- Các tranh chấp ở đây là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc tranh chấp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP LỚN MÔN:
PHÁP LUẬT CHỦ THỂ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
Đề tài số 12:
NHỮNG BẤT CẬP CỦA LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI NĂM 2010
NHÓM 9 ( Ca 1): Nguyễn Minh Hiếu
Bùi Ngọc Hoa
Lê Công Việt Hoàng
Lê Hoàng (Nhóm trưởng) Nguyễn Sỹ Hoàng
Năm học 2022 – 2023
Trang 2Mục lục
A.MỞ ĐẦU 1
B.NỘI DUNG 1
I Khái niệm trọng tài thương mại. 1
II Những quy định pháp luật thực định của luật trọng tài thương mại 2010. 1
1 Đối tượng thực định của Luật trọng tài thương mại 2010. 1
2 Hình thức trọng tài thương mại. 2
3.Vai trò của trọng tài. 2
4 Điều kiện để giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài. 4
5 Thỏa thuận trọng tài. 5
6 Hiệu lực của quyết định trọng tài. 6
7 Thủ tục thay đổi trọng tài. 6
III.Những bất cập trong luật trọng tài thương mại 2010. 7
IV Giải pháp hoàn thiện bất cập. 14
C.KẾT LUẬN 17
Nguồn tài liệu tham khảo: 17
Trang 3A.MỞ ĐẦU
Trọng tài thương mại là một trong những phương pháp giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại được lựa chọn ngày càng nhiều bởi những ưu điểm vượt bậc Thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài nhanh gọn, đơn giản và linh hoạt giúp cho các doanh nghiệp bảo đảm quá trình kinh doanh ổn định, bảo vệ các bí mật thông tin tranh chấp không làm ảnh hưởng đến uy tín của doanh
nghiệp
B.NỘI DUNG
I Khái niệm trọng tài thương mại.
- Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định Luật Trọng tài thương mại 2010
- Các tranh chấp ở đây là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài
II Những quy định pháp luật thực định của luật trọng tài thương mại 2010 1 Đối tượng thực định của Luật trọng tài thương mại 2010.
Theo Luật Trọng tài Thương mại 2010, đối tượng của luật này gồm có:
- Các tổ chức kinh tế: Bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị kinh
doanh hoặc sở hữu trí tuệ có mục đích kinh doanh
- Các cá nhân kinh doanh: Bao gồm các cá nhân có hoạt động kinh doanh
độc lập hoặc tham gia vào hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế
- Các tổ chức khác: Bao gồm các tổ chức, đơn vị không phải là tổ chức kinh
tế nhưng có một số quyền và nghĩa vụ về tài sản như các tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức đại diện cho các nhóm người tiêu dùng hoặc các cộng đồng
Trang 4Các vụ việc liên quan đến tài sản: Luật Trọng tài Thương mại 2010 áp dụng đối với các vụ tranh chấp có liên quan đến tài sản, bao gồm các vụ việc về hợp đồng kinh tế, bản quyền, sở hữu trí tuệ, đầu tư, xây dựng, bất động sản, vận tải, tài chính, bảo hiểm, tư vấn luật, v.v
Đối tượng của Luật Trọng tài Thương mại 2010 rộng và bao gồm các tổ chức,
cá nhân, và các vụ việc liên quan đến tài sản trong lĩnh vực kinh tế
2 Hình thức trọng tài thương mại.
- Thứ nhất, trọng tài vụ việc: Đây là hình thức trọng tài do các bên tranh chấp
thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ việc và sẽ không còn tồn tại khi vụ việc đã được giải quyết xong Đặc trưng cơ bản của trọng tài vụ việc bao gồm:
+ Được thành lập khi các tranh chấp phát sinh và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong tranh chấp
+ Không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành, không có danh sách trọng tài viên Trọng tài viên được các bên có tranh chấp chỉ định có thể là người
có tên trong hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất kỳ một trung tâm trọng tài nào
+ Quy tắc tố tụng để giải quyết tranh chấp có thể do các bên thỏa thuận xây dựng hoặc lựa chọn từ bất kỳ một quy tắc tố tụng nào của các trung tâm trọng tài khác
-Thứ hai, trọng tài thường trực: Đây là hình thức trọng tài được tổ chức khá
chặt chẽ, có bộ máy, trụ sở làm việc thường xuyên, thường có danh sách các trọng tài viên hoạt động theo điều lệ và quy tắc tố tụng riêng
+ Đa số các tổ chức trọng tài lớn, có uy tín trên thế giới đều được thành lập theo mô hình này dưới những tên gọi như trung tâm trọng tài, ủy ban trọng tài, viện trọng tài,… nhưng chủ yếu và phổ biến được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài
3.Vai trò của trọng tài.
Trang 5-Vai trò của trọng tài thương mại rất quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại giữa các bên tham gia trong hoạt động kinh doanh Cụ thể, trọng tài thương mại có các vai trò sau:
+ Giúp giải quyết tranh chấp thương mại một cách nhanh chóng và hiệu quả: Thay vì phải đi đến tòa án, các bên tham gia trong tranh chấp có thể sử dụng
trọng tài để giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài giúp giảm thiểu thời gian và chi phí so với việc đi đến tòa án
+ Đảm bảo tính công bằng và khách quan: Trọng tài thương mại là những
chuyên gia có kinh nghiệm và kiến thức sâu rộng trong lĩnh vực thương mại Vì vậy,
họ có khả năng giải quyết tranh chấp một cách công bằng và khách quan, tránh tình trạng thiên vị, lệch lạc
+ Giữ gìn quan hệ kinh doanh: Trọng tài thương mại giúp các bên tham gia
trong hoạt động kinh doanh giữ gìn quan hệ kinh doanh, tránh việc đi đến tòa án để giải quyết tranh chấp, từ đó giúp tăng tính bảo đảm cho các hợp đồng thương mại và nâng cao sự tin tưởng giữa các bên tham gia
+ Tăng tính bảo mật và riêng tư: Khi sử dụng trọng tài để giải quyết tranh
chấp, các bên tham gia có thể bảo mật và bảo vệ thông tin về tranh chấp một cách tốt hơn Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại được thực hiện trong một phòng họp riêng tư và không được công khai, từ đó đảm bảo tính riêng tư và bảo mật của các bên tham gia
+ Giảm thiểu sự phụ thuộc vào tòa án: Trọng tài thương mại giúp các bên
tham gia trong hoạt động kinh doanh giảm thiểu sự phụ thuộc vào tòa án Thay vì phải chờ đợi quyết định của tòa án, các bên có thể sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng hơn
+ Giảm thiểu sự căng thẳng trong giải quyết tranh chấp: Khi giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài, các bên tham gia có thể tránh được việc phải đối mặt với sự căng thẳng trong việc đàm phán, thuyết phục, và tìm kiếm lời giải thỏa đôi bên Trọng
Trang 6tài thương mại giúp các bên tham gia tìm ra lời giải quyết tranh chấp một cách đối thoại và hợp tác
+ Giúp giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động kinh doanh: Các hoạt động
kinh doanh luôn tiềm ẩn các rủi ro nhất định Việc sử dụng trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp thương mại giữa các bên tham gia giúp giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động kinh doanh Điều này đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp
và tổ chức thương mại có hoạt động quốc tế
+ Có tính linh hoạt: Trọng tài thương mại có tính linh hoạt trong việc giải
quyết tranh chấp Các bên tham gia có thể tự chọn trọng tài, chọn quy trình giải quyết tranh chấp, thời gian và địa điểm tổ chức phiên họp của trọng tài
4 Điều kiện để giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài.
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có thể được các bên thỏa thuận trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp tùy từng trường hợp Thỏa thuận trọng tài được thể hiện ở dạng một điều khoản của hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng,
nhưng bắt buộc thỏa thuận phải được lập thành văn bản Các hình thức thỏa thuận dưới đây cũng được xem là xác lập dưới dạng văn bản:
+ Thỏa thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
+ Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin giữa các bên + Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên
+ Trong giao dịch của các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng cứ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác
+ Qua trao đổi về đơn khởi kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận của một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận
Trang 7- Tuy nhiên đối với các trường hợp dưới đây, thỏa thuận trọng tài sẽ bị vô hiệu:
+ Thỏa thuận trọng tài được xác lập để giải quyết tranh chấp không thuộc lĩnh vực quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài Thương mại 2010
+ Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Người xác lập không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải
là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền
+ Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật dân sự
+ Hình thức của thỏa thuận không phù hợp với các quy định được nêu ở trên + Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là vô hiệu
+ Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật
5 Thỏa thuận trọng tài.
- Thỏa thuận trọng tài là một tài liệu quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Thỏa thuận của trọng tài có hiệu lực khi các bên tham gia tranh chấp đã đồng ý với nội dung của nó Thông thường, thỏa thuận của trọng tài được ký kết trước khi việc giải quyết tranh chấp bắt đầu Việc ký kết thỏa thuận của trọng tài được xem là một bước quan trọng để các bên tham gia tranh chấp đưa ra quyết định liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp
- Thỏa thuận trọng tài cần có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài phải là một thỏa thuận tức là sự thể hiện thống
nhất ý chí của các bên về việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại
Thứ hai, về hình thức thể hiện, thỏa thuận trọng tài hầu hết được thể hiện bằng
văn bản Với việc thể hiện bằng vản bản nhằm giảm thiểu rủi ro cho các bên trong việc chứng minh có sự thỏa thuận khi tranh chấp, có giá trị như là chứng cứ cho
Trang 8việc xác định ý chí của các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại Nhưng theo quy định của pháp luật dân sự, các hình thức thể hiện khác như lời nói, hành vi đều có giá trị thể hiện sự thỏa thuận này Thực tế, việc thỏa thuận bằng lời nói, hành vi ít được các bên lựa chọn vì chứa nhiều rủi ro
Thứ ba, về cách thỏa thuận Trọng tài Thương mại Theo quy định của khoản
2 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 thì thỏa thuận Trọng tài Thương mại
có hai cách là thỏa thuận được lập trước khi phát sinh tranh chấp thương mại và sau khi phát sinh tranh chấp thương mại
- Thỏa thuận của trọng tài có thể bao gồm nhiều nội dung khác nhau, chẳng hạn như việc lựa chọn trọng tài, quy trình giải quyết tranh chấp, thời hạn giải quyết tranh chấp, phí trọng tài, cách thức đưa ra quyết định của trọng tài, và các nội dung khác liên quan đến việc giải quyết tranh chấp
- Việc thỏa thuận của trọng tài được coi là có hiệu lực khi các bên tham gia tranh chấp đồng ý với nội dung của nó và thỏa thuận được ký kết một cách chính thức Sau khi thỏa thuận được ký kết, trọng tài sẽ tiến hành giải quyết tranh chấp dựa trên nội dung của thỏa thuận và đưa ra quyết định cuối cùng
6 Hiệu lực của quyết định trọng tài.
- Quyết định trọng tài có tính pháp lý cao và có hiệu lực giống như một quyết định của tòa án
- Quyết định trọng tài không thể kháng cáo, trừ trường hợp nếu có một trong những trường hợp sau đây xảy ra:
+ (i) quyết định trọng tài đã được thu nhận bằng hối phiếu hoặc vi phạm quy định của pháp luật;
+ (ii) quyết định trọng tài làm trái với quyền công cộng, đạo đức hoặc thuần phong mỹ tục của Việt Nam;
+ (iii) quyết định trọng tài liên quan đến tranh chấp mua bán những vật phẩm
bị cấm kinh doanh hoặc với mục đích vi phạm pháp luật;
Trang 9+ (iv) nếu quyết định trọng tài đã được sửa đổi, hoàn tác hoặc bãi bỏ bởi một tòa án có thẩm quyền
7 Thủ tục thay đổi trọng tài.
Quyết định giải quyết tranh chấp của hội đồng trọng tài vụ việc có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành nền nếu trọng tài viên đã được các bên lựa chọn giải quyết tranh chấp có khả năng không bảo đảm sự vô tư, khách quan thì các bên đều
có quyền yêu cầu tòa án thay đổi trọng tài Tòa án có thẩm quyền giải quyết là tòa án nơi hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp Theo Điều 42 Luật trọng tài thương mại thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài viên trong trường hợp sau:
- Trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên;
- Trọng tài viên có lợi ích liên quan ưong vụ tranh chấp;
- Có căn cứ rõ ràng cho thấy trọng tài viên không vô tư, khách quan;
- Đã là hoà giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa
vụ tranh chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản
Người có yêu cầu thay đổi trọng tài viên phải làm đơn có đủ các nội dung quy định tại Điều 362 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Trong đó, phải nêu rõ yêu cầu thay đổi trọng tài viên nào, lí do và yêu càu thay đổi ttọng tài viên Người yêu phải gửi kèm theo đơn yêu cầu các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là
có căn cứ và hợp pháp
Theo khoản 4 Điều 42 Luật trọng tài thương mại thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu thay đổi ttọng tài viên là 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu của một hoặc các ttọng tài viên, của một hoặc các bên ttanh chấp, thẩm phán được phân công giải quyết yêu cầu thay đổi ttọng tài viên căn cứ vào quy định tại Điều 20
và khoản 1 Điều 42 Luật trọng tài thương mại để xác định ttọng tài viên có thuộc trường hợp bị thay đổi hay không Trong trường hợp cần thiết, thẩm phán có thể đề nghị ttọng tài viên bị yêu cầu thay đổi trình bày ý kiến của họ về yêu cầu thay đổi trọng tài viên của đương sự
Trang 10III.Những bất cập trong luật trọng tài thương mại 2010.
Thứ nhất, quy định về thẩm quyền của trọng tài So với quy định trước đây,
chỉ có tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh mới có quyền lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp, nhưng với quy định cụ thể tại khoản 3 điều 2 TTTM thì Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài, Vậy nên sẽ được hiểu theo 2 luồng ý kiến
Trước tiên,phạm vi thẩm quyền trọng tài đã được mở rộng, mà theo đó, bất kỳ
tổ chức hay cá nhân nào cũng có thể thỏa thuận lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, miễn là lĩnh vực đó phát sinh theo quy định của Luật
Tuy nhiên, với quy định mở như vậy, nhưng thiếu hướng dẫn chi tiết các loại tranh chấp được giải quyết thông qua hình thức TTTM lại là hạn chế khi áp dụng quy định của Luật TTTM vào thực tiễn Nghị định 63/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 của Chính phủ, hướng dẫn một số điều của Luật Trong tài thương mại (viết tắt Nghị định 63/2011/NĐ-CP), mà theo đó, tại Điều 1 của Nghị định này quy định: “Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại về quản lý nhà nước về trọng tài; thủ tục đăng ký hoạt động, chấm dứt hoạt động, thu hồi Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài, Chi nhánh Trung tâm trọng tài; thủ tục thành lập, đăng ký hoạt động, chấm dứt hoạt động, thu hồi Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; thi hành quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài.”
Tiếp đến, các nhà làm luật đang muốn mở rộng nó ra không sử dụng phương pháp liệt kê, nó giống như khi nhìn vào 1 điều luật cuối ở các luật khác thì sẽ luôn có kiểu các biện pháp khác mà pháp luật có quy định Bởi vì luật sẽ thay đổi nhanh chóng, có thể hôm nay như vậy nhưng ngày mai sẽ phải thay đổi bổ sung để phù hợp.Do đó sẽ dễ dàng cho các nhà làm luật khi mà xảy ra một trường hợp mới mà chưa có quy định cụ thể nào