1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập học kỳ dân sự người không được quyền hưởng di sản lý luận và thực tiễn

23 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Học Kỳ Dân Sự Người Không Được Quyền Hưởng Di Sản Lý Luận Và Thực Tiễn
Tác giả Lê Đình Nghị
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 55,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc quyềnbình đẳng về thừa kế là một trong những nguyên tắc của quyền thừa kế, cụ thể Điều 632 BLDS năm 2005 quy định: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cánhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế Quyền để lạithừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân, đã được ghi nhậntại Điều 58 Hiến pháp năm 1992 và Điều 631 BLDS năm 2005 Nguyên tắc quyềnbình đẳng về thừa kế là một trong những nguyên tắc của quyền thừa kế, cụ thể Điều

632 BLDS năm 2005 quy định: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Tuy nhiên, trong xã hội có một số trường hợp cá biệt người thừa kế vi phạm

nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, có những hành vi trái pháp luật, trái với đạo đức

xã hội, trái với thuần phong mĩ tục của nhân dân Việt Nam, xâm phạm đến danh

dự, uy tín, tính mạng, sức khỏe của bố, mẹ, anh, em, vợ, chồng, Những người nàykhông còn xứng đáng được hưởng thừa kế và pháp luật đã tước quyền đó của họ.Việc này được thể hiện ở Điều 643 BLDS năm 2005 với quy định về những ngườikhông được quyền hưởng di sản Trong bài luận này, chúng ta sẽ cùng đi sâu phântích về “người không được quyền hưởng di sản” theo pháp luật Việt Nam

B NỘI DUNG

I Một số vấn đề lý luận

1 Khái quát chung về thừa kế

Quyền thừa kế, theo nghĩa rộng, là một chế định pháp luật bao gồm tổng hợp

các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ về việc dịch chuyển tài sản từngười chết cho những người còn sống khác theo ý chí của họ được thể hiện trong dichúc hoặc theo ý kiến của nhà nước được thể hiện trong các quy phạm pháp luật.Theo nghĩa hẹp, quyền thừa kế được hiểu là một quyền năng dân sự chủ quan của

Trang 2

chủ thể có quyền để lại di sản thừa kế hoặc có quyền hưởng di sản thừa kế củangười chết để lại theo ý chí của người đó hoặc theo quy định của pháp luật.1

Thừa kế là một chế định pháp luật dan sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật

điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúchoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ vàphương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế2

Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đã

chết, quyền về tài sản của người đó3 Điều 634 BLDS năm 2005 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” Tài sản riêng của người chết là tài sản mà người đó có

được từ các căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp Tài sản của người chết trongkhối tài sản chung với người khác có thể là được tặng cho chung, thừa kế chung,cùng góp vốn để sản xuất kinh doanh hoặc là tài sản chung của vợ chồng trong thời

kỳ hôn nhân

Thời điểm và địa điểm mở thừa kế Điều 633 BLDS năm 2005 đã có quy định

về hai khái niệm này Theo đó, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sảnchết Trong trường hợp tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa

kế là ngày được tòa án xác định trong quyết định tuyên bố một người là đã chết.Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; còn nếu khôngxác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặcphần lớn di sản

Người thừa kế là người được hưởng di sản của người chết để lại theo chỉ định

trong di chúc hoặc theo quy định của pháp luật4 Điều 635 có quy định về điều kiện

của người thừa kế như sau: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào

1 Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Tập 1), Nxb.Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009, tr 238

2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Tập 1), Nxb.CAND, Hà Nội, 2009, tr 298.

3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Tập 1), Nxb CAND, Hà Nội, 2009, tr 314

4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (Tập 1), Nxb CAND, Hà Nội, 2009, tr 310

Trang 3

thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo

di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”

Việc thừa kế của những người có quyền hưởng di sản của nhau mà chết

cùng thời điểm Điều 641, BLDS năm 2005 đã có quy định về việc này, cụ thể như

sau: “Trong trường hợp những người có quyền hưởng di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không xác định được người nào chết trước thì họ không được hưởng di sản thừa kế của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị”.

Từ chối nhận di sản Theo quy định tại Điều 642 BLDS năm 2005 thì người

thừa kế có quyền từ chối nhận di sản trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránhviệc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác

2 Quy định người không có quyền hưởng di sản của pháp luật Việt Nam

trước BLDS năm 2005.

Trước năm 1945 ở nước ta, pháp luật của chế độ thực dân phong kiến cũng cónhững quy định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản của người quá cố(họ được coi là người thừa kế bất xứng) Điều 313 Bộ dân luật Bắc Kì và Điều 306Dân luật Trung Kì đều dự liệu những trường hợp người thừa kế không có quyềnhưởng di sản đó là: thứ nhất, người đã bị người lập di chúc tuyên bố không xứngđáng được hưởng di sản của người lập di chúc Thứ hai là người có hành vi xâmphạm đến tính mạng người để lại di sản hoặc với danh nghĩa chính phạm hoặc đồngphạm hoặc tòng phạm Thứ ba là người đã trưởng thành biết được hành vi cố ý giếtngười mà không tố giác với Tòa án, nhưng nếu kẻ sát hại là cha, mẹ, anh, em, vợ,

Trang 4

chồng hoặc người thân thuộc của người thừa kế thì không bị coi là có lỗi vì đãkhông bị coi là tố giác và cuối cùng là người có hành vi vu khống để lại di sản hoặc

vu khống ông, bà, cha, mẹ của người đó và người bị vu khống đã bị phạt về trọngtội hay thường tội Cũng về vấn đề trên, theo án lệ ở miền Nam nước ta trước năm

1945 thì người vợ góa bị coi là bất xứng không có quyền hưởng di sản, phần di sản

đó sẽ do con hoặc cháu của người đó được hưởng nếu người vợ góa có các hành vinhư là:không để tang chồng; sống thiếu đạo đức và đã công khai gây tai tiếng chogia đình chồng; đã có nhân tình hoặc đã lạm dụng quyền hưởng di sản mà không cóbiên bản kê khai

Sau cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, chiếutheo Sắc lệnh ngày 10/10/1945 về tạm giữ các điều lệ hiện hành ở Việt Nam để thihành cho đến khi ban hành những bộ luật của chế độ mới của toàn cõi Việt Nam, ởnước ta trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 vẫn áp dụng những quy địnhcủa pháp luật thời thực dân phong kiến quy định về thừa kế, chỉ loại bỏ những quyđịnh trái với những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp năm 1946 của nước Việt NamDân chủ Cộng hòa

Từ năm 1959 đến năm 1981, trên thực tế ở nước ta, mặc dù đã có một số thông

tư của ngành Tòa án hướng dẫn giải quyết tranh chấp về quyền thừa kế (ví dụThông tư số 594 ) nhưng không có một nội dung nào về những người thừa kếkhông có quyền hưởng di sản

Cơ sở pháp lí để tước quyền thừa kế của một số người chỉ bắt đầu được quyđịnh tại Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranhchấp về quyền thừa kế Cụ thể, tại thông tư 81/ TANDTC có quy định về ngườikhông được hưởng thừa kế:

“III A 4 Người không được thừa kế

Trang 5

- Người đã giết người để thừa kế hoặc đã đối xử quá tàn tệ với người đó thì không được thừa kế di sản của người đó.

- Người đã giết người thừa kế cùng hàng với mình để chiếm đoạt toàn bộ di sản hoặc nhằm làm tăng kỷ phần cho bản thân thì không được thừa kế di sản của cả hai người ấy (người để thừa kế và người bị giết)”

Ngày 30/08/1990 Pháp lệnh thừa kế được ban hành Vấn đề người thừa kếkhông có quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 7 Cụ thể là:

“Điều 7: Những người thừa kế không có quyền hưởng di sản

1- Những người thừa kế sau đây không có quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có quyền hưởng; d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép người có tài sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người có tài sản.

2- Những người nói tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người có tài sản thể hiện ý chí vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”.

Điều này đã được cụ thể hóa tại Khoản 2 Nghị quyết số 02/HĐTP về việc hướngdẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế

Nội dung của Điều 7 Pháp lệnh thừa kế nói trên đã được giữ nguyên và được thểhiện tại Điều 646 BLDS năm 1995 và nay là BLDS năm 2005 tại Điều 643

3 Những người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều

643 BLDS năm 2005

Trang 6

Điều 643 BLDS năm 2005 có quy định về “người không được quyền hưởng disản” vì họ không còn xứng đáng hưởng thừa kế Cụ thể như sau:

“1 Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành

vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự và nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí người để lại di sản \

2 Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”.

Theo đó, người không được quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 643BLDS năm 2005 bao gồm cả người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo dichúc Như vậy, người thừa kế không được quyền hưởng di sản khi thuộc một trongcác trường hợp sau đây:

Thứ nhất: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người đó.

Hành vi “xâm phạm đến tính mạng” được hiểu là hành vi cố ý tước đoạt tínhmạng người để lại di sản trái pháp luật Hành vi tước đoạt tính mạng người khácđược hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho người để lại di sản, chấm dứt

Trang 7

sự sống của người đó Hành vi đó là hành vi khách quan của tội giết người, phải làhành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật (để phân biệtvới những hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong trường hợp phòng vệchính đáng hay trong trường hợp thi hành án tử hình).

Điều 643 BLDS năm 2005 chỉ quy định người có hành vi cố ý giết người để lại

di sản và đã bị kết án về hành vi cố ý đó thì không có quyền hưởng thừa kế củangười để lại di sản chứ không quy định một người chỉ bị kết án về hành vi vô ý làmchết người để lại di sản cũng bị tước luôn quyền đó Như vậy, trong trường hợp

trên thì việc xem xét hình thức lỗi của người có hành vi xâm phạm đến tính mạng

người để lại di sản có ý nghĩa quyết định đến việc người đó có được hưởng di sảnhay không

Hành vi “ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó” Người có hành vi ngược đãi

nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản và đã bị kết án về một trong các hành vi

đó thì bị tước quyền thừa kế di sản của người đã bị ngược đãi, bị hành hạ sau khichết Hành vi ngược đãi là hành vi đối xử tàn tệ, nhẫn tâm người thân của mình tráivới đạo đức, luân lý xã hội Người có hành vi trên có thể là người có quan hệ lệthuộc với nạn nhân và người bị hành hạ, ngược đãi thường là người bị lệ thuộctrong quan hệ gia đình, họ tộc Hành vi đối xử tàn ác có tính chất hành hạ, gây đauđớn về thể xác, tinh thần với người bi hại Người có hành vi ngược đãi, hành hạngười để lại di sản phải xác định là hành vi cố ý Xâm phạm nghiêm trọng danh dự,nhân phẩm của người để lại di sản thể hiện ở hành vi làm nhục, bịa đặt hoặc loantin những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự người để lại di sản

Một người có quyền dân sự nhưng đã có hành vi gây hậu quả trái pháp luật lànguyên nhân dẫn đến quyền đó bị triệt tiêu Người thừa kế có hành vi cố ý giếtngười để lại di sản, hành hạ, ngược đãi người để lại di sản, xâm phạm đến danh dự,

Trang 8

nhân phẩm của người để lại di sản và đã bị Tòa án kết án về những hành vi cố ý đóthì bị tước quyền thừa kế của người để lại di sản Các tội này đã được quy định tạiChương XII (các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của conngười) và Điều 151 (tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con,cháu, người có công nuôi dưỡng mình) Bộ luật hình sự năm 1999.

Như vậy, ta có thể kết luận: điều kiện chính đặt ra trong trường hợp này đó làphải có một bản án có hiệu lực pháp luật Pháp luật luôn bảo vệ quyền lợi chínhđáng cho mọi người nhưng những ai có hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người

để lại di sản một cách trái pháp luật thì pháp luật quy định họ không có quyền thừa

kế di sản của người để lại di sản Với quy định “hành vi cố ý xâm phạm tính mạng,sức khỏe” điều đó cũng có nghĩa rằng nếu một người chỉ bị kết án về hành vi vô ýlàm chết người thì không bị tước quyền thừa kế Bên cạnh đó, người không bị truycứu trách nhiệm hình sự hoặc không bị kết án thì không bị ràng buộc bởi điều luậtnày Người có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, đối xử tàn tệ hoặc đày đọa

về thể xác, tinh thần người để lại di sản thì bị tước quyền hưởng thừa kế di sảnngười bị ngược đãi, hành hạ đó Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đếndanh dự, nhân phẩm của người để lại di sản đã biết hành vi của mình là trái phápluật nhưng vẫn thực hiện hành vi để đạt được mục đích của mình thì không cóquyền nhận di sản thừa kế của người để lại di sản

Thứ hai là “người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại

di sản”.

Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa người để lại di sản với người thừa kế theopháp luật khi người để lại di sản còn sống Nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhaukhi còn sống giữa cá nhân với cá nhân đã không những là thông lệ của xã hội màcòn được pháp luật quy định Phổ biến nhất là quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ vớicác con, các con đã trưởng thành với cha mẹ già yếu không có khả năng lao động

Trang 9

hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự (người để lại di sản) hoặc có người để lại disản không đầy đủ Nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau giữa cha mẹ và các con,giữa ông bà với cháu đã được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959,Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 và hiện nay là Luật Hôn nhân và Gia đìnhnăm 2000.

Nghĩa vụ cấp dưỡng gắn liền với nhân thân một cá nhân và không thể chuyểndịch cho người khác và cũng không thể phân chia như các nghĩa vụ khác Theo quyđịnh của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì người thừa kế được xác định làngười có nghĩa vụ cấp dưỡng người để lại thừa kế trong các trường hợp sau đây:

- Người để lại thừa kế là cha, mẹ của họ Tại khoản 2 Điều 36 Luật Hôn nhân và

Gia đình năm 2000 quy định: “Con có nghĩa vụ và có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt là khi cha mẹ đau ốm, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình

có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.” Theo quy

định này thì bổn phận của con là phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ trong mọi tìnhtrạng, bất luận tình trạng kinh tế, sức khỏe của cha mẹ như thế nào

- Người để lại thừa kế là con của họ Khoản 1 Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình

đã có quy định về nghĩa vụ nuôi dưỡng của cha mẹ đôi với con cái, đó là: “Cha mẹ

có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”

- Người để lại thừa kế là anh, chị, em ruột của họ Theo quy định tại Điều 48 Luật

Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì “Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con”

Trang 10

- Người để lại thừa kế là ông bà nội, ông bà ngoại của họ Luật Hôn nhân và Gia

đình năm 2000 cũng đã xác định “Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại” (khoản 2 Điều 47) Điều luật này ta thấy khôngquy định nghĩa vụ mà chỉ là bổn phận Tuy vậy nếu ông, bà không có khả năng laođộng và không có con cháu phụng dưỡng thì cháu cũng phải có nghĩa vụ nuôidưỡng (nếu có đủ điều kiện)

- Người để lại thừa kế là cháu ruột của họ mà họ là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà

ngoại Ông bà cũng có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu trong trường hợp: “Trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không

có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 48 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu” (khoản 1 Điều 47 Luật hôn nhân gia đìnhnăm 2000)

- Người để lại thừa kế là vợ hoặc chồng của họ Luật Hôn nhân và Gia đìnhkhông xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa vợ và chồng mà chỉ xác định nghĩa vụcấp dưỡng nhau khi ly hôn, nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ nhau Tuy nhiên, vợ chồng

có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau khi một bên không còn khả năng lao động và còn cấpdưỡng nhau kể cả khi đã ly hôn khi mà bên kia yêu cầu và được Tòa án chấp nhận Người thừa kế đã vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản, bị Tòa ánkết án về hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế

Theo Nghị quyết số 02/HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối caohướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế: Người có nghĩa vụ nuôidưỡng nhau theo quy định tại Điều 19, 20, 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm

1986 trong khoảng ba năm trước khi người để lại di sản chết nếu có khả năng thựchiện nuôi dưỡng mà không thực hiện làm cho người cần được nuôi dưỡng lâm vào

Trang 11

tình trạng khổ sở hoặc nguy hiểm đến tính mạng thì không có quyền hưởng di sảncủa người đó.

Nghĩa vụ nuôi dưỡng được pháp luật quy định một cách chính thức là một nghĩa

vụ pháp lý chứ không phải là nghĩa vụ thuần túy đạo đức Vì thế, nghĩa vụ nôidưỡng, chăm sóc nhau giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa các anh chị

em ruột với nhau đã được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.Người thừa kế đã vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng người để lại di sản là vi phạm phápluật, sẽ bị tước quyền thừa kế và có khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều

152 BLHS năm 1999: “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế

để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp sưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù

từ ba tháng đến hai năm”.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nhau giữa những người thân thuộc do pháp luật quy địnhnếu vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng là vi phạm pháp luật Do vậy, người vi phạmnghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản mà bị kết án về hành vi đó sẽ không cóquyền thừa kế di sản của người để lại di sản

Thứ ba: người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng

Cũng giống như ở trường hợp thứ nhất, trong trường hợp này, người khôngđược quyền huởng di sản là người đã có hành vi “cố ý xâm phạm đến tính mạngngười thừa kế khác” do mưu đồ chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản thừa kế

mà người thừa kế khác có quyền được hưởng Trong trường hợp này cũng cần mộtbản án có hiệu lực pháp luật liên quan đến việc phạm tội để đương sự không có

Ngày đăng: 27/09/2023, 15:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w