Sự cần thiết của Đề án
Đà Nẵng hiện có 5 khu công nghiệp với gần 300 dự án đầu tư sản xuất, chiếm diện tích hơn 1.399 ha, chủ yếu tập trung vào chế biến thực phẩm, giấy, dệt may, da giày, thiết bị điện tử, công nghệ thông tin và vật liệu xây dựng Tuy nhiên, hầu hết các khu công nghiệp chưa có trạm xử lý nước thải tập trung, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số khu vực.
Trong những năm gần đây, Đà Nẵng chứng kiến tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, đặc biệt với sự phát triển của quận Cẩm Lệ, nâng tổng số quận nội thành lên cao.
6 quận và hình thành những vùng đô thị mới dọc theo quốc lộ số I và các đường liên tỉnh thuộc huyện Hoà Vang
Thành phố Đà Nẵng hiện có 4,277 cơ sở công nghiệp, trong đó hơn 350 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp quy mô vừa và lớn Khoảng 10% số cơ sở này tập trung tại các khu và cụm công nghiệp, trong khi số còn lại phân bố rải rác bên ngoài khu công nghiệp và xen kẽ trong khu dân cư.
Cơ cấu công nghiệp tại Thành phố Đà Nẵng rất đa dạng với đầy đủ các ngành công nghiệp quan trọng Hầu hết các cơ sở công nghiệp cũ đã được xây dựng từ lâu và đang trong quá trình cải thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế hiện đại.
Trước đây 30 năm, nhiều cơ sở công nghiệp được xây dựng trước khi luật Bảo vệ Môi trường có hiệu lực, dẫn đến việc áp dụng công nghệ sản xuất lạc hậu và không đảm bảo vệ sinh môi trường Hiện nay, gần 90% các cơ sở này nằm trong khu vực nội thành, các cụm công nghiệp thường xen kẽ với khu dân cư, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và cản trở quá trình cải tạo các cơ sở công nghiệp.
Sự phát triển của ngành công nghiệp đã dẫn đến ô nhiễm môi trường do chất thải từ hoạt động sản xuất Chất thải rắn, bao gồm cả chất thải nguy hại, không được thu gom và xử lý đúng quy định của luật bảo vệ môi trường Việt Nam, gây suy thoái nghiêm trọng cho môi trường thiên nhiên và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cư dân trong khu vực.
Nhiều cơ sở công nghiệp hiện nay đang sử dụng máy móc cũ và lạc hậu, đồng thời thiếu không gian phát triển và hệ thống xử lý chất thải hiệu quả Hầu hết các nhà máy chưa chú trọng đến việc xử lý chất thải rắn, mà chỉ ký hợp đồng với Công ty Môi trường đô thị Đà Nẵng để thu gom và vận chuyển chất thải đến bãi chôn lấp Khánh Sơn Ngoài ra, một số đơn vị tư nhân cũng tham gia thu gom chất thải từ các cơ sở công nghiệp, với mục tiêu chính là thu hồi các phế liệu có thể tái sử dụng.
Công nghiệp đa dạng tại Thành phố Đà Nẵng dẫn đến sự phức tạp trong thành phần chất thải, bao gồm không chỉ các chất ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ và dầu thải, mà còn cả các chất độc hại nguy hiểm như thủy ngân, arsen và các kim loại nặng có tính nguy hại cao.
Nước thải từ các ngành công nghiệp như nhuộm, nấu bột giấy và mạ kim loại chứa nhiều chất độc hại với nồng độ cao, bao gồm sút và crom Ngoài ra, nước thải từ ngành chế biến thực phẩm cũng có hàm lượng chất thải hữu cơ cao, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.
Việc không xử lý hoặc xử lý không đúng cách các chất thải độc hại đã dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và đất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của công nhân sản xuất cũng như công nhân môi trường thu gom và xử lý chất thải.
Mục tiêu của đề án
Để giảm ô nhiễm môi trường tại Đà Nẵng, cần thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường hiệu quả và nâng cao năng lực quản lý môi trường trong khu vực.
Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hiện trạng môi trường và quản lý môi trường tại thành phố Đà Nẵng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình môi trường tại khu vực này.
Xây dựng các chiến lược nhằm bảo vệ môi trường trong tương lai
Đề án nghiên cứu tập trung vào đánh giá hiện trạng môi trường nước, không khí và chất thải rắn tại thành phố Đà Nẵng.
Công tác quản lý môi trường tại thành phố Đà Nẵng.
Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tập trung vào việc thu thập và tổng hợp tài liệu để đánh giá hiện trạng môi trường Qua đó, các giải pháp cải thiện môi trường sẽ được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng sống và bảo vệ hệ sinh thái.
TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Điều kiện tự nhiên
Thành phố Đà Nẵng nằm ở 15 o 55' đến 16 o 14' vĩ Bắc, 107 o 18' đến 108 o 20' kinh Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông
Đà Nẵng, nằm ở trung độ của đất nước, là điểm giao thoa quan trọng giữa các trục giao thông Bắc - Nam, bao gồm đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Từ Thủ đô Hà Nội, Đà Nẵng cách 764 km về phía Bắc và 964 km về phía Nam từ thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt, thành phố này còn là trung tâm của bốn di sản văn hóa thế giới nổi tiếng: cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Thành phố Đà Nẵng đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng ra biển cho Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, kết nối với các nước Đông Bắc Á qua Hành lang kinh tế Đông Tây, với điểm kết thúc tại Cảng biển Tiên Sa Với vị trí nằm trên các tuyến đường biển và hàng không quốc tế, Đà Nẵng có lợi thế địa lý đặc biệt cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững.
2.1.2 Địa hình Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1.500 m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố
2.1.3 Khí hậu Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình nên nhiệt độ cao và ít biến động, có chế độ ánh sáng, mưa, độ ẩm phong phú Lượng bức xạ tổng cộng trong năm khoảng 147,8 kcal/cm 2 Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 85,67-87,67%; thấp nhất vào các tháng 6, tháng 7, trung bình 76,67-77,33%
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình 23-40 mm/tháng
Số giờ nắng bình quân hàng năm đạt 2.156,2 giờ, với tháng 5 và 6 có số giờ nắng cao nhất, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng Ngược lại, tháng 11 và tháng 12 có số giờ nắng thấp nhất, chỉ từ 69 đến 165 giờ/tháng Vị trí địa lý và địa hình có ảnh hưởng lớn đến chế độ khí hậu tại khu vực này.
Dãy Trường Sơn ở phía Tây, cùng với dãy núi Hải Vân và Bạch Mã ở phía Bắc, tạo nên đặc trưng khí hậu riêng cho Đà Nẵng, đồng thời phản ánh những đặc điểm chung của khu vực miền Trung.
Vào mùa Hạ, gió mùa Tây Nam mất độ ẩm khi vượt qua dãy Trường Sơn, dẫn đến thời tiết khô nóng và các đợt nắng nóng kéo dài trong suốt mùa khô.
Vào mùa Đông, Đà Nẵng có khí hậu ít chịu ảnh hưởng từ gió mùa Đông bắc nhờ có dãy Bạch Mã chắn gió Điều này khiến thời tiết ở Đà Nẵng trở nên ôn hòa hơn so với các tỉnh phía Bắc.
Điều kiện xã hội
Thành phố Đà Nẵng có tổng diện tích tự nhiên là 1.255,53 km², chiếm 0,3% diện tích toàn quốc Trong đó, diện tích các quận nội thành là 213,05 km², còn các huyện ngoại thành chiếm 1.042,48 km².
Dân số hiện nay là gần 780.000 người (chiếm 0,89% dân số cả nước) trong đó dân số đô thị khoảng 650.00 người chiếm 82% tổng số dân
Thành phố Đà Nẵng có 8 đơn vị hành chính gồm:
- 6 Quận nội thành : Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu và Cẩm Lệ
- 2 Huyện : Hoà Vang và Hoàng Sa
Bảng 2.1 Tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết và tỷ lệ tăng tự nhiên
Năm Tỷ lệ sinh Tỷ lệ chết Tỷ lệ tăng tự nhiên
(Nguồn: Uỷ ban dân số-kế hoạch hoá Đà Nẵng)
Bảng 2.2 Dân số trung bình của thành phố
(Nguồn: Uỷ ban dân số-kế hoạch hoá Đà Nẵng)
Bảng 2.3 Dân số trung bình phân chia theo thành thị - nông thôn
(Nguồn: Uỷ ban dân số-kế hoạch hoá Đà Nẵng)
Bảng 2.4 Dân số trung bình phân chia theo giới
(Nguồn: Uỷ ban dân số-kế hoạch hoá Đà Nẵng)
Bảng 2.5 Dân số trung bình phân chia theo quận, huyện
(Nguồn: Uỷ ban dân số-kế hoạch hoá Đà Nẵng)
Bảng 2.6 Tình hình dân số thành phố Đà Nẵng năm 1999 - 2005 Đơn vị
(Nguồn: Sở TN&MT Đà Nẵng)
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế-xã hội
Năm 2005, nhờ những nỗ lực không ngừng và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành, doanh nghiệp và người dân, thành phố đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch, góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ 5 năm (2001-2005) Tình hình kinh tế - xã hội trong năm này tiếp tục ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được kết quả khả quan trên nhiều lĩnh vực.
- Nền kinh tế tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tổng sản phẩm nội địa (GDP) ước đạt 6.225 tỷ đồng, tăng 14% so với 2004
- Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước tăng 20,2%, bằng 100% kế hoạch
- Giá trị sản xuất thủy sản - nông - lâm ước tăng 5,2%;, bằng 99,2% kế hoạch
- Tốc độ tăng giá trị các ngành dịch vụ ước tăng 27,1%, bằng 113% kế hoạch
- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ước tăng 19%, bằng 103,3% kế hoạch
- Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 8.162 tỷ đồng, tăng 23,6%, bằng 131,7% kế hoạch
Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 5.057,9 tỷ đồng, tương đương 100% dự toán mà HĐND đã giao, không bao gồm các khoản thu bổ sung, thu kết dư, chuyển nguồn, viện trợ và tạm thu.
- Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 5.196,7 tỷ đồng, bằng 131% dự toán HĐND giao
- Tỷ lệ giảm sinh đạt 0,4%o vào cuối năm
- Giải quyết việc làm cho 30.000 lao động, bằng 100% kế hoạch
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn của thành phố ) còn 11,1% vào cuối năm
- Gọi công dân nhập ngũ đạt 100% kế hoạch
* Kết quả đạt được ở một số ngành, lĩnh vực:
Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 8.542 tỷ đồng, hoàn thành 100% kế hoạch và tăng 20,2% so với năm 2004 Trong đó, khu vực quốc doanh trung ương đạt 4.583,6 tỷ đồng, tăng 25,8% so với kế hoạch; quốc doanh địa phương đạt 881 tỷ đồng, giảm 2,4%; công nghiệp dân doanh đạt 1.438,8 tỷ đồng, tăng 18,2%; và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.638,6 tỷ đồng, tăng 26,3% Các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố đã thu hút 278 dự án với tổng vốn đầu tư 5.064,1 tỷ đồng và 337 triệu USD, bao gồm 47 dự án đầu tư nước ngoài và 231 dự án đầu tư trong nước Khu công nghiệp Hòa Khánh là một trong những khu vực thu hút đầu tư nổi bật.
Trong tổng số 176 dự án với tổng vốn đầu tư 3.214,4 tỷ đồng và 277,8 triệu USD, diện tích đạt 300,3ha, có 126 dự án mới với vốn đầu tư 2.715,7 tỷ đồng và 230 triệu USD, chiếm diện tích 225,9ha Khu công nghiệp Hòa Khánh mở rộng thu hút 09 dự án với vốn đầu tư 105 tỷ đồng và 13,3 triệu USD trên diện tích 13,1ha Cụm công nghiệp Thanh Vinh có 17 dự án với tổng vốn 132,3 tỷ đồng và 15 triệu USD, diện tích 15,8ha Khu công nghiệp Hòa Cầm thu hút 43 dự án, trong đó 23 dự án mới với vốn đầu tư 132,3 tỷ đồng và 15 triệu USD, chiếm diện tích 32,5ha Khu công nghiệp Dịch vụ thủy sản có 11 dự án với vốn đầu tư 153 tỷ đồng và 7,2 triệu USD, trên diện tích 28,1ha, trong đó 8 dự án đang xây dựng với vốn 114 tỷ đồng và diện tích 10,9ha.
Năm 2005, tổng sản lượng điện ước đạt 778,9 triệu KWh, tăng 9% so với năm 2004, trong đó điện thương phẩm đạt 730,4 triệu KWh, cũng tăng 9% Sản lượng điện tiêu thụ bình quân đầu người đạt 982 KWh/người/năm, tăng 1,1 lần so với năm trước.
Sản xuất thủy sản - nông – lâm
Giá trị sản xuất thủy sản, nông nghiệp và lâm nghiệp ước đạt 668,9 tỷ đồng, đạt 99,2% kế hoạch và tăng 5,2% so với năm 2004 Trong đó, thủy sản đạt 440,3 tỷ đồng (100,2% kế hoạch, tăng 11,4%), nông nghiệp đạt 205,1 tỷ đồng (95,4% kế hoạch, giảm 5,8%), và lâm nghiệp đạt 23,5 tỷ đồng (117,5% kế hoạch, tăng 3,5%) Thủy sản chế biến xuất khẩu ước đạt 11.700 tấn với giá trị 48,2 triệu USD Âu thuyền Thọ Quang đã ổn định hoạt động, đảm bảo an toàn cho tàu thuyền trong mùa bão, trong khi cảng cá Thuận Phước đã phục vụ 8.720 lượt tàu thuyền và xử lý trên 40.000 tấn hải sản.
Do đô thị hóa và tình hình khô hạn kéo dài, diện tích gieo trồng đã giảm mạnh, ước đạt 13.459 ha vào năm 2005, chỉ bằng 94,7% kế hoạch và giảm 12,6% so với năm 2004 Trong đó, diện tích lúa đạt 8.037 ha, giảm gần 1.000 ha, với vụ Đông Xuân giảm 316 ha so với vụ trước và vụ Hè Thu chỉ đạt 85% diện tích, hơn 700 ha không gieo sạ được do thiếu nước tưới Sản lượng lúa ước đạt 42.325 tấn, giảm 11,4% so với năm 2004.
Giá trị lâm sản xuất khẩu trong năm đạt 7 triệu USD, hoàn thành 100% kế hoạch và tăng 16,7% so với năm 2004 Công tác quản lý và bảo vệ rừng đã được thực hiện hiệu quả, với 39 lượt kiểm tra và truy quét nhằm ngăn chặn việc chặt phá rừng và xử lý các vi phạm hành chính.
Trong năm qua, đã ghi nhận 105 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, trong khi công tác phòng chống cháy rừng được chú trọng với việc thành lập đội phản ứng nhanh Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng, nguy cơ cháy rừng tăng cao, dẫn đến 41 vụ phát lửa trên tổng diện tích 136ha, bao gồm 70ha cây bụi, lau, lách và 66ha rừng trồng.
Thương mại - Du lịch - Vận tải
Mặc dù thị trường toàn cầu và trong nước đang trải qua biến động, đặc biệt là giá cả hàng hóa như xăng dầu, phân bón, đường và nguyên vật liệu sản xuất tăng cao, điều này đã tác động tiêu cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và giảm khả năng cạnh tranh, tạo ra mặt bằng giá mới cao hơn Tuy nhiên, hoạt động thương mại của thành phố vẫn tiếp tục tăng trưởng, với tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ ước đạt 28.445 tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2004.
Tổng lượt khách du lịch đến Đà Nẵng ước đạt 659.470 lượt, tăng 18% so với
2004 Công suất buồng phòng của nhiều khách sạn đạt trên 75% Tổng doanh thu du lịch ước đạt 373,7 tỷ đồng, tăng 11,9% so với 2004
Trong năm qua, nhiều dự án du lịch và khách sạn đã chính thức đi vào hoạt động, nổi bật là khu du lịch Biển Đông (giai đoạn I), khách sạn Mỹ Khê - Tourane và khu du lịch sinh thái Thọ Yên Bên cạnh đó, nhiều dự án lớn cũng đang được triển khai, bao gồm tổ hợp khu du lịch - dịch vụ cao cấp Sơn Trà, khu du lịch sinh thái Hòa Bắc, khu du lịch Bãi Bụt và khách sạn Hoàng Anh Plaza.
Hoạt động xúc tiến du lịch tại Đà Nẵng diễn ra sôi nổi với việc tăng thêm 4 đơn vị lữ hành vào năm 2005, nâng tổng số lên 74 đơn vị Các công ty du lịch đã hợp tác để mở rộng tour, kết nối với ngành Đường sắt và Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, triển khai các chương trình du lịch bằng đường sắt và đường bộ Việc mở đường bay Singapore - Đà Nẵng và xúc tiến đường bay Nhật - Đà Nẵng, cùng với tour du lịch “Caravan” từ Thái Lan, đã giúp các đơn vị lữ hành khai thác khách từ các thị trường tiềm năng như Thái Lan, Singapore, Hồng Kông và Đài Loan Đồng thời, 12 chương trình du lịch làm quen đã được tổ chức cho các hãng lữ hành và báo chí trong nước và quốc tế nhằm quảng bá du lịch Đà Nẵng.
Mặc dù giá nhiên liệu tăng cao và tình trạng xe dù phức tạp, hoạt động vận tải hàng hóa vẫn ổn định nhờ các biện pháp quản lý chặt chẽ, kiểm tra điều kiện kinh doanh và xử lý nghiêm hiện tượng xe dù Số lượng hành khách luân chuyển ước đạt 558,6 triệu người.km, giảm 2,7% so với năm 2004, trong khi sản lượng luân chuyển hàng hóa tăng 16,3%, đạt 1.884,8 triệu tấn.km.
Sản lượng hàng hóa qua cảng ước đạt 2.310.000 tấn, bằng 100% so với 2004, trong đó, xuất khẩu ước đạt 800.500 tấn, tăng 8,2%; nhập khẩu ước đạt 610.000 tấn, giảm 13,8%
Dịch vụ Bưu chính - Viễn thông đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ với mạng lưới viễn thông được mở rộng và nhiều phương thức thông tin hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế Năm 2005, mật độ máy điện thoại đạt 22,8 máy/100 dân, hoàn thành 100% kế hoạch và tăng 14,8% so với năm 2004 Doanh thu của ngành Bưu chính - Viễn thông ước đạt 1.376,8 tỷ đồng, tương đương 101,1% kế hoạch và tăng 47,8% so với năm trước.
Hiện trạng tài nguyên thành phố Đà Nẵng
* Cát trắng: tập trung ở Nam ô , trữ lượng khoảng 5 triệu m 3
* Đá hoa cương: ở Non Nước, nhưng để bảo vệ khu di tích nổi tiếng Ngũ Hành Sơn, loại đá này đã được cấm khai thác
* Đá xây dựng: đây là loại khoáng sản chủ yếu của thành phố, tập trung ở khu vực phía Tây, Bắc và Tây Nam thành phố
Đá phiến lợp, chủ yếu tập trung tại thôn Phò Nam, xã Hòa Bắc, là loại đá filit có màu xám đen Đá này có khả năng tách thành từng tấm với kích thước (0,5 x 10) x 0,3-0,5m và hiện có trữ lượng khoảng 500.000m³.
* Cát, cuội sỏi xây dựng: cát lòng sông Vĩnh Điện, Túy Loan, sông Yên, Cầu Đỏ, Cẩm Lệ, Cu Đê, cuội sỏi Hòa Bắc, Hòa Liên
Đến nay, đã có ba mỏ được nghiên cứu sơ lược về Laterir, bao gồm La Châu, Hòa Cầm và Phước Ninh, tất cả đều là sản phẩm phong hóa từ các đá phiến thuộc hệ tầng Bol-Atek.
Vật liệu san lấp chủ yếu là lớp đá phiến hệ tầng Bol-Atek đã bị phong hóa, với độ dày có thể lên đến 40-50m, tập trung chủ yếu tại các khu vực Hòa Phong, Hòa Sơn và Đa Phước.
* Đất sét: trữ lượng khoảng 38 triệu m 3
* Nước khoáng: ở Đồng Nghệ, lưu lượng tự chảy khoảng 72m 3 /ngày
* Đặc biệt, vùng thềm lục địa có nhiều triển vọng về dầu khí
Diện tích đất lâm nghiệp tại thành phố đạt 67.148 ha, chủ yếu tập trung ở phía Tây và Tây Bắc Khu vực này bao gồm ba loại rừng: Rừng đặc dụng với 22.745 ha (15.933 ha có rừng), Rừng phòng hộ với 20.895 ha (17.468 ha có rừng), và Rừng sản xuất với 23.508 ha (18.176 ha có rừng).
Rừng Đà Nẵng chủ yếu tập trung ở cánh Tây huyện Hòa Vang, với một phần nhỏ ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn Tỷ lệ che phủ rừng đạt 49,6%, với trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m³, chủ yếu phân bố tại những khu vực có độ dốc lớn và địa hình phức tạp.
Rừng đô thị không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch Thành phố được thiên nhiên ưu ái với những khu bảo tồn thiên nhiên độc đáo, điển hình như Khu bảo tồn thiên nhiên Bà.
Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân
* Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà:
Tổng diện tích tự nhiên của khu vực là 8.838 ha, trong đó rừng và đất lâm nghiệp chiếm 8.800 ha, bao gồm 6.942 ha đất có rừng (rừng tự nhiên 5.976 ha, rừng trồng 966 ha) và 1.858 ha đất chưa có rừng Khu rừng này có giá trị lớn về đa dạng sinh học, kết nối với vườn quốc gia Bạch Mã, rừng đặc dụng Nam Hải Vân và dãy rừng tự nhiên phía bắc và tây bắc tỉnh Quảng Nam, tạo thành dãy rừng xanh độc nhất Việt Nam từ biển Đông đến biên giới Việt - Lào Rừng tự nhiên Bà Nà - Núi Chúa là nơi giao thoa giữa hai luồng thực vật phía bắc và phía nam, đồng thời là khu đệm giữa hai hệ động vật Bắc Trường Sơn và Nam Trường Sơn Khu vực này còn nổi bật với khí hậu mát mẻ, trong lành, là nguồn đầu của các dòng sông, đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, cũng như phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái tại thành phố Đà Nẵng.
Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân:
Tổng diện tích tự nhiên là 10.850 ha, bao gồm 9.764 ha đất rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có 2.993,4 ha rừng tự nhiên và 2.565,4 ha rừng trồng Diện tích đất chưa có rừng là 4.205 ha.
Rừng đặc dụng Nam Hải Vân, tiếp giáp với vườn quốc gia Bạch Mã và Bà Nà - Núi Chúa, tạo ra một hành lang bảo tồn các loài động vật rừng nguy cơ tuyệt chủng Về môi trường, Hải Vân tạo ra sự khác biệt khí hậu giữa Đà Nẵng và Thừa Thiên - Huế, giúp che chắn Đà Nẵng khỏi gió bão và điều tiết độ nhiễm mặn của sông Cu Đê Ngoài ra, Hải Vân còn mang giá trị văn hóa và lịch sử, ghi dấu ấn của cuộc Nam tiến mở rộng bờ cõi dân tộc Việt với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ.
* Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà:
Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà có tổng diện tích 4.439 ha, trong đó rừng và đất lâm nghiệp chiếm 4.180 ha với 3.431 ha đất có rừng, bao gồm 2.806 ha rừng tự nhiên và 625 ha rừng trồng Khu vực này sở hữu hệ sinh thái đất ướt ven biển và thảm rừng nhiệt đới mưa ẩm nguyên sinh, với nguồn gen thực vật nhiệt đới đa dạng như Chò chai, Dẻ cau, và Dầu lá bóng Đặc biệt, Sơn Trà là nơi sinh sống của nhiều loài động vật quý hiếm, trong đó có Vọc vá, một loài đặc hữu của Đông Dương cần được bảo vệ Ngoài vai trò cung cấp nước ngọt cho thành phố, Sơn Trà còn nổi bật với cảnh đẹp và di tích lịch sử, góp phần quan trọng vào phát triển du lịch Hơn nữa, khu vực này còn là bức bình phong bảo vệ thành phố khỏi gió bão.
Đà Nẵng sở hữu bờ biển dài khoảng 30 km và vịnh Đà Nẵng được bảo vệ bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, với mực nước sâu lý tưởng cho việc xây dựng cảng lớn và các cảng chuyên dụng khác Vị trí của vịnh nằm trên các tuyến đường biển quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy Ngoài ra, đây còn là nơi trú ẩn an toàn cho các tàu lớn trong mùa bão.
Vùng biển Đà Nẵng có diện tích ngư trường rộng lớn lên đến 15.000 km², với hơn 266 giống loài động vật biển, trong đó có 16 loài hải sản có giá trị kinh tế cao, bao gồm 11 loài tôm, 2 loại mực và 3 loại rong biển, tổng trữ lượng hải sản ước tính đạt 1.136.000 tấn Các loài hải sản này chủ yếu phân bố ở độ sâu từ 50-200m, nơi chiếm 48,1% tổng diện tích Đà Nẵng có khả năng khai thác từ 150.000 đến 200.000 tấn hải sản mỗi năm Ngoài ra, bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê và Nam Ô, cùng với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch biển, đặc biệt là khu vực quanh bán đảo Sơn Trà với các bãi san hô lớn.
Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt
Thành phố Đà Nẵng có hệ thống sông ngòi bắt nguồn từ phía Tây và Tây Bắc, chủ yếu từ tỉnh Quảng Nam Hầu hết các sông ở đây đều ngắn và dốc, trong đó nổi bật nhất là Sông Hàn, với chiều dài khoảng 204 km và tổng diện tích lưu vực đáng kể.
Thành phố có nhiều nguồn nước, bao gồm sông Cu Đê dài khoảng 38 km và các sông khác như Yên, Chu Bái, Vĩnh Điện, Túy Loan, Phú Lộc Với hơn 546 ha mặt nước, thành phố có tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các loại cá mú, cá hồi, cá cam, tôm sú và tôm hùm.
Thành phố có diện tích 1.255,53 km², chủ yếu là đất đồi núi và đảo, bao gồm huyện đảo Hoàng Sa với 305 km² Nơi đây sở hữu nhiều loại đất như cồn cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đen, đất đỏ vàng và đất mùn đỏ vàng Đặc biệt, đất phù sa ở vùng đồng bằng ven biển rất thích hợp cho việc thâm canh lúa, trồng rau và hoa quả Trong khi đó, đất đỏ vàng ở vùng đồi núi phù hợp với các cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu và chăn nuôi gia súc, đồng thời có kết cấu vững chắc để phát triển hạ tầng kỹ thuật.
Bảng 2.7 Diện tích đất tự nhiên phân chia theo quận huyện ( km 2 )
Quận, huyện Tổng cộng Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất ở Đất chưa sử dung, sông, núi
Quận Liên Chiểu 82,37 11,46 31,03 18,72 2,73 7,89 Huyện Hoà Vang 737,48 88,04 446,87 26,63 4,65 19,51
(Nguồn: Sở TN&MT Đà Nẵng)
Bảng 2.8 Diện tích đất tự nhiên.(km 2 ) Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất ở Đất chưa sử dung, sông, núi
(Nguồn: Sở TN&MT Đà Nẵng)
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Hiện trạng môi trường nước
Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu
Thành phố Đà Nẵng có hệ thống sông ngòi chủ yếu bắt nguồn từ phía Tây và Tây Bắc, với nhiều con sông ngắn và dốc Hai sông chính là Sông Hàn, dài khoảng 204 km với diện tích lưu vực khoảng 5.180 km², và sông Cu Đê, dài khoảng 38 km với lưu vực khoảng 426 km² Ngoài ra, Đà Nẵng còn có các sông khác như Sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan và sông Phú Lộc.
Trữ lượng nước mặt trung bình năm khoảng 8,3 tỷ m 3 (sông Hàn 7,6 tỷ m 3 , sông Cu – đê 0,7 m 3 ) và các hồ chứa nước là 39,1 triệu m 3
Trữ lượng khai thác nước mặt hàng năm là 150 triệu m 3 , chiếm 1,77% trữ lượng nước mặt
Trữ lượng khai thác tiềm năng của nước ngầm là 275.871 m 3 /ngày
3.1.1Chất lượng môi trường nước mặt và nước dưới đất
Nguồn ô nhiễm chủ yếu đến từ nước thải nông nghiệp, nước sinh hoạt, dịch vụ và nước thải từ các khu công nghiệp cùng với các cơ sở sản xuất.
Sông Vu Gia: Năm 2004 có 7 điểm quan trắc: cầu Tuyên Sơn, cầu Nguyễn Văn Trỗi, cầu Tứ Câu, cầu Đỏ, cầu Quá Giáng, Túy Loan và Hoà Phong
Thông số quan trắc: 10 thông số: BOD, COD, TSS, NO 2 , NH 4 , NO 3 , coliform,
Hg, Pb, Fe Tần suất quan trắc 6 lần/năm
Ngoài thông số Coliform vượt TCVN từ 1 đến 6 lần tại 4 trên 7 điểm đo Nhìn chung chất lượng nước sông có nhiều cải thiện
Sông Cu-Đê: có 1 điểm quan trắc: ngã ba Cổ Cò
Thông số quan trắc: 10 thông số: BOD, COD, TSS, NO2, NH 4 , NO 3 , coliform,
Hg, Pb, Fe Tần suất quan trắc 6 lần/năm
Chỉ số BOD, COD, SS, NH4 và Coliform đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, ngoại trừ hàm lượng Hg cao hơn gấp đôi Tình trạng ô nhiễm dinh dưỡng (NH4, NO3), chất hữu cơ (BOD5 & COD) và Coliform đã giảm đáng kể Chất lượng nước đã được cải thiện, và tình trạng xả thải ô nhiễm vào lưu vực sông đã được kiểm soát hiệu quả.
Sông Phú Lộc: có 1 điểm quan trắc tại cầu Quân sự gần bãi rác Khánh Sơn, 1 tại cầu Đa Cô trên quốc lộ 1A
Chất lượng chưa có xu hướng cải thiện Ô nhiễm hữu cơ giảm hơn năm 2003 Ô nhiễm vi sinh không ổn định
Chất thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp chứa kim loại nặng vẫn tiếp tục được thải ra sông mà không qua hệ thống xử lý hoặc được xử lý không đạt yêu cầu.
Có 8 điểm quan trắc hồ công viên 29/3, hồ Xanh, Bàu Tràm, Bàu Thạc Gián – Vĩnh Trung, Đầm Rong
Các thông số quan trắc: BOD, COD, SS, dầu mỡ, NH4, NO 3 , Colifroms, Hg,
Pb, Fe, Cu, Zn với tần suất 2 tháng/ lần
Tình trạng ô nhiễm chất hữu cơ và chất dinh dưỡng tại các hồ vẫn tiếp diễn, ngoại trừ hồ Xanh; tuy nhiên, mức độ ô nhiễm đã giảm so với các năm trước.
Mức độ BOD 5 tại các hồ đã được cải thiện đáng kể
Tình trạng ô nhiễm COD cũng giảm so với các năm trước tuy vẫn còn vượt tiêu chuẩn 1 – 2 lần
Chỉ tiêu NH4 vượt tiêu chuẩn ở hầu hết các điểm quan trắc Hồ Xanh và Bàu Tràm
Bảng 3.1 Số lần vượt Tiêu Chuẩn Việt Nam 5942 – 1995 (B)
Vị trí năm BOD 5 COD SS Dầu mỡ
NH4 NO3 Coli Hg Pb Fe Cu
Chất lượng nước tại một số hồ năm 2002 – 2004
(Nguồn: Báo cáo HTMT 2004 –Sở TN&MT Đà Nẵng)
3.1.4 Hiện trạng hệ thống cấpnước
Hiện nay, thành phố Đà Nẵng đang sử dụng nước của 03 nhà máy:
Nhà máy nước Cầu Đỏ, sử dụng bể lắng ngang - bể lọc nhanh - Clo lỏng với công suất 50.000 m 3 /ngày đêm;
Nhà máy nước Sân Bay, sử dụng bể lắng radian - bể lọc nhanh - Clo lỏng, công suất 20.000 m 3 /ngày đêm;
Trạm cấp nước Sơn Trà sử dụng bể lọc áp lực và clo lỏng với công suất 5.000 m³/ngày đêm, đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân và các tổ chức Nguồn nước được cung cấp chủ yếu từ nước mặt trên các sông.
Tổng chiều dài đường ống Phi 100 - Phi 900 gần 200 km
Tính đến cuối năm 2000, số nhân khẩu được sử dụng nước sạch là 276.041 người, đạt tỷ lệ 38,18% dân số; trong đó: khu vực thành thị là 266.514 người, tỷ lệ
46,72%; khu vực nông thôn là 9.527 người, đạt tỷ lệ 6,25%
3.1.5 Tình hình cấp, thoát nước và sử dụng nước sạch
- Cấp : Tổng lượng nước máy thuỷ cục năm 2004 là 32,1 triệu m 3 /năm, tăng 5,89% so với năm 2003
Hệ thống cấp nước tiếp tục được đầu tư và mở rộng
- Thoát: Dự án thoát nước và vệ sinh môi trường đã triển khai và đưa vào sử dụng nhiều tuyến mương thoát nước trên địa bàn thành phố
Việc xây dựng mới và cải tạo hệ thống thoát nước đã giúp giảm thiểu tình trạng ngập úng cục bộ tại một số khu vực trong thành phố Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điểm ngập úng xảy ra trong khu vực nội thành, đặc biệt là tại các khu vực như Quang Trung, Đống Đa và Ngã ba Chu Văn An.
Hoạt động triển khai Dự án Thoát nước và Vệ sinh trong 2005:
Dự án đã hoàn thành từ 80% đến 90%, với nhiều hạng mục đã hoàn tất 100% và đưa vào sử dụng hiệu quả, bao gồm việc mua sắm thiết bị và quỹ vay vòng vốn vệ sinh.
- Theo thông báo số 31/BQL – PKTh của Ban quản lý các Dự án Cơ sở Hạ tầng ưu tiên ngày 17/01/2006 thì đối với:
Các trạm xử lý nước thải tại Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Hòa Cường và Phú Lộc đã hoàn thiện từ 80% đến 97% và dự kiến sẽ hoàn thành vào Quý I năm 2006 Sau khi hoàn tất, các trạm này sẽ tiến hành vận hành thử nghiệm trong thời gian tới.
Các tuyến công thoát nước mưa đã được hoàn thành 100% và hiện đang trong quá trình bàn giao cho Sở Giao thông Công chính, dự kiến sẽ kết thúc giai đoạn bàn giao vào Quý I năm 2006.
+ Các tuyến nước thải đã hoàn thành được 98% và dự kiến hoàn thành trong Quý I năm 2006 Đánh giá
Dựa trên các số liệu quan trắc ta nhận thấy các vấn đề cần được quan tâm
Nồng độ các chỉ tiêu quan trắc như BOD, COD và NH4 tại các hồ như Bàu Thạc Gián, Bàu Tràm, Đầm Rong, Hồ Công viên 29/3 và Hồ Xanh hiện đang ở mức ô nhiễm tương đối cao.
Tại Bàu Thạc Gián nồng độ BOD5 ở năm 2004 vượt tiêu chuẩn cho phép là 0,87 lần, COD là 1,21 lần cao nhất là NH 4 vượt tiêu chuẩn đến 6,57 lần
Taị Bàu Tràm nồng độ BOD ở năm 2004 vượt tiêu chuẩn cho phép là 0,75 lần, COD là 1,11 lần, NH 4 là 0,87 lần
Tại Đầm Rong nồng độ BOD ở năm 2004 vượt tiêu chuẩn cho phép là 1,11 lần, COD là 1,2 lần đặc biệt là NH4 vượt tiêu chuẩn cho phép đến 18,77 lần
Tại Hồ Công viên 29/3 nồng độ BOD ở năm 2004 vượt tiêu chuẩn cho phép là 1,15 lần, COD là 1,56 và NH4 là 14,83 lần
Tại Hồ Xanh nồng độ các chất ô nhiễm như BOD5 chỉ vượt 0,17 lần, COD là 0,16 lần, NH4 0,04 lần
Nhìn chung, chất lượng nước tại các sông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tương đối tốt Tuy nhiên chất lượng n ước hồvẫn còn ở mức độ ô nhiễm cao
Các hoạt động triển khai Dự án cấp và thoát nước thực hiện đúng tiến độ
Môi trường nước tại thành phố Đà Nẵng đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng, với hàm lượng chất ô nhiễm vượt mức cho phép Chất lượng nước kém không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn tác động tiêu cực đến các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân Cần có sự quan tâm và biện pháp cải thiện hiệu quả hơn để đảm bảo nước sạch cho Đà Nẵng.
Hiện trạng môi trường không khí và tiếng ồn
Hiện nay trên thành phố Đà Nẵng, tình trạng ô nhiễm không khí đang có dấu hiệu ô nhiễm nặng tại các khu công nghiệp, nồng độ ô nhiễm đang ở mức cao
Nhiều lò luyện thép trong các khu công nghiệp Đà Nẵng có lượng khí CO vượt
67 – 100 lần, NOX vượt 2- 6 lần, đặc biệt hơi chì vượt 40 – 65.500 lần
Theo Sở Tài nguyên - Môi trường, không khí tại các khu công nghiệp ở Đà Nẵng đang bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt là ô nhiễm khí thải từ các nhà máy sản xuất sắt thép tại KCN Hòa Khánh.
Kết quả đo đạc của Sở TN-MT Đà Nẵng tại 9 lò nấu luyện phôi thép trong KCN Hòa Khánh cho thấy nồng độ ô nhiễm không khí vượt tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế Cụ thể, khí CO vượt 67-100 lần, NOX vượt 2-6 lần, và hơi chì vượt 40-65.500 lần Ngoài ra, các chỉ số bụi kim loại như kẽm (7,912 mg/m³), đồng (0,03 mg/m³) và sắt (0,05 mg/m³) cũng ở mức cao đáng lo ngại.
Khí thải từ các lò luyện thép thường không được xử lý và thải trực tiếp ra môi trường, dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng Các giải pháp xử lý ô nhiễm tại các cơ sở này vừa tốn kém vừa kém hiệu quả Hơn nữa, các lò luyện thép có công suất nhỏ, chỉ từ 750kg đến 1,5 tấn thép mỗi mẻ, và thường được bố trí xa nhau, gây khó khăn trong việc thu gom khí thải một cách tập trung.
Tình trạng ô nhiễm không khí từ các lò luyện thép tại KCN Hoà Khánh đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cộng đồng dân cư và các cơ sở công nghiệp lân cận Trong số 13 cơ sở bị khiếu nại, 11 cơ sở đã bị xử phạt hành chính ít nhất một lần, trong đó có 4 cơ sở bị xử phạt hai lần, bao gồm xí nghiệp sản xuất kinh doanh thiên kim Doanh nghiệp tư nhân Xuân Tiến, Công ty TM-DVTH-XNK Xuân Hưng và công ty TNHH SX –TM Kim Liên.
Tại KCN Liên Chiểu, ô nhiễm khí thải đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt từ Nhà máy Thép Đà Nẵng và Công ty xi măng Hải Vân Khói bụi từ hai nhà máy này bốc lên dày đặc, có thể nhìn thấy từ xa Để giải quyết tình trạng ô nhiễm này, Nhà máy Thép Đà Nẵng đã bị tạm đình chỉ hoạt động từ tháng 5/2006.
3.2.1Chương trình quan trắc môi trường không khí
Vào năm 2004, chương trình quan trắc môi trường tại Đà Nẵng đã thiết lập 2 điểm quan trắc không khí và tiếng ồn, đại diện cho cả khu vực nông thôn và thành thị Một điểm được đặt tại kiệt 7 Hoàng Diệu, phường Bình Hiên, quận Hải Châu, trong khi điểm còn lại nằm ở thôn Đông Hòa, Hòa Châu, huyện Hòa Vang.
Các thông số quan trắc: CO, NO 2 , SO 2 , bụi và độ ồn
Có 3 vị trí quan trắc (Cổng nhà hát Trưng Vương, Trung tâm thương nghiệp Đà Nẵng, cổng trường Nguyễn Trãi)
Các thông số quan trắc: CO, NO2, SO 2 , bụi và độ ồn
Bảng 3.2 Số lần vượt tiêu chuẩn cho phép
TT Vị trí lấy mẫu Năm CO NO 2 SO 2 Bụi Độ ồn
2 TT Thương Nghiệp Đà Nẵng
(Nguồn: Báo cáo HTMT 2004 –Sở TN&MT Đà Nẵng)
Ô nhiễm bụi tại tất cả các vị trí quan trắc đều vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP), nhưng mức độ vượt không quá lớn, dao động từ 1 đến 4 lần Trong khi đó, chỉ số tiếng ồn lại vượt mức TCVN với tần suất khá cao, từ 5 đến 13 lần.
Chất lượng không khí tại các khu vực công cộng, đặc biệt là trong nội thành, vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
Các điểm nút giao thông
Các điểm quan trắc: Chân đèo Hải Vân, ngã 3 Huế, ngã 3 Non Nước và 1 điểm ở khu vực nông thôn
Bảng 3.3 Số lần vượt tiêu chuẩn cho phép
TT Vị trí lấy mẫu Năm CO NO 2 SO 2 Bụi Độ ồn
(Nguồn: Báo cáo HTMT 2004 –Sở TN&MT Đà Nẵng)
Trong các khu & cụm công nghiệp
Có hai vị trí quan trắc: KCN Hòa Khánh và KCN liên Chiểu
Các thông số quan trắc: CO, NO2, SO 2 , bụi
Bảng 3.4 Số lần vượt tiêu chuẩn cho phép
TT Vị trí lấy mẫu Năm CO NO 2 SO 2 Bụi Độ ồn
(Nguồn: Báo cáo HTMT 2004 –Sở TN&MT Đà Nẵng) Đánh giá :
Tình trạng ô nhiễm bụi vẫn còn xảy ra Khu công nghiệp Hòa Cầm được xây dựng theo hướng công nghiệp cao ít gây ô nhiễm
Tại các khu vực công cộng như Nhà hát Trưng Vương, Trung tâm thương mại Đà Nẵng và trường Nguyễn Trãi, nồng độ ô nhiễm không khí không cao Các chỉ tiêu quan trắc cho thấy mức độ ô nhiễm tại đây nằm trong giới hạn cho phép, đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng.
CO, NO 2 , SO 2 tương đối chấp nhận được
Vào năm 2004, Nhà hát Trưng Vương ghi nhận nồng độ CO vượt tiêu chuẩn cho phép với mức 0,72 lần và NO2 là 0,57 lần Đặc biệt, nồng độ bụi tại đây cao gấp 1,55 lần so với tiêu chuẩn, trong khi độ ồn vượt mức cho phép tới 5,74 lần.
Tại trung tâm thương nghiệp Đà Nẵng nồng độ CO vượt tiêu chuẩn cho phép 0,83 lần, NO 2 là 0,43 lần, bụi 2,83 lần, Độ ồn 13,67 lần
Tại trường Nguyễn Trãi nồng độ CO vượt tiêu chuẩn cho phép là 0,6 lần, NO 2 là 0,46 lần, bụi 1,56 lần
Tại các điểm nút giao thông như ngã 3 Huế, ngã 3 Non Nước và ngã 4 Hòa Cầm, nồng độ bụi và độ ồn vẫn ở mức cao, trong đó ngã 4 Hòa Cầm vượt tiêu chuẩn cho phép đến 8,5 lần Tại khu công nghiệp Hòa Khánh, nồng độ bụi vượt 4,75 lần, trong khi khu công nghiệp Liên Chiểu vượt 3,25 lần.
Kết quả khảo sát cho thấy tình trạng ô nhiễm bụi và tiếng ồn tại thành phố cần được khắc phục khẩn cấp Ô nhiễm bụi trên các tuyến đường giao thông đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc di chuyển của người dân Hơn nữa, nồng độ bụi cao gây ô nhiễm không khí, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của cư dân đang sinh sống và làm việc trong khu vực.
MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2010-2015
Những nhiệm vụ chủ yếu và kế hoạch thực hiện đến 2010 - 2015
4.1.1 Rà soát và điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội
Quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội của vùng cần tập trung vào chuỗi đô thị Huế-Đà Nẵng-Tam Kỳ-Quảng Ngãi, đặc biệt trên trục Liên Chiểu-Dung Quất Đồng thời, cần xem xét mối quan hệ với các tỉnh Tây Nguyên và hướng phát triển kết nối với Lào, Đông-Bắc Thái Lan và Mianma qua hành lang Đông-Tây.
Rà soát và điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố đến năm 2010, đồng thời lập Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2006-2010) với cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp-Dịch vụ-Nông nghiệp Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Dịch vụ-Công nghiệp-Nông nghiệp sau năm 2010, với tầm nhìn đến năm 2015.
Rà soát và bổ sung Quy hoạch phát triển ngành nhằm tích hợp vào Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, hướng đến mục tiêu thực hiện kế hoạch ngắn hạn đến năm 2010.
2015 (quy hoạch dài hạn), bao gồm:
- Quy hoạch sử dụng đất gắn với bảo vệ tài nguyên, khoáng sản và môi trường
- Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp
- Quy hoạch phát triển ngành Du lịch
- Quy hoạch phát triển Thuỷ sản - Nông lâm
- Quy hoạch phát triển ngành Thương mại
- Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp
- Quy hoạch phát triển ngành Giáo dục - Đào tạo
- Quy hoạch phát triển ngành Văn hóa - Thông tin
- Quy hoạch phát triển ngành Y tế
- Quy hoạch Quốc phòng - An ninh.
Định hướng phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
4.1 NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU VÀ KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐẾN
4.1.1 Rà soát và điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội
Xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội cho vùng, tập trung vào chuỗi đô thị Huế-Đà Nẵng-Tam Kỳ-Quảng Ngãi dọc theo trục Liên Chiểu-Dung Quất Đồng thời, cần chú trọng mối quan hệ với các tỉnh Tây Nguyên và mở rộng kết nối hướng tới Lào, Đông-Bắc Thái Lan và Myanmar trong khuôn khổ hành lang Đông-Tây.
Rà soát và điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội thành phố đến năm 2010, lập Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2006-2010) với cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp-Dịch vụ-Nông nghiệp Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Dịch vụ-Công nghiệp-Nông nghiệp sau năm 2010, với tầm nhìn đến năm 2015.
Rà soát và bổ sung Quy hoạch phát triển ngành nhằm lồng ghép vào Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, hướng tới mục tiêu đến năm 2010 cho kế hoạch ngắn hạn.
2015 (quy hoạch dài hạn), bao gồm:
- Quy hoạch sử dụng đất gắn với bảo vệ tài nguyên, khoáng sản và môi trường
- Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp
- Quy hoạch phát triển ngành Du lịch
- Quy hoạch phát triển Thuỷ sản - Nông lâm
- Quy hoạch phát triển ngành Thương mại
- Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp
- Quy hoạch phát triển ngành Giáo dục - Đào tạo
- Quy hoạch phát triển ngành Văn hóa - Thông tin
- Quy hoạch phát triển ngành Y tế
- Quy hoạch Quốc phòng - An ninh
Đà Nẵng được định hướng trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa lớn của miền Trung và cả nước, với các chức năng chính là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ Thành phố sẽ là cảng biển và đầu mối giao thông quan trọng, bao gồm đường biển, hàng không, đường sắt và đường bộ, phục vụ cho việc trung chuyển và vận tải trong nước và quốc tế Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung tâm bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, văn hóa - thể thao, giáo dục - đào tạo, và khoa học công nghệ, đồng thời giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng và an ninh khu vực Nam Trung.
Bộ, Tây Nguyên và cả nước
4.2.1 Mục tiêu phát triển xã hội
Phát triển một xã hội ổn định và lành mạnh cần đặt con người làm trung tâm, vừa là đối tượng được quan tâm, vừa là chủ thể quyết định sự phát triển bền vững.
Phát triển các hoạt động văn hoá thông tin cần hài hoà giữa việc thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền và đáp ứng nhu cầu văn hoá của nhân dân Mục tiêu là xây dựng đời sống văn hoá văn minh, hiện đại, đồng thời phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Cần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá, giảm dần chênh lệch về hưởng thụ văn hoá giữa các vùng trong thành phố, cũng như giữa thành thị và nông thôn.
Nâng cao chất lượng nội dung và hình thức thể hiện, đa dạng hóa các hoạt động văn hóa phù hợp với mọi đối tượng Đảm bảo đầy đủ các loại hình hoạt động văn hóa cho vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa Khuyến khích thành lập các câu lạc bộ để mọi người dân có cơ hội tham gia và sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa.
Tạo ra một sự chuyển biến toàn diện trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tập trung vào việc xây dựng cơ cấu giáo dục phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Nâng cao kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn là một bước cơ bản trong phát triển nông thôn đa ngành nghề Đến năm 2010 và các giai đoạn tiếp theo, cần chú trọng vào giao thông và điện khí hóa, đảm bảo cung cấp điện và nước sạch chất lượng Mục tiêu là hình thành một khu vực nông thôn văn minh, hiện đại, gần gũi với cuộc sống đô thị.
Để thu hẹp sự chênh lệch giữa các vùng và tầng lớp dân cư trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, cần đảm bảo an toàn xã hội và quốc phòng Việc thực hiện hiệu quả chương trình hành động của thành phố sẽ giúp giảm thiểu các tệ nạn xã hội, từ đó tạo nền tảng ổn định cho sự phát triển kinh tế.
Đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, mọi người đều có quyền tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh ban đầu và các dịch vụ y tế cơ bản Cần đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các hình thức khám, chữa bệnh, phát triển dịch vụ y tế theo nhu cầu, hướng tới quản lý sức khỏe tại từng hộ gia đình Đầu tư vào cơ sở vật chất và trang thiết bị cho tuyến y tế cơ sở là cần thiết để đáp ứng tiêu chuẩn phân tuyến kỹ thuật hiệu quả.
Để nâng cao chất lượng đội ngũ y tế, cần chú trọng cả về chuyên môn lẫn đạo đức, đồng thời xây dựng chính sách thu hút các chuyên gia hàng đầu nhằm áp dụng và phát triển các kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán và điều trị Bên cạnh đó, cần tăng cường cả chất lượng lẫn số lượng các bộ phận cấp cứu ngoại viện, đồng thời phát triển các dịch vụ phục hồi chức năng kết hợp với du lịch để nâng cao trải nghiệm cho bệnh nhân.
Để phòng chống dịch bệnh hiệu quả, cần chủ động nâng cao ý thức vệ sinh và phòng bệnh, giúp người dân tự bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng Cần khống chế các bệnh không lây và các bệnh đang có xu hướng gia tăng như ung thư, tim mạch, ngộ độc thông qua việc tăng cường kiểm tra, phát hiện và điều trị sớm, đồng thời hạn chế sự lây lan trong cộng đồng của các bệnh như lao và HIV/AIDS.
Để nâng cao sức khỏe cộng đồng, cần phát triển các hoạt động văn hóa và thể thao đa dạng, đồng thời cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Mục tiêu là giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, ngăn chặn dịch bệnh, và tăng cường số lượng người được khám chữa bệnh thường xuyên đến năm 2015.
4.2.2 Mục tiêu phát triển kinh tế
- GDP tăng 13%/năm thời kỳ 2001 - 2005; tăng 14%/năm thời kỳ 2006 - 2010; tăng 13,5%/năm cả thời kỳ 2001 - 2010
- GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 2000 USD
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 21 - 23%/năm giai đoạn 2001 - 2010, đạt 1.720 triệu USD vào năm 2010
- Tốc độ phát triển dân số ở dưới mức 1,2% vào năm 2010
- Đến 2010 giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống dưới mức 10%, số hộ được sử dụng điện 100% và nước sạch là 95%
- Hàng năm giải quyết thêm việc làm cho khoảng 2,2 - 2,5 vạn lao động
- Cơ cấu kinh tế: đến năm 2010 theo hướng Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp
+Thuỷ sản, nông, lâm nghiệp: 3,2%
4.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XẪ HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ
Thành phố Đà Nẵng sẽ được phát triển thành một đô thị hiện đại và văn minh, với môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh, ổn định và bền vững Đà Nẵng sẽ giữ vai trò trung tâm của miền Trung và Tây Nguyên, với cơ cấu kinh tế đa dạng bao gồm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, thủy sản và nông lâm nghiệp, đồng thời kết nối với cả nước và khu vực hành lang Đông – Tây.
Phát triển các ngành và lãnh vực kinh tế-xã hội
4.4 PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH VÀ CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ-XÃ HỘI
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng bình quân 16,62% thời kỳ 2001 - 2005 và 15,5% thời kỳ 2006 - 2010, cả thời kỳ 2001 - 2010 đạt bình quân 16,1%/năm
Nhanh chóng phát triển các ngành công nghiệp chủ lực bằng cách tận dụng lợi thế sẵn có và nâng cao ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại Điều này bao gồm công nghiệp chế biến hải sản, công nghiệp phần mềm, công nghiệp cơ khí đóng mới và sửa chữa tàu biển, cũng như công nghiệp cảng phục vụ kinh tế biển và các ngành công nghiệp xuất khẩu.
Triển khai xây dựng và quản lý hiệu quả các khu công nghiệp Liên Chiểu và Hoà Khánh tại Đà Nẵng nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước Đồng thời, cần phát triển các cụm công nghiệp vệ tinh, công nghiệp chế biến và dịch vụ ở khu vực nông thôn Quan trọng là di chuyển các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm ra khỏi nội thành theo quy hoạch phát triển công nghiệp của thành phố.
Xây dựng Đà Nẵng thành đầu mối trung chuyển hàng hóa và dịch vụ của miền Trung, nâng cao vai trò kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng Tăng cường tiếp thị để mở rộng thị trường xuất khẩu, liên kết thương mại nội địa với xuất khẩu, và từng bước phát triển xuất khẩu dịch vụ, từ đó thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa kinh tế - xã hội.
Phát triển kho trung chuyển là yếu tố quan trọng để nhanh chóng hình thành các trung tâm thương mại, khu dịch vụ thương mại tổng hợp và trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế.
- Phấn đấu nâng tỷ trọng ngành du lịch trong cơ cấu GDP lên 13,3% vào năm
Đà Nẵng đang hướng tới việc trở thành trung tâm du lịch hàng đầu, với mục tiêu đa dạng hóa các loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, tắm biển, du lịch sinh thái và tham quan Thành phố chú trọng phát triển cả du lịch quốc tế và nội địa, qua đó góp phần mở rộng giao lưu quốc tế và thu hút hợp tác đầu tư.
Quy hoạch phát triển du lịch tại Đà Nẵng tập trung vào khu vực từ Bà Nà đến bán đảo Sơn Trà và ven bờ sông Hàn, nhằm tạo ra một hệ thống du lịch liên kết với Huế, Quảng Nam và Tây Nguyên Đồng thời, phát triển du lịch Đà Nẵng cũng cần chú trọng đến mối quan hệ với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch.
Sân bay quốc tế Đà Nẵng đang được phát triển với mục tiêu trở thành trung tâm hàng không chính của miền Trung và là cửa ngõ quốc tế thứ ba của Việt Nam.
Vào năm 2006, sân bay quốc tế Đà Nẵng đã hoàn thành việc xây dựng nhà ga mới với công suất 4 triệu khách mỗi năm, đạt tiêu chuẩn quốc tế và được đầu tư 75 triệu USD Đến năm 2007, giai đoạn I của nhà ga đã hoàn tất, với khả năng phục vụ 2 triệu hành khách mỗi năm.
- Mở rộng và kéo dài đường băng, đồng thời nâng cấp chất lượng các dịch vụ mặt đất và dịch vụ hàng không mang tầm kinh tế khu vực
- Mở thêm các đường bay quốc tế mới đến các nước trong khu vực, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Mỹ
Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố cảng, cần tập trung mạnh vào việc phát triển các dịch vụ như cảng biển, sân bay, kho vận, vận tải, bảo hiểm, tài chính, ngân hàng và thông tin tiếp thị.
Đến năm 2010, cảng Tiên Sa đã được nâng cấp với công suất từ 4,5 triệu tấn lên 5 triệu tấn, trong khi cảng Sông Hàn cũng được cải thiện với quy mô trên 1 triệu tấn/năm, cho phép tàu vào cảng có trọng tải dưới 3000 DWT.
Đến năm 2010, cảng Liên Chiểu đã được hoàn thành với quy mô hàng hóa đạt 1 triệu tấn/năm, bao gồm cả xi măng Hải Vân Trong giai đoạn 2006-2010, cảng đã xây dựng bến tổng hợp cho tàu 10.000 DWT và bến container cho tàu 30.000 DWT, đảm bảo an toàn trong việc neo cập và làm hàng, cùng với đê chắn sóng dài 850m Sau năm 2010, cảng đã được đầu tư trực tiếp để nâng công suất lên 6-6,5 triệu tấn/năm.
Để phát triển đội tàu container và tàu du lịch nội địa, cần tập trung vào các cảng biển chính như Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn và Cần Thơ Việc liên kết tổ chức vận tải trực tiếp từ cảng Đà Nẵng đến các cảng khu vực và châu Á sẽ tạo ra sự thuận lợi trong giao thương và nâng cao hiệu quả vận chuyển hàng hóa.
4.4.5 Thuỷ sản, nông lâm nghiệp và phát triển nông thôn:
Để đạt được hiệu quả kinh doanh bền vững, cần thực hiện phương thức kinh doanh tổng hợp Điều này bao gồm việc xây dựng đội tàu đánh bắt xa bờ được trang bị thiết bị kỹ thuật hiện đại, cùng với hệ thống cơ sở hậu cần nghề cá đảm bảo cho hoạt động đánh bắt lâu dài và hiệu quả trên biển.
Phát triển nuôi trồng thủy sản là một xu hướng quan trọng, trong đó hình thành các làng cá cho phép các hộ gia đình kết hợp giữa nghề cá, dịch vụ du lịch và sản xuất nông nghiệp Sự kết hợp này không chỉ tăng cường sinh kế cho người dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Cảng cá Thuận Phước và âu thuyền Thọ Quang - Nại Hiên Đông sẽ được xây dựng, đồng thời tiến hành sắp xếp, cải tạo và nâng cấp các cơ sở đóng tàu, thuyền cùng với dịch vụ nghề đánh bắt thủy sản.
Chiến lược phát triển kinh tế
Các vấn đề trọng tâm thông qua các chiến lược đó là
Để đạt được sự phát triển kinh tế ổn định, cần tạo ra điều kiện thuận lợi cho tốc độ phát triển kinh tế cao và bền vững, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm một cách mạnh mẽ.
Cải tiến công nghệ bằng cách khuyến khích đẩy mạnh nghiên cứu
Nâng cao kỹ thuật thông qua việc huy động và phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
Xoá đói giảm nghèo bằng cách tạo ra việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách Cần đổi mới cơ chế quản lý và cải cách thủ tục hành chính để thu hút đầu tư từ trong và ngoài nước, tạo ra một môi trường kinh doanh hấp dẫn.
4.5.1 Các chiến lược phát triển ưu tiên
4.5.1.1 Cải thiện cơ sở hạ tầng trong thành phố
Phát triển hạ tầng và nâng cấp hệ thống cấp nước là cần thiết để cải thiện giao thông nông thôn Cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu công nghiệp và cụm công nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời nhanh chóng hình thành các trung tâm thương mại và khu dịch vụ thương mại tổng hợp.
Cải thiện hệ thống giao thông công cộng Đẩy mạnh dịch vụ bưu chính và cải thiện hệ thống viễn thông nhằm đáp ứng nhu cầu trong tương lại
4.5.1.2 Thúc đẩy sự phát triển đô thị theo quy hoạch
Cải tạo và xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, đặc biệt là giao thông và thoát nước, vệ sinh môi trường
Hoàn thiện dần các KCN Liên Chiểu, Hoà Khánh, An Đồn
Xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu dân cư mới giúp kết hợp những khu nhà liên kết đầu tư tập trung với các khu dân cư tự xây Điều này tạo ra không gian sống đồng bộ, đẹp mắt, đa dạng và hiện đại, đồng thời giữ gìn bản sắc dân tộc.
Hạn chế phát triển các khu thành phố củ gồm các quận Hải Châu, Thanh Khê và Sơn Trà
Cải tạo và xây dựng mới các vườn công viên cấp quận và phường là một phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng không gian xanh Đầu tư vào các khu nghỉ mát như Mỹ Khê, du lịch Non Nước và khu du lịch Bà Nà-Suối sẽ thu hút du khách và phát triển kinh tế địa phương.
Mơ, cải thiện môi trường các khu du lịch dọc bờ biển Mỹ Khê và ven sông Hàn
4.5.1.2 Khuyến khích phát triển kinh tế ổn định thông qua việc mở rộng và cải thiện các lĩnh vực thứ yêu, thứ hai và thứ ba
Khuyến khích phát triển các lĩnh vực kinh tế có giá trị cao và sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn công nghiệp hiện đại, ưu tiên cho ngành sản xuất hàng xuất khẩu, chế biến hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, điện tử, cao su, giày da, may mặc và hóa chất.
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào KCN, chú trọng phát triển công nghiệp nhỏ và vừa
Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ kỹ thuật là rất quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng kỹ thuật cao và chế biến tinh xảo với mẫu mã, kiểu dáng đa dạng.
Tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng để thu hút vốn và công nghệ mới từ môi trường bên ngoài
Khuyến khích đầu tư vào các ngành dịch vụ như du lịch, tài chính, ngân hàng, vận tải biển và hàng không, cùng với dịch vụ môi giới tiêu thụ hàng hóa và xuất khẩu Đồng thời, thực hiện các chiến lược thu hút ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và đa dạng hóa cơ cấu trong lĩnh vực này.
Tạo điều kiện thuận lợi để các ngành tiểu thủ công nghiệp phát triển, củng cố và tăng cường việc hình thành các HTX TTCN
Cung cấp vốn vay ưu đãi để nông dân đầu tư các vùng sản xuất nguyên liệu và hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng
Củng cố các thị trường truyền thống như Trung Quốc và Lào, đồng thời mở rộng và phát triển các thị trường mới tại Mỹ, Nhật Bản, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất và Nga.
Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đẩy nhanh tiến độ đầu tư vào KCN dịch vụ và chế biến thủy sản Thọ Quang, nhà máy chế biến thủy sản Thuận Phước, cùng với nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh Xây dựng Trung tâm giao dịch và chợ cá bán đấu giá, đồng thời tiếp tục đầu tư vào hạ tầng nuôi tôm chuyên nghiệp.
Ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường là nhiệm vụ quan trọng, bao gồm việc phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường nước, đất, không khí, cũng như các khu công nghiệp và đô thị Để đạt được điều này, cần nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông, hệ thống cấp thoát nước và xử lý hiệu quả nước thải cùng chất thải rắn.
Bảo vệ tài nguyên môi trường là ưu tiên hàng đầu, bao gồm việc di chuyển các cơ sở công nghiệp ô nhiễm ra khỏi nội thành đến các khu vực thích hợp ngoại thành Cần đẩy mạnh giao đất, giao rừng gắn với định canh, định cư để phát triển bền vững Đồng thời, tranh thủ các nguồn vốn nhằm tăng dần diện tích rừng, nâng độ che phủ lên 45%, phát triển rừng phòng hộ và bảo vệ rừng hiện có.
4.5.1.4 Xoá đói giảm nghèo, giáo dục đào tạo
Phát triển kinh tế đi đôi vơí xoá đói giảm nghèo bền vững
Mở rộng quy mô giáo dục và đào tạo, xã hội hóa công tác giáo dục, đa dạng hóa các loại hình trường lớp và hoàn thành việc phổ cập giáo dục trung học là những mục tiêu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Chú trọng công tác đào tạo tay nghề cho người nghèo
Mở rộng các dịch vụ phục vụ cho đời sống dân sinh
Mở rộng quy mô và cơ cấu đào tạo cán bộ HTX và lao động chuyên môn kỹ thuật cho khu vực kinh tế tập thể
Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực cho giáo dục và đào tạo là rất quan trọng Cần khuyến khích việc thành lập các trường ngoài công lập ở tất cả các cấp và bậc học để nâng cao chất lượng giáo dục.
Để phát triển bền vững, thành phố cần tập trung vào việc đào tạo nhân lực cho các ngành mũi nhọn như khoa học, công nghệ, kinh doanh và quản lý, bao gồm du lịch, kinh tế đối ngoại, thương mại, ngân hàng và tin học Đồng thời, cần nâng cao tay nghề cho đội ngũ công nhân lao động để đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Các nguyên nhân gây biến động và ảnh hưởng đến môi trường
4.6.1 Áp lực gia tăng dân số
Sự gia tăng dân số và tập trung dân cư tại Đà Nẵng đang tạo ra áp lực lớn trong việc giải quyết các vấn đề việc làm, chỗ ở và tiện ích công cộng, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường Quá trình này đồng nghĩa với việc gia tăng chất thải, bao gồm rác thải, nước thải sinh hoạt và khí thải từ phương tiện giao thông cũng như các hoạt động xây dựng Hơn nữa, việc quản lý hành chính và ngăn ngừa tệ nạn cũng trở thành thách thức lớn khi dân số tăng nhanh.
Sự phát triển đô thị dẫn đến sự gia tăng đáng kể về phương tiện giao thông cơ giới, gây ra lượng bụi khí độc hại và tiếng ồn, từ đó làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm không khí trong khu vực đô thị.
Tài nguyên đất sẽ bị khai thác mạnh mẽ để phục vụ cho việc xây dựng đô thị và khu công nghiệp, dẫn đến việc đất nông nghiệp và các loại đất khác sẽ bị chiếm dụng để xây dựng nhà ở và các công trình đô thị.
Làm tăng nhu cầu khai thác tài nguyên nước phục vụ cho sinh hoạt, dịch vụ và sản xuất, làm suy thoái tài nguyên nước
Sự gia tăng nhanh chóng của dân số đô thị đang tạo ra áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật, bao gồm các dịch vụ cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, giao thông, cũng như việc thu gom và xử lý rác thải.
4.6.2 Áp lực của quá trình công nghiệp hoá
Công nghiệp hoá đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của thành phố Đà Nẵng, đồng thời là ưu tiên hàng đầu trong quy hoạch phát triển của địa phương.
Quá trình công nghiệp hóa mang lại sự phát triển kinh tế nhưng cũng làm gia tăng nhu cầu về năng lượng và nguyên liệu, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường sống.
Việc mở rộng các khu công nghiệp (KCN) mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt, nhưng cũng đồng thời tạo ra áp lực lớn về mặt xã hội và môi trường.
Quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra áp lực gia tăng dân số cơ học, dẫn đến những thách thức trong quản lý hành chính, đặc biệt là trong việc ngăn ngừa các tệ nạn phát sinh từ các khu dân cư gần các khu công nghiệp.
Công nghiệp hóa dẫn đến sự gia tăng chất thải, gây ô nhiễm môi trường nước, không khí và đất Tỷ lệ chất thải nguy hiểm và độc hại cũng đang gia tăng nhanh chóng.
Công nghiệp hoá đã làm thay đổi sâu sắc cơ cấu lao động và kinh tế tại địa phương, dẫn đến việc giảm nguồn thu ngân sách do nhiều lao động và hoạt động kinh tế chuyển sang lĩnh vực công nghiệp, mà không còn thuộc sự quản lý của địa phương.
Công nghiệp hóa dẫn đến sự gia tăng đáng kể lượng chất thải công nghiệp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, đồng thời tạo ra áp lực lớn trong việc xử lý các chất thải này.
4.6.3 Áp lực của sự phát triển dịch vụ
Thành phố Đà Nẵng sở hữu tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, bao gồm địa hình, khí hậu, rừng, biển và hệ động thực vật đa dạng, tạo nên cảnh quan đặc sắc với nhiều hồ, núi, rừng và bãi biển Đặc biệt, tài nguyên biển đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của thành phố.
Sự gia tăng lượng khách du lịch đến Đà Nẵng đang dẫn đến tình trạng gia tăng chất thải, đặc biệt là chất thải rắn, gây hư hại nghiêm trọng đến các nguồn tài nguyên nếu không có biện pháp quản lý hiệu quả Các bãi biển là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do ô nhiễm từ nước thải và rác thải, với nhiều bãi tắm đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và vi sinh Mặc dù hoạt động du lịch chưa được kiểm soát chặt chẽ, nhưng sự suy giảm cảnh quan tự nhiên đang diễn ra và có thể gây thiệt hại lớn trong tương lai Ngoài ra, ô nhiễm từ các ngành công nghiệp cũng đang đe dọa đến tài nguyên du lịch của thành phố.
4.6.4 Áp lực từ việc sử dụng tài nguyên nước
Đến năm 2010, thành phố Đà Nẵng cần khoảng 451.000 m³ nước mỗi ngày để phục vụ cho nhu cầu công nghiệp, dịch vụ và cư dân, với mức tiêu thụ nước sinh hoạt trung bình là 150 lít/ngày/người, trong đó 80% dân số sử dụng nước máy Để đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp và du lịch trong tương lai, thành phố cần nâng cấp và xây dựng mới một số nhà máy nước.
Nâng công suất nhà máy nước Cầu Đỏ lên 170.000 m 3 /ngày đêm
Nâng công suất nhà máy nước Sân Bay lên 30.000 m 3 /ngày đêm
Nâng công suất trạm cấp nước Sơn Trà lên 10.000 m 3 /ngày đêm
Xây dựng nhà máy nước trung tâm thành phố với công suất giai đoạn 1 đạt 120.000 m 3 /ngày đêm, giai đoạn 2 đạt 240.000 m 3 /ngày đêm
Nhà máy nước gần sông Cu Đê sẽ được xây dựng với công suất giai đoạn 1 đạt 20.000 m³/ngày đêm và giai đoạn 2 đạt 100.000 m³/ngày đêm, nhằm phục vụ cho các Khu Công nghiệp Hòa Khánh, Liên Chiểu và các khu dân cư mới phía Tây Bắc thành phố.