Phần I: Khái niệm, bản chất, nguồn gốc và chức năng của tôn giáo1 Khái niệm tôn giáo Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, thông qua sự phản ánh đó, các
Trang 1BÀI TẬP THẢO LUẬN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Chủ đề: Phân tích ví dụ thực tiễn để minh chứng cho luận giải của Chủ nghĩa Mác-Lênin về tính chất của tôn giáo
Nhóm 13 Lớp Luật chung 2050A01
Trang 2Danh sách các thành viên trong nhóm 13:
Nguyễn Thị Thanh Loan 13/08/2002 20A50010111 Nguyễn Thị Hương Ly 04/01/2002 20A50010168 Bùi Thanh Mai 17/11/2002 20A50010240
Nguyễn Thị Tâm 26/08/2002 20A50010001
Bảng theo dõi chi tiết công việc
Trang 3Mục lục:
Phần 1: Khái niệm bản chất, nguồn gốc và chức năng của tôn giáo Phần 2: Quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo trên thế giới Phần 3: Tính chất của tôn giáo
- Tính lịch sử là gì, ví dụ thực tiễn chứng minh tính lịch sử
- Tính quần chúng là gì, ví dụ thực tiễn chứng minh tính quần chúng
- Tính chính trị là gì, ví dụ thực tiễn chứng minh tính chính trị
Trang 4Danh mục tư liệu tham khảo
Tình hình tôn giáo hiện nay
Lịch sử tôn giáo
Các hiện tượng tôn giáo mới tại Việt Nam
Tiểu luận vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội Đặc điểm tôn giáo Việt Nam Vấn đề tôn giáo
Quan niệm chủ nghĩa Mac Lenin về tôn
giáo Bài giảng vấn đề tôn giáo
Tình hình tôn giáo tại Việt Nam - thực tiễn sinh động Đạo Cao Đài
Phật giáo Hòa hảo
Quan hệ giữa tôn giáo và chính trị
Tìm hiểu chính trị trong tôn giáo
Lý luận chung về tôn giáo
Trang 5Lời mở đầu
Thế kỉ 21, nền văn minh nhân loại đang bước vào giai đoạn hiện đại và ngày một phát triển, xã hội đã có những bước tiến lớn trong mọi mặt cả về kinh tế, chính trị, khoa học kĩ thuật,… Tư tưởng của con người về mọi sự vật, hiện tượng xung quanh cũng dần có nhiều đổi mới và sâu sắc hơn Tri thức phát triển tạo tiền đề cho chúng ta tìm tòi và khám phá, từ đó nâng cao hiểu biết, thay đổi những nhận thức vốn có trong tâm trí đã trở nên cũ kĩ Trong bối cảnh thời đại này, tôn giáo không hề thu hẹp mà trái lại ngày một mở rộng Song song với sự phát triển của hiểu biết con người, tôn giáo cũng có sự biến đổi nhất định cả về mặt nội dung lẫn hình thức Tôn giáo – một phần không thể thiếu, bộ phận cấu thành nên thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở của xã hội
Ra đời cùng với sự nhận thức của con người, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, tôn giáo cũng không ngừng được biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội cụ thể trong từng giai đoạn Dù khoa học kĩ thuật ngày nay phát triển mạnh mẽ, tôn giáo vẫn được mở rộng trên mọi quy mô và lĩnh của đời sống tinh thần Đặc biệt là các tôn giáo lớn với mức độ ảnh hưởng không chỉ gói gọn trong một quố gia mà trên phạm vi toàn cầu Có thể nói đây là một hiện tượng xã hội phức tạp và không thể giải quyết các vấn đề tôn giáo một cách đơn thuần dựa trên nhận thức xã hội Trong đời sống hiện đại, tôn giáo vẫn nắm giữ những vai trò quan trọng và to lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục với nhiệm vụ bảo tồn, gìn giữ nét văn hóa truyề thống, phong tục, tập quán của các quốc gia trước xu hướng hội nhập toàn cầu
Đất nước Việt Nam chúng ta là một quốc gia tồn tại nhiều hình thái tôn giáo đang phát triển Hiện tượng xã hội phức tạp này luôn được Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm to lớn Sau nhiều sai lầm trong phương thức giải quyết các vấn
đề tôn giáo một cách cực đoan trước kia, những năm gần đây, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng
ta đã có những thay đổi quan trọng trong nhận thức về tôn giáo và giải quyết vấn
đề tôn giáo, đưa ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp
Trang 6Phần I: Khái niệm, bản chất, nguồn gốc và chức năng của tôn giáo
1) Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, thông qua sự phản ánh đó, các lực lượng tự nhiên trở thành siêu tự nhiên, thần bí Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt nam (2016), Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức; Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng
Giữa tôn giáo và tín ngưỡng có sự khác nhau, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ mà ranh giới để phân biệt chúng chỉ là tương đối Tín ngưỡng là một khái niệm rộng hơn tôn giáo, trong đó tôn giáo là một loại hình tín ngưỡng Tín ngưỡng sẽ trở thành tôn giáo khi có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và các tổ chức giáo hội Ví dụ như ở Việt Nam, các loại hình tín ngưỡng như: tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng Thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng Thờ Mẫu được gọi là tính ngưỡng dân gian; các loại hình tín ngưỡng như đạo Phật, đạo Công giáo, được gọi là tín ngưỡng tôn giáo (tôn giáo)
Ngoài ra còn có khái niệm mê tín dị đoan Mê tín là niềm tin mê muội, viển vông, không dựa trên một cơ sở khoa học nào Mê tín thường xuất hiện để lấp vào khoảng trống sợ hãi, làm cho con người cảm thấy an tâm, bớt sợ hãi Dị đoan là
sự suy đoán, hành động một cách tùy tiện, sai lệch những điều bình thường, chuẩn mực trong cuộc sống, là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên, thần thánh đến mức độ mê muội, cuồng tín, dẫn đến những hành vi cực đoan, sai lệch quá mức, trái với các giá trị văn hóa, đạo đức, pháp luật, gây tổn hại cho cá nhân, xã hội và cộng đồng
Trong xã hội chưa có giai cấp, khi mà tri thức, nhận thức của con người còn thấp kém
và mông muội, tôn giáo ở thời kì này ngoài phản ánh rõ nguyện vọng, ước mơ của con người nguyên thủy còn mang đặc trưng là tính đa thần trong tư duy và thờ phụng, tính chưa có hệ thống tổ chức và hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp Khi xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, các hình thái tôn giáo mới phù hợp cũng xuất hiện:
- Tôn giáo dân tộc: là tôn giáo mà đối tượng thờ phụng là những vị thần của một dân tộc, quyền lực, phạm vi ảnh hưởng của vị thần đó chỉ giới hạn chủ yếu trong phạm vi một dân tộc nhất định Đặc trưng nổi bật của tôn giáo này là tính chất dân tộc của nó (mang đặc tính dân tộc cả về kinh tế, xã hội, văn hoá, tư tưởng) Ví dụ ở Việt Nam có đạo Cao Đài được thành lập năm 1926, một tôn giáo mới dung hợp nhiều yếu tố từ các tôn giáo lớn, gồm cả Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo,
Trang 7Cơ Đốc giáo, Thần Đạo và cả một số tôn giáo đa thần thời cổ đại; Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn "Học Phật - Tu Nhân" làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia (Tại gia cư sĩ)
- Tôn giáo khu vực và tôn giáo thế giới: vượt ra khỏi phạm vi một dân tộc, một quốc gia, tôn giáo này ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, nhiều khu vực khác nhau, thậm chí trên toàn thế giới Đặc trưng nổi bật của loại tôn giáo này là tính chất đa dân tộc, đa quốc gia, từ đối tượng thờ phụng đến giáo lý, nghi lễ và các hoạt động khác, từ cội nguồn hình thành đến phạm vi ảnh hưởng, tác động của nó Điển hình
có thể kể tới sự ra đời, phát triển của đạo Phật, đạo Kitô, đạo Hồi…
2) Bản chất tôn giáo
Ph.Ăngghen đã viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo -vào đầu óc của con người - những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ”
Trái ngược với các nhà duy tâm, thần học cho rằng tôn giáo có nguồn gốc siêu nhiên, thế giới tự nhiên, xã hội loài người cũng như toàn bộ hoạt động của mỗi cá nhân con người đều chịu sự chi phối, điều khiển của các lực lượng siêu nhiên, thần thánh, các nhà duy vật, vô thần cho rằng tôn giáo là một hiện tượng tinh thần của xã hội và vì vậy, nó là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Nhưng khác với những hình thái ý thức xã hội khác,
sự phản ánh của tôn giáo đối với hiện thực là sự phản ánh đặc thù, đó là sự phản ánh
“lộn ngược”, “hoang đường” thế giới khách quan Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, “tôn giáo là những sự rút hết toàn bộ nội dung của con người và giới tự nhiên, là việc chuyển nội dung đó sang cho bóng ma Thượng đế ở bên kia thế giới, Thượng đế này, sau đó, do lòng nhân từ, lại trả về cho con người và giới tự nhiên một chút ân huệ của mình” Với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, tôn giáo là sự phản ánh một cách biến dạng, sai lệch, hư ảo về giới tự nhiên và con người, về các quan hệ xã hội Hay nói cách khác, tôn giáo là sự nhân cách hoá giới tự nhiên, là sự “đánh mất bản chất người” Chính con người đã khoác cho thần thánh những sức mạnh siêu nhiên khác với bản chất của mình để rồi từ đó con người có chỗ dựa, được chở che, an ủi - dù đó chỉ là chỗ dựa “hư ảo” Chỉ ra bản chất sâu xa của hiện tượng đó, Ph.Ăngghen đã viết:
“Con người vẫn chưa hiểu rằng họ đã nghiêng mình trước bản chất của chính mình và
đã thần thánh hoá nó như một bản chất xa lạ nào đó” Tôn giáo là một hiện tượng xã hội - văn hoá do con người sáng tạo ra và tôn sùng, lệ thuộc vào đó Tôn giáo hay thánh thần không sáng tạo ra con người mà chính con người đã sáng tạo ra tôn giáo vì mục đích, lợi ích của họ hoặc phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của họ Thực tế cho thấy, nhiều nhà sáng lập ra các tôn giáo lớn như Phật Thích Ca, Chúa Giêsu, Nhà
Trang 8tiên tri Môhamét, vốn là những con người tự nhiên - con người thực, nhưng qua lăng kính tôn giáo, họ trở thành những đấng siêu nhiên
Về phương diện thế giới quan, nói chung, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có sự khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin Điều này nói lên rằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tôn giáo khác nhau về thế giới quan, về cách nhìn nhận thế giới và con người Chủ nghĩa Mác -Lênin và những người cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa luôn tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân Trong những điều kiện cụ thể của xã hội, những người cộng sản và những người có tín ngưỡng tôn giáo có thể cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn ở thế giới hiện thực Xã hội ấy chính là xã hội mà quần chúng tín đồ cũng từng mơ ước và phản ánh nó qua một số tôn giáo
Khi nghiên cứu bản chất của tôn giáo, để tránh các quan điểm, tư tưởng, nhận thức có tính cực đoan, phiến diện, cần lưu ý:
- Không được đối lập một cách cực đoan tôn giáo với khoa học
- Cần có sự nhận thức toàn diện, nhiều góc độ đối với tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội, cả tích cực, tiêu cực, tránh tư tưởng, thái độ chủ quan, cực đoan, phiến diện trong quá trình nhận thức về tôn giáo
3) Nguồn gốc tôn giáo
- Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội của tôn giáo:
Đứng vững trên lập trường duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận giải rằng sự xuất hiện và tồn tại của tôn giáo xuất phát từ hiện thực khách quan và nguồn gốc quan trọng nhất của tôn giáo chính là điều kiện kinh tế – xã hội Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất chưa phát triển, trước thiên nhiên hùng vĩ tác động và chi phối khiến cho con người cảm thấy yếu đuối
và bất lực, không giải thích được, nên con người đã gán cho tự nhiên những sức mạnh, quyền lực thần bí Đó chính là cơ sở cho sự nảy sinh các hiện tượng thờ cúng
Ở chế độ chiếm hữu nô lệ, khi xã hội xuất hiện các giai cấp đối kháng, do không giải thích được nguồn gốc của sự phân hoá giai cấp và áp bức bóc lột bất công, tội ác , cộng với nỗi lo sợ trước sự thống trị của các lực lượng xã hội, con người trông chờ vào sự giải phóng của một lực lượng siêu nhiên ngoài trần thế Trong một số trường hợp, sự ra đời, phát triển của tôn giáo còn bắt nguồn từ mục đích nhất định của giai cấp thống trị Thêm vào đó, những yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, rủi ro bất ngờ nằm ngoài ý muốn của con người gây ra cho họ sự sợ hãi, lo lắng, mất cảm giác an toàn Đó cũng là nguyên nhân khiến người ta tìm đến và dựa vào sự che
Trang 9chở của tôn giáo Cắt nghĩa về nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo, Ph.Ăngghen viết: “Trong những thời kỳ đầu của lịch sử, chính những lực lượng thiên nhiên là những cái trước tiên được phản ánh như thế, và trong quá trình phát triển hơn nữa thì ở những dân tộc khác nhau, những lực lượng thiên nhiên ấy đã được nhân cách hóa một cách hết sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp Nhưng chẳng bao lâu, bên cạnh những lực lượng thiên nhiên lại còn có cả những lực lượng xã hội tác động - những lực lượng này đối lập với con người, một cách cũng xa lạ lúc đầu cũng không thể hiểu được đối với
họ, và cũng thống trị họ với cái vẻ tất yếu bề ngoài giống như bản thân những lực lượng tự nhiên vậy” Bàn về vấn đề này, V.I.Lênin cũng khẳng định: “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào cuộc đời tốt đẹp ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người nguyên thủy trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ và những phép màu”
Trong những thập kỷ gần đây, với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của con người ngày càng được đảm bảo, con người
có điều kiện hơn trong quan tâm giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh Đây cũng là nguyên nhân cho sự nảy sinh, phát triển nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng và xuất hiện những loại hình tôn giáo mới
- Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo:
Ở một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn Khi khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại, khi những điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được giải thích thông qua lăng kính các tôn giáo Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng do trình độ dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì đây vẫn là điều kiện, là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển
Cùng với sự phát triển của quá trình nhận thức (từ cảm giác đến tri giác, biểu tượng; từ biểu tượng đến khái niệm, phán đoán, suy lý ), con người vừa có khả năng nhận thức thế giới sâu sắc hơn, vừa có khả năng “xa rời” hiện thực, dẫn đến phản ánh sai lầm hiện thực Sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành cái siêu nhiên, thần thánh, khi đó, chính con người đã sáng tạo ra tôn giáo
- Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
Tôn giáo ra đời từ tâm lý sợ hãi của con người Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong những hoàn cảnh bế tắc như ốm đau, bệnh tật, ngay cả khi những may, rủi bất ngờ xảy ra; hoặc tâm lý muốn được bình yên khi làm một việc lớn (ví dụ: ma chay, cưới xin, làm nhà, khởi đầu sự nghiệp kinh doanh…) cũng
Trang 10khiến con người dễ tìm đến với tôn giáo V.I.Lênin tán thành quan niệm “Sự sợ hãi sinh ra thần linh” và bổ sung: “Sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản, - mù quáng
vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó - là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe doạ đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm, và dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại”
Thậm chí cả những tình cảm tích cực như tình yêu, lòng biết ơn, lòng kính trọng đối với những người có công với nước, với dân cũng dễ dẫn con người đến với tín ngưỡng, tôn giáo Ví dụ như thờ các anh hùng dân tộc, thờ thành hoàng làng… 4) Chức năng tôn giáo
- Chức năng thế giới quan (chức năng phản ánh):
Tôn giáo giúp con người có những nhận thức nhất định về thế giới và con người, thông qua hệ thống giáo thuyết của nó Tuy nhiên, sự phản ánh của tôn giáo là một sự phản ánh hoang đường, là một thế giới quan lộn ngược, vì trong tôn giáo, con người đã biến cái chủ quan thành khách quan, biến cái chỉ tồn tại trong tư duy của mình, trong sự tưởng tượng của mình thành một cái tồn tại ở bên ngoài
tư duy của mình và gán cho nó một sức mạnh siêu nhiên
- Chức năng đền bù hư ảo:
Tín ngưỡng, tôn giáo ra đời từ sự bất lực và bế tắc của con người trước những sức mạnh của tự nhiên và xã hội Tín ngưỡng, tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu của một bộ phận nhân dân, góp phần bù đắp một cách hư ảo những hụt hẫng trong cuộc sống, nỗi trống vắng trong tâm hồn, an ủi, vỗ về, xoa dịu những tâm hồn đau khổ, gặp cảnh sa
cơ, lỡ bước Trong Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác đã viết: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật
tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” Với C.Mác, tôn giáo như là “vầng hào quang” ảo tưởng, là những vòng hoa giả đầy màu sắc và đẹp một cách hoàn mỹ, là ước mơ, là niềm hy vọng và điểm tựa tinh thần vô cùng to lớn cho những số phận bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện thực Vì, trong cuộc sống hiện thực, khi con người bất lực trước tự nhiên, bất lực trước các hiện tượng áp bức, bất công của xã hội thì họ chỉ còn biết “thở dài” và âm thầm, nhẫn nhục chịu đựng Cũng trong cuộc sống hiện thực ấy, họ không thể tìm thấy “một trái tim” để yêu thương, che chở nên phải tìm đến một “trái tim” trong tưởng tượng nơi tôn giáo Trái tim đó sẽ sẵn sàng bao dung, tha thứ, chở che và tiếp