1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Tiểu luận) phân tích nguyên nhân, hậu quả pháp lý và cách khắc phục vấn đề pháp lý và thực tiễn về người không có quốc tịch của việt nam, có ví dụ thực tiễn

14 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích nguyên nhân, hậu quả pháp lý và cách khắc phục vấn đề pháp lý và thực tiễn về người không có quốc tịch của Việt Nam, có ví dụ thực tiễn
Tác giả Nguyễn Sỹ Hoàng Anh
Trường học Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 39,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người không có quốc tịch - Trong pháp luật quốc tế, vấn đề về người không quôốc ịtch được quy định trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948, Công ước về vị thế của người không quốc tịch

Trang 1

ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN MÔN:

CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Đề tài số 9:

Phân tích nguyên nhân, hậu quả pháp lý và cách khắc phục vấn đề pháp lý và thực tiễn về người không có quốc tịch của Việt Nam, có ví dụ thực tiễn.

Họ và tên: Nguyễn Sỹ Hoàng Anh

Ngày, tháng, năm sinh: 08/10/1998 Lớp: LKT16-02

Ngành: Luật kinh tế

Hà Nội, 03/2020

A Phân tích nguyên nhân, hậu quả pháp lý và cách khắc phục vấn đề pháp lý về người không có quốc tịch.

Trang 2

I Khái niệm quốc tịch và người không có quốc tịch

1 Khái niệm quốc tịch

1.1 Định nghĩa

- Là mối quan hệ pháp lý hai chiều có tổng hòa là mối quan hệ quyền

và nghĩa vụ giữa 1 cá nhân và một quốc gia.

1.2 Đặc điểm của quốc tịch

- Tinh ổn định: Về thời gian: Tồn tại từ khi sinh ra đến khi mất đi.

Về không gian: Khi cá nhân mang quốc tịch của quốc gia cá nhân hiện diện trong hay ngoai quốc gia vẫn thuộc thẩm quyền tài phân của quốc gia, đặt dưới sự quản lý của quốc gia.

- Tinh cá nhân: là mối liên hệ giữa Nhà nước với 1 cá nhân cụ thể.

- Tinh hai chiều: Khi cá nhân mang quốc tịch của quốc gia thì cá nhân

có nghĩa vụ với quốc gia; nghĩa vụ của cá nhân là quyền của quốc gia và ngược lại.

1.3 Cách xác lập quốc tịch của cá nhân

Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, mỗi nước đều có quyền quy định trong pháp luật nước mình những phương thức hưởng quốc tịch nhất định Nhìn chung, hầu hết các quốc gia đều ghi nhận các phương thức sau: hưởng quốc tịch theo sự sinh đẻ (quyền huyết thống, quyền nơi sinh, nguyên tắc hỗn hợp), hưởng quốc tịch theo sự gia nhập quốc tịch, hưởng quốc tịch theo sự lựa chọn quốc tịch và phương thức hưởng quốc tịch theo sự phục hồi quốc tịch Ngoài ra, thực tiễn sinh hoạt quốc tế còn có phương thức thưởng quốc tịch.

2 Người không có quốc tịch

- Trong pháp luật quốc tế, vấn đề về người không quôốc ịtch được quy định trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948, Công ước về vị thế của người không quốc tịch

1954 và Công ước về giảm tình trạng không quốc tịch 1961.Theo điểm 2 Điều 3 Luật Quốc tịch

Việt Nam thì “người không quốc tịch” là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài

Trang 3

- Như vậy có thể hiểu,người không có quốc tịch là người tình trạng pháp lý của một cá nhân không có quốc tịch của một nước nào,người đó cũng không được coi là công dân của bất kì nước nào.

Việc đưa đến tình trạng không có quốc tịch có nhiều nguyên nhân

khác nhau,nhưng phổ biên có các nguyên nhân sau đây:

- Do xung đột pháp luật giữa các nước về vấn đề quốc tịch Xuất phát từ chủ quyền quốc giamà mỗi nước có quyền quy định trong pháp luật của nước mình những phương thức hưởng quốc tịch Quốc tịch có thể là quốc tịch theo huyết thống, quốc tịch theo nơi sinh, v.v Tuy nhiên, có trường hợp người đang cư trú ở nước ngoài mà theo luật nước đóyêu cầu phải được sự chấp thuận thôi quốc tịch gốc mới được vào quốc tịch mới nhưng họ lại bị tước quốc tịch hoặc tự động mất quốc tịch ở nước họ Nguyên nhân này là một trong các lý do dẫn đến việc xác định quốc tịch Việt Nam cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam mà có một bên hoặc cả hai bên cha mẹ là người không quốc tịch còn gặp nhiều khó khăn vì cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau, dẫn đến một số trường hợp trẻ không được xác định quốc tịch.Một người có quốc tịch mới nhưng chưa thôi quốc tịch gốc Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do luật quốc tịch của nước họ không có quy định về việc đương nhiên mất quốc tịch khi vào quốc tịch mới.

- Đã có quốc tịch nhưng bị mất quốc tịch, cụ thể, công dân xin thôi quốc tịch

Việt Nam nhưng chưa làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài.Ví dụ: một công dân Việt Nam lấy vợ hoặc lấy chồng Đài Loan đã xin thôi quốc tịch Việt Nam nhưng vì lý do nào đó không được phía Đài Loan chấp nhận nên rơi vào trạng thái không quốc tịch, về Việt Nam sinh sống.Chưa có quy định hướng dẫn cụ thể để tạo thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được trở lại quốc tịch Việt Nam theo Điều 7 và Điều 23 Luật Quốc tịch Do còn có cách hiểu và

áp dụng khác nhau, nên dẫn đến hệ quả hiện nay có nhiều trường hợp đã thôi quốc tịch Việt Nam, nhưng vì nhiều lý do khác nhau không được nhập quốc tịch nước ngoài và rơi vào tình trạng không quốc tịch, (nhiều người trong số họ chưa được giải quyết cho trở lại quốc tịch Việt Nam mặc dù đã có đơn yêu cầu)

Trang 4

- Điều kiện xin nhập quốc tịch chưa phù hợp Điều 8 Luật Quốc tịch quy

định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch và những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này” Tuy nhiên, việc thực hiện áp dụng quy định còn còn nhiều bất cập, vì để được nhập quốc tịch Việt Nam thì yêu

cầu phải có nơi thường trú tại Việt Nam và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp thẻ thường trú Để được cấp thẻ thường trú thì theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 thì người nước ngoài phải có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập ổn định bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.Tuy nhiên nhiều người không quốc tịch, tuy đã sống tại Việt Nam từ trước năm 2000 nhưng do không có giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp và có thu nhập ổn định mà do đó không đáp ứng được các điều kiện để được cấp thẻ thường trú Thực tế, tại các khu vực biên giới như An Giang, Tây Ninh, v.v các hộ dân này không có chỗ ở ổn định, chỉ che nhà tạm ở ven sông, thường xuyên di chuyển đi nhiều nơi khác nhau, ngoài ra, do trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật của người dân tại khu vực biên giới còn thấp nên việc kê khai, thủ tục đăng ký cũng bị ảnh hưởng Điều này đồng nghĩa với việc họ không đủ điều kiện về mặt hồ sơ để xin nhập quốc tịch Việt Nam Đây là khó khăn lớn đối với người không quốc tịch cư trú ổn định tại Việt Nam xin nhập quốc tịch Việt Nam trong thời gian qua.

III Hệ quả pháp lý

Tình trạng không quốc tịch đưa đến những hệ quả pháp lý thuận lợi và khó khăn như sau:

- Thuận lợi: Những người không có quốc tịch sẽ không cần thực hiện nghĩa vụ công dân

- Bất lợi: người không quốc sẽ phải chịu nhiều hạn chế và rủi ro như:

Thứ nhất, địa vị pháp lý của người không quốc tịch bị hạn chế hơn nhiều so với công dân của nước sở tại và người có quốc tịch nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia mà họ đang sinh sống.

Trang 5

Thứ hai, không được hưởng các quyền mà các bộ phận khác của dân cư được hưởng trên cơ sở các đều ước quốc tế giữa các quốc gia với nhau về dân cư của các nước.

Thứ ba, không được hưởng bảo hộ ngoại giao của bất kỳ một quốc gia nào=> điều này không đảm bảo tư cách các quyền con người cơ bản trong đời sống XH và đời sống quốc tế

Thứ tư, Theo nguyên tắc, những người không quốc tịch có khối lượng quyền và tự do ít hơn, bị hạn chế trong việc sử dụng các quyền dân sự và chính trị, không có khả năng yêu cầu sự giúp đỡ bảo hộ ngoại giao trong trường hợp các quyền và lợi ích cá nhân của họ bị xâm phạm.

IV Cách khắc phục

Để khắc phục tình trạng trên, các nước đã kí kết một số điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên như :

- Công ước về quy chế của người không quốc tịch:

Công ước 1954 về quy chế của người không quốc tịch được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 28/09/1954,có hiệu lực từ ngày 06/06/1960.Đây

là văn kiện quốc tế đầu tiên được thông qua điều chinh và bù đắp khoảng trống pháp lý về người không có quốc tịch có các quyền cơ bản và quyền tự do mà không bị phân biệt đối xử

Công ước 1954 về quy chế của người không có quốc tịch được thông qua tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về người không có quốc tịch,tổ chức tại trụ sở của Liên Hợp Quốc tại New York từ ngày 13 đến ngày 23/09/1954.Công về quy chế(tình trạng-vị thế) của người không quốc tịch năm 1954,với mục đích cải thiện tình trạng pháp lý của người không quốc tịch nhắm nâng cao vị thế của người không có quốc tịch

Sớm tham gia Công ước về vị thế của người không quốc tịch 1954 được nhiều chuyên gia pháp luật đề xuất Việc tham gia Công ước sẽ giúp Việt Nam sẽ cải thiện được tình trạng pháp lý và nâng cao vị thế của người không quốc tịch Qua đó, bảo đảm các quyền cơ

Trang 6

bản của con người đối với người không quốc tịch, hướng đến việc các quốc gia thành viên Công ước cấp quốc tịch cho người không quốc tịch đang cư trú trên quốc gia mình Bên cạnh đó, rà soát các quy định còn bất cập để sửa đổi, bổ sung các quy định về người không quốc tịch trong Luật Hộ tịch và Luật Quốc tịch bảo đảm khả thi trong thực tiễn Đặc biệt, cần linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật với những quy định yêu cầu bắt buộc phải có thẻ thường trú, có thể thay thế bằng các giấy tờ, chứng nhận khác

- Công ước về hạn chế tình trạng không quốc tịch (Đại hội đồng Liên

hợp quốc thông qua ngày 30.8.1961, có hiệu lực từ ngày 13.12.1975) Cũng như ban hành những văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến tình trạng không quốc tịch, do vậy đã có những quy định thích hợp trong Luật quốc tịch năm từ năm 1988 cho đến nay là lậut quộc tịch 2008 nhằm loại trừ tình trạng người không quốc tịch

VD:Quy định giữa quốc tịch khi kết hôn, li hôn, hủy việc kết hôn trái pháp

luật và khi quốc tịch của vợ hoặc chồng có thay đổi hoặc cho trẻ em sinh

ra trên lãnh thổ Việt Nam được hưởng quốc tịch Việt Nam khi cha mẹ đều

là người không quốc tịch hoặc không rõ cha mẹ là ai, vv.

Thực trang ở Việt Nam, theo Điều 8 luật quốc tịch VN 2008 Hạn chế tình trạng không quốc tịch:

“ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch và những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này”

Hiện nay, ngày càng có nhiều người được Chủ tịch nước quyết định cho thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch của nước nơi họ đang định cư Nhưng vì lý do nào đó mà không được nhập quốc tịch nước sở tại thì sẽ rơi vào tình trạng không quốc tịch.

Nhà nước ta có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam nếu có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì được xem xét để có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam Đây là quy định vừa phù hợp với thông lệ quốc

tế nhằm hạn chế tình trạng không quốc tịch, vừa phù hợp với đạo lý

Trang 7

của người Việt Nam và phù hợp với chính sách đại đoàn kết dân tộc của Nhà nước ta

B Thực tiễn người không có quốc tịch tại Việt Nam

1 Thực trạng người không quốc tịch tại Việt Nam

- Ở nước ta, người không quốc tịch được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài Với quan điểm, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch và những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch theo quy định của Luật Quốc tịch song trên lãnh thổ lãnh thổ Việt Nam vẫn còn không ít trường hợp tồn đọng tình trạng người không quốc tịch.

- Theo đánh giá của Bộ Tư pháp, do xung đột pháp luật, hoạch định biên giới, di cư tự phát… nên hiện có hàng chục ngàn người chưa được đăng ký quốc tịch Việt Nam Vì thế, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách liên quan đến người không quốc tịch để đối tượng này được hưởng đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

- Quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và đầu tiên của một cá nhân khi ra đời Quốc tịch thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cá nhân đó với quốc gia mình có quốc tịch, cũng như quyền, trách nhiệm của quốc gia đó với cá nhân mang quốc tịch của quốc gia mình.

- Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn hàng chục nghìn người không quốc tịch chưa

đủ điều kiện gia nhập quốc tịch Việt Nam Ngoài ra, theo rà soát của Bộ Tư pháp, hiện có 4 nhóm người không quốc tịch, bao gồm:

Người di cư tự do từ Campuchia đến sinh sống tại các tỉnh phía Nam; người di cư tự do từ Lào sống dọc các tỉnh biên giới phía Tây; người

di cư tự do từ Trung Quốc sống tại các tỉnh biên giới phía Bắc; người

đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài song vì nhiều lý do khác nhau không được nhập quốc tịch nước ngoài nên trở

về Việt Nam sinh sống

- Ta thấy, Luật quốc tịch Việt Nam 2008 mới chỉ ra được phép có hai hay nhiều quốc tịch, căn cứ pháp lý khi giải quyết xung đột và bị tước quốc tịch Việt Nam nếu

có hành vi gây tổn hại nghiêm trọng đến quốc gia mà không đề cập đến sẽ xác định quốc tịch nào cho công dân khi xảy ra vấn

Trang 8

đề Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài Ở Việt Nam hiện nay có hàng chục nghìn người không quốc tịch thuộc những nhóm người sau: Người di cư tự do từ Lào sang Việt Nam

Người tị nạn từ Campuchia dưới thời Khmer Đỏ và Việt kiều

Campuchia hồi hương

Người thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài nhưng không nhập được nên trở thành không quốc tịch Đó là những cô dâu Việt Nam bỏ quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch Đài Loan nhưng rồi ly hôn hoặc chồng chết nên không được cấp quốc tịch Đài Loan và trở thành người không quốc tịch.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muốn hạn chế tối đa tình trạng không quốc tịch nên đã tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch và những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được vào quốc tịch Việt Nam Người không có quốc tịch phải "cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên" theo điều 22 Luật quốc tịch Chính sách quốc tịch Việt Nam được đánh giá là tốt nhất trong khu vực dù vẫn còn rất nhiều khó khăn trong việc xác minh quốc tịch.

- Khắc phục những tình trạng nêu trên, Luật Hộ tịch năm 2014 có quy định về việc đăng ký khai sinh cho trẻ em, theo đó trẻ em sinh ra tại Việt Nam mà có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch[6]; và có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch[7] thì được đăng ký khai sinh Quy định này đã phần nào giải quyết được bất cập trong thực tiễn và phù hợp với quy định của điều ước quốc tế[8] Về cơ bản, Luật Quốc tịch đã tạo thuận lợi cho việc nhập quốc tịch Việt Nam đối với một số lượng lớn người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam qua đó góp phần quan trọng vào việc bảo đảm quyền cin người, quyền công dân, hiện thực hóa chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước; tăng cường sự đoàn kết, gắn bó của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài với quê hương, đất nước.Để tiếp tục nâng cao hơn nữa việc xác định quốc tịch cho người không quốc tịch, trên cơ sở thực tiễn phát sinh các trường hợp người không quốc tịch như đã đề cập ở trên, tác giả cho rằng cần thực hiện một số hoạt động sau:

Một là, cân nhắc sớm tham gia Công ước về vị thế của người không quốc tịch 1954 Việc tham gia Công ước sẽ giúp Việt Nam sẽ cải thiện được tình trạng pháp lý và nâng cao vị thế của người không quốc tịch Qua đó, bảo đảm các quyền cơ bản của con người đối với người không quốc tịch, hướng đến việc các quốc gia thành viên Công ước cấp quốc tịch cho người không quốc tịch hiện đang cư trú trên quốc gia mình.

Trang 9

Hai là, rà soát các quy định còn bất cập để sửa đổi, bổ sung các

quy định về người không quốc tịch trong Luật Hộ tịch và Luật Quốc tịch bảo đảm khả thi trong thực tiễn Ví dụ, quy định linh hoạt yêu cầu bắt buộc phải có thẻ thường trú, có thể thay thế bằng các giấy tờ, chứng nhận khác, v.v.

Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế với các nước láng giềng như

Lào, Trung Quốc, Campuchia để giải quyết các vấn đề liên quan đến người không quốc tịch ở Việt Nam.

Bốn là, ứng dụng tối đa lợi thế của công nghệ thông tin vào

hoạt động đăng ký khai sinh, theo đó, sớm hoàn thiện và triển khai Hệ thống thông tin đăng ký và quản lý hộ tịch trên phạm

vi cả nước

- Việc quản lý và cấp giấy tờ cư trú (tạm trú, thường trú), xuất nhập cảnh đối với những trường hợp như trên gặp nhiều khó khăn, hầu như chưa thực hiện được vì những người này hầu như không có giấy tờ tùy thân Đặc biệt gần đây, tình trạng di cư tự

do có diễn biến phức tạp, tác động đến quan hệ hai nước Việt Nam – Lào và tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới Để giải quyết vấn đề người di cư tự

do, Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Chính phủ Nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào đã ký Thỏa thuận về việc giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết hôn không giá thú.

2 Làm gì để giải quyết tình trạng không có quốc tịch tại Việt Nam

- Trước thực trạng ở các địa phương có nhiều người Việt Nam định cư nước ngoài về thăm thân nhân rồi cư trú quá hạn kéo dài nhưng không đủ điều kiện làm thủ tục đăng ký thường trú tại Việt Nam theo quy định, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao đã có thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT/BCA-BNG ngày 12/5/2009 hướng dẫn thủ tục giải quyết cho công dân Việt Nam định cư nước ngoài đăng ký thường trú tại Việt Nam Theo đó, đối với những người mang hộ chiếu, giấy tờ nước ngoài cấp nhưng đã hết giá trị sử dụng hoặc đã bị thất lạc, nếu có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, công an tỉnh hướng dẫn họ làm thủ tục đăng ký thường trú và vận dụng xem xét theo thông tư liên tịch số 05/2009/TTLT/BCA-BNG Nếu không có giấy tờ chứng minh quốc tịch thì hướng dẫn họ liên hệ với Sở tư pháp để giải quyết việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam Sau khi họ có quốc tịch Việt Nam mới giải quyết cho làm thủ tục đăng ký thường trú.

- Đối với người mang hộ chiếu, giấy tờ nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng nhưng quá hạn tạm trú Việt Nam, Công an tỉnh vận động họ xuất

Trang 10

cảnh và giải quyết như sau: đối với trường hợp họ chấp thuận thì cấp tạm trú đủ thời gian để xuất cảnh và miễn xử phạt hành chính Còn đối với trường hợp sau khi vận động, họ vẫn có nguyện vọng ở lại thường trú tại Việt Nam, nếu có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, Công an tỉnh hướng dẫn họ làm thủ tục đăng ký thường trú và vận dụng xem xét giải quyết theo Thông tư liên tịch số 05/2009/ TTLT/BCA-BNG Nếu họ không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam, Công an tỉnh hướng dẫn họ liên hệ với Sở Tư pháp để giải quyết việc xin trở lại quốc tịch Việt Nam Sau khi có quốc tịch Việt Nam, Công an tỉnh hướng dẫn họ làm thủ tục đăng ký thường trú và vận dung xem xét, giải quyết theo Thông tư liên tịch số 05/2009/ TTLT/BCA-BNG Còn đối với trường hợp trong quá trình lưu trú tại địa phương có vấn đề phức tạp, xét cho ở lại địa phương sẽ ảnh hưởng không tốt đến an ninh trật tự, Công an tỉnh báo cáo Tổng cục

An ninh để xem xét áp dụng biện pháp trục xuất hành chính.

- Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngày càng gia tăng số lượng người không quốc tịch tại Việt Nam và điều này có thể ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội Để giải quyết tình hình tồn đọng số lượng người không quốc tịch sống ổn định trên lãnh thổ Việt Nam, có ý kiến cho rằng, Chính phủ cần cần chỉ đạo quyết liệt

và cụ thể hơn nữa đối với các bộ, ngành chức năng trong giải quyết vấn đề người di

cư tự do và kết hôn không giá thú Cần thành lập một nhóm liên hợp bộ, ngành để rà soát, thống kê, phân loại những người di cư tự do không giấy tờ để có hướng giải quyết, xem xét cấp giấy tờ tùy thân, cư trú xuất nhập cảnh đối với người do tồn đọng

và những người tiếp tục di trú trong thời gian tới.

- Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng, Chính phủ cần có quy định, hướng dẫn đối với một số trường hợp theo hướng thông thoáng hơn so với trước đây Trong đó, những người không có giấy tờ tùy thân nhưng có giấy tờ chứng minh quốc tịch của cha, mẹ, anh, chị em ruột thì vẫn được cấp giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam; tất cả những trường hợp trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam hoặc sinh ở Campuchia mà cha mẹ đều từ Campuchia trở về Việt Nam từ 6 tháng trở lên tính từ ngày công an quản lý thì đều được đăng ký khai sinh

Ngày đăng: 28/09/2023, 20:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w