu trong tương lai và cácchương trình an toàn mới nên tập trung vào việc phòng ngừa các sự cố liên quanđến nhóm thuốc có nguy cơ cao này Trong một báo cáo về theo dõi và tổng hợp sốliệu SCYK tại bệnh viện của một số nước có nền kinh tế phát triển: tỷ lệ SCYKcũng chiếm tỷ lệ khá cao (2,9 đến 16,6%) và có chiều hướng gia tăng hàng năm.Tuy nhiên, trong những SCYK này có khoảng 22 đến 70% có thể phòng ngừađược(21) Số người chết vì sai thuốc nhiều hơn là do chấn thương tại nơi làm việc.Các sự cố xảy ra gây gánh nặng về chi phí để khắc phục những hậu quả nó manglại(2) Do đó cần tăng cường các hoạt động quản lý sự cố
Tại Anh, nhằm kiểm tra tính khả thi của việc phát hiện các SCYK, trong số
1014 bệnh nhân, có 110 (10,8%) trường hợp đã trải qua một sự cố Đồng thời, một
số bệnh nhân cũng trải qua nhiều SCYK (11,7%) Cụ thể, có 73 (66%) trường hợp
bị thiệt hại nhẹ hoặc có thể hồi phục trong vòng 1 tháng; 37 (34%) trường hợp bịchấn thương Đồng thời, trong những trường hợp chấn thương có 21 trường hợp cóbiến chứng dẫn đến suy yếu vừa, 7 trường hợp bị suy giảm chức năng vĩnh viễn và
9 trường hợp tử vong Đồng thời, theo báo cáo của BYT tại đây cũng có thấy cókhoảng 850.000 SCYK xảy ra mỗi năm(27),(28)
Trong một nghiên cứu trên 773 nhân viên y tế về kiến thức, thực hành và ràocản trong báo cáo sự cố y khoa cho thấy: chỉ có một tỷ lệ nhỏ 1,7% nhân viên y tếcông tác tại bệnh viện không biết về hệ thống báo cáo sự cố y khoa, tỷ lệ điềudưỡng biết cách để hoàn thành một báo cáo sự cố y khoa cao gấp 2 lần bác sĩ(88,3% và 43%); tỷ lệ điều dưỡng đã hoàn thành một báo cáo SCYK là (89,2%)cũng cao hơn so với bác sĩ (64,4%); và biết phải làm gì với báo cáo hoàn thànhnhóm y tá cũng chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm bác sĩ với tỉ lệ lần lượt là 81,9% và49,7% Thiếu thông tin phản hồi là rào cản đối với việc báo cáo sự cố y khoa trongnghiên cứu này, rào cản ở bác sĩ cao hơn so với điều dưỡng (61,8% - 57,7%) (29).Trong một phỏng vấn phụ huynh của các trẻ sau khi nhận dịch vụ tiêm chủngtại Úc về các tác dụng phụ của dịch vụ tiêm chủng, kết quả cho thấy có 41% ít nhấtgặp phải một tác dụng phụ sau khi tiêm chủng Tuy nhiên chỉ có 1/3 trong số đó đã
Trang 28báo cáo với cơ quan y tế, phu huynh thường có xu hướng chấp nhận rủi ro và khôngbáo cáo nguy cơ co dật do sốt và sốc phản vệ lần lượt là 73% và 76%, kết quả nàyliên quan đến thông tin truyền thông về nguy cơ tiêm chủng của cơ quan y tế, phụhuynh không biết khi nào cần báo cáo và không rõ trách nhiệm báo cáo là của ai(30).
Tại Isreal, nghiên cứu tại khoa Hồi sức tích cực chống độc của bệnh việnthuộc trường đại học thực hiện dựa trên 2 dữ liệu: (1) báo cáo SCYK ở NVYT và(2) hồ sơ bệnh án trong 24 giờ Nghiên cứu cho rằng nếu ước tính trung bình có 178hoạt động trên một bệnh nhân mỗi ngày thì có 1,7 sự cố xảy ra trên mỗi người bệnhtrong một ngày(31)
Nghiên cứu khảo sát thực trạng SCYK của nhóm nghiên cứu tại bệnh việnTrưng Vương ghi nhận: có 78 trường hợp SCYK, chiếm 0,12% lượt NB nhập việnthông qua mô hình báo cáo hàng loạt ca, từ tháng 1/2017 đến tháng 5/2018(32).Nghiên cứu tại bệnh viện Đại học Y dược cơ sở 1 và BVĐK khu vực Củ Chicho thấy tỷ lệ khoa/nơi làm việc có xảy ra SCYK theo báo cáo ở NVYT trong năm
2017 và 2018 lần lượt là: 15,5% và 10,4%(33, 34)
Một khảo sát trên 89 điều dưỡng tại BVĐK KV Cai Lậy cho thấy các sự cố ykhoa không mong muốn liên quan đến thuốc 30% thường do trùng tên bệnh nhân,gọi sai tên bệnh nhân, liên quan đến thực hiện cận lâm sàng 13%; chăm sóc, theodõi khác >33% nguy cơ từ vật nhọn là 85,4% Nghiên cứu cũng chỉ ra các sự cố ykhoa không mong muốn có thể phòng tránh được bằng việc tuân thủ các quy trìnhchuyên môn, xây dựng văn hoá an toàn (23)
1.4.3 Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và khả năng tiếp cận tới quản lý sự cố y khoa
Kết quả khảo sát tại Đan Mạch vào năm 2002 trên 4.019 nhân viên y tế, chothấy 79% nhóm điều dưỡng có thái độ tích cực với việc báo cáo sự cố, trong khi đónhóm bác sĩ có thái độ thiếu tích cực hơn chỉ đạt 66% Nguyên nhân là do các nhânviên y tế đã quen với việc không báo cáo, khi báo cáo thì sợ bị đồng nghiệp để ý, và
sợ bị lãnh đạo khiển trách (35)
Trang 29Hiện nay tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào nhằm tìm hiểu thực trạng quảnlý SCYK Các nghiên cứu hiện nay tại việt nam chỉ tập trung vào tìm hiểu kiếnthức, thái độ và hành vi về báo cáo SCYK của NVYT tại bệnh viện Kết quả nghiêncứu của tác giả Trần Thị Bích Bo (2017) tại bệnh viện Quận Thủ Đức cho thấy khicó sự cố xảy ra nhân viên phải báo cáo lãnh đạo khoa trước khi thực hiện báo cáo sự
cố Có 88,4% đồng tình với việc báo cáo sự cố, tuy nhiên còn 30,5% có rào cản và
lo sợ khi báo cáo sự cố (6).Nghiên cứu cắt ngang thực hiện tại BVĐK Củ Chi(2018) ghi nhận tỷ lệ BS; ĐD có hành vi dẫn đến SCYK trực tiếp; gián tiếp lần lượt
là 35,4%; 20,3%(36).Đồng thời, nghiên cứu tại BVĐK tỉnh Quảng Ngãi (2019) ghinhận 57% ĐD có hành vi dẫn đến SCYK (bao gồm trực hoặc gián tiếp)(37)
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý sự cố y khoa
Quản lý sự cố y khoa bao gồm các hoạt động: Nhận diện sự cố và khắc phụctức thời, phân tích nguyên nhân, đánh giá sự cố, xử lý sự cố, các hoạt động theo dõigiám sát và truyền thông tham vấn(12, 13) Tất cả các yếu tố tác động đến bất kìhoạt động nào đều là yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sự cố y khoa
Tại Thuỵ Sĩ năm 2001, Reason JT và công sự đã giải thích cách thức các sự cốxảy ra trong hệ thống Mô hình cho thấy lỗi ở một tầng của hệ thống chăm sóc sứckhỏe thường chưa đủ để gây sự cố, nó là kết quả của nhiều tầng lớp bảo vệ khácnhau trong đó phân thành lỗi cá nhân và lỗi hệ thống (38)
Trong y tế, lỗi hoạt động liên quan trực tiếp tới người hành nghề vì họ ở lớphàng rào phòng ngự cuối cùng trực tiếp với người bệnh Khi sự cố xảy ra người làmcông tác khám chữa bệnh trực tiếp (bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh…) dễ bị gán lỗi.Tuy nhiên, các yếu tố hệ thống có vai trò rất quan trọng liên quan tới các sự cố đó làcông tác quản lý, tổ chức lao động, môi trường làm việc, và thường ít được chú ýxem xét về sự liên quan Các nhà nghiên cứu nhận định cứ có một lỗi hoạt độngthường có 3 – 4 yếu tố liên quan tới lỗi hệ thống(38)
Lỗi cá nhân hay còn gọi là lỗi hoạt động, là những người thuộc tầng phòng thủcuối cùng trực tiếp chăm sóc, tiếp xúc người bệnh, và khi sự cố xảy ra họ thường bị
đổ lỗi Tuy nhiên thực tế cho thấy có nhiều lỗi cá nhân do hệ thống gây ra, và 80%
sự cố do lỗi hệ thống(38) Lỗi hệ thống liên quan đến các qui trình, qui định của tổ
Trang 30chức, các chính sách không phù hợp, và các yếu tố này không được chú ý khi xemxét phân tích nguyên nhân sự cố, do đó các lỗi tương tự tiếp tục xảy ra.
1.5.1 Yếu tố cá nhân
Lo sợ bị trừng phạt và rào cản của nhân viên y tế: là yếu tố ảnh hưởng đến
quản lý sự cố y khoa Nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc lo sợ bị trừng phạt,khiển trách là rào cản ảnh hưởng tới quản lý sự cố: lo sợ bị đồng nghiệp và lãnh đạochú ý, sợ bị xử phạt hay khiển trách là yếu tố ảnh hưởng tới việc không báo cáo sự
cố, che giấu sự cố(29),(39)
Một số rào cản ngăn mọi người báo cáo về các vấn đề hoặc thay đổi để ngănchặn vấn đề: sợ rằng họ sẽ bị đổ lỗi cho vấn đề này, sợ rằng họ sẽ bị trừng phạt vì viphạm pháp luật, sợ rằng báo cáo vấn đề không cải thiện sự an toàn của bệnh nhân,thiếu hỗ trợ trong tổ chức, thiếu thông tin phản hồi, thiếu kiến thức về hệ thống báocáo và không có hướng dẫn rõ ràng về những lỗi cần được báo cáo (35) Mọi ngườisẵn sàng báo cáo và học hỏi từ các hệ thống tăng sự an toàn cho bệnh nhân nếunhững người khác không cố đổ lỗi cho các vấn đề, nếu báo cáo và học tập đượckhuyến khích, nếu họ được thông báo rõ ràng những gì và cách báo cáo, nếu tổ chức
hỗ trợ phân tích dữ liệu để đưa ra những bài học hữu ích và nếu phản hồi được đưa
ra theo nhiều cách (như các cuộc họp địa phương, thông điệp email và bản tin)(40) Khi các nhân viên lo sợ bị lãnh đạo để ý, sợ bị đồng nghiệp trả thù khi báo cáo
sự cố, dẫn đến che dấu thông tin sự cố (35) Để nhân viên y tế tích cực trong báocáo sự cố thì lãnh đạo đơn vị cần có biện pháp để bảo vệ nhân viên dám đứng ra báocáo sự cố, như bảo mật thông tin người báo cáo sự cố, hạn chế xử phạt, truy lỗi cánhân của nhân viên khi có sự cố xảy ra Tập trung vào tìm lỗi hệ thống trong quytrình quản lý sự cố để đưa ra biện pháp phòng ngừa các sự cố tái diễn(30)
Kết quả khảo sát tại Đan Mạch cũng cho thấy rào cản báo cáo sự cố là do cácnhân viên y tế đã quen với việc không báo cáo, khi báo cáo thì sợ bị đồng nghiệp đểý, và sợ bị lãnh đạo khiển trách (35)
Khả năng tiếp cận tới hệ thống quản lý sự cố y khoa
Đây là yếu tố quan trọng tác động tới quản lý sự cố y khoa Khi nhân viênđược tiếp cận tới hệ thống quản lý sự cố y khoa dễ dàng sẽ góp phần làm tăng khả
Trang 31năng nhận diện sự cố cũng như có những xử trí đúng khi sự cố xảy ra Các cơ sở y
tế không nên nhầm lẫn giữa khả năng tiếp cận và tính khả dụng của hệ thống quảnlý sự cố Việc thiết lập một hệ thống quản lý sự cố đầy đủ các yếu tố tuy nhiên nhânviên y tế tại đơn vị không biết về các yếu tố trong hệ thống quản lý đó là hoàn toànthất bại (22)
Các nghiên cứu trên thế giới về quản lý sự cố y khoa cũng cho kết quả về khảnăng tiếp cận thông tin như: nghiên cứu tại Nam Úc cho thấy hầu hết các nhân viên
y tế biết rằng bệnh viện của họ có một hệ thống báo cáo sự cố, tỷ lệ điều dưỡng biếtcách truy cập thông tin để hoàn thành một báo cáo sự cố cao gấp đôi so với bác sĩ
Tỷ lệ điều dưỡng biết cần phải làm gì với một báo cáo SCYK hoàn chỉnh cũng caohơn rất nhiều so với bác sĩ (81,9% và 49,7%) Tuy nhiên khi được hỏi về rào cảnvới việc báo cáo SCYK của nhân viên y tế, thì điều dưỡng cho biết việc thiếu thôngtin phản hồi dẫn tới không báo cáo sự cố chiếm tỉ lệ 57,7% ở điều dưỡng và 61,8%ở nhóm bác sỹ (29).Một nghiên cứu định tính về báo cáo tác dụng phụ sau tiêmchủng tại Úc cho thấy, nguyên nhân các tác dụng phụ ít được báo cáo là do đốitượng nghiên cứu không được tiếp cận về phương thức báo cáo tác dụng phụ, khôngbiết cách để báo cáo, các thông tin hướng dẫn, quy định không rõ ràng (41)
Kiến thức và thái độ của nhân viên y tế về quản lý sự cố y khoa
Thiếu kiến thức, kinh nghiệm về quản lý sự cố y khoa hay cách áp dụng cácquy định và hình thức xử trí không phù hợp sẽ tác động xấu tới quản lý SCYK Tuynhiên, có những sự cố y khoa là không thể ngăn ngừa được, ngay cả với các y – bác
sĩ có kinh nghiệm nhất Việc củng cố và nâng cao kiến thức về sự cố y khoa sẽ giúpnhân viên y tế có những biện pháp xử trí đúng với các yếu tố nguy cơ gây ra sự cố,ứng phó đúng với quy định, khuyến cáo của đơn vị khi có sự cố xảy ra (37)
Thái độ của nhân viên y tế với quản lý sự cố y khoa cũng là yếu tố quan trọng.Thái độ thiếu chuyên nghiệp, không tập trung khi thực hiện các công tác chuyênmôn hằng ngày như: thăm khám cho người bệnh, ra y lệnh, ghi chép hồ sơ bệnh án,cấp phát thuốc cho người bệnh…, dễ gây ra các sai lầm ảnh hưởng tới sức khoẻ,tinh thần của người bệnh như: nhầm lẫn về nhận diện người bệnh, điều dưỡng ratrực không bàn giao người bệnh, thực hiện sai y lệnh ) (6);
Trang 32Các yếu tố các nhân khác
Hoàn cảnh của nhân viên y tế (mệt mỏi, ốm đau, tâm lý, ), khi cá nhân nhânviên y tế gặp phải những vấn đề trong cuộc sống thường ngày cũng có nguy cơ gâyxao nhãng, ảnh hưởng đến công việc Áp lực công việc lớn hay khối lượng côngviệc nhiều sẽ ảnh hưởng tới việc báo cáo sự cố của nhân viên y tế (27)
1.5.2 Yếu tố hệ thống
Quan tâm của lãnh đạo
Lãnh đạo bệnh viện phải là người khởi xướng và cụ thể hoá việc xây dựng vănhoá an toàn người bệnh của bệnh viện bằng những hoạt động cụ thể và thiết thực,được thể hiện trong kế hoạch cải tiến chất lượng hằng năm của Hội đồng Quản lýchất lượng bệnh viện(40) Sự quan tâm của lãnh đạo đối với An toàn người bệnh vàquản lý sự cố y khoa của bệnh viện là yếu tố quan trọng nhất Tại mỗi đơn vị cólãnh đạo quan tâm sẽ dễ dàng triển khai các quy định, quy trình nhằm nâng cao Antoàn người bệnh
Đào tạo, tập huấn về quản lý sự cố y khoa
Từ năm 2016, Sở Y tế TP HCM đã ban hành khuyến cáo xây dựng văn hoá antoàn người bệnh tại các bệnh viện, đồng thời trong khuyến cáo đã thể hiện rõ trongnăm các bệnh viện cần triển khai tập huấn Văn hóa an toàn người bệnh và sự cố ykhoa cho nhân viên y tế(42) Việc tăng cường đào tạo, huấn luyện cho nhân viên y
tế tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh kiến thức an toàn người bệnh đối và sự cố ykhoa là vô cùng cần thiết Khi nhân viên được đào tạo, tập huấn và cập nhật kiếnthức thường xuyên về quản lý sự cố sẽ dễ dàng ứng phó với các tình huống khi gặpphải sự cố hoặc các tình huống có thể gây ra sự cố(2)
Quy định, quy trình về quản lý sự cố
Xây dựng các quy định, quy trình quản lý sự cố y khoa để giúp toàn bộ nhânviên dễ dàng nhận diện sự cố ngay từ khi chưa xảy ra, xác định nguyên nhân gốc,nguyên nhân có tính hệ thống cũng như các lỗi cá nhân của nhân viên y tế; đánh giácác nguy cơ có thể xảy ra, cũng như những biện pháp khắc phục kịp thời (11, 12).Các quy trình, quy định hiện hành tại bệnh viện có thể là nguy cơ tiềm ẩn gây ra sự
cố y khoa, vì vậy để nâng cao an toàn người bệnh tại bệnh viện cần thiết lập một
Trang 33quy trình quản lý sự cố hoàn chỉnh Các cuộc khảo sát tại Mỹ vào cuối thế kỷ 20cho thấy nguyên nhân các sự cố y khoa không được phát hiện và ngăn chặn dokhông được báo cáo, các nhân viên y tếkhông báo cáo sai sót của bản thân mình haycủa người khác khi gặp phải sự cố vì thủ tục báo cáo rườm rà dẫn đến tâm lý thayđổi và lo sợ kiện cáo (43).
Văn hóa xử lý sự cố
Mục đích của việc xây dựng hệ thống quản lý sự cố là để kịp thời phát hiện,ngăn ngừa sự cố xảy ra hay lặp lại sự cố Vì vậy cần xây dựng văn hóa không truytìm lỗi cá nhân, mà tìm lỗi hệ thống, những điểm bất hợp lý trong quy trình khámchữa bệnh để khắc phục ngăn ngừa các diễn biến bất thường nguy hại cho ngườibệnh Cách thức xử lý sự cố sẽ tác động đến việc báo cáo và khắc phục sự cố củanhân viên Khi nhân viên lo sợ khi báo cáo sự cố sẽ bị xử phạt sẽ dẫn đến che giấukhông báo cáo sự cố (22)
Tạo không khí cởi mở cho nhân viên trao đổi về sai sót, lãnh đạo bệnh viện vàlãnh đạo khoa, phòng cần tuân thủ nguyên tắc phân tích hệ thống để xác định lỗi hệthống hay lỗi cá nhân khi có sai sót xảy ra Hành xử không buộc tội không đồngnghĩa với không có biện pháp chế tài với lỗi cá nhân, nhưng cần phân tích rõ vềkiến thức, kỹ năng và tính kỷ luật của nhân viên trước khi áp dụng hình thức vàmức độ chế tài(40)
Động viên khuyến khích trong quản lý sự cố
Việc nhân viên báo cáo toàn bộ các sự cố, sai sót đã xảy ra hoặc các sự cố cónguy cơ (chưa xảy ra) là hoàn toàn không thể xảy ra Nhiều nghiên cứu đã cho thấymuốn tăng tỷ lệ báo cáo sự cố, rủi co hay các yếu tố nguy cơ cần xây dựng văn hoábáo cáo tự nguyện, để nhân viên y tế không còn gặp phải các rào cản, lo sợ khi báocáo sự cố (22), (23)
Khi sự cố xảy ra thay vì truy tìm lỗi cá nhân, mà tìm lỗi hệ thống để sự cốđược khắc phục hoặc đưa được giải pháp khắc phục kịp thời Sẽ tạo cho nhân viênvăn khóa không che giấu, báo cáo kịp thời Đồng thời khuyến khích nhân viên báocáo sự cố sẽ phát hiện được những sự cố chưa xảy ra Cần có quy chế động viên,
Trang 34khuyến khích việc tự giác báo cáo sự cố, khen thưởng những cá nhân và đơn vịtrong báo cáo sự cố y khoa (6).
Quan hệ với đồng nghiệp
Mối quan hệ giữa các cá nhân, đơn vị sẽ tác động rất lớn đến việc quản lý sự
cố Một đơn vị có mỗi quan hệ giữa các nhân viên tốt thì sẽ dễ dàng có sự phối hợptrong việc báo cáo, tìm hiểu và phân tích nguyên nhân sự cố Ngược lại không có sựphối hợp giữa các cá nhân và đơn vị sẽ không thể tìm hiểu hết các vấn đề xungquanh sự cố (6)
1.6 Khái quát về địa điểm nghiên cứu
1.6.1 Khái quát về Bệnh viện Nguyễn Trãi
Bệnh viện Nguyễn Trãi được thành lập theo Quyết định số UBND ngày 27/02/2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, với quy môban đầu 60 giường bệnh Đến năm 2012, bệnh viện đã phát triển nhanh chóng lênquy mô bệnh viện đa khoa hạng III với 150 giường bệnh Năm 2014, bệnh việnđược công nhận là bệnh viện đa khoa hạng II theo quyết định số 4047/QĐ-UBNDngày 15/8/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quy mô 300 giườngbệnh và hơn 450 nhân viên Trong những năm qua, nhằm tao điều kiện và phục vụviệc khám chữa bệnh tốt hơn, Bệnh viện Nguyễn Trãi thành lập phòng khám đakhoa vệ tinh tại trạm y tế phường Thảo Điền từ cuối năm 2018; phòng khám chuyêngia, phòng khám bác sĩ gia đình VIP; năm 2019 khai trương khu khám mắt kỹ thuậtcao, ký kết hợp tác chuyên môn với Bệnh viện răng – hàm – mặt TP; triển khai đơn
34/2007/QĐ-vị Ngoại thận – tiết niệu(42)
Trải qua hơn 10 hình thành và phát triển Bệnh viện đã có sự lột xác nhanhchóng Phát triển toàn diện về quy mô, cơ sở hạ tầng nguồn nhân lực và chất lượngkhám chữa bệnh Hiện nay, Bệnh viện Nguyễn Trãi có hơn 800 nhân viên, trong đócó gần 300 bác sĩ; với 32 khoa và 09 phòng chức năng, với quy mô 500 giường, mỗingày trung bình bệnh viện tiếp nhận khoảng 2.500 - 3.500 lượt khám ngoại trú.Trung bình mỗi năm, Bệnh viện Nguyễn Trãi khám chữa bệnh cho hơn 450.000lượt người, số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh năm sau cao hơn năm trướctrung bình 15,2% Bệnh viện đã thực hiện được nhiều kỹ thuật khó như: phẫu thuật
Trang 35nội soi, cắt gan, đại tràng, dạ dày, thay khớp gối, khớp háng, lồng ngực mạch máu,đặt máy tạo nhịp thở ở tim… góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên Nhiều
kỹ thuật y khoa phức tạp đã được thực hiện ngay tại Bệnh viện giúp người dân tiếtkiện chi phí khám chữa bệnh và giảm tải áp lực cho các bệnh viện tuyến trên Bệnhviện Nguyễn Trãi hiện là địa chỉ đáng tin cậy không chỉ của người dân trên địa bànNguyễn Trãi mà còn một số vùng lân cận như: Quận 5, quận Thủ Đức, tỉnh Long
An, tỉnh Hậu Giang…(42)
1.6.2 Quy trình báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện Nguyễn Trãi
Từ năm 2015, Bệnh viện Nguyễn Trãi đã xây dựng quy trình quản lý và báocáo sự cố y khoa theo HPI (Healthcare Performance Improvement)(7) Trong quátrình triển khai quản lý sự cố theo HPI đã đem lại được những hiệu quả nhất định.Trong năm 2017, tại bệnh viện đã có 76 sự cố y khoa người bệnh được ghi nhận,mức độ gây hại tối thiểu đến không gây hại và không có sự cố nghiêm trọng(44).Trong đó nhóm sự cố cố do môi trường có 29 trường hợp, Sự cố do quản lý chămsóc là 34 trường hợp và sự cố do thiết bị vật tư là 8 trường hợp Tất cả các sự cốđược báo cáo thông qua mạng lưới quản lý chất lượng Trong năm 2018, bệnh việnghi nhận được 38 sự cố y khoa, giảm mạnh so với năm 2018(45)
Đến tháng 4 năm 2019 bệnh viện cập nhật quản lý và báo cáo sự cố theo thông
tư 43/2018/TT-BYT về Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khámbệnh, chữa bệnh(1, 8)
Nguyên tắc chung:
Đối với các sự cố y khoa từ mục 1 đến mục 6 của Phân loại sự cố y khoa theomức độ tổn thương (Phụ lục 7)
Hình thức: văn bản hoặc báo cáo điện tử Trường hợp khẩn cấp: báo cáo trựctiếp hoặc qua điện thoại nhưng sau đó vẫn ghi nhận lại bằng văn bản
Người gây sự cố y khoa hoặc phát hiện sự cố y khoa báo cho phòng QLCL vớinội dung: Địa điểm, thời điểm xảy ra và mô tả, đánh giá sơ bộ sự cố, tình trạngngười bị ảnh hưởng, xử lý ban đầu
Trang 361.7 Khung lý thuyết nghiên cứu
Sơ đồ 1 2 Khung lý thuyết Quản lý sự cố y khoa
Căn cứ xây dựng khung lý thuyết:
Thông tư số 43/2018/TT-BYT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế(1)
Quy định Hệ thống theo dõi và báo cáo Sự cố y khoa tại Bệnh viện NguyễnTrãi.(8)
Nghiên cứu của Trần Thị Bích Bo năm 2017 tại BV Quận Thủ Đức(6)
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Yếu tố hệ thống
- Chính sách, quy định, quy
trình của bệnh viện
- Đào tạo, tập huấn
- Quan hệ với đồng nghiệp
- Văn hóa xử lý sự cố
- Động viên khuyến khích
- Quan tâm của lãnh đạo.
- Cơ sở vật chất: kênh thông
tin báo cáo sự cố
- Nguồn nhân lực: số lượng,
kiến thức, thái độ, kỹ năng
- Các sự cố xảy rađược khắc phục kịpthời
Trang 37CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượngnghiên cứu định lượng
Là các sự cố y khoagây ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ,tinh thần của người bệnh trong quá trình đến khám, điều trị tại Bệnh việnNguyễn Trãi
Là các sự cố y khoa gây ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến nhânviên y tế đang công tác tại Bệnh viện Nguyễn Trãi
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Là các sự cố y khoa đã được ghi nhận vào hệ thống báo cáo sự cố tại Bệnhviện Nguyễn Trãi
Các sự cố y khoacó đầy đủ thông tin theo quy tại thông tư 43 (1)
Tiêu chuẩn loại trừ:
Các sự cố y khoa không được ghi nhận vào hệ thống báo cáo sự cố
Các sự cố y khoa thiếu thông tin theo quy định tại thông tư 43 (1)
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu định tính
Đối tượng nghiên cứu định tính mục tiêu 1
Nhân viên y tế có chức danh chuyên môn về y, dược đang công tác tại Bệnhviện Nguyễn Trãi
Nhân viên y tế phụ trách quản lý sự cố y khoa tại bệnh viện
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Nhân viên y tế có chức danh chuyên môn về y, dược đã từng hoàn thành ítnhất 01 báo cáo sự cố trong năm 2020
Nhân viên y tế đang phụ trách theo dõi, giám sát quản lý sự cố y khoa tạibệnh viện
Lãnh đạo bệnh viện phụ trách An toàn người bệnh và sự cố y khoa
Lãnh đạo phòng Quản lý chất lượng phụ trách quản lý sự cố y khoa
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: