Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệtruyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Ngườicùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphan
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM – LÀO TRÊN MỘT
SỐ LĨNH VỰC CHÍNH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ VIỆT NAM, LÀO VÀ MỐI QUAN HỆ “ĐẶC BIỆT” CỦA HAI NƯỚC 3
1.1 Việt Nam 3
1.2 Lào (Tên đầy đủ: Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào) 6
1.3 Mối quan hệ “đặc biệt” của hai nước 11
Chương 2 HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VÀ LÀO TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC CHÍNH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 13
2.1 Trên lĩnh vực chính trị - đối ngoại 13
2.2 Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại – đầu tư 17
2.3 Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội khác 19
2.4 Các hiệp định song phương giữa Việt Nam – Lào 23
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG QUAN HỆ VỚI LÀO CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI 24
3.1 Dấu ấn trong quan hệ chính trị 24
3.2 Quan hệ kinh tế khởi sắc 26
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào, Lào – Việt Nam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm
có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa haidân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội
Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệtruyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Ngườicùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnhđạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạngLào và Đảng Cộng sản Việt Nam Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào -Việt Nam trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt, đầy hy sinh, gian khổ vì độclập, tự do, hạnh phúc của hai dân tộc và nhân dân hai nước, đã trở thành quyluật sống còn và sức mạnh kỳ diệu đưa tới nhiều thắng lợi vĩ đại của ViệtNam và Lào trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đấtnước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đối với nhân dân hainước Việt Nam, Lào, quan hệ đặc biệt được coi là lẽ sống, là tình nghĩa ruộtthịt thân thiết, trước sau như một, dù gian nan nguy hiểm đến chừng nào cũngkhông thể chia tách được
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hộinhập quốc tế mà nhân dân hai nước đang tiến hành đã tạo ra những xung lựcmới, đồng thời đặt ra những yêu cầu khách quan về gia tăng mối quan hệ đặcbiệt giữa Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam với những phương thức mới vànhững nội dung mới
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu các vấn đề các nổi bật trong mối quan hệ giữa Việt Nam và
Trang 4Lào Cung cấp sự bao quát về 2 đối tượng nghiên cứu này Đồng thời đi sâuvào sự hợp tác trên các lĩnh vực chính như chính trị - kinh tế - văn hóa – xãhội, ngoài ra còn đề cập đến các hợp tác về biên giới, quốc phòng, an ninh vàcác chuyến thăm cấp Nhà nước giữa hai bên để hiểu rõ hơn về mối quan hệkhăng khít này từ đầu thế kỉ XXI đến bây giờ.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày các đặc thù của hai đối tượng nghiên cứu là Việt Nam vàLào
- Tìm hiểu các hợp tác trên các lĩnh vực chính từ đầu năm 2000 đến nay
- Đánh giá, nhận xét về kết quả lâu dài của mối quan hệ này
3 Kết cấu tiểu luận
- Ngoài các phần mục lục, mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bàitiểu luận được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu khái quát về Việt Nam, Lào và mối quan hệ
“đặc biệt” của hai nước
Chương 2: Hợp tác giữa Việt Nam và Lào trên một số lĩnh vực chính từ năm 2000 đến nay
Chương 3: Định hướng quan hệ với Lào của Việt Nam trong thời
kỳ mới
Trang 5Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ VIỆT NAM, LÀO VÀ MỐI
QUAN HỆ “ĐẶC BIỆT” CỦA HAI NƯỚC
1.1 Việt Nam
Việt Nam tên chính thức là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làquốc gia ở rìa phía đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm khu vực ĐôngNam Á Phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phíaTây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Đông và Nam giáp Biển Đông Thủ đô là
Hà Nội từ năm 1976, với Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất vềkinh tế và đông dân nhất Ngày 5-9-1962, Việt Nam và Lào chính thức thiếtlập quan hệ ngoại giao, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử quan hệ hainước
Cộng đồng người Việt Nam tại Lào tương đối đông đảo với khoảng 40.000 người và còn đang tăng lên Do vị trí địa lý gần gũi cũng như từng làthuộc địa của Pháp nên Việt Nam và Lào đã có lịch sử di dân lâu đời qua lạihai quốc gia Vì lịch sử lâu dài nên cộng đồng này cũng còn gọi là người Làogốc Việt
30-Về chính trị, Việt Nam là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, với
cơ chế có duy nhất một đảng chính trị lãnh đạo Đảng Cộng sản đứng đầu bởiTổng Bí thư, là đảng duy nhất lãnh đạo trên chính trường Việt Nam, vẫn camkết với các nguyên tắc của Lênin "tập trung dân chủ" mà không cho phép đađảng Quốc hội nhiệm kỳ 5 năm, đứng đầu là Chủ tịch Quốc hội, theo hiếnpháp là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Chủ tịch nước có các quyềntrong đó: Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh; Tổng Tư lệnh vũ trang; đề nghịQuốc hội bầu, miễn nhiệm Thủ tướng, Chánh án tối cao, Kiểm sát tưởng tốicao, ; thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại Chính phủ là cơ quan chấphành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất, gồm Thủ tướng, các PhóThủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ Việc tổ chức
Trang 6nhân sự chính phủ đều thông qua Bộ Chính trị quản lý Tòa án nhân dân tốicao là cơ quan xét xử còn Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan giữquyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp cao nhất Việt Nam Ngoài ra,Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề an ninh quốc gia.
Về kinh tế, Chính sách Đổi mới năm 1986 thiết lập mô hình "Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa" Thành phần kinh tế được mở rộngnhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước Tăngtrưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000–2002 khi kinh tếthế giới đang trì trệ Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được phép gianhập WTO sau khi kết thúc đàm phán song phương với các nước có yêu cầu
và chính thức là thành viên thứ 150 ngày 11 tháng 1 năm 2007 Sau cải cáchkinh tế – xã hội, theo một số nghiên cứu, bất bình đẳng thu nhập đã gia tăng.Năm 2013, tại một hội thảo ở Hà Nội, các chuyên gia nhận định nền kinh tếViệt Nam tăng trưởng chậm lại sau 5 năm gia nhập WTO Cụ thể, trong giaiđoạn 2007–2011, chỉ năm 2008 là Việt Nam tăng trưởng GDP trên 8% dùxuất khẩu tăng 2,4 lần lên 96,9 tỷ USD Đa phần tỷ trọng xuất khẩu là do khốidoanh nghiệp FDI, chiếm khoảng 60% mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nônglâm sản, và khoáng sản thô Sau hội nhập, tỷ trọng nhập siêu cũng tăng, 18 tỷUSD vào năm 2008 Ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế 2007–2008 và đếnnăm 2013, nền kinh tế đối mặt với áp lực từ nợ xấu đến lạm phát, tín dụngtăng trưởng thấp Tình trạng tham nhũng luôn xếp ở mức cao trên trung bìnhcủa thế giới và vấn đề vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ
sở hạ tầng, hàng chục ngàn thủ tục kinh doanh từ 20 năm trước đang tồn tạiđược cho là không hợp với kinh tế thị trường Theo thống kê năm 2015 củaNgân hàng Thế giới thì PPP đầu người của Việt Nam năm 2014 là 5.294,4USD, bằng 55,4% so với Indonesia, 37% so với Thái Lan và bằng 6,7% sovới Singapore Năm 2018, Quy mô kinh tế Việt Nam đạt 301,7 tỷ USD Thunhập bình quân đầu người đạt 3.120 USD/người
Về đối ngoại, theo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X:
Trang 7Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chủ trương đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, rộng mở, đa dạng, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhậpquốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy củatất cả các nước phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" Hiện đã thiết lậpquan hệ ngoại giao với 189 quốc gia (gồm 43 nước châu Á, 47 nước châu Âu,
14 nước châu Đại Dương, 30 nước châu Mỹ và 55 nước châu Phi) Việt Namcũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và quan hệ với hơn 650 tổ chức phichính phủ Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viênECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU Việt Namtừng tổ chức các hội nghị cấp cao ASEAN (1998, 2010), ASEM (2004),Thượng đỉnh APEC (2006, 2017), Cộng đồng Pháp ngữ (1997), Hội nghịThượng đỉnh Triều Tiên-Hoa Kỳ lần 2 (2019) Việt Nam cũng từng làm thànhviên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008-
2009 và 2020-2021, thành viên của ECOSOC nhiệm kỳ 2016-2018, Chủ tịchluân phiên ASEAN (2010, 2020)
Về giao thông, các tuyến giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ,
đường sắt, đường hàng không đều theo hướng bắc – nam Hệ thống đường bộgồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ Có tổng chiều dài khoảng 222.000 km,phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ đều được trải nhựa và bê tônghóa, số ít các tuyến đường huyện lộ đang còn là các con đường đất Hệ thốngđường sắt Việt Nam dài tổng 2652 km, trong đó tuyến Hà Nội – Thành phố
Hồ Chí Minh dài 1726 km được gọi là Đường sắt Bắc Nam
Về khoa học, năm 2010, tổng chi tiêu của Nhà nước vào khoa học và
công nghệ chiếm khoảng 0,45% GDP Theo UNESCO, Việt Nam đã dành0,19% GDP để nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011 Chiến lượctìm cách thúc đẩy hợp tác khoa học quốc tế lớn hơn, với kế hoạch thiết lậpmạng lưới các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và khởi xướng một mạnglưới kết nối các tổ chức khoa học quốc gia với các đối tác nước ngoài
Về giáo dục, tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục tăng từ
Trang 810,89% năm 2005 tăng lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.
Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổthông, đại học và sau đại học Các trường đại học chủ yếu tập trung ở haithành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Theo kết quả đánh giá học sinhquốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công
bố năm 2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độtuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới Có ý kiến cho rằng kết quả này khôngphản ánh đúng chất lượng giáo dục Việt Nam vì các trường phổ thông theochỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA
từ trước
Về văn hóa, những vùng có những nét văn hóa đặc trưng tại Việt Nam.
Từ vùng đồng bằng sông Hồng với văn hóa làng xã và văn minh lúa nước,đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại tây bắc và đông bắc Từvùng biên viễn các triều đại miền Bắc đến nền văn hóa Chăm Pa của ngườiChăm Nam Trung Bộ cùng vùng đất mới ở Nam Bộ kết hợp văn hóa các tộcngười Hoa, người Khmer và các bộ tộc Tây Nguyên
Về tôn giáo, Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và tín ngưỡng Cộng
đồng các dân tộc có tín ngưỡng dân gian riêng Phật giáo du nhập vào ViệtNam từ những năm đầu Tây lịch cùng với Nho giáo và Đạo giáo Được gọichung là tam giáo, ba tôn giáo ảnh hưởng nhiều nhất tới văn hóa Việt Nam.Phật giáo Việt Nam đa số thuộc Đại thừa và từng là quốc giáo thời Nhà Lý vàNhà Trần Các tư tưởng Nho giáo tới nay vẫn có vai trò trong trật tự xã hộiViệt Nam Công giáo được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ 16 và Tin Lành từđầu thế kỷ 20 Hồi giáo được truyền vào Chăm Pa, Nam Trung Bộ từ cácvương triều Hồi giáo ở Ấn Độ và Quần đảo Mã Lai Bên cạnh các tôn giáo thếgiới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đài và đạo HòaHảo Ngoài ra, có một lượng người tự nhận không tôn giáo
1.2 Lào (Tên đầy đủ: Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào)
Thủ đô: Viêng-chăn
Trang 9Vị trí địa lý: Phía Bắc giáp Trung Quốc 416 km đường biên; Tây Bắcgiáp Mi-an-ma 230 km; Tây Nam giáp Thái Lan 1.730 km; Nam giápCampuchia 492 km và phía Đông giáp Việt Nam 2.067 km đường biên.
Diện tích: 236.800 km 2
Dân số: 6.320.000 người (số liệu năm 2009)
Lào có 49 dân tộc, có những dân tộc gồm nhiều nhánh tộc và được chiathành 04 nhóm ngôn ngữ: nhóm ngôn ngữ Lào-Thái, nhóm ngôn ngữ Mon-Khơ Me, nhóm ngôn ngữ Mông-Dao, nhóm ngôn ngữ Hán-Tây Tạng
Tôn giáo: Đạo Phật chiếm 85%
Về thể chế chính trị, Lào đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển
chế độ Dân chủ Nhân dân, tạo tiền đề để từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Từ Đại hội IV (1986) Đảng NDCM Lào đã đề ra đường lối đổi mới, cụthể hóa và bắt tay thực hiện Đại hội V (1991) tiếp tục hoàn thiện đường lốiđổi mới với chủ trương tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ Dân chủ nhândân, từng bước tiến tới mục tiêu XHCN Đại hội VI (1996) tổng kết 5 bài họckinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 10 năm lãnh đạo thực hiện đổi mới và đánh giá
đó là thành quả lịch sử quan trọng Đại hội VII (2001) đã triển khai đường lốiđổi mới thành chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020; đề ra chỉ tiêuphấn đấu khắc phục tình trạng đói nghèo, đưa đất nước thoát khỏi tình trạngchậm phát triển Đại hội VIII (3/2006) tiếp tục khẳng định hai nhiệm vụ chiếnlược là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc và đường lối đổi mới để phát triển đấtnước vững chắc hơn, đưa Lào ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo tiền đềvững chắc cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hướng tới CNXH"
Về kinh tế - xã hội, Lào là nước nằm sâu trong lục địa, không có đường
thông ra biển và chủ yếu là đồi núi trong đó 47% diện tích là rừng Có một sốđồng bằng nhỏ ở vùng thung lũng sông Mê-công hoặc các phụ lưu như đồngbằng Viêng-chăn, Chăm-pa-xắc 45 % dân số sống ở vùng núi Lào có800.000 ha đất canh tác nông nghiệp với 85% dân số sống bằng nghề nông
Lào có nguồn tài nguyên phong phú về lâm, nông nghiệp, khoáng sản
Trang 10và thuỷ điện Nhìn chung kinh tế Lào tuy phát triển song chưa có cơ sở bảođảm ổn định.
Nền kinh tế trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ Các mục tiêukinh tế-xã hội do các kỳ đại hội và các chương trình kế hoạch 5 năm đượctriển khai thực hiện có hiệu quả Lào đang nắm bắt thời cơ, đang tạo nênnhững bước đột phá và đang có những tiền đề cho một thời kỳ tăng tốc Tăngtrưởng GDP năm 2007 đạt 8%, năm 2008 đạt 7,9% Thu nhập bình quân đầungười tăng dần, năm 2000 đạt 298USD/người/năm; năm 2006 đạt546USD/người/năm, năm 2007 đạt 678USD/người/năm, năm 2008 đạt841USD/người/năm Đến năm 2020, Lào phấn đấu đạt GDP bình quân đầungười tăng gấp 2-3 lần hiện nay, khoảng 1.200-1.500 USD/năm
Kinh tế đối ngoại: đến năm 2007, Lào có quan hệ thương mại với 60nước, ký Hiệp định thương mại với 19 nước, 39 nước cho Lào hưởng quy chếGSP Hàng hoá xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và gỗ
Về chính sách đối ngoại, CHDCND Lào chủ trương tiếp tục thực hiện
đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác; đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ; sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nướcnhằm bảo đảm lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi bên; nhấn mạnh tiếp tụccủng cố, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với các nướcXHCN, trong đó tiếp tục tăng cường tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàndiện với Việt Nam, hợp tác toàn diện với Trung Quốc và các nước anh emkhác, thắt chặt quan hệ hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới,tích cực tham gia hoạt động trong ASEAN trên tinh thần giữ vững các nguyêntắc cơ bản của ASEAN
Thành tựu về Kinh tế - Xã hội, với chủ trương, khôi phục và phát triển
kinh tế, tổ chức lại sản xuất, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm vàhàng tiêu dùng; đồng thời tranh thủ viện trợ quốc tế, nhằm đáp ứng các yêucầu cần thiết của nhà nước và của nhân dân của Đảng NDCM Lào đề ra, nhândân các bộ tộc Lào đã phát huy hết tinh thần, trách nhiệm của mình, khai thác
Trang 11mọi thế mạnh, tiềm năng sẵn có vào phát triển sản xuất, từng bước đưa đấtnước thoát khỏi tình trạng khó khăn sau chiến tranh và làm cho tình hình kinh
tế tài chính và đời sống nhân dân ổn định
Trong năm tài khóa 2011-2012, Lào đã khắc phục những khó khăn như
lũ lụt, lạm phát trong nước cũng như những ảnh hưởng bất lợi của cuộc khủnghoảng tài chính quốc tế… để thúc đẩy phát triển kinh tế, hoàn thành mọi chỉtiêu kinh tế Trong năm tài khóa này, GDP của Lào tăng 8,3% so với cùng kỳ,đạt 620.000 tỷ kíp (khoảng 7,74 tỷ USD) và GDP bình quân đầu người vàokhoảng 9,64 triệu kíp (1.203 USD)
Lào đã thực thi nhiều sách lược phát triển kinh tế: thu hút vốn đầu tưnước ngoài; coi trọng xây dựng đặc khu kinh tế; thúc đẩy toàn diện 6 chiếnlược thương mại lớn gồm: ngoại thương, sản xuất sản phẩm và quản lý xuất-nhập khẩu, dịch vụ thương mại quá cảnh, phát triển thị trường và quản lýhàng hóa, phát triển nguồn nhân lực và quản lý hành chính; tăng cường hợptác kinh tế khu vực; và tích cực phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môitrường
Nhằm tạo đột phá cho nền kinh tế, Lào không ngừng mở rộng việc hợptác giao lưu, thúc đẩy phát triển kinh tế với nhiều nước, đặc biệt là với ViệtNam Thương mại hai chiều giữa hai nước Việt - Lào cũng không ngừng tăngcao với kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 734 triệu USD trong năm 2011, tăng50% so với năm 2010 Tính đến nay, Việt Nam là nước đầu tư lớn thứ 2 tạiLào Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư vào Lào hơn 400 dự án quantrọng với tổng vốn đầu tư khoảng 3,6 tỷ USD Dự báo, đầu tư của doanhnghiệp Việt Nam sẽ tăng 7 tỷ USD vào năm 2015, kim ngạch hai chiều đạt 2-
3 tỷ USD vào năm 2015 và 5 tỷ USD vào năm 2020
Đi đôi với phát triển kinh tế, Lào đã đẩy mạnh phát triển các hoạt động
xã hội, tạo ra sự hài hòa trong phát triển Với chủ trương coi giáo dục là điểmmấu chốt trong việc xây dựng xã hội Lào văn minh hiện đại, ngành giáo dụcLào đã có bước tiến dài Hệ thống giáo dục hằng năm đã đào tạo ra một số
Trang 12lượng lớn cán bộ có chuyên môn phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đấtnước Đặc biệt, để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngoài số tự đào tạo được, hằng nămLào còn gửi hàng ngàn học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập Riêng vớiViệt Nam, hợp tác giáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực được ưu tiên
và mở rộng với nhiều hình thức, được thực hiện từ trung ương tới các bộ,ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp Mỗi năm, Việt Nam tiếp nhậnkhoảng 650 học sinh Lào và hiện có tới gần 5.000 du học sinh Lào đang họctập tại Việt Nam Nhờ đó, trình độ của cán bộ Lào không ngừng tăng lên Nếunăm 1995, số cán bộ có trình độ trên đại học của Lào chỉ có 0,45%, cao cấp
và đại học là 15,16%, không có tiến sĩ và phó tiến sĩ, thì chỉ trong vòng 11năm (1995 - 2006), Lào đã có 275 tiến sĩ, 2.017 phó tiến sĩ; 13.833 thạc sĩ, đạihọc; 14.905 cán bộ có trình độ lý luận chính trị cao cấp
Thành tựu về quan hệ đối ngoại, một trong những yếu tố góp phần tạo
nên sự lớn mạnh Lào là do đã làm tốt công tác đối ngoại Trong tình hìnhmới, mặc dù hoàn cảnh bên trong và bên ngoài có nhiều thay đổi, Đảng, Nhànước Lào vẫn xác định chính sách đối ngoại là: “ Tiếp tục duy trì quan hệngoại giao và phát triển quan hệ thương mại bình thường với tất cả các nước,không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, trên cơ sở năm nguyên tắc cùng tồntại hòa bình; tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của chính phủ và nhân dân cácnước có thiện ý muốn giúp đỡ Chính phủ và nhân dân Lào trong việc hàn gắnvết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, không ngừngcải thiện đời sống nhân dân Lào”
Thực hiện chính sách đối ngoại này, Lào đã tranh thủ được sự đồngtình, ủng hộ của nhiều nước trên thế giới, tranh thủ được vốn, kỹ thuật vàophát triển đất nước, từ đó tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội Làocũng đã góp phần tích cực vào các công việc của quốc tế và khu vực, đã tổchức thành công nhiều hội nghị quốc tế, tiêu biểu như: Hội nghị Bộ trưởngkhu vực sông Mê Công - sông Hằng về hợp tác du lịch (tháng 11-2000), Hội
Trang 13nghị bàn tròn về tài trợ cho nước Lào lần thứ bảy (tháng 11-2000), Hội nghị
Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - Liên minh châu Âu (tháng 12-2000) Ngoài
ra, Lào còn tham gia tích cực vào các tổ chức hợp tác khu vực như: ASEAN,Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), Tam giác phát triển Campuchia - Lào -Việt Nam (CLVDT), Tháng 11-2004, Nhà nước Lào đã có đóng góp quantrọng vào thành công của Hội nghị cấp cao ASEAN-10 tổ chức tại thủ đôViêng Chăn với việc thông qua Chương trình hành động Viêng Chăn (VAP)
và Hiệp định khung ASEAN về 11 lĩnh vực ưu tiên cho hội nhập nhằm kiếntạo Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) như một khu vực tự do thương mại vàonăm 2020
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, nhân dân và các Lực lượng vũtrang nhân dân Việt Nam tự hào có người bạn, người đồng chí, anh em Làoluôn kề vai sát cánh cùng Cách mạng Việt Nam trong mọi điều kiện, hoàncảnh
1.3 Mối quan hệ “đặc biệt” của hai nước
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Bounnhang Vorachith nhấn mạnhquan hệ Việt Nam-Lào là quan hệ đặc biệt của đặc biệt, có một không hai trênthế giới, không sử sách nào có thể viết đủ về mối quan hệ đặc biệt Lào-ViệtNam
Quan hệ đặc biệt, gắn bó và tin cậy Việt Nam – Lào tiếp tục được củng
cố và có những bước phát triển tốt đẹp, ngày càng mở rộng và đi vào chiềusâu và có hiệu quả, đặc biệt là quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầutư
Đánh giá cao những đóng góp to lớn của các cựu quân tình nguyện vàcựu chuyên gia Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và xâydựng đất nước Lào, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Bounnhang Vorachith khẳngđịnh, mối quan hệ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi giữa Việt Nam và Lào
và sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Việt Nam đối với Lào là đặc biệt hiếm
có trên thế giới
Trang 14Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào nhấn mạnh tình hữu nghị Lào-ViệtNam là không có gì lay chuyển được, bày tỏ tin tưởng rằng thế hệ trẻ hai nước
sẽ tiếp nối truyền thống của những thế hệ đi trước, tiếp tục gìn giữ và pháthuy mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hainước Lào và Việt Nam
Trang 15Chương 2 HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VÀ LÀO TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC
CHÍNH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
2.1 Trên lĩnh vực chính trị - đối ngoại
Quan hệ chính trị, hiện nay, hai nước đang triển khai thực hiện Hiệp
định về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật giữa hai nước năm 2009.Hai bên tăng cường cơ chế tiếp xúc trao đổi thường xuyên giữa Lãnh đạo cấpcao hai Đảng, hai Nhà nước để thống nhất và định hướng cho việc thúc đẩyphát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàndiện hai nước
Hai bên đã trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao và các cấp ngành, địaphương; đặc biệt là các chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng
Bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn 22/6/2006; chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào của Tổng Bí thư Nông ĐứcMạnh 10-13/10/2006 đã mở ra thời kỳ mới cho quan hệ hai nước sau khi cảhai nước kết thúc thắng lợi Đại hội Đảng ở mỗi nước Tần suất các chuyếnthăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước từ sau Đại hội Đảng ở mỗi nướcnăm 2006 đến nay ngày càng cao: tất cả các đồng chí lãnh đạo hai nước đãsang thăm chính thức lẫn nhau Gần đây nhất, chuyến thăm chính thức củaTổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn 23-25/4/2009càng khẳng định sự coi trọng của Lãnh đạo cấp cao Lào trong quan hệ đốingoại với Việt Nam
19-Về biên giới, hai bên đang xúc tiến triển khai Dự án tăng dày và tôn tạo
mốc quốc giới trên toàn tuyến Trên thực địa, hai bên đã phối hợp xây dựng
và khánh thành mốc đôi 605 tại cửa khẩu quốc tế Lao Bảo – Đen-xa-vẳn(ngày 05/9/2008) và cột mốc đại số 528 tại cửa khẩu quốc tế Cha Lo – Na-phàu (18/7/2009) Hai bên cũng đã phối hợp với Campuchia hoàn thành cắmmốc tại ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia (18/01/2008) và đã ký
Trang 16Hiệp ước xác định giao điểm đường biên giới ba nước Việt Campuchia (26/8/2008)
Nam-Lào-Hợp tác về an ninh, quốc phòng là lĩnh vực hợp tác chặt chẽ Dự án vềhợp tác phát triển và ổn định vùng biên giới cũng như quản lý xuất nhập cảnhhai nước tiếp tục được thực hiện Trong những năm 2001 - 2010, hai bên đãphối hợp thực hiện tốt Hiệp định về quy chế biên giới, kịp thời phát hiện vàgiải quyết các vấn đề nảy sinh, đặc biệt là phối hợp phòng chống vận chuyển
và mua bán ma túy qua biên giới, góp phần xây dựng biên giới hai nước làđường biên giới hòa bình, hữu nghị và hợp tác phát triển
Hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao Việt Nam và Lào được duy trì chặtchẽ Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh đề nghị Bộ Ngoại giao hainước cần tích cực, chủ động hơn nữa trong việc đưa quan hệ Việt-Lào đi vàochiều sâu thực chất trong bối cảnh tình tình hình thế giới và khu vực đang cónhững chuyển biến sâu sắc và phức tạp, tác động không nhỏ đến mỗi nước;tiếp tục phối hợp phục vụ tốt các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao Bộ trưởngNgoại giao Saleumxay Kommasith nhất trí hai Bộ Ngoại giao cần phối hợpchặt chẽ đẩy mạnh triển khai thực hiện hiệu quả các thỏa thuận cấp cao cũngnhư các cơ chế hợp tác song phương quan trọng, trước mắt là Kỳ họp lần thứ
42 Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam-Lào tháng 1/2020; tăng cường tham vấntại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong khuôn khổ ASEAN và Liênhợp quốc Hai Bộ trưởng nhất trí đánh giá năm 2020 sẽ là năm bản lề quantrọng đối với cả hai nước vì cả Việt Nam và Lào đều sẽ phải đảm nhiệm nhiềuvai trò quan trọng (Việt Nam là Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thườngtrực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong khi Lào là chủ nhà của nhiều cơchế tiểu vùng như CLV, CLMV, ACMECS…) đồng thời phải tích cực chuẩn
bị cho Đại hội Đảng toàn quốc tại mỗi nước vào năm 2021 Phó Thủ tướng,
Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đề nghị trong thời gian tới cần nângcao hơn nữa chất lượng các cuộc Tham vấn; đa dạng hóa, đổi mới các hìnhthức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các đơn vị của hai Bộ Ngoại giao
Trang 17phù hợp với tình hình mới Bộ trưởng Saleumxay Kommasith đề nghị hai BộNgoại giao tăng cường trao đổi sâu, tham vấn tin cậy lẫn nhau và phối hợpchặt chẽ cả về quan hệ song phương lẫn các vấn đề chiến lược khu vực nhằmphục vụ công cuộc phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của hai nước; kýmới Thỏa thuận hợp tác hai Bộ giai đoạn 2021-2026 tại Tham vấn Chính trịnăm sau Hai Bộ trưởng cũng thông báo cho nhau về chính sách đối ngoại củamỗi nước, đồng thời chia sẻ quan điểm, đánh giá sâu rộng về các vấn đề khuvực và quốc tế cùng quan tâm, trong đó có môi trường chiến lược tại châu Á –Thái Bình Dương, hợp tác trong ASEAN, phát triển tiểu vùng, vấn đề BiểnĐông Hai bên đề cao việc tuân thủ luật pháp quốc tế, vai trò trung tâm củaASEAN trong cấu trúc khu vực; nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại cácdiễn đàn khu vực và quốc tế; chủ động và tích cực chia sẻ thông tin, trao đổiquan điểm và phối hợp lập trường ở tất cả các kênh và các cấp, góp phần nângcao vị thế quốc tế của mỗi nước Bộ trưởng Ngoại giao SaleumxayKommasith khẳng định Lào sẽ hỗ trợ hết sức mình khi Việt Nam đảm nhiệm
vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ2020-2021 cũng như vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020; khẳng định tiếp tụchợp tác chặt chẽ tại các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong như CLV, CLMV,ACMECS ; ủng hộ lập trường chung của ASEAN về các vấn đề an ninhchung của khu vực
Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt NamNguyễn Xuân Phúc và Phu nhân, Thủ tướng Chính phủ nước CHDCND LàoThongloun Sisoulith và phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ nướcCHDCND Lào thăm chính thức nước CHXHCN Việt Nam từ ngày 1-3/10/2019
Trong thời gian thăm, Thủ tướng Thongloun Sisoulith dự lễ đón chínhthức, hội đàm và chiêu đãi của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc; chào xã giaoTổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng; hội kiến Chủ tịch Quốc hộiNguyễn Thị Kim Ngân; đặt vòng hoa tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đài