Như vậy, ở khâu tổ chức thực hiện, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở tinh thần phụ trách trước Đảng, Chính phủ và trước nhân dân của cán bộ, đảng viên khi tổ chức thực hiện n
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN KHOA: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài:
Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng và rút ra ý nghĩa cần thiết khi ra trường
GVHD: Lê Thị Ngọc
Nhóm thực hiện: 02
Lớp T15 XDDB.
Đà Nẵng; ngày 22 tháng 9 năm 2011.
Trả lời:
V.I.Lênin đã đề ra những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới để phân biệt với những Đảng cơ hội của Quốc tế II Hồ Chí Minh đã tiếp thu những nguyên lý xây dựng Đảng của V.I.Lênin:
Khái quát những luận điểm của Hồ Chí Minh, có thể thấy người đã đề cập những nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng:
1/ Một là: Tập trung dân chủ: Đây là nguyên tác tổ chức và sinh hoạt Đảng cơ bản nhất trong học thuyết về Đảng vô sản kiểu mới của Lênin
Hồ Chí Minh là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta Trong công tác xây dựng đảng, Người đặc biệt coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ Hồ Chí Minh gọi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng đã đề ra
- Đây là nguyên tác cơ bản nhất để xây dựng Đảng cộng sản, không biến Đảng thành một câu lạc bộ, Hồ Chí Minh gọi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng
- Dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau trong một nguyên tắc, dân chủ để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung; tập trung trên cơ sở dân chủ, theo nguyên tắc thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, mọi đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng Từ đó làm cho “Đảng ta tuy nhiều người nhưng khi tiền đánh thì chỉ như một người”
- Về dân chủ, Người viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân
lý Đó cũng là một quyền lợi và cũng là một nghĩa vụ của một người
Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc ấy, quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý.”
- Người đặc biệt nhấn mạnh đến việc thực hiện và phát huy dân chủ nội bộ, vì có dân chủ trong Đảng mới có thể nói đến dân chủ trong xã hội, mới định hướng cho việc xây dựng một chế độ dân chủ triệu lần dân chủ hơn chế độ tư bản chủ nghĩa
Trang 2Trong từng mặt “dân chủ” và “tập trung” đã có sự hòa quyện và chuyển hóa cho nhau: tập trung đã chứa đựng yếu tố dân chủ, cũng như trong dân chủ đã chứa đựng yếu tố tập trung
Vì thế, tập trung chân chính không thể tồn tại nếu như không có dân chủ chân chính; ngược lại, dân chủ chân chính không thể có được nếu như không có tập trung chân chính
Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, tập trung dân chủ được coi là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng Quan điểm của Người về nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng Đảng ta ngày càng mạnh mẽ, sáng suốt, đủ sức lãnh đạo cách mạng thành công qua các thời kỳ cách mạng Nội dung quan điểm này được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
* Nội dung và bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ
Nội dung và bản chất của nguyên tắc dân chủ tập trung được Hồ Chí Minh luận giải trên hai mặt:
- Một là, “tập trung trên nền tảng dân chủ Cơ quan lãnh đạo của Đảng có uy tín và quyền lực chân chính Những phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng, mọi đảng viên nhất định phải chấp hành Kỷ luật của Đảng, mọi đảng viên phải tuân theo” Đó là tập trung và tập trung ấy phải xây dựng trên nền tảng dân chủ Tức là: “Các cơ quan lãnh đạo đều do quần chúng đảng viên bầu cử lên… Phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng đều do quần chúng đảng viên tập trung kinh nghiệm và ý kiến lại mà thành Rồi lại do các cuộc hội nghị của Đảng thảo luận giải quyết, chứ không ai được tự ý độc đoán… Quyền lực của cơ quan lãnh đạo là do quần chúng đảng viên giao phó cho, chứ không phải tự ai tranh giành được”
- Hai là, “dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung ở trong Đảng, mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề Nhưng quyết không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và trái kỷ luật của Đảng” Theo Người, điều này nhằm chống lại bệnh “nói lung tung; tự do hành động; dân chủ quá trớn” Người khẳng định: “chỉ
có cơ quan lãnh đạo có quyền khai các cuộc hội nghị; tất cả các nghị quyết của Đảng phải
do cơ quan lãnh đạo chuẩn bị kỹ càng, rồi giao cho các cấp thảo luận Không được làm qua loa, sơ sài… khi bầu cử các cơ quan lãnh đạo trong Đảng, phải xem xét rất kỹ lưỡng để lập danh sách những đảng viên ứng cử… và toàn thể đảng viên phải theo đúng Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất của Đảng Toàn thể đảng viên phải theo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương”
Từ hai nội dung lớn ấy, Hồ Chí Minh đi đến kết luận: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính
tổ chức và tính kỷ luật”
Như vậy, tập trung và dân chủ là hai mặt của một nguyên tắc, có mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau, chi phối và làm tiền đề cho nhau, thống nhất biện chứng trong một cấu trúc chỉnh thể Điều đó có nghĩa, trong từng mặt “dân chủ” và “tập trung” đã có sự hòa quyện và chuyển hóa cho nhau: tập trung đã chứa đựng yếu tố dân chủ, cũng như trong dân chủ đã chứa đựng yếu tố tập trung Vì thế, tập trung chân chính không thể tồn tại nếu như không có dân chủ chân chính; ngược lại, dân chủ chân chính không thể có được nếu như không có tập trung chân chính
Nguyên tắc này có tác dụng định hướng thực hành trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng “Tập trung trên nền tảng dân chủ”, nếu xét về mặt trình tự thì “dân chủ” trước, “tập trung” sau Nghĩa là, trước khi dùng quyền tập trung, quyết định một vấn đề gì phải thực hiện dân chủ Nếu xét về mặt lôgích, thì dân chủ là tiền đề, là điều kiện, tập trung là kết quả
Trang 3Kết quả không dựa trên tiền đề và điều kiện đó sẽ sai lầm “Dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung” Rõ ràng đây là một loại dân chủ mang tính mục đích Tức là không phải dân chủ vì dân chủ mà là vì mục đích do tập trung quy định Dân chủ không có nghĩa muốn làm gì thì làm mà phải tuân theo quy tắc, quy định do tập trung đưa ra Một nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng là hệ luận của nguyên tắc tập trung dân chủ được Hồ Chí Minh chỉ ra là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Người cho rằng: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ Cá nhân phụ trách là tập trung Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung” Và “Làm việc mà không theo đúng cách đó, tức là trái với dân chủ tập trung” Có lãnh đạo tập thể mới huy động được trí tuệ của toàn Đảng vào việc xây dựng chủ trương, đường lối, biện pháp thực hiện đúng, mang lại hiệu quả, trái lại, “lãnh đạo không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan Kết quả là hỏng việc” Còn phụ trách phải do cá nhân thì công việc mới chạy Nếu “phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ Kết quả cũng là hỏng việc”
Dân chủ tập trung là nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng tổ chức và mọi hoạt động của Đảng chứ không chỉ là nguyên tắc sinh hoạt đảng Thực hiện đúng đắn nguyên tắc này là cội nguồn tạo nên sức mạnh của Đảng
* Phạm vi và nội dung biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ phải được quán triệt trong mọi hoạt động của Đảng: xây dựng đường lối, tổ chức thực hiện, công tác tư tưởng, công tác cán bộ, công tác kiểm tra
Trong xây dựng chủ trương, đường lối
Đảng xây dựng đường lối, chủ trương phải theo đúng nguyên tắc dân chủ tập trung Trước những vấn đề quan trọng, mọi đảng viên đều có quyền và trách nhiệm thảo luận, tự do nêu ý kiến, tranh luận cởi mở, thẳng thắn Tuy nhiên, sự tự do tư tưởng đó phải đặt dưới sự chỉ đạo tập trung, bởi lẽ cái đích đi đến của nó là những kết luận mang tính chân lý và sự tự giác phục tùng chân lý Mà chân lý là những gì phù hợp với quy luật, lợi ích nhân dân Hồ Chí Minh viết: “chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý… Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự
do phục tùng chân lý” Đây chính là bản chất của thực hành dân chủ trong Đảng Và chỉ có trên cơ sở thực hành dân chủ thực sự như vậy, Đảng mới tập trung được ý kiến của cấp dưới
và đảng viên, đưa ra được quyết sách đúng Tuy nhiên, theo Người, sự tự do bàn bạc của đảng viên trong Đảng vẫn chưa đủ mà phải với lực lượng trí thức ngoài Đảng, với nhóm trung kiên hăng hái trong quần chúng và với rộng rãi quần chúng nhân dân “Đó là một vấn
đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng” Ch có cách làm đó mới làm cho tư tưởng của toàn Đảng, toàn dân thông suốt, mới có được sự tập trung thống nhất ý kiến và sự tập trung
đó mới đảm bảo tính khoa học
Để đảm bảo cho sự thảo luận đó có chất lượng tốt, hiệu quả, trước khi đưa ra thảo luận rộng rãi trong các tổ chức đảng, cần có sự định hướng của các cơ quan lãnh đạo của Đảng có thẩm quyền về nội dung thảo luận Đây là một khâu rất quan trọng trong quy trình xây dựng đường lối của Đảng và phải được chuẩn bị thật chu đáo, đảm bảo đưa ra các phương án trước khi thảo luận Hồ Chí Minh viết: “Tất cả các nghị quyết của Đảng phải do cơ quan lãnh đạo chuẩn bị kỹ càng, rồi giao cho các cấp thảo luận Không được làm qua loa sơ sài”
ở đây có hai điều Người nhấn mạnh: Một là, làm sao cho các dự thảo nghị quyết phản ánh đúng và đầy đủ nhu cầu của thực tiễn, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; hai là, khi các dự
Trang 4thảo đó được đưa ra thảo luận đều được mọi đảng viên trong toàn Đảng thảo luận thật tự do, tâm huyết và sáng suốt để đi đến được những nghị quyết, chính sách, chỉ thị đúng
Để làm tốt những điều đó, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải lãnh đạo theo phương châm “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng” Nghĩa là cán bộ, đảng viên phải gần gũi quần chúng, nắm bắt hết mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, từ dữ liệu đó, các cấp uỷ phân tích, tổng hợp lại có hệ thống, hình thành các phương án dự kiến để thảo luận Trên cơ sở các phương án đó, một lần nữa, vấn đề được đưa ra thảo luận rộng rãi trong các tổ chức đảng và cuối cùng đưa ra kết luận thống nhất và quyết tâm thực hiện Đối với những vấn đề mới và khó, cần phải làm thí điểm ở một địa phương nào đó trước, qua đó, Đảng phải có sự tổng kết, xem xét lại chỗ nào đúng, chỗ nào sai và trên cơ sở ý kiến của quần chúng, phải có
sự sửa đổi, bổ sung Khi thực tiễn đã kiểm nghiệm tính đúng đắn của chủ trương, chính sách
đó, mới nhân rộng ra các địa phương khác Theo Hồ Chí Minh, “Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”
Trong tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
Mọi chủ trương, đường lối của Đảng sau khi đã được tập thể đảng viên thông qua và biểu quyết theo ý kiến của đa số thì phải giao cho một nhóm ít người hoặc cá nhân phụ trách tổ chức thực hiện Theo Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên phụ trách bất kỳ công việc nào đều phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Chính phủ và trước nhân dân, mà trong đó phụ trách trước nhân dân là nhiều hơn Nếu cán bộ chỉ phụ trách trước Đảng và Chính phủ thì mới phụ trách có một nửa, bởi vì, Đảng và Chính phủ vì dân mà làm các việc và cũng phụ trách trước nhân dân Vì vậy, nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, có thể đi tới chỗ đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ Chính vì vậy, khi tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cán bộ, đảng viên phải chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước mà trước hết là trước nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, phụ trách trước Đảng và Chính phủ thì đa số cán bộ ta ai cũng hiểu, nhưng phụ trách trước nhân dân thì không phải cán bộ nào cũng ý thức và làm đúng được Phụ trách trước nhân dân bao gồm những nội dung sau:
Thứ nhất, tổ chức thực hiện bất cứ việc gì, cán bộ phụ trách đều phải giải thích, bàn bạc với nhân dân Hồ Chí Minh viết: “Việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân Thế là phụ trách trước nhân dân Trái lại việc gì cũng dùng cách quan liêu, cũng chỉ ra mệnh lệnh, thế là không phụ trách trước nhân dân” Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa Đảng với dân là quan hệ máu thịt ý Đảng là lòng dân, chính sách của Đảng và Chính phủ là mang lại lợi ích cho nhân dân Nếu cán bộ quan liêu, mệnh lệnh trong cách lãnh đạo tức là tạo ra bức tường ngăn cách giữa Đảng và Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Chính phủ Hậu quả tệ hại hơn của cách làm việc áp đặt, “khoét chân cho vừa giày” này là làm dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn Ngược lại, nếu cán bộ có tinh thần phụ trách trước nhân dân - việc gì cũng giải thích, bàn bạc cởi mở, khéo khơi cho họ thành thật bày tỏ ý kiến, đưa ra cách làm, thì cán bộ mới có cơ sở thực tiễn hình thành cách làm phù hợp nhất với quần chúng Một khi cách làm phù hợp, thì họ vui vẻ
và ra sức làm, do đó mà động viên được đông đảo quần chúng tham gia
Thứ hai, phụ trách trước nhân dân tức là phải biết lắng nghe và dựa vào ý kiến của nhân dân
mà đề nghị lên cấp trên sửa đổi những khuyết điểm trong chủ trương, chính sách Hồ Chí Minh viết: “Nếu trong những chính sách, những chỉ thị, những khẩu hiệu của cấp trên, có gì khuyết điểm cán bộ phải có tinh thần phụ trách trước nhân dân mà đề nghị những chỗ nên
Trang 5sửa đổi Không làm như vậy, tức là cán bộ không phụ trách trước nhân dân, mà cũng không phụ trách trước Đảng và Chính phủ”
Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước dân chủ thì bao nhiêu lợi ích đều vì dân, cho nên trong khâu tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, cán bộ phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Chính phủ và trước nhân dân phải thi hành bằng được, mang lại lợi ích cho nhân dân
Do vậy, cách làm nào phù hợp thì quyết tâm thực hiện, cách làm nào không phù hợp thì đề nghị cấp trên sửa đổi, cách làm nào mà quần chúng cần mà chưa có thì đề nghị lên cấp trên đặt ra, thậm chí “nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc”
Như vậy, ở khâu tổ chức thực hiện, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở tinh thần phụ trách trước Đảng, Chính phủ và trước nhân dân của cán bộ, đảng viên khi tổ chức thực hiện nghị quyết, chính sách của Đảng Sự phụ trách đó một mặt đảm bảo sự tập trung để đưa chính sách, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, mặt khác, không phải là sự tập trung độc đoán, chuyên quyền của cá nhân phụ trách, mà là sự tập trung trên cơ sở thực hành dân chủ rộng rãi trong toàn Đảng và toàn dân
Trong công tác kiểm tra, đánh giá và đề bạt cán bộ
Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác kiểm tra, đánh giá và đề bạt cán bộ có quan hệ mật thiết với nhau và phải thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Kiểm tra tạo ra cơ sở, tiền đề cho công tác đánh giá và cất nhắc cán bộ Cách kiểm tra hiệu quả nhất là kết hợp kiểm tra từ trên xuống và từ dưới lên Với sự kết hợp kiểm tra theo hai chiều như vậy, có thể thu được những thông tin khá chính xác Mặt khác, kiểm tra và đề bạt cán bộ dựa vào ý kiến của quần chúng là rất quan trọng Bởi vì, “tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy” và sự nhận xét của họ về cán bộ là rất khách quan, công bằng, không thiên tư thiên vị Hơn nữa, việc cất nhắc cán bộ mà dựa vào ý kiến của quần chúng không những đúng đắn, chính xác mà còn tạo ra được sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa cán bộ và quần chúng Hồ Chí Minh viết: “để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ
và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm”
Trên cơ sở kết quả kiểm tra, trong các cuộc sinh hoạt đảng, đảng viên thẳng thắn phê bình, chỉ ra các mặt ưu, khuyết điểm của đồng chí mình, từ đó nêu rõ chính kiến của mình Đó chính là cách kiểm soát theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Như vậy, trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ được quán triệt trong
tổ chức và mọi mặt hoạt động của Đảng Bất kỳ ở mặt nào, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh việc thực hành dân chủ thật sự, đến phong cách làm việc dân chủ của cán bộ, đảng viên Theo Người, việc thực hành dân chủ thật sự trong Đảng là cách lãnh đạo tốt nhất đảm bảo cho Đảng không chỉ xây dựng được đường lối, chính sách đúng, tổ chức thực hiện thành công, kiểm soát và cất nhắc cán bộ chính xác, mà còn củng cố ngày càng vững chắc vai trò lãnh đạo của mình, nâng cao được ý thức và năng lực làm chủ của quần chúng nhân dân, phát triển dân chủ xã hội
Nguyên tắc này để xây dựng ĐCS thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi người, vừa phát huy sức mạnh của tất cả những ai tự nguyện gắn bó với nhau trong tổ chức
2 Hai là : Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Theo HCM đây là nguyên tắc lãnh đạo của
Đảng
Trang 6- Theo Hồ Chí Minh, đây là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Nhiều người thì nhiều kiến thức, người thấy mặt này, người thấy mặt kia, do dó hiểu được mọi mặt, mọi vấn đề Việc gì đã được tập thể bàn bạc kỹ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì cần giao cho một người phụ trách, như thế công việc mới chạy, như thế mới tránh được thói dựa dẫm, người này ỷ vào người kia, ỷ lại vào tập thể Không xác định rõ cá nhân phụ trách, thì giống như “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”
- Người kết luận: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan Kết quả là hỏng việc
Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ Kết quả cũng là hỏng việc
Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”
- Về vấn đề tập trung dân chủ, Người giải thích:
“Tập thể lãnh đạo là dân chủ
Cá nhân phụ trách là tập trung
Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”
Trong hoạt động lãnh đạo của cấp ủy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “phải làm đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách” Đây vừa là một nguyên tắc trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, vừa là một nội dung biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ “Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung” Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách (TTLĐ, CNPT) góp phần xây dựng Đảng vững mạnh trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng, tạo sự đồng thuận, đoàn kết thống nhất trong Đảng
Tuy nhiên, một số tổ chức Đảng thực hiện nguyên tắc này còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về nhận thức và năng lực vận hành Tình trạng “cha chung không ai khóc” trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết chậm được khắc phục; việc phân công CNPT
ở không ít tổ chức Đảng chưa thật rõ ràng, dẫn tới mọi khuyết điểm, sai lầm đều đổ dồn cho tập thể Hiện tượng gia trưởng, độc đoán, coi nhẹ trách nhiệm tập thể cấp ủy còn diễn ra ở một số tổ chức Đảng, nhất là những cơ sở đảng yếu kém kéo dài Ở những tổ chức đảng đó hầu như các chủ trương lớn như đề bạt, cất nhắc cán bộ đều do người đứng đầu cấp ủy, cơ quan quyết định mà thiếu sự bàn bạc dân chủ của tập thể cấp ủy Đại hội X kết luận: “Mối quan hệ về trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu chưa được quy định
cụ thể; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân và tập thể, kho đánh giá được kết quả công tác và quy rõ trách nhiệm cá nhân khi có sai phạm” Nguyên nhân của những yếu kém này trước hết do một số tổ chức Đảng buông lỏng nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, nhất
là nguyên tắc tập TTDC; tính đảng và ý thức trách nhiệm của một số cấp ủy viên thấp, sa vào chủ nghĩa cá nhân; chưa xây dựng được quy chế, quy định cụ thể để có sự ràng buộc thực hiện nguyên tắc TTLĐ, CNPT có hiệu quả
Để các cấp ủy Đảng thực hiện tốt nguyên tắc TTLĐ, CNPT, cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:
- Nâng cao nhận thức trách nhiệm cho các tổ chức Đảng, cấp ủy viên, cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) về ý nghĩa, mục đích, bản chất của nguyên tắc TTLĐ, CNPT “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo?” Trước hết xuất phát từ vai trò, bản chất của Đảng phải tiên phong về mặt
lý luận để dẫn dắt định hướng sự phát triển của đất nước, dân tộc Yêu cầu nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ xây dựng Đảng đòi hỏi phải có trí tuệ của một tập thể cấp ủy đoàn kết, dù “một người có khôn ngoan tài giỏi mấy cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều
Trang 7mặt của một vấn đề, không thể trông thấy va xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề” Các vấn đề hệ trọng của tổ chức Đảng mà thiếu vắng sự bàn bạc, thống nhất của cấp ủy thì kết quả lãnh đạo sẽ hạn chế, thậm chí mắc phải những sai lầm, khuyết điểm “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan Kết quả là hỏng việc” Điều này sẽ dẫn tới số ít CB, ĐV vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước như làm sai nguyên tắc, chế
độ, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ Nhưng cần lưu ý rằng, TTLĐ phải luôn đi đôi với CNPT Sau khi bàn bạc, thống nhất quyết nghị trong tập thể cấp ủy cần phải cá thể hóa trách nhiệm giao cho một người, hoặc một nhóm ít người phụ trách để thi hành thì công việc mới chạy Do nhiệm vụ chính trị ngày càng nặng nề, phức tạp, nên rất cần đến tính năng động, sáng tạo “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của CNPT Bác Hồ lưu ý rằng “không phai vấn đề gì nhỏ nhặt, vụn vặt, một người vẫn có thể giải quyết được, cũng đưa ra bàn - mới là tập thể lãnh đạo Nếu làm như vậy, là hiểu tập thể lãnh đạo một cách quá máy móc” Người yêu cầu: Người lãnh đạo phải tự mình chỉ đạo những người phụ trách trong bộ phận đó, giúp họ giải quyết những vấn đề thực tế, để rút kinh nghiệm Cần có quy định rõ loại công việc, những vấn đề nảy sinh nào CNPT phải báo cáo với tập thể cấp
ủy, thường vụ để xem xét xử lý Những việc quan trọng, bức xúc, liên quan đến lợi ích của nhân dân mới cần tập thể quyết định TTLĐ, CNPT luôn luôn đi đôi với nhau, ràng buộc chế ước lẫn nhau, tuyệt đối hóa một yếu tố nào đó đều không đúng Mọi vấn đề được thảo luận, cân nhắc kỹ, quyết nghị thống nhất nhưng CNPT không rõ ràng, nhất là không làm rõ được quyền hạn và trách nhiệm thì tính khả thi của nghị quyết đó sẽ không cao Ngược lại, CNPT mà thoát ly trách nhiệm, trí tuệ, ràng buộc của cấp ủy thì dễ dẫn đến gia trưởng, độc đoán thậm chí tùy tiện xử lý các vấn đề nảy sinh trái với định hướng chung của cấp ủy
- Đầu tư xây dựng quy chế, quy định để thực hiện nguyên tắc và giám sát có hiệu quả Sự lượng hóa đầy đủ, chặt chẽ thì càng có cơ sở để thực hiện tốt bấy nhiêu Cần “xây dựng quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể; hoàn thiện quy chế kiêm tra, giám sát trong Đảng”; “Cụ thể hóa, thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ” Sự vận dụng nguyên tắc này ở mỗi cấp cũng có tính chất tương đối Do đó, ở mỗi cấp khi xây dựng quy chế, quy định cần làm rõ loại công việc nào phải do tập thể cấp ủy bàn bạc quyết định; loại công việc nào do CNPT giải quyết ; làm rõ chế độ báo cáo, kiến nghị, đề xuất khi được phân công phụ trách một nhiệm vụ nào đó Sự minh bạch, rõ ràng của quy định cũng là cơ sở để CB,
ĐV, nhân dân giám sát, góp ý cho cán bộ lãnh đạo, tổ chức có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh những sơ hở của chủ trương, nghị quyết cũng như khuyết điểm, sai phạm của CB,
ĐV
- Tăng cường sự chỉ đạo của tổ chức Đảng cấp trên Các cấp ủy cần duy trì tốt chế độ lãnh đạo có kiểm tra để giúp tổ chức Đảng cấp dưới hoạt động đúng hướng, kịp thời khắc phục các khuyết điểm, sai phạm Thực tiễn cho thấy, khi tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh thì việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức luôn được giữ vững, có nền nếp, nội bộ đoàn kết thống nhất; CB, ĐV luôn giữ vững phẩm chất, đạo đức lối sống Khi tổ chức Đảng mất sức chiến đấu thì các dấu hiệu vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước là khó tránh Bởi vậy đặt ra cho các cấp ủy đảng phải thường xuyên giám sát, chỉ đạo, kiểm tra để giáo dục, ngăn chặn các dấu hiệu vi phạm của cấp ủy, CB, ĐV, của tổ chức Đảng cấp dưới khi mới manh nha dấu hiệu vi phạm, nhất là biểu hiện vi phạm nguyên tắc TTDC, mất đoàn kết; độc đoán, chuyên quyền Không để các dấu hiệu đó trở thành bản chất, thao túng làm biến dạng
Trang 8TTLĐ, rốt cuộc mọi quyết định đều thuộc về cá nhân người đứng đầu cấp ủy Định kỳ tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện nguyên tắc TTLĐ, CNPT, giúp các cấp ủy Đảng tham khảo, vận dụng một cách tốt nhất
- Tạo điều kiện cho quần chúng tham gia giám sát tổ chức Đảng, CB, ĐV Bởi theo Hồ Chủ Tịch: Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt, mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng Mọi hoạt động của cấp ủy, CB, ĐV đều tác động tới đối tượng lãnh đạo - quần chúng nhân dân, do đó họ có khả năng để nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm trong hoạt động lãnh đạo của cấp ủy, CB, ĐV Cần “xây dựng quy chế giám sát
và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ”
3 Ba là: Tự phê bình và phê bình HCM rất coi tronhj nguyên tắc này, Người coi đây là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, là luận điểm phát triển của Đảng
- Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, là quy luật phát triển của Đảng Người nhấn mạnh: “Muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”
- Người xem tự phê bình và phê bình là vũ khí để rèn luyện đảng viên, nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn và tăng cường đoàn kết nội bộ hơn
- Tự phê bình và phê bình là vũ khí để nâng cao trình độ của Đảng, để Đảng làm tròn sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, làm tròn trách nhiệm trước giai cấp và dân tộc Người nói: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng Một Đảng có gan từa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó… là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”
- Tự phê bình và phê bình không những là một vấn đề của khoa học cách mạng, mà còn là của nghệ thuật Người lưu ý cán bộ, đảng viên và các cấp bộ Đảng từ trên xuống dưới phải
“luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình” Muốn thực hiện tốt nguyên tắc này, đòi hỏi mỗi người phải trung thực, chân thành với bản thân mình cũng như với người khác, “phải có tình đồng chí thường yêu lẫn nhau”
Thực chất tự phê bình và phê bình chính là giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức đảng dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc và điều lệ của Đảng, trong mối quan hệ của những người đồng chí cùng mục đích, lý tưởng Tự phê bình và phê bình vừa mang tính cách mạng và khoa học, vừa mang tính nhân văn, thúc đẩy con người vươn tới sự hoàn thiện
Tự phê bình và phê bình là vấn đề rất quan trọng, là một trong những quy luật phát triển của Đảng và là nguyên tắc, chế độ thường xuyên trong tổ chức và sinh hoạt Đảng Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường nhắc nhở: “Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi ngày tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt” Do đó, để thực sự trong sạch, vững mạnh, Đảng ta yêu cầu mọi tổ chức cơ sở Đảng, mọi cán bộ, đảng viên đều phải thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, trong đó đặc biệt chú ý đến phê bình và tự phê bình từ trên xuống dưới, cán bộ lãnh đạo phải làm gương cho cấp dưới, phải thể hiện đúng bản lĩnh của người cán bộ cách mạng Có như vậy mới khiến cho cán bộ, nhân viên cấp dưới của mình
“tâm phục, khẩu phục”
Thực chất của tự phê bình và phê bình là góp ý giúp đồng chí, đồng nghiệp và tự bản thân kiểm điểm lại xem cái làm được và chưa làm được, làm hay hoặc còn thiếu sót, sai lầm và từ
đó phát huy cái tốt, tìm ra biện pháp khắc phục, sửa chữa cái chưa hay, cái khuyết điểm, sai
Trang 9lầm Phê bình là để giúp nhau cùng tiến bộ, vững vàng hơn và nó thể hiện tình cảm chân thành chứ không phải lợi dụng phê bình để đấu đá, hạ bệ lẫn nhau, thậm chí xúc phạm danh
dự, xỉ vả nhau, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khối đoàn kết nội bộ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng Phê bình nhằm mục đích cao cả là giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ, ngày càng đoàn kết và gần gũi nhau hơn Nhưng để phát huy được giá trị của phê bình, người phê bình cũng cần phải tự xem xét, tự phân tích
Tự phê bình là phân tích hành vi, những khuyết điểm của chính bản thân mình và từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm, để cảm thông và chia sẻ nhằm giúp đồng chí mình nhận thức
rõ hơn những sai sót, khuyết điểm còn mắc phải để cùng nhau khắc phục Do đó, tự phê bình và phê bình chính là nhằm củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ
và nhiệm vụ của đơn vị Thực chất tự phê bình và phê bình chính là giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức đảng dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc và điều lệ của Đảng, trong mối quan hệ của những người đồng chí cùng mục đích, lý tưởng Tự phê bình và phê bình vừa mang tính cách mạng và khoa học, vừa mang tính nhân văn, thúc đẩy con người vươn tới sự hoàn thiện Do đó, tự phê bình và phê bình đòi hỏi tính đảng, tính nguyên tắc cao, phải khách quan, trung thực, thẳng thắn, chân thành, công khai, có lý, có tình, phải được thực hiện nhằm mục đích xây dựng và “Phải có tinh thần đồng chí thương yêu lẫn nhau” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, cần tránh hiện tượng thổi phồng hoặc bóp méo sự thật và đặc biệt cần tránh thành kiến, định kiến, thái độ ghen ghét, ganh tỵ với cá nhân nào đó để rồi luôn chú tâm đến những khuyết điểm của họ, cho dù đó chỉ là một khuyết điểm nhỏ cũng đem ra cuộc họp chi bộ để phê bình còn những việc làm tốt, cách làm hay thì chẳng để ý, chẳng khen ngợi, chẳng quan tâm học hỏi
Cái khó nhất của tự phê bình là phải tự đặt mình vào vị trí của người khác để phê bình Theo
lẽ thường tình thì người ta ai cũng muốn được khen, không muốn bị phê bình, muốn người khác nói tốt về mình và muốn nói về những cái tốt của mình hơn là nói về những điều chưa tốt, những thiếu sót của mình Đây là một hạn chế, một trở lực, nó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải thành khẩn, phải biết lắng nghe, phải không ngừng học hỏi và rèn luyện đạo đức cách mạng Nếu cán bộ, đảng viên không tự xem xét, không tự phê bình mình thì không bao giờ tiến bộ được
Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau thì mới phát huy được cao độ giá trị Ai cũng
có những ưu điểm của mình và lúc cũng sẽ mắc phải những khuyết điểm, sai sót Vì vậy, phê bình cùng lúc phải hướng đến hai mục đích: Một là, phải cổ vũ, phát huy những ưu điểm, những cách làm hay, những việc làm tốt và hai là tìm ra biện pháp khắc phục, sửa chữa cái chưa hay, cái khuyết điểm, sai lầm nhằm hướng đến hoàn thiện, tiến bộ hơn Nếu chỉ nói cái xấu, chỉ trích nhau là sai lệch, làm mất ý nghĩa của phê bình, nhưng nếu cổ vũ ưu điểm, những thành quả đạt được không đúng mức sẽ trở thành tâng bốc, xua nịnh và nó sẽ là
cơ hội, là đồng minh của chủ nghĩa cá nhân, của việc kết bè kết cánh, cục bộ gây mất đoàn kết, làm giảm sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng Do đó, đòi hỏi người phê bình phải suy nghĩ thật kỹ về điều mình sẽ trình bày, không thêm bớt ưu khuyết điểm, càng khách quan bao nhiêu càng mang lại hiệu quả, càng phát huy ý nghĩa bấy nhiêu Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã căn dặn: “Khi phê bình mình cũng như phê bình người khác phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt Phải vạch rõ cả ưu điểm lẫn khuyết điểm Đồng thời,
Trang 10chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc phê bình việc làm chứ không phải phê bình người”
Muốn việc phê bình đạt hiệu quả thì bản thân người lãnh đạo phải thực sự khách quan, công tâm, đánh giá cán bộ phải thể hiện quan điểm toàn diện trên từng mặt ưu và khuyết điểm Bản thân người phê bình không nên quên trách nhiệm: Phê bình xây dựng, phê bình để người ta nhận ra những ưu điểm, những kết quả tốt đẹp và đồng thời nhận ra sai sót, khuyết điểm chứ đừng làm người ta mặc cảm Trước khi phê bình, cần phải kiểm điểm lại bản thân mình có nóng giận không? Có thành kiến cá nhân không? Vì rằng tất cả những điều này sẽ bộc lộ rõ trong thái độ, lời nói, đối tượng và những người trong cuộc họp sẽ nhận ra ngay Khi phê bình cần nắm vững thực chất của vấn đề, xác định rõ mức độ, yêu cầu của việc phê bình, lựa chọn phương pháp, cách thức, lời lẽ thích hợp, tránh gây phản cảm khó chịu cho người bị phê bình Ngược lại nêu việc phê bình không có phương pháp, không có tinh thần đồng chí, không có tinh thần xây dựng thì chẳng những phản tác dụng mà còn làm cho người bị phê bình thấy khó chịu, khó tiếp thu, dễ sinh ra tự ái, từ đó dẫn đến nhụt chí, không muốn phát huy năng lực Việc phê bình không đúng phương pháp sẽ trở thành hành động có tính chất trù dập, thậm chí là hại người chứ không phải mong muốn đối tượng bị phê bình ngày càng tiến bộ theo đúng nghĩa của nó và bản chính bản thân người phê bình cũng đã tự làm mình trở nên nhỏ nhen, ích kỷ, tầm thường
Với người đảng viên cộng sản thì phê bình là một hành động cách mạng, là một cử chỉ văn hóa, tiếp thu phê bình cũng phải là một cử chỉ văn hóa, vì lợi ích và sự nghiệp chung của Đảng, của dân tộc Nói cho cùng, phê bình nên nắm thực chất vấn đề, không cần nhiều lời
mà vấn đề quan trọng nhất là chân thành và có thiện chí Thông thường, người ta chỉ thích được khen mà không thích bị chê, cho nên phê bình trực tiếp giữa buổi họp mà người nghe không thấy tức tối, khó chịu là đã thành công trong việc giúp đồng chí mình quyết tâm sửa chữa và tiến bộ hơn Là người cách mạng cần nhận thức đúng đắn tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng là điều thiết yếu như không khí đối với sự sống
Tóm lại, ở từng tổ chức cơ sở đảng, tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng và củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng thành thật với mình, thành thật với người, đó chính là nhân cách, là hành vi cao thượng, là trách nhiệm của con người nói chung và đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay Thực hiện tốt công tác tự phê bình và phê bình
sẽ là cơ sở, là yếu tố góp phần để các cấp ủy Đảng trong thực hiện thắng lợi nghị quyết mà Đại hội Đảng các cấp đã đề ra và đó cũng là tiền đề để các cấp ủy tiếp tục phát huy dân chủ, khơi dậy trí tuệ của từng cán bộ, đảng viên, từng cấp ủy trong việc xây dựng nghị quyết Đại hội Đảng các cấp trong thời gian sắp tới./
d/ Bốn là: Kỷ luật nghiêm minh và tự giác Đây là nguyên tắc làm cho Đảng thực sự là một
tổ chức chiến đấu chặt chẽ, tạo ra sức mạnh của Đảng
- Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng một kỷ luật nghiêm minh và tự giác trong Đảng
để tạo nên sức mạnh to lớn của Đảng: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm minh của cán bộ, đảng viên.”
- Theo Hồ Chí Minh nghiêm minh là thuộc về tổ chức Đảng, tự giác là thuộc về mỗi cá nhân
cá bộ, đảng viên đối với Đảng Hồ Chí Minh nói: “Kỷ luật này lá do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng”