TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ BỘ MÔN QUẢN LÝ XÂY DỰNG BÀI GIẢNG PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG Hà Nội, năm 2021 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
BỘ MÔN: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
- -
BÀI GIẢNG PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
Hà Nội, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ DOANH NGHIỆP 3
1.1 Khái niệm chung về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp 3
1.2 Vai trò và đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp 10
1.2.1 Vai trò của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp 10
1.2.2 Đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp 11
1.3 Phân loại phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp 12
1.4 Tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp 14
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 16
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 19
BÀI TẬP CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2 22
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ DOANH NGHIỆP 22
2.1 Tổng quan về phương pháp phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp 22
2.2 Các nguyên tắc chung của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp 23
2.3 Phương pháp kỹ thuật phân tích 25
2.3.1 Phương pháp so sánh 26
2.3.2 Phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích 30
2.3.3 Phương pháp loại trừ 33
2.3.4 Phương pháp phân tích hồi quy và tương quan 52
2.3.5 Phương pháp phân tích Dupont 67
2.3.6 Các phương pháp phân tích khác 67
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC THI CÔNG XÂY LẮP CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 71
Trang 33.1 CÁC LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ GIỚI HẠN DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG ĐƯỢC PHÂN TÍCH713.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BÀN GIAO CÔNG TRÌNH, HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG HOÀN THÀNH 743.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY LẮP TRONG KỲ 63.3.1 Đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp trong kỳ của doanh nghiệp 63.3.2 Phân tích chi tiết tình hình thực hiện kế hoạch khối lượng công tác xây lắp trong kỳ
do bản thân doanh nghiệp xây dựng thực hiện bằng lực lượng của mình 83.4 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY LẮP GỐI ĐẦU CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 123.4.1 Một số khái niệm liên quan 123.4.2 Nội dung và phương pháp phân tích tình hình thực hiện kế hoạch công tác xây lắp gối đầu của doanh nghiệp kỳ phân tích 183.5 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY LẮP CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 223.6 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHỐI LƯỢNG CÔNG TÁC XÂY LẬP HOÀN THÀNH CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG THỰC HIỆN BẰNG LỰC LƯỢNG CỦA MÌNH 243.6.1 Phân loại nhân tố ảnh hưởng tới khối lượng công tác xây lắp hoàn thành 243.6.2 Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về cơ sở vật chất kỹ thuật sản xuất xây lắp tới khối lượng công tác xây lắp hoàn thành của doanh nghiệp 273.6.3 Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc tổ chức quản lý quá trình thi công xây lắp tới khối lượng công tác xây lắp hoàn thành của doanh nghiệp 40CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3 47CHƯƠNG 4 52PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CUNG ỨNG VÀ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 524.1 CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT CHỦ YẾU CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ Ý NGHĨA CỦA PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT CỦA DOANH NGIỆP 534.1.1 Các yếu tố sản xuất chủ yếu của doanh nghiệp xây dựng 53
Trang 44.1.2 Ý nghĩa của phân tích tình hình sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp xây
dựng 55
4.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG NHÂN XÂY LẮP VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG QUỸ TIỀN LƯƠNG LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 56
4.1.2 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch tuyển dụng công nhân xây lắp của doanh nghiệp xây dựng 56
4.2.2 Phân tích tình hình sử dụng công nhân xây lắp của doanh nghiệp xây dựng 61 4.2.3 Phân tích tình hình sử dụng quỹ lương và tiền lương bình quân doanh nghiệp xây dựng 82
4.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CUNG ỨNG VÀ SỬ DỤNG VẬT LIỆU XÂY DỰNG CHO SẢN XUẤT THI CÔNG XÂY LẮP CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 90 4.3.1 Phân tích tình hình cung ứng vật liệu xây dựng cho quá trình sản xuất thi công xây lắp của doanh nghiệp xây dựng 90
4.3.2 Phân tích tình hình sử dụng vật liệu xây dựng vào sản xuất thi công xây lắp của doanh nghiệp xây dựng 94
4.4 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐẢM BẢO MÁY MÓC THIẾT BỊ THI CÔNG CHO SẢN XUẤT VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG MÁY MÓC THIẾT BỊ THI CÔNG CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 99
4.4.1 Phân tích tình hình đảm bảo máy móc thiết bị thi công cho sản xuất của doanh nghiệp xây dựng 99
4.4.2 Phân tích tình hình sử dụng máy móc thiết bị thi công trong sản xuất xây lắp của doanh nghiệp xây dựng 101
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 111
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4 113
BÀI TẬP CHƯƠNG 4 115
CHƯƠNG 5 120
PHÂN TÍCH GIÁ THÀNH CÔNG TÁC XÂY LẮP 120
5.1 Các loại giá thành công tác xây lắp và các nhân tố ảnh hưởng tới giá thành công tác xây lắp 120
5.1.1 Các loại giá thành công tác xây lắp sử dụng trong phân tích 120
5.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới giá thành công tác xây lắp 124
5.2 Phân tích tình hình thực hiện- kế hoạch giá thành thi công xây lắp công trình, hạng mục công trình hoàn thành của doanh nghiệp xây dựng 124
Trang 55.2.1 Phân tích khái quát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành thi công xây lắp công
trình, hạng mục công trình hoàn thành 124
5.2.2 Phân tích chi tiết tình hình thực hiện kế hoạch giá thành thi công xây lắp công trình, hạng mục công trình hoàn thành 129
5.3 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành công tác xây lấp kỳ phân tích của doanh nghiệp xây dựng 135
5.3.1 Phân tích khái quát tình hình thực hiện kế hoạch giố thành công tác xây lắp kỳ phân tích 135
5.3.2 Phân tích chi tiết tình hình thực hiện kế hoạch giá thành công tác xây lắp kỳ phân tích 139
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 146
CHƯƠNG 6 147
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP XÂY DỤNG 147
6.1 Phân tích chung tình hình tàĩ chính của doanh nghiệp xây dụng kỳ phân tích 147 6.1.1 Đánh giá khái quát khả năng huy động vổn cho sản xuẩt kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích 147
6.1.2 Đánh giá khái quát mức đệ độc lập tài chính của doanh nghiệp kỳ phân tích148 6.1.3 Đánh giá khái quát khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp kỳ phân tích 148
6.2 Phân tích tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp xây dựng 153
6.2.1 Ý nghĩa của phân tích tình hình lợi nhuận cùa doanh nghiệp xây dựng 153
6.2.2 Các chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp xây dựng 154
6.2.3 Phân tích biến động lợi nhuận của doanh nghiệp xây dựng kỳ phân tích so với kỳ gốc 155
6.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng167 6.3.1 Ý nghĩa của phân tích hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ 167
6.3.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp 170
6.3.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp 171
6.3.4 Phân tích khả năng sinh lời của tổng tài sản 176
6.4 Phân tích khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu 179
6.4.1 Ý nghĩa của việc phân tích khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu 179
Trang 66.4.2 Phương pháp phân tích khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu 180
TÓM TẮT CHƯƠNG 6 194
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 6 195
BÀI TẬP CHƯƠNG 6 196
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp xây dựng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình ra quyết định quản trị-sản xuất kinh doanh của các nhà quản lý doanh nghiệp xây dựng.Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng ở nước ta hiện nay, vai trò của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp xây dựng ngày càng được nâng cao
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp xây dựng là một trong những học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo kỹ sư kinh tế xây dựng tại trường Đại học xây dựng.Bộ môn Kinh tế nghiệp vụ thuộc giảng dạy học phần này nhiều năm qua đã không ngừng cải tiến chương trình đào tạo và đã nhiều lần tổ chức biên soạn giáo trình phục vụ đào tạo học phần này.Tuy nhiên, quá trình đổi mới không ngừng của thực tiễn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng để thích ứng với những điều kiện mới của thị trường xây dựng nước ta đang đặt ra những đòi hỏi đối với công tác quản trị doanh nghiệp xây dựng nói chung và phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp nói riêng
Xuất phát từ những đòi hỏi thực tiễn của công tác quản trị doanh nghiệp xây dựng và những yêu cầu mới đặt ra trong chương trình đào tạo kỹ sư kinh tế xây dựng của
trường Đại học Xây dựng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, giáo trình “ Phân tích hoạt động kinh tế doanh ghiệp xây dựng” được biên soạn mới nhằm thay thế giáo
trình của học phần này đã được biên soạn và xuất bản năm 1998
Giáo trình “ Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp xây dựng” gồm 6 chương được biên soạn trên cơ sở bám sát chương trình đào tạo của học phần đã được phê duyệt và tham khảo một số tài liệu, giáo trình có liên quan:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
- Chương 2: Phương pháp phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
- Chương 3: Phân tích tình hình thực hiện khối lượng công tác thi công xây lắp của doanh nghiệp xây dựng
- Chương 4: Phân tích tình hình cung ứng và sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp xây dựng
- Chương 5 : Phân tích giá thành công tác xây lắp
- Chương 6: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng
Trang 8Giáo trình được biên soạn bới một tập thể cán bộ giảng dạy của Bộ môn Kinh tế nghiệp vụ thuộc Khoa Kinh tế và Quản lý xây dựng trường Đại học Xây dựng do PGS.TS Đinh Đăng Quang chủ biên và trực tiếp biên soạn các chương 2,4,5,6; ThS
Tô Thị Hương Quỳnh biên soạn chương 1; ThS Lê Hoài Nam biên soạn chương 3 Giáo trình được sử dụng làm tài liệu giảng dạy và học tập học phần “Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp xây dựng” tại trường Đại học Xây dựng, đồng thời hy vọng
sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà phân tích kinh tế và các nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng nước ta
Các tác giả xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Bảo, TS Nguyễn Minh Đức và bạn bè, đồng nghiệp đã đóng góp những ý kiến quý báu về kết cấu , nội dung giáo trình cũng như những lời động viên khích lệ nhóm tác giả trong quá trình biên soạn giáo trình này
Mặc dù các tác giả đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn, song giáo trình không tránh khỏi thiếu sót.Rất mong nhận được và trân trọng cám ơn những ý kiến đóng góp phê bình sách cảu nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý doanh nghiệp, các sinh viên và tất cả bạn đọc để chất lượng giáo trình xuất bản lần sau được nâng cao hơn
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Bộ môn Kinh tế nghiệp vụ - Khoa Kinh tế và Quản lý xây dựng trường Đại học Xây dựng , 55 Đường Giải Phóng, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ DOANH
NGHIỆP 1.1 Khái niệm chung về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
và phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
Một nền kinh tế không thể tồn tại và phát triển nếu không có sản xuất và tiêu dùng Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu tiêu dùng càng đa dạng, người tiêu dùng càng khó tính đòi hỏi các doanh nghiệp trong nền kinh tế phải gia tăng quy mô sản xuất,đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế quan trọng của bất cứ nền kinh tế nào bởi vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Các doanh nghiệp trong nền kinh tế tiến hành rất nhiều hoạt động khác nhau, trong đó phần lớn các hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm vào mục đích tìm kiếm lợi nhuận Trong điều kiện nền kinh tế thị trường,mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được xem là một trong những mục tiêu kinh tế quan trọng nhất của doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu này,các doanh nghiệp thường xây dựng và thực thi những chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trong từng giai đoạn.Những chiến lược sản xuất kinh doanh ấy được các doanh nghiệp cụ thể hóa thành các kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, thậm chí kế hoạch ở những thời đoạn ngắn hơn như 6 tháng, quý,tháng
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận được hiểu là hoạt động kinh tế của doanh nghiệp Trong quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra trong từng thời kỳ, do sự tác động nhiều yếu tố khác nhau,
cả khách quan lẫn chủ quan,kết quả hoạt động kinh tế đạt được thường sai khác ( tăng hoặc giảm) so với kế hoạch đề ra làm cho mục tiêu lợi nhuận đề ra có thể thực hiện vượt mức hoặc không thực hiện được
Để giúp lãnh đạo doanh nghiệp có thể nắm bắt được những sai khác giữa kết quả hoạt động kinh tế đạt được so với kế hoạch đề ra trong một thời kì nhất định hoặc sai khác
về kết quả hoạt động kinh tế đạt được của thời kỳ này so với kết quả đạt được ở thời
kỳ trước, trên cơ sở đó có những quyết định quản lý doanh nghiệp đúng đắn và phù
Trang 10hợp nhằm điều chỉnh phù hợp mục tiêu hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trong tương lai đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức thực hiện công tác phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp một cách thường xuyên, liên tục trước, trong và sau những thời
kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nhất định
Kết quả phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp có cơ sở khoa học và thực tiễn là cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ trong quá trình ra quyết định quản trị doanh nghiệp của lãnh đạo doanh nghiệp, là căn cứ thực cho việc hoạch định chiến lực sản xuất kinh doanh,hoạch định các kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, trung hạn và ngắn hạn nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược đề ra.Từ điểm nhìn này có thể nói phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là một trong những công cụ trợ giúp đắc lực cho lãnh đạo doanh nghiệp trong quá trình quản lý doanh nghiệp, giúp lãnh đạo doanh nghiệp
có căn cứ khoa học và thực tiễn để thực thi các biện pháp cải thiện kết quả và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp một cách bền vững
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là việc xem xét đánh giá một cách khách
quan tình hình quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong kỳ phân tích ( tháng, quý, năm…), nhằm :
- Phát hiện và đo lường sự biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ phân
tích so với kỳ gốc (biến động giữa kết quả thực hiện và kế hoạch đề ra của kỳ phân
tích, biến động giữa kết quả thực hiện kỳ phân tích so với kỳ trước)
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
ảnh hưởng đến sự biến động kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân
tích so với kỳ gốc
- Chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đã tác động gây nên sự biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp so với kỳ gốc.Từ đó đề xuất cho lãnh
đạo doanh nghiệp những biện pháp khả thi nhằm cải thiện tình hình và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là kết quả của quá trình sử dụng phối hợp các yếu tố sản xuất theo một công nghệ sản xuất nhất định để tạo ra những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ cung ứng cho thị trường
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau như: (i) Hoạt động cung ứng yếu tố đầu vào cho sản xuất, (ii)Hoạt động sản xuất sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho thị trường,(iii)Hoạt động tiêu thụ sản
Trang 11phẩm hàng hóa và dịch vụ.Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều hướng vào mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận thu được.Vì thế đòi hỏi việc phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp phải hướng vào việc xem xét, đánh giá mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích trên cả 2 mặt kết quả đạt được và hiệu quả đạt được so với mục tiêu kế hoạch đề
ra của doanh nghiệp trong từng thời kỳ cũng như so với kết quả và hiệu quả đã đạt được của doanh nghiệp ở những kỳ trước
Kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp sản xuất cần được nhìn nhận và phân tích trên các mặt chủ yếu sau:
- Kết quả hoạt động cung ứng sản xuất các yếu tố đầu vào cho sản xuất (cung ứng lao động, cung ứng nguyên vật liệu sản xuất, sử dụng tài sản cố định và máy móc thiết bị sản xuất,…)
- Kết quả và hiệu quả sản xuất sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đầu ra
- Kết quả và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào(sử dụng lao động, sử dụng nguyên vật liệu sản xuất, đầu tư nhà xưởng và máy móc thiết bị sản xuất….)
- Kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ sản xuất nhằm bù đắp chi phí sản xuất
và thu lợi nhuận
- Kết quả lợi nhuận đạt được từ các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp
- Kết quả huy động vốn (nguồn lực tài chính)cho sản xuất kinh doanh khả năng thanh toán các khoản nợ vay và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế do các bộ phận hạch toán nội bộ doanh nghiệp (kế toán doanh nghiệp,thống kê doanh nghiệp,bộ phận hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật, kế hoạch, tiêu chuẩn, định mức….)cung cấp.Vì thế, phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là phân tích các chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ sản xuất kinh doanh
Một chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm 3 yếu tố hợp thành: (1)Tên chỉ tiêu (Nội dung kinh tế của chỉ tiêu),(2)Thời gian ( khoảng thời gian hoạt dộng kinh tế),(3) Quy mô(Độ lớn của kết quả hoạt động kinh tế đạt được).Ví dụ, chỉ tiêu”Giá trị sản xuất của doanh nghiệp năm 2013 là 200 tỷ đồng;chỉ tiêu “Số công nhân sản xuất bình quân năm 2013 là 150 người” phản ánh quy
mô lực lượng lao động trực tiếp sử dụng vào sản xuất năm 2013 là 150 người; Chỉ
Trang 12tiêu “Lợi nhuận thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt được năm 2013 là 20 tỷ đồng” phản ánh mức lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp (kết quả kinh doanh) đạt được năm 2013 có quy mô là 20 tỷ đồng,…
Chỉ tiêu kinh tế sử dụng để phân tích được gọi là chỉ tiêu phân tích(CTPT) Tùy theo
yêu cầu và nội dung phân tích mà người làm phân tích sẽ lựa chọn sử dụng các CTPT khác nhau.Chỉ tiêu phân tích có thể là chi phí tuyệt đối (Ví dụ:Mức hoàn thành kế hoạch sản xuất,tỷ suất lợi nhuận doanh thu thuần,…)hay chỉ tiêu bình quân (Ví dụ: Số công nhân sản xuất bình quân, năng suất lao động bình quân của một công nhân trong kỳ,…)
Kỳ phân tích là thuật ngữ chỉ thời kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được phân tích Độ dài của kỳ phân tích có thể là tháng, quý,6 tháng, năm, thậm chí 5 năm, 10 năm, 20 năm
Kỳ gốc là thuật ngữ chỉ thời kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được
chọn làm gốc so sánh cho kỳ phân tích
Khi so sánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích với
kỳ gốc thì đòi hỏi độ dài của kỳ gốc và kỳ phân tích phải bằng nhau nhưng không đòi hỏi kỳ phân tích và kỳ gốc phải trùng nhau về lịch thời gian,nghĩa là kỳ phân tích và
kỳ gốc có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau về lịch thời gian.Ví dụ: Nếu so sánh kết quả đạt được của một chỉ tiêu kinh tế thực hiện kì phân tích với kế hoạch đề ra của chỉ tiêu đó trong kì phân tích và kỳ gốc trùng nhau về lịch thời gian Tuy nhiên thì kỳ phân tích và kỳ gốc trùng nhau về lịch thời gian Tuy nhiên, nếu so sánh với kết quả đạt được của chỉ tiêu đó ở kỳ trước thì kỳ phân tích và kỳ gốc không trùng nhau về lịch thời gian
Thuật ngữ “Sự biến động” được sử dụng trong phân tích để chỉ sự thay đổi, tăng
(giảm) hoặc sự chênh lệch giá trị của CTPT kỳ phân tích so với kỳ gốc
Mức độ biến động của một CTPT được phân biệt thành “Mức biến động tuyệt đối” và
“Mức biến động tương đối”, trong đó:
- Mức biến động tuyệt đối được đo lường bằng hiệu số giữa giá trị của CTPT kỳ phân tích với giá trị của CTPT kỳ gốc
- Mức biến động tương đối được đo bằng tỷ lệ % của mức biến động tuyệt đối so với giá trị kỳ gốc của CTPT
Trang 13Giả sử có chỉ tiêu phân tích X, giá trị kỳ phân tích của X là (𝑋1), giá trị kỳ gốc của X
là 𝑋0 Mức biến động của X kỳ phân tích so với kỳ gốc có thể đo lường qua mức biến động tuyệt đối và mức biến dộng tương đối như sau:
- Mức biến động tuyệt đối của X (ΔX):
𝛥𝑋= 𝑋1− 𝑋0 (1.1)
- Mức biến động tương đối(%) của X (δ X):
δ X(%)=𝛥𝑋
𝑋 0 x100 (1.2)
Nhân tố ảnh hưởng được hiểu là các yếu tố môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
tác động tới quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gây
ra sự biến động kết quả sản xuất kinh doanh kỳ phân tích so với kỳ gốc
Có 2 loại môi trường kinh doanh của doanh nghiệp được phân biệt: Môi trường bên ngoài và môi trường bên trong doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài doanh nghiệp bao gồm các yếu tố từ môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, … tác động tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố môi trường bên ngoài thường tác động tới nhiều doanh nghiệp khác nhau, có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với các doanh nghiệp Khác với các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, các yếu tố môi trường bên trong doanh nghiệp thường tác động trực tiếp và tác động thường xuyên tới quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Nhân tố ảnh hưởng có thể phân loại như sau:
- Theo tính chất tác động của các nhân tố, nhân tố ảnh hưởng chia ra 2 loại: (1) Nhân
tố khách quan và (2) Nhân tố chủ quan
Nhân tố khách quan là nhân tố tác động không phụ thuộc và ý muốn chủ quan của doanh nghiệp Ví dụ: Thiên tai, thời tiết, khí hậu, chính sách kinh tế của nhà nước (Thuế, thuế TNDT…), khủng bố… ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài ý muốn chủ quan của doanh nghiệp Ngược lại, nhân tố chủ quan là nhân tố tác động xuất phát từ điều kiện hoặc ý muốn chủ quan của doanh nghiệp Ví dụ doanh nghiệp có đội ngũ lãnh đạo năng động, sáng tạo với nhiều quyết định quản trị doanh nghiệp đúng đắn hay có đội ngũ công nhân có tay nghề cao, được đào tạo bài bản, …là những nhân tố chủ quan có tác động tích cực tới quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Theo nguồn gốc của các nhân tố, nhân tố ảnh hưởng chia ra 2 loại :(1) Nhân tố bên
Trang 14Thông thường, nhân tố bên ngoài tác động vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách khách quan và doanh nghiệp ít có thậm chí không có khả năng tác động làm thay đổi các nhân tố bên ngoài Ví dụ: Chính sách thuế của Chính phủ hay thiên tai, dịch họa, … tác động tiêu cực tới doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp rất khó
có biện pháp tác động làm thay đổi những sự ảnh hưởng tiêu cực ấy đối với doanh nghiệp
Nhân tố bên trong là những yếu tố nội tại của doanh nghiệp tác động vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực, tác động thường xuyên hoặc tạm thời, tác động mạnh hoặc yếu tới quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khác với các nhân tố bên ngoài, doanh nghiệp có nhiều khả năng tác động vào các nhân tố bên trong doanh nghiệp nhằm làm thay đổi chúng theo hướng có lợi đối với doanh nghiệp
Theo mức độ tác động của các nhân tố, nhân tố ảnh hưởng chia ra 2 loại: (1) Nhân tố chủ yếu và (2) Nhân tố thứ yếu
Nhân tố chủ yếu là nhân tố tác động với mức độ mạnh, đáng kể tới sự biến động của CTPT Nhân tố thứ yếu là nhân tố tác động với mức độ nhỏ, không đáng kể Thông qua việc đo lường (lượng hóa) mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng bằng các phương pháp phân tích khoa học có thể xác định được nhân tố ảnh hưởng chủ yếu và thứ yếu Trong quản trị doanh nghiệp, lãnh đạo doanh nghiệp thường quan tâm đặc biệt đến các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu và tìm các biện pháp phù hợp và khả thi tác động vào chúng, giúp doanh nghiệp nâng cao kết quả và hiệu quả hoạt động kinh tế Theo vai trò tác động của các nhân tố, nhân tố ảnh hưởng chia ra 2 loại: (1) Nhân tố tích cực và (2) Nhân tố tiêu cực
Nhân tố tích cực là những nhân tố tác động theo chiều hướng có lợi đối với doanh nghiệp Ví dụ: Tay nghề cao của công nhân sản xuất, trình độ quản lý cao của lãnh đạo doanh nghiệp, máy móc thiết bị sản xuất hiện đại được doanh nghiệp đầu tư, thời tiết thuận hòa, … là những nhân tố tác động tích cực tới quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ngược lại với nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực là các nhân tố tác động theo hướng bất lợi đối với doanh nghiệp Ví dụ: Lãnh đạo doanh nghiệp trình độ tổ chức quản lý kém cỏi, quan niêu, hách dịch, …; công nhân sản xuất trình độ tay nghề thấp, ý thức tổ
Trang 15chức luật kém, … là nhũng nhân tố tác động tiêu cực tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Theo tần suất xuất hiện của các nhân tố, nhân tố ảnh hưởng được chia ra 2 loại: (1) Nhân tố thường xuyên và (2) Nhân tố tạm thời
Nhân tố thường xuyên là nhân tố tác động hàng ngày ,hàng giờ tới quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Ví dụ: Trình độ tổ chức quản lý sản xuất của lao động quản lý , điều kiện lao động của công nhân trực tiếp sản xuất, chất lượng đội ngũ công nhân sản xuất,…thường xuyên tác động tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Trong quản trị doanh nghiệp, lãnh đạo doanh nghiệp luôn cần nắm vững các nhân tố ảnh hưởng thường xuyên tới kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để có những quyết định quản lý phù hợp nhằm khuyến khích các nhân tố tác động tích cực và kìm hãm sự tác động của các nhân tố tiêu cực, tạo ra những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp phát triển một cách vững chắc
Nhân tố tạm thời là nhân tố ít tác động hay tác động nhất thời tới quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ: Lũ lụt, động đất…
Ngoài các tiêu chí làm căn cứ phân loại nhân tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh daonh của doanh nghiệp nêu trên còn có những tiêu trí khác có thể sử dụng để phân loại nhân tố ảnh hưởng như: nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, ảnh hưởng gián tiếp, nhân tố ảnh hưởng ngắn hạn, ảnh hưởng dài hạn, nhân tố nước ngoài, nhân tố trong nước …
Lượng hóa mức độ ảnh hưởng là sự đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh
hưởng gây ra sự biến động chỉ tiêu phân tích kỳ phân tích so với kỳ gốc bằng các phương pháp khoa học và phù hợp Có nhiều phương pháp kỹ thuật phân tích cho phép
sử dụng để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng như: Phương pháp Thay thế liên hoàn, Phương pháp Số chênh lệch hay phương pháp Liên hệ thuận nghịch sẽ được trình bày ở chương 2 của giáo trình này
Sau quá trình phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp, những người làm phân tích có
trách nhiệm đề xuất/tư vấn cho lãnh đạo doanh nghiệp ra quyết định thực hiện các biện
pháp khả thi-các biện pháp mà doanh nghiệp có khả năng thực hiện để tác động vào
các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu nhằm cải thiện tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong những kỳ kinh doanh tiếp theo
Trang 161.2 Vai trò và đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
1.2.1 Vai trò của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với quá trình ra quyết định quản trị doanh nghiệp của lãnh đạo doanh nghiệp:
Thứ nhất, kết quả phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là cơ sở quan trọng đề đưa
ra các quyết định quản trị doanh nghiệp đúng đắn
Các nhà quản trị doanh nghiệp trong quá trình quản lý doanh nghiệp, luôn phải đưa ra những quyết định quản lý kịp thời và đúng đắn nhằm dẫn dắt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra
Các nhà quản trị doanh nghiệp có thể dựa trên nhiều cơ sở khác nhau để đưa ra những quyết định của mình nhưng một trong những cơ sở quan trọng nhất, khách quan nhất
và khoa học nhất là kết quả phân tích hoạt động kinh té doanh nghiệp được thực hiện theo những phương pháp phân tích khoa học và trên cơ sở dữ liệu thực tế đủ độ tin cậy
Thứ hai, kết quả phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là cơ sở quan trọng cho việc hoạch định đúng đắn kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
Kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ khả thi khi nó được hoạch định sát đúng với tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ điểm nhìn này, kết quả phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp sẽ tạo nên cơ sở khoa học và thực tiễn chắc chắn cho quá trình hoạch định kế hoach sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.Kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thiết lập một cách khoa học dựa trên kết quả phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là căn cứ quan trọng của việc đánh giá khách quan kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Thứ ba, kết quả phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn và thực thi các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp theo những phương pháp khoa học cho phép chỉ ra chính xác các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đã tác động gây nên sự biến động kết quả hoạt dộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp so với kế hoạch hoặc so với kỳ
Trang 17trước mà doanh nghiệp có thể tác động làm thay đổi chúng theo hướng có lợi đối với doanh nghiệp Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và thực thi các giải pháp phù hợp nhằm tác động tích cực và các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu nhằm cải thiện quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2 Đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
Để thực hiện các mục tiêu phân tích đề ra, phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp, tập trung vào hai đối tượng chính, đó là : (1) Mức biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích so với kỳ gốc và (2) Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã tác động gây ra
sự biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Nhằm đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ phân tích, người làm phân tích thường dựa trên các thông tin kế toán,thống kê của doanh nghiệp
để xác định mức biến đổi ( tuyệt đối và tương đối) kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích so với kỳ gốc, từ đó đánh giá khái quát sự tăng ( giảm) kết quả
sản xuất kinh doanh đạt được so với kế hoạch hay so với kết quả sản xuất kinh doanh đạt được kỳ trước
Như trên đã trình bày, thực chất của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là phân tích các chỉ tiêu kinh tế, vì thế đối tượng quan trọng của phân tích hoạt động kinh
tế doanh nghiệp là mức biến động của các chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng gây ra sự biến biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích so với kỳ gốc luôn cần thiết quan tâm phân tích
vì qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng người làm phân tích có cơ sở thực tiễn khác quan vững chắc để xác định các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu , từ đó nghiên cứu đề xuất cho lãnh đạo doanh nghiệp các giải pháp khả thi tác động vào các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu nhằm cải thiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Từ điểm nhìn này, các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã tác động gây nên sự biến động các chỉ tiêu kinh tế doanh nghiệp được coi là đối tượng quan trọng của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
Trang 18Bằng những phương pháp phân tích khoa học phù hợp , các nhà phân tích luôn chú ý
đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đề ra có thể xác định đúng đắn các nhân
tố ảnh hưởng chủ yếu đã tác động gây ra sự biến động của các chỉ tiêu phân tích kỳ phân tích so với kỳ gốc
Mức biến động ( tuyệt đối và tương đối) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với kỳ gốc được xem là đối tượng phân tích cần được xác định khi áp dụng các phương pháp kỹ thuật phân tích nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động gây ra sự biến động của chỉ tiêu phân tích.Vấn đề này được trình bày cụ thể ở chương 2 của giáo trình khi nghiên cứ phương pháp loại trừ
1.3 Phân loại phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau và được phân loại theo nhiều cách khác nhau, trong đó có hai cách phân loại đáng lưu ý là (1) phân loại theo thời điểm tiến hành công tác phân tích và (2) phân loại theo quy mô phân tích
(1) Phân loại phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp căn cứ vào thời điểm tiến hành phân tích
Theo cách phân loại này,phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp được chia ra 3 loại: (i) Phân tích trước, (ii) Phân tích hiện hành (hay phân tích tác nghiệp) và (iii) Phân tích sau
- Phân tích trước được hiểu là phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp trước khi hoạt
động kinh tế diễn ra Theo đó, phân tích trước có thể kể đến như phân tích dự án đầu
tư đầu tư của doanh nghiệp, phân tích các phương án chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh,…
- Phân tích hiện hành (còn gọi là phân tích tác nghiệp) được hiểu là việc phân tích
hoạt động kinh tế doanh nghiệp trong thời kỳ hoạt động kinh tế đang diễn ra Mục đích chính của phân tích hiện hành là nhằm phát hiện kịp thời các trục trặc (nếu có) trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để có những biện pháp khắc phục ngay giúp giảm thiểu sự ngưng trệ quá trình sản xuất kinh doanh do các nguyên nhân bất thường gây ra
Trên thực tế, phân tích hiện hành được thực hiện dưới hình thức “họp giao ban” định
kỳ hoặc đột xuất tại các doanh nghiệp Giao ban với sự tham gia của các cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp và các đội sản xuất thường được tiến hành định kỳ hàng tuần tại các doanh nghiệp Hoạt động giao ban được thực hiện định kỳ nhằm kịp thời phát hiện
Trang 19những trục trặc phát sinh trong quá trình sản xuất ( nếu có ) và ra quyết định kịp thời những biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục và thuận lợi
Ngoài giao ban định kỳ, các doanh nghiệp còn tiến hành các cuộc giao ban đột xuất khi quá trình sản xuất kinh doanh nghiệp có trục trặc hoặc sự cố làm quá trình sản xuất kinh doanh ngưng trệ
- Phân tích sau được hiểu là phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp được tiến hành
sau kỳ hoạt động kinh tế đã diễn ra Thực chất của phân tích sau là đánh giá lại tình hình hoạt đông kinh tế của doanh nghiệp trong quá khứ dựa vào số liệu kế toán, thống
kê, kế hoạch của doanh nghiệp qua đó rút kinh nghiệm để quản lý tốt hơn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai
Do loại phân tích trước đã được các giáo trình khác đề cập như giáo trình Kinh tế xây dựng, Kinh tế đầu tư, giáo trình Chiến lược và kế hoạch hóa sản xuất,…; mặt khác phân tích hiện hành cũng đã có nhiều tài liệu bồi dưỡng ngắn hạn đề cập tới nên Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp xây dựng này không đề cập sâu các loại phân tích trước và phân tích hiện hành mà tập trung đề cập đến các phân tích sau
(2) Phân loại phân tích hoạt động kinh tế căn cứ vào quy mô phân tích
Theo cách phân loại này, phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp chia làm 2 loại : (i) Phân tích tổng hợp và (ii) Phân tích chuyên đề
Phân tích tổng hợp được hiểu là phân tích tất cả các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trong 1 thời kỳ nhất định
Ưu điểm của phân tích tổng hợp là có thể hình dung được bức tranh toàn cảnh về hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ phân tích, cho phép đánh giá mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp để chỉ ra 1 cách cụ thể sự đóng góp của từng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh vào kết quả và hiệu quả chung của toàn doanh nghiệp đạt được trong kỳ phân tích Trên cơ sở kết quả phân tích tổng hợp, các nhà hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh có thể xác định được chính xác những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó kết hợp với việc phân tích những cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp có thể so sánh lựa chọn phương án chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp hoặc thay đổi chiến lược hiện có một cách thuận lợi
Trang 20Phân tích tổng hợp là sự phân tích toàn diện các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên quy mô phân tích rất lớn ,đòi hỏi số lượng người tham gia phân tích không nhỏ và chi phí phục vụ cho việc phân tích có thể rất lớn
Vì thế, thường các doanh nghiệp rất hạn chế tiến hành phân tích tổng hợp mặc dù qua phân tích tổng hợp có thể đánh giá một cách toàn diện tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Thường sau những thời kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh khá dài (5 năm, 10 năm) doanh nghiệp mới tổ chức phân tích tổng hợp
- Phân tích chuyên đề được hiểu là phân tích một hoặc một số hoạt động kinh tế được
lựa chọn của doanh nghiệp Các chuyên đề phân tích được lựa chọn thường là những vấn đề nổi bật trong từng thời kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc những vấn đề được doanh nghiệp thường xuyên quan tâm như kết quả sản xuất, chất lượng sản phẩm sản xuất,kết quả tiêu thụ sản phẩm, kết quả kinh doanh, giá thành sản xuất sản phẩm, tình hình tài chính doanh nghiệp,…
Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp xây dựng này không đi sâu vào phân tích tổng hợp mà tập trung vào loại phân tích chuyên đề, trong đó đề cập tới nội dung và phương pháp phân tích những vấn đề mà doanh nghiệp xây dựng thường quan tâm như phân tích tình hình thực hiện khối lượng công tác xây lắp ,tình hỉnh sử dụng các yếu tố sản xuất (lao động thi công xây dựng,máy móc thiết bị thi công ,vật liệu xây dựng), phân tích giá thành công trình xây dựng hoàn thành,phân tích tình hình lợi nhuận và tình hình tài chính doanh nghiệp
1.4 Tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp
Để công tác phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp được tiến hành một cách thuận lợi, thực hiện đúng mục đích phân tích đề ra đảm bảo tính chính xác, khách quan của kết quả phân tích và tiết kiệm chi phí phân tích nhằm phục vụ có hiệu quả cho quá trình ra quyết định quản trị doanh nghiệp của lãnh đạo doanh nghiệp đòi hỏi công tác phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp phải được tổ chức khoa học
Tùy theo quy mô và đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp có thể tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp một cách khác nhau Tuy nhiên, có thể tham khảo quy trình ba bước khác sau trong quá trình cụ thể hóa việc tổ chức phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp:
Bước 1: Lập kế hoạch phân tích
Trang 21Bước lập kế hoạch phân tích là bước đầu tiên không thể thiếu khi tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của kết quả phân tích, đến thời gian cần thiết cho công tác phân tích, đến việc huy động nhân lực tham gia công tác phân tích và đến chi tiêu tài chính phục vụ công tác phân tích
Vì theo yêu cầu và mục đích phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp được ban lãnh đạo doanh nghiệp đề ra, doanh nghiệp cần cử một người có trách nhiệm và năng lực phù hợp làm Trưởng nhóm phân tích và người này có trách nhiệm khởi thảo một bạn
kế hoạch phân tích, thiết lập các bộ phận và cá nhân tham gia nhóm phân tích trình lãnh đạo doanh nghiệp phê chuẩn đề thảo luận nhằm hoàn thiện kế hoạch phân tích, tạo ra cơ sở triển khai công tác phân tích ở những bước tiếp theo
Một kế hoạch phân tích được lập phải bao gồm những nội dung chính sau:
- Mục đích phân tích, các kết quả cần đạt được;
- Nội dung phân tích và các phương pháp phân tích dự kiến được sử dụng;
- Cơ sở dữ liệu cần thiết phục vụ cho việc phân tích ( số liệu hạch toán, số liệu báo cáo, thống kê, biên bản nghiệm thu, chững từ , hóa đơn, số liệu kế hoạch, định mức, tiêu chuẩn,…), xác định phương thức thu nhập và xử lý dữ liệu;
- Phân công các bộ phận, cá nhân có trách nghiệm cung cấp dữ liệu, các bộ phận, cá nhân tham gia công tác thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu và phân tích dữ liệu sau xử lý;
- Các bộ phận cá nhân cần được cung cấp kết quả phân tích lịch trình thời gian cung cấp;
- Lập kế hoạch tiến độ thời gian phân tích dưới dạng biểu đồ ngang Xác định ngân sách cần thiết phục vụ công tác phân tích Kế hoạch phân tích do trưởng nhóm phân tích khởi thảo cần được thảo luận trong nhóm phân tích để hoàn thiện và trình lãnh đạo doanh nghiệp phê chuẩn
Bước 2: Thực hiện kế hoạch phân tích đã được phê chuẩn
Kế hoạch phân tích được thiết lập phải được người đứng đầu doanh nghiệp phê chuẩn trước khi thực hiện Tổ chức thực hiện kế hoạch phân tích đã được phê chuẩn gồm những công việc chính sau đây:
- Tổ chức thu thập đầy đủ những dữ liệu cần thiết cho việc phân tích đã được xác ở bước lập kế hoạch phân tích Trách nhiệm thu thập dữ liệu đã được phân công cụ thể cho các bộ phận, cá nhân tham gia;
Trang 22- Kiểm tra tính đầy đủ của các dữ liệu thu thập được, trong trường hợp cần thiết cần tổ chức thu thập dữ liệu bổ sung, thậm trí tổ chức điều tra phỏng vẫn trực tiếp để bổ sung
- Lựa chọn áp dụng các phương pháp kỹ thuật phân tích phù hợp để phân tích tình hình
và kết quả hoạt động kinh tế doanh nghiệp theo các nội dung phân tích với các chỉ tiêu phân tích đã được xác định;
- Tổ chức trao đổi nhanh các kết quả phân tích đã đạt được cũng như những dự kiến về các giải pháp đề xuất cho ban lãnh đạo doanh nghiệp trong nội bộ nhóm phân tích để phát hiện và sửa chữa bộ sung nhằm khắc phục những điểm bất hợp lý ( nếu có)
Bước 3 : Chuẩn bị Báo cáo phân tích và trình bày trước ban lãnh đạo doanh nghiệp
và những người tham dự hội nghị phân tích:
Sau khi hoàn thành kế hoạch phân tích hoạt động kinh tế đã được lập ra, trưởng nhóm phân tích có trách nhiệm lập dự thảo Báo cáo phân tích theo những nội dung phân tích
dã được xác định và đã được điều chỉnh trong quá trình phân tích (nếu có)
Dự thảo Báo cáo phân tích phải được thảo luận và thống nhất trong nhóm phân tích nhằm đảm bảo chất lượng của Báo cáo phân tích gửi tới ban lãnh đạo doanh nghiệp Tùy theo mục đích và quy mô phân tích, doanh nghiệp có thể tổ chức Hội nghị phân tích với sự tham gia của lãnh đạo doanh nghiệp và những người có liên quan tham dự
để nghe trưởng nhóm phân tích báo cáo kết quả phân tích
Báo cáo phân tích được hoàn chỉnh sau hội nghị phân tích là văn bản quan trọng giúp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp tham khảo trong quá trình ra các quyết định quản trị doanh nghiệp
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Các doanh nghiệp trong nền kinh tế tiến hành rất nhiều hoạt động khác nhau, trong đó phần lớn các hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm vào mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận được hiểu là hoạt động kinh tế của doanh nghiệp
Trang 23Để giúp lãnh đạo doanh nghiệp có thể nắm bắt được những sai khác giữa kết quả hoạt động kinh tế đạt được so với kế hoạch đề ra trong một thời kỳ nhất định hoặc sai khác
về kết quả hoạt động kinh tế đạt được của thời kỳ này so với kết quả đạt được ở thời
kỳ trước, trên cơ sở đó có những quyết định quản lý doanh nghiệp đúng đắn nhằm điều chỉnh phù hợp mục tiêu hoạt đọng kinh tế của doanh nghiệp tương lai đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức thực hiện công tác phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp một cách thường xuyên, liên tục trước, trong và sau những thời kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nhất định
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là việc xem xét, đánh giá một cách khách quan tình hình quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ phân tích (tháng, quý, năm, …), nhằm: (1) Phát hiện và đo lường sự biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ phân tích so với kỳ gốc, (2) Xác định các nhân tố ảnh hưởng và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng và chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đã tác động gây nên sự biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp so với kỳ gốc, (3) Đề xuất cho lãnh đạo doanh nghiệp những biện pháp khả thi nhằm cải thiện tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với quá trình ra quyết định quản trị doanh nghiệp của lãnh đạo doanh nghiệp
Để thực hiện được các mục đích phân tích đề ra, phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp tập trung vào hai đối tượng chính, đó là: (1) Mức kinh biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích so với kỳ gốc và (2) Các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã tác động gây nên sự biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau và được phân loại theo nhiều cách khác nhau, trong đó hai cách phân loại đáng lưu ý là (1) phân loại theo thời điểm tiến hành công tác phân tích và (2) phân loại theo mô phân tích
Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp xây dựng tập trung đề cập đến loại phân tích sau và phân tích chuyên đề
Tùy theo quy mô và đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp có thể tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp một cách khác nhau
Trang 24Thông thường việc tổ chức phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp được thực hiện theo 3 bước: (1) Lập kế hoạch phân tích, (2) Thực hiện kế hoạch phân tích và (3) Báo cáo kết quả phân tích Trong đó bước lập kế hoạch phân tích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chất lượng của công tác phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp
Trang 25CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
Câu 1: Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là gì?
Câu 2: Vai trò của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp đối với công tác quản lý doanh nghiệp?
Câu 3: Đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp?
Câu 4: Phân biệt các loại phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp: Phân tích tổng hợp; Phân tích chuyên đề; Phân tích trước; Phân tích hiện hành; Phân tích sau
Câu 5: Quy trình tổ chức công tác phân tích hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp?
Trang 26BÀI TẬP CHƯƠNG 1
Bài 1 Trả lời “đúng” hay “sai” hoặc “không chắc chắn” và giải thích ngắn gọn (Trả lời
“ đúng” khi không thể chỉ ra trường hợp sai; trả lời “sai” khi không thể chỉ ra tường hợp đúng; trả lời “không chắc chắn” khi chỉ ra được trường hợp đúng và trường hợp sai):
(1) Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là quá trình hoạch định chiến lược hoạch định kinh doanh của doanh nghiệp
(2) Nhân tố ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp là những yếu tố liên quan đến con người tác động tới kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (3) Việc lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động gây ra sự biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích so với kỳ gốc là việc làm không cần thiết
(4) Nhân tố khách quan là nhân tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phát hiện bởi người bên ngoài doanh nghiệp
(5) Nhân tố tiêu cực là nhân tố ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp có liên quan đến những hành vi tiêu cực
(6) Nhân tố chủ yếu là nhân tố chứa đựng yếu tố chủ quan của con người tác động vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
(7) Kỳ phân tích là khoảng thời gian cần thiết để hoàn thành các nội dung phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp đã được xác định trong kế hoạch phân tích của doanh nghiệp
(8) Phân tích sau là việc phân tích bổ sung sau khi tiếp thu ý kiến đóng góp của ban lãnh đạo doanh nghiệp nhằm hoàn thiện báo cáo phân tích
(9) Phân tích hiện hành là việc phân tích tình hình thực hiện các quy định pháp luật hiện hành trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
(10) Phân tích trước là việc phân tích các hoat động kinh tế của doanh nghiệp diễn ra ở thời kỳ trước của kỳ phân tích
Bài 2 Chọn các phương án trả lời đúng cho mỗi câu sau (mỗi câu có thể có 1 hoặc nhiều phương án trả lời đúng):
(1) Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp nhằm mục đích:
a Đánh giá khách quan tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Trang 27b Che dấu những khiếm khuyết của hoạt động quản trị doanh nghiệp
c Hợp thức hóa các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
d Chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đã tác động gây nên sự biến động kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích so với kỳ gốc
e Chỉ ra những quan điểm mạnh, điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp
(2) Nhân tố ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là:
a Những yếu tố ảnh hưởng mà doanh nghiệp không lường trước được
b Những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
c Những yếu tố ảnh hưởng mà doanh nghiệp không có khả năng tác động làm thay đổi
nó
d Những yếu tố ảnh hưởng theo hướng bất lợi đối với doanh nghiệp
e Những yếu tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu cực trong doanh nghiệp
(3) Hoat động kinh tế của doanh nghiệp là những hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục tiêu:
a Cải thiện môi trường sinh thái
b Xóa đói giảm nghèo
c Tìm kiếm lợi nhuận
d Phát triển sản xuất kinh doanh
e Tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Trang 28CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ DOANH NGHIỆP 2.1 Tổng quan về phương pháp phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
Để có thể cung cấp cho lãnh đạo doanh nghiệp những thông tin cần thiết, đảm bảo tính đúng đắn và khách quan sau phân tích về tình hình và kết quả hoạt động sản suất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi người làm phân tích phải có khả năng lưạ chọn và áp dụng các phương pháp phân tích phù hợp trong trường hợp cụ thể
Phương pháp phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là cách thức phân tích có cơ sở khoa học, thực tiễn và khách quan quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
Một cách tổng quát có thể chia phương pháp phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp thành hai nhóm phương pháp: (1) Nhóm các nguyên tắc chung (phương pháp phân tích chung) và (2) Nhóm Phương pháp kỹ thuật phân tích
Nhóm các nguyên tắc chung (còn gọi là phương pháp phân tích chung) chứa đựng các
nguyên tắc chung cần được quán triệt khi tiến hành phân tích tất cả các hoạt động kinh
tế của doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính khách quan và chính xác của các kết quả phân tích
Nhóm phương pháp kỹ thuật phân tích bao gồm các phương pháp phân tích được sử
dụng với những kỹ thuật khác nhau, áp dụng cho từng mục đích phân tích phù hợp Mỗi phương pháp kỹ thuật phân tích thường chỉ có thể sử dụng để đạt được một mục đích phân tích nhất định
Trên thực tế người ta thường đưa vào tác dụng của từng phương pháp kỹ thuật phân tích để lựa chọn sử dụng phương pháp đáp ứng được mục tiêu đề ra Ví dụ:
- Với mục đích phân tích khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích so với kỳ gốc, người ta chọn sử dụng phương pháp so sánh
- Với mục đích đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố gây ra sự biến động của một chỉ tiêu phân tích, người ta sử dụng phương pháp loại trừ (phương pháp Thay thế liên hoàn, phương pháp Số chênh lệch hai phương pháp Liên hệ thuận nghịch)
- Với mục đích mô tả trực quan kết quả hoạt động kinh tế theo cơ cấu tỷ trọng hoặc xu hướng phát triển của một chỉ tiêu kinh tế, người ta có thể chọn sử dụng phương pháp biểu đồ hoặc phương pháp đồ thị
Trang 29- Để phân tích chỉ chi tiết một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp theo những khía cạnh khác nhau người ta chọn sử dụng kết hợp phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích với các phương pháp phân tích khác như những phương pháp so sánh phương pháp loại trừ
- Với mục đích dự báo tương lai từ việc phân tích các dữ liệu quan trắc quá khứ người
ta có thể chọn sử dụng phương pháp phân tích hồi quy hay mô hình dự báo khác Điều cần lưu ý rằng trong nhiều trường hợp người ta không chỉ chọn sử dụng phương pháp kỹ thuật phân tích và chọn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm làm cho kết quả phân tích được toàn diện và sâu sắc
2.2 Các nguyên tắc chung của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
Như đã nói trên, để đảm bảo tính chính xác và khách quan của các kết quả phân tích, khi phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp cần quán triệt các nguyên tắc chung đã được thiết lập, chí ít cần đảm bảo 4 nguyên tắc chung sau đây:
Nguyên tắc thứ nhất: khi phân tích hoạt động kinh tế phải lấy mục tiêu kế hoạch đề ra
của doanh nghiệp hoặc (và) kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế đạt được của doanh nghiệp ở kỳ gốc làm cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở kỳ phân tích
Nguyên tắc thứ nhất được đề ra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi đưa ra những đánh giá về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ phân tích Người ta không thể đánh giá được lợi nhuận ròng 12 tỷ đồng của một doanh nghiệp đạt được trong năm phân tích là 1 kết quả kinh doanh tốt hay không Nếu không so sánh với chỉ tiêu kế hoạch về lợi nhuận ròng được doanh nghiệp đề ra cho năm phân tích Rõ ràng nếu lợi nhuận ròng kế hoạch là 10 tỷ đồng thì kết quả đạt được 12 tỷ đồng là một kết quả rất đáng mừng vì doanh nghiệp đã hoàn toàn vượt mức kế hoạch chỉ tiêu lợi nhuận ròng; ngược lại nếu kế hoạch lại nhận rằng đề ra cho năm phân tích
là 15 tỷ đồng thì kế hoạch đạt được 12 tỷ đồng là chưa đạt yêu cầu
Nguyên tắc thứ hai: Khi phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp luôn cần phân tích
khái quát (hay còn gọi là phân tích chung) và phân tích chi tiết tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo nhiều khía cạnh khác nhau nhưng bao giờ cũng bắt đầu từ phân tích khái quát mà không làm ngược lại
Nguyên tắc này được đề ra nhằm đảm bảo cho kết quả phân tích được khách quan bởi
vì sự cần thiết phân tích chi tiết trong nhiều trường hợp trở nên rất quan trọng từ điểm
Trang 30nhìn kết quả phân tích khái quát Qua phân tích khái quát, trường hợp nhận thấy việc phân tích chi tiết không thật cần thiết thì có thể dừng lại ở đánh giá khái quát tình hình nhằm tiết kiệm chi phí phân tích
Nguyên tắc thứ ba: Không phân tích các hoạt động kinh tế doanh nghiệp một cách cô
lầm mà cần phân tích trong mối liên hệ với các hoạt động kinh tế khác của doanh nghiệp cũng như trong mối liên hệ với môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Việc quán triệt nguyên tắc này trong quá trình phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là vô cùng cần thiết bởi vì mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều có mối liên hệ với môi trường kinh doanh và liên hệ với các hoạt động kinh tế khác của doanh nghiệp
Người ta không thể đánh giá khách quan kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nếu không nhìn nhận kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở từng thời kỳ trong mối liên hệ với sự phát triển kinh tế xã hội, tình hình biến động chính trị, kinh tế xã hội trong khu vực và trên thế giới, tình hình kinh tế xã hội trong nước và những thuận lợi, khó khăn chung của ngành
Người ta không thể đánh giá chính xác và đúng đắn tình hình sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp nếu tách rời mối quan hệ giữa việc sử dụng yếu tố sản xuất với kết quả sản xuất đạt được của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp luôn thay đổi và có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, việc phân tích kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các yếu tố môi trường kinh doanh (bên ngoài và bên trong doanh nghiệp) cho phép đánh giá khách quan hơn kết quả sản xuất kinh doanh đạt được của doanh nghiệp trong thời kỳ phân tích
Nguyên tắc thứ tư: Không phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp trong trạng thái
tĩnh mà cần phân tích trong trạng thái vận động và phát triển
Các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp diễn ra rất đa dạng và luôn biến động, vì thế đòi hỏi việc nhìn nhận, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng phải có “quan điểm động” nghĩa là luôn cần nhìn nhận các quá trình hoạt động kinh tế của doanh nghiệp theo một tiến trình phát triển, luôn cần so sánh kết quả đạt được của kỳ phân tích với kết quả đạt được của doanh nghiệp ở kỳ trước để có thể nhìn nhận được xu hướng phát triển của kết quả từ đó có những đánh giá khách quan
Trang 31Rất dễ sai lầm trong nhận định đánh giá về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nếu phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp ở trạng thái tĩnh Các nguyên tắc chung của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp phải được quán triệt khi phân tích tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì thế chúng được xem là phương pháp chung của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp
2.3 Phương pháp kỹ thuật phân tích
Khác với phương pháp chung, phương pháp kỹ thuật phân tích là phương pháp phân tích phục vụ cho những mục đích phân tích nhất định
Có nhiều phương pháp kỹ thuật phân tích khác nhau được sử dụng trong phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp Cùng với việc quán chuyện các nguyên tắc chung của phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp nêu trên, người làm phân tích cần có những
am hiểu cần thiết về các phương pháp kỹ thuật phân tích, trong đó hiểu rõ tác dụng, điều kiện áp dụng và kỹ thuật thực hành của từng phương pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc lựa chọn và áp dụng đúng phương pháp kỹ thuật phân tích đối với từng trường hợp cụ thể Điều cần nhấn mạnh là các phương pháp kỹ thuật phân tích thường được sử dụng kết hợp với nhau trong quá trình phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp và vì mỗi phương pháp chỉ giúp cho người làm phân tích thực hiện được những mục đích phân tích nhất định
Có thể chia các phương pháp kỹ thuật phân tích cảnh tàu phương pháp/nhóm phương pháp: (1) phương pháp so sánh, (2) phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích, (3) phương pháp loại trừ, (4) phương pháp phân tích hồi quy và tương quan, (5) phương pháp phân tích Dupont và (6) các phương pháp phân tích khác Tùy theo yêu cầu phân tích đất ra người làm phân tích sẽ lựa chọn sử dụng những phương pháp kỹ thuật phân tích phù hợp hoặc kết hợp sử dụng nhiều phương pháp kỹ thuật phân tích khác nhau Trong các phương pháp kỹ thuật phân tích có 3 phương pháp/nhóm phương pháp thường dùng trong thực tế Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp, bao gồm: phương pháp so sánh, phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích và phương pháp loại trừ Trong các phương pháp kỹ thuật phân tích thường dùng, phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất Có thể nói không có cuộc phân tích nào mà phương pháp
so sánh không được sử dụng
Trang 322.3.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp phân tích được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp Phương pháp so sánh được sử dụng trong hầu hết các cuộc phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp vì trong các cuộc phân tích người ta luôn cần sự đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế kỳ phân tích so với kỳ gốc
Trong phân tích chi tiết, phương pháp so sánh cũng được sử dụng kết hợp với các phương pháp kỹ thuật phân tích khác giúp người làm phân tích có thể đưa ra những nhận định sắp đánh trong kết quả phân tích
(2) Điều kiện áp dụng phương pháp so sánh:
Để đảm bảo kết quả so sánh khách quan và đúng đắn, khi áp dụng phương pháp so sánh cần thỏa mãn một số điều kiện cơ bản sau: (i) Độ dài của kỳ phân tích và kỳ gốc phải giống nhau, (ii) Chỉ tiêu kinh tế của kỳ phân tích và chỉ tiêu kinh tế của kỳ gốc phải có cùng nội dung kinh tế và cùng phương pháp tính và (iii) Điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kỳ phân tích và kỳ gốc phải tương tự nhau
Đáp ứng các điều kiện nêu trên khi áp dụng phương pháp so sánh nhằm đảm bảo tính
có thể so sánh được của các chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nghĩa là đảm bảo tính đúng đắn của các kết quả so sánh Cũng cần chú ý rằng ngoài ba điều kiện nêu trên, tùy từng trường hợp cụ thể bổ sung thêm những điều kiện khác Nếu xét thấy cần thiết để đảm bảo tính khách quan của kết quả so sánh
Bước 1: xác định chỉ tiêu phân tích cần so sánh kỳ phân tích và kỳ gốc, giá trị của chỉ
tiêu phân tích ở kỳ phân tích và kỳ gốc
- Một cách tổng quát Giả sử chỉ tiêu phân tích cần So sánh xác định được là chỉ tiêu X (chỉ tiêu X là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp được lựa chọn để phân tích)
- Kỳ phân tích được gọi là ký (1), kỳ gốc được gọi là kỳ (0)
- Giá trị kỳ phân tích của X được xác định X1; giá trị kỳ gốc của X là X0
Trang 33Bước 2: So sánh không điều chỉnh gốc (còn gọi là so sánh giản đơn hay so sánh trực
tiếp)
- So sánh trực tiếp X1 với X0 để xác định mức biến động tuyệt đối của X:
X = X1 - X0 và mức biến động tương đối bằng % của X:
𝛿𝑋(%) =𝑋1− 𝑋0
𝑋0 𝑥100 Đánh giá khái quát chiều hướng và mức độ tăng (giảm) của X kỳ phân tích so với kỳ gốc trên cơ sở mức biến động của X xác định được, chẳng hạn như không âm mà X (𝛿X) >0 thì chứng tỏ X tăng so với kỳ gốc và ngược lại nếu X (𝛿X) <0 thì chứng tỏ
X giảm so với kỳ gốc
So sánh không điều chỉnh gốc tuy đơn giản nhưng cần chú ý rằng kết quả so sánh chưa cho biết sự biến động của chỉ tiêu phân tích X so với kỳ gốc là có lợi hay bất lợi đối với doanh nghiệp Muốn đánh giá được điều này cần tiếp tục so sánh trong mối liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế khác của doanh nghiệp nghĩa là so sánh có điều chỉnh gốc
Bước 3: So sánh có điều chỉnh gốc (còn gọi là so sánh trong mối liên hệ)
Để thực hiện bước 3 đúng kỹ thuật cần thiết chia bước 3 thành 3 bước nhỏ (3.1, 3.2 và 3.3) và tiến hành từng bước nhỏ sau:
(3.1) Điều chỉnh giá trị gốc so sánh X0 theo một chỉ tiêu kinh tế nào đó có liên hệ mật thiết với X để xác định X0 đc:
Để điều chỉnh giá trị X0 cần phân biệt 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Chỉ tiêu phân tích X không phải là chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả sản
xuất hay sản lượng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp (Ký hiệu chung là Q) thì điều chỉnh X0 theo Q bằng công thức:
X0 đc=X0 x𝑄1
Trường hợp 2: chỉ tiêu phân tích X lại chính là chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả sản
xuất hay sản lượng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp (ký hiệu chung là Q) thì không thể điều chỉnh X0 theo Q mà phải điều chỉnh X0 theo K (K là một chỉ tiêu kinh tế khác Q và thông thường là chỉ tiêu phản ánh chi phí yếu tố sản xuất) bằng công thức:
X0 đc=X0 x𝐾1
Trang 34(3.2) So sánh X1 với X0 đc để xác định mức biến động của X so với X0 đc (bao gồm mức biến động tuyệt đối của X là X* và mức biến động tương đối tính bằng % của X là 𝛿X) được xác định như sau:
và: 𝛿X*(%)= 𝑋1−𝑋0
𝑑𝑐
𝑋0𝑑𝑐 𝑥100 (2.4) (3.3) Dựa vào kết quả tình toán xác định X* và 𝛿X* để đánh giá sự biến động của X
so với kỳ gốc là có lợi hay bất lợi với doanh nghiệp:
Bước đánh giá này cũng cần phân biệt theo 2 trường hợp của X như đã nêu ở bước 3.1,
cụ thể là:
- Trường hợp chỉ tiêu phân tích X không phải là chỉ tiêu Q (Trường hợp 1) sẽ được đánh giá như sau: Nếu X*(𝛿X*) > 0 thì chứng tỏ sự biến động của X là bất lợi đối với doanh nghiệp và ngược lại nếu X*(𝛿X*) < 0 thì chứng tỏ sự biến động của X theo hướng có lợi với doanh nghiệp
- Trường hợp chỉ tiêu phân tích X lại chính là chỉ tiêu Q (Trường hợp 2) sẽ được đánh giá như sau: Nếu X*(𝛿X*) > 0 thì chứng tỏ sự biến động của X là có lợi đối với doanh nghiệp và ngược lại nếu X*(𝛿X*) < 0 thì chứng tỏ sự biến động của X theo hướng bất lợi với doanh nghiệp
Ví dụ 2.1: Có số liệu sau của doanh nghiệp
Đơn vị tính: Triệu đồng
1 Giá trị sản xuất hoàn thành trong kỳ 15000 18200
Yêu cầu: Phân tích tình hình sử dụng chi phí sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ phân tích
Bài giải cho ví dụ 2.1:
Áp dụng phương pháp so sánh để phân tích:
- Sử dụng chỉ tiêu phân tích: Chi phí sản xuất trong kỳ (C)
- Gọi kế hoạch là kì (0), thực hiện là kỳ (1)
- Theo số liệu đã cho, ta có:
C0 = 12750 Triệu đồng; C1 = 16380 Triệu đồng
Trang 35- So sánh không điều chỉnh gốc (so sánh giản đơn): So sánh C1 với C0 để xác định mức biến động của C:
C=16380-12750= +3630 Triệu đồng
𝛿SCNXL=(+3630/12750)*100=+28,47%
Kết quả tính toán cho thấy: Kỳ phân tích chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng so với
kế hoạch là 3630 Triệu đồng hay 28,47%
Để có thể đánh giá được tình hình chi phí sản xuất là tiết kiệm hay lãng phí so với kế hoạch cần so sánh chi phí sản xuất (C) trong mối quan hệ với chi phí sản xuất xây lắp (Q) của doanh nghiệp
Các bước tính toán phân tích được tiến hành như sau:
Ví dụ 2.2:
Dựa vào số liệu cho ở ví dụ 2.1 để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chỉ tiêu “Giá trị sản xuất” của doanh nghiệp trong kỳ phân tích
Bài giải cho ví dụ 2.2
Áp dụng phương pháp so sánh để phân tích tương tự như là ví dụ 1:
- Sử dụng CTPT: Giá trị sản xuất (Q)
- Gọi kế hoạch là (0), thực hiện là (1)
- Theo số liệu đã cho ta có Q1 = 18200 Triệu đồng Q0 = 15000 Triệu đồng
- So sánh không điều chỉnh gốc (so sánh giản đơn): So sánh Q1 với Q0 xác định được mức biến động của Q:
Q = 18200-15000 = +3200 Triệu đồng
𝛿Q = +3200/15000*100 = +21,33%
Trang 36Kết quả tính toán cho thấy kỳ phân tích doanh nghiệp đã hoàn thành vượt mức kế hoạch chi tiêu “Giá trị sản xuất” 3200 Triệu đồng hay 21,33%
- So sánh có điều chỉnh gốc: Để có thể đánh giá đúng đắn mức độ hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu “Giá trị sản xuất” của doanh nghiệp trong kỳ phân tích cần tiếp tục so sánh Q trong mối quan hệ với chi phí phí sản xuất (C) của doanh nghiệp
2.3.2 Phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích
Trong quá trình tiến hành phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp, sau khi đánh giá khái quát sự biến động của các chỉ tiêu phân tích tổng hợp, người ta phân tích chi tiết đối tượng phân tích theo những khía cạnh khác nhau Khi đó, người làm phân tích có thể chọn sử dụng phương pháp “Chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích” để trợ giúp hướng phân tích chi tiết
Để áp dụng một cách đúng đắn phương pháp này, đòi hỏi người làm phân tích trước hết cần nắm vững tác dụng, điều kiện áp dụng và nội dung phương pháp
(1) Tác dụng của phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích có thể nhìn thấy từ khả năng định hướng việc phân tích chi tiết một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp theo các khía cạnh khác nhau nhằm hiểu rõ hơn đối tượng phân tích
(2) Điều kiện áp dụng phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích: Vì phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích chỉ có tác dụng định hướng cho việc phân tích chi tiết một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nên phương pháp này không sử dụng độc lập mà luôn phải sử dụng kết hợp với các phương pháp kỹ thuật phân tích khác, đặc biệt là phương pháp so sánh, mới có thể đưa ra các kết quả phân tích
Trang 37(3) Kỹ thuật thực hành (hay nội dung) của phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích: Theo phương pháp này, khi phân tích chi tiết 1 chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, tùy theo tình hình sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp và các số liệu thực tế thu thập được,
có thể phân tích chi tiết theo ba hướng chủ yếu: (1) Phân tích chi tiết theo thời gian, (2) Phân tích chi tiết theo không gian (hay theo địa điểm) và (3) Phân tích chi tiêt theo các yếu tố cá biệt hợp thành
1) Phân tích chi tiết theo thời gian:
Phân tích chi tiết theo thời gian là việc phân tích chi tiết một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đạt được trong một thời kỳ theo các thời đoanụ ngắn hơn trong thời kỳ đó Chẳng hạn, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chỉ tiêu “Giá trị sản xuất” của năm phân tích người ta phân tích chi tiết tình hình thực hiện kế hoạch chỉ tiêu này ở tưng quý hay từng tháng trong năm
Phân tích chi tiết một chỉ tiêu kinh tế theo thời gian giúp cho việc phát hiện những thời đoạn trong kỳ phân tích doanh nghiệp haotj động sản cuất kih doanh thuận lợi hay không thuận lợi
Trong thực tế phân tích gặp rất nhiều trường hợp xem xét tình hình thực hiện kế hoạch
1 chỉ tiêu kinh tế nào đó trong năm thấy doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch nhưng phân tích chi tiết theo các quý cho thấy có những quý không hoàn thành kế hoạch nhưng cũng có những quý hoàn thành vượt mức kế hoạch khá cao Điều này chứng tỏ rằng do nhiều nguyên nhân tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm cho doanh nghiệp không hoàn thành được kế hoạch đề ra ở một số quý đã làm cho kế hoạch cả năm của doanh nghiệp không hoàn thành
2) Phân tích chi tiết theo không gian (hay theo địa điểm)
Phân tích chi tiết theo không gian (hay theo địa điểm) là việc phân tích chi tiết một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của doanh nghiệp theo các khu vực hay các đơn vị sản xuất kinh doanh khác nhau Ví dụ: Sau khi đánh giá khái quát tình hình thực hiện kế hoạch chỉ tiêu giá thành sản xuất sản phẩm của toàn doanh nghiệp, người ta có thể phân tích chi tiết tình hình thực hiện kế hoạch chỉ tiêu này theo từng phân xưởng hay đội sản xuất Phân tích chi tiết theo không gian cho phép phát hiện ra những khu vực, những địa điểm hay những đơn vị sản xuất mà trong kỳ phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
đã diễn ra thuận lợi hay không thuận lợi Ngoài ra, phân tích chi tiết chỉ tiêu phân tích
Trang 38theo không gian còn cho phép đánh giá được mức độ đóng góp vào kết quả chung của doanh nghiệp của các đơn vị sản xuất kinh doanh bộ phận của doanh nghiệp
(3) Phân tích chi tiết theo các yếu tố cá biệt hợp thành
Phân tích chi tiết theo các yếu tố cá biệt hợp thành là hướng phân tích chi tiết được áp dụng đối với các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp được hợp thành bởi nhiều yếu tố cá biệt khác nhau Chẳng hạn chỉ tiêu giá thành sản phẩm công nghiệp được tập hợp từ nhiều yếu tó hay khoản mục chi phí khác nhau như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung hay giá thành thi công xây dựng công trình được hợp thành bởi chi phí trực tiếp (gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công), chi phí chung (chi phí chung cấp công trường và chi phí chung cấp doanh nghiệp) và chi phí khác
Phân tích chi tiết theo các yếu tố cá biệt hợp thành là việc phân tích chi tiết một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp gồm nhiều yếu tố cá biệt hợp thành theo các yếu tố cá biệt ấy nhằm chỉ ra những yếu tố biến động theo hướng có lowijhay bất lượi đối với doanh nghiệp
Để xác định được các yếu tố cấu thành chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có thể sử dụng phương pháp liên hệ phân tổ
Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp được phân tích có thể phân tổ theo những tiêu thức khác nhau, bao gồm hai loại chủ yếu: Phân tổ kết cấu và phân tổ phân loại
Phân tổ kết cấu là sự phân tách chỉ tiêu kinh tế tổng hợp theo các yếu tố cấu thành có cùng đặc trưng kinh tế, ví dụ:
+ Chỉ tiêu “Tổng tài sản” được phân tách thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn + Chỉ tiêu “Nợ phải trả” được phân tách thành nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác + Chỉ tiêu “Giá thành sản xuất sản phẩm” trong sản xuất công nghiệp được phân tách thành các khoản mục chi phí sản xuất cấu thành giá thành sản xuất: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
+ Chỉ tiêu “Lợi nhuận thuần của doanh nghiệp trong kỳ” được phân tách thành các loại lợi nhuận theo nguồn hình thành: lợi nhuận thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính và lợi nhuận thuần khác
Phân tổ phân loại là sự phân tách chỉ tiêu kinh tế tổng hợp theo các yếu tố cấu thành có đặc trưng kinh tế khác nhau hoặc không đồng nhất vể đặc tính, ví dụ:
Trang 39+ Chỉ tiêu “Giá trị khối lượng công tác xây lắp hoàn thành trong kỳ” được phân tách theo kết quả hoàn thành của từng chủ thể sản xuất: Giá trị khối lượng công tác xây lắp
do bản thân doanh nghiệp thực hiện và giá trị khối lượng công tác xây lắp do các nhà thầu phụ thực hiện
+ Chỉ tiêu “Số lượng công nhân sản xuất” được phân tách theo các nhóm bậc thợ, theo các nghề chuyên môn, theo các bộ phận sản xuất,
+ Chỉ tiêu “Quỹ lương của doanh nghiệp” được phân tách thành các loại quỹ lương: Quỹ lương công nhân trực tiếp sản xuât và quỹ lương nhân viên gián tiếp sản xuất Khi sử dụng phương pháp chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích cần chú ý một số điểm sau:
- Không phải tất cả các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khi phân tích chi tiết đều có thể hoặc đều cần phân tích đủ theo ba hướng phân tích chi tiết nêu trên Vì thế, tùy từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào những dữ liệu thu thập được mà áp dụng các hướng phân tích phù hợp
- Ngoài các hướng phân tích chi tiết đã nêu, tùy từng trường hợp phân tích cụ thể, người làm phân tích có thể phân tích chi tiết theo các hướng hay các khía cạnh khác để kết quả phân tích được rõ ràng và sâu sắc hơn, ví dụ: Phân tích tình hình thực hiện khối lượng công tác xây lắp trong kỳ theo loại hợp đồng đã ký kết (hợp đồng trọn gói, hợp đồng đơn giá cố định, hợp đồng đơn giá điều chỉnh…)
2.3.3 Phương pháp loại trừ
Phương pháp loại trừ là tên gọi của một nhóm phương pháp kỹ thuật phân tích thường được sử dụng trong phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp có khả năng đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng tới mức biến động của chỉ tiêu phân tích
kỳ phân tích so với kỳ gốc
Theo phương pháp loại trừ, khi đo lường mức độ ảnh hưởng của một nhân tố ảnh hưởng nào đó người ta phải giả thiết cố định các nhân tố ảnh hưởng khác, nghĩa là loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác vì người ta không thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng của một nhân tố trong điều kiện các nhân tố khác cùng tác động ảnh hưởng Đây cũng chính là lý do phương pháp kỹ thuật phân tích này được gọi là “phương pháp loại trừ”
Khi đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng bằng phương pháp loại trừ, các nhân tố ảnh hưởng khác được giả thiết cố định theo nguyên tắc: nhân tố chất lượng hơn nhân tố đang đo ảnh hưởng được cố định giá trị ở kỳ gốc, nhân tố số lượng
Trang 40hơn nhân tố đang đo ảnh hưởng được cố định giá trị ở kỳ phân tích Nguyên tác cố định này được đặt ra từ quy luật triết học “lượng đổi – chất đổi”
Thuộc nhóm phương pháp này có ba phương pháp cụ thể thường được sử dụng trong phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp, đó là: (1) Phương pháp thay thế liên hoàn, (2) Phương pháp số chênh lệch và (3) Phương pháp liên hệ thuận nghịch
1)Tác dụng của phương pháp loại trừ:
Phương pháp loại trừ là phương pháp kỹ thuật phân tích rất thường dùng sau phương pháp so sánh bởi tác dụng quan trọng của nó là có thể giúp người làm phân tích đo lường (hay lượng hóa) mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng tới mức biến động của chỉ tiêu phân tích, từ đó có thể chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu (tức là các nhân tố đó tác động mạnh, đáng kể đã gây ra sự biến động của chỉ tiêu phân tích)
Ba phương pháp cụ thể thuộc nhóm phương pháp loại trừ nêu trên đều có tác dụng này
2) Điều kiện áp dụng của phương pháp loại trừ: Để có thể áp dụng được phương pháp loại trừ cần thỏa mãn hai điều kiện sau đây:
- Điều kiện 1: Phải có phương trình kinh tế biểu thị mối quan hệ hàm số giữa chỉ tiêu phân tích và các chỉ tiêu nhân tố ảnh hưởng
- Điều kiện 2: Phải phân biệt được một cách tương đối về tính số lượng (hoặc tính chất lượng) của các chỉ tiêu nhân tố ảnh hưởng trong phương trình kinh tế
Về điều kiện 1 cần lưu ý:
1) Phương trình kinh tê sử dụng trong phân tích chỉ tiêu kinh tế có nhiều dạng khác nhau nhưng phỏ biến và đơn giản thường dùng là (i) Phương trình kinh tế dạng tích số đơn giản hoặc dạng tổng tích và (ii) Phương trình kinh tế dạng thương số
+ Phương trình kinh tế dạng tích số đơn giản:
X = a.b.c.d + Phương trình kinh tế dạng tổng tích:
X= a.b.c.d Hoặc X= a.b - a.c
Hoặc X= a b.c.d hoặc …
Trong đó:
X – chỉ tiêu phân tích