Trước khi Darwin xuất bản tác phẩm "Nguồn gốc các loài" 1859, Spencer đã nói đến "sự sống sót của kẻ thích ứng nhất fittest", theo nghĩa là những hình thái tổ chức xã hội tốt hơn sẽ sống
Trang 1ĐẾN VỚI CÁC LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC: QUAN ĐIỂM TIẾN HOÁ _
Bùi Thế Cường
1 Đặt vấn đề
Có vài lý do dẫn tác giả bài viết tìm hiểu và trình bày với bạn đọc vấn đề các
lý thuyết xã hội học Nghiên cứu và đào tạo xã hội học ở Việt Nam phát triển mạnh trong thời kỳ Đổi Mới, có những đóng góp đáng kể nhưng cũng đặt ra một loạt vấn đề, trong đó có tình trạng nghiên cứu thiếu cơ sở lý thuyết và phương pháp Khi thực hiện đề tài KX.02.10 nghiên cứu khía cạnh xã hội của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, chúng tôi nhận thấy tầm quan trọng của việc chuẩn bị cơ sở phương pháp luận Việc tham gia Đề tài này tạo yêu cầu và điều kiện cho tác giả bài viết đi vào tìm hiểu lý thuyết xã hội học hiện nay Công tác chuẩn bị tài liệu giảng dạy xã hội học cũng là một thúc đẩy cho bài viết
Hoàn cảnh làm khoa học ở Việt Nam chưa hỗ trợ nhiều cho nghiên cứu lâu dài, căn bản Vùng nghiên cứu đang bàn ở đây đòi hỏi bạn nhiều thời gian và
nỗ lực Những dòng viết dưới đây chỉ là bước đầu, đáng lẽ cần nhiều suy ngẫm hơn, trước khi đưa ra với bạn đọc bất kỳ một điều gì Tuy nhiên, nhu cầu hiện nay ở nước ta đòi hỏi nên sớm trao đổi chủ đề này
Bài viết trình bày một số thu hoạch của tác giả, nêu lên một khung tìm hiểu vấn đề cho bản thân, và hy vọng gợi lên vài nét chấm phá cho việc trao đổi trong đồng nghiệp cũng như sinh viên
2 Xã hội học vay mượn sinh học
Xã hội học hình thành trong thế kỷ 19 khi sinh học đang phát triển mạnh Người ta nói rằng hồi đó sinh học là chủ đề thời thượng trong mọi phòng khách trí thức và giới tinh hoa ở Anh và Tây Âu Sự vay mượn lẫn nhau giữa sinh học và xã hội học không chỉ diễn ra trong khoảng 100 năm đầu tiên của
xã hội học, mà cho đến gần đây, xã hội học vẫn tiếp tục dựa vào những phát triển mới trong sinh học
Lý thuyết tiến hoá của C Darwin là một dấu mốc, ảnh hưởng đến sinh học suốt từ giữa thế kỷ 19 đến tận hôm nay Thuyết Darwin nhìn thế giới tự nhiên
Trang 2là một cuộc đấu tranh sinh tồn giữa các loài, sự cạnh tranh này sẽ "chọn lọc"
để cho sống sót những cá thể hữu cơ nào thích nghi tốt hơn với môi trường Những cá thể đó cũng sẽ có nhiều khả năng hơn trong sinh sản Tóm tắt những giả định chủ yếu của thuyết Darwin như sau Thứ nhất, các cá thể của một loài phát triển những biến thể trong các đặc điểm (trait) cơ thể và hành vi của chúng Thứ hai, các loài có xu hướng sinh sản nhiều hơn khả năng môi trường
có thể chấp nhận Thứ ba, do đó các cá thể trong một loài phải cạnh tranh với nhau và với loài khác trong việc giành nguồn lực hiện có trong môi trường Thứ tư, các cá thể sẽ phát triển những đặc điểm nào tạo khả năng cho chúng cạnh tranh và bảo vệ nguồn lực Những cá thể phát triển được những đặc điểm này sẽ có khả năng sống sót và sinh sản, trong khi những cá thể có những đặc điểm không thích hợp cho sự cạnh tranh hay bảo vệ nguồn lực thì sẽ ít có khả năng sống sót và sinh sản Như vậy, môi trường sẽ chọn lọc những đặc điểm của các cá thể tạo khả năng cho chúng cạnh tranh, bảo vệ nguồn lực, sống sót,
và tái sinh sản Sự chọn lọc này tạo ra động lực cho tiến hoá Chọn lọc diễn ra đối với các cá thể, nhưng tiến hoá lại liên quan đến một quần thể loài: các cá thể có thể sống sót hay bị diệt vong, nhưng quần thể thì tiến hoá
Xã hội học đã vận dụng cách nhìn sinh học để phát triển một vài cách nhìn xã hội Giống như trong sinh học, người ta có thể hiểu một xã hội bằng cách nhìn
nó dưới quan niệm rằng có một số chức năng cơ bản mà mọi cơ thể hữu cơ cũng như xã hội phải đáp ứng để tồn tại Đó là sản xuất ra bản thể duy trì sự sống, là tái sản xuất các bộ phận của cơ thể, là sự điểu chỉnh/kiểm soát hoạt động của các bộ phận, là phân phối thông tin và vật liệu cho các bộ phận Thứ hai, giống như cơ thể hữu cơ, xã hội cũng tiến hoá theo một hướng xác định,
có tính tiến bộ, ngày càng tốt hơn Xã hội tiến hoá theo hướng ngày càng tăng tính phức tạp (complexity) về cấu trúc và các biểu trưng văn hoá, khiến nó tăng khả năng thích ứng với môi trường Thứ ba, khác biệt hoá xã hội (social differentiation) hay chuyên biệt hoá xã hội (social speciation) là kết quả của việc các chủ thể cạnh tranh giành nguồn lực Quá trình giành và tìm kiếm vùng nguồn lực là động lực (driving force) của sự khác biệt hoá xã hội và do đó của tiến hoá xã hội
Có ba hướng tiếp cận lý thuyết trong xã hội học ảnh hưởng từ sinh học, ba tiếp cận này gắn với những giai đoạn phát triển của sinh học Tiếp cận sinh thái học nhìn đối tượng nghiên cứu như là quá trình cạnh tranh giữa các chủ thể xã hội xung quanh các nguồn lực hạn hẹp Tiếp cận tiến hoá chức năng quan niệm sự tiến hoá xã hội dài hạn bao hàm việc nâng cao tính phức tạp và khác biệt hoá Tiếp cận này cũng thể hiện trong quan điểm chức năng Vì vậy, không thể nghiên cứu xã hội học tiến hoá tách rời với quan điểm chức năng, mặc dù có thể tách biệt chúng nhằm mục đích nghiên cứu Hai tiếp cận nói trên chịu ảnh hưởng của sinh học thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Tiếp cận thứ ba, dựa trên ngành gen học (genetics) phát triển mạnh từ giữa thế kỷ 20, tìm hiểu tác động của chọn lọc gen đến hành vi của con người và tổ chức xã hội Người ta
Trang 3dự đoán có thể xảy ra một sự tổng hợp ba khuynh hướng, dựa trên cuộc cách mạng đang nổi lên trong sinh học gắn với công nghệ gen Bài viết này quan tâm đến hai tiếp cận đầu, dành việc trình bày tiếp cận thứ ba cho một dịp khác
3 Xã hội học tiến hoá cổ điển
Quan điểm tiến hoá trong xã hội học cổ điển gắn liền với những nỗ lực nghiên cứu của A Comte, Mác, H Spencer và E Durkheim Comte đưa ra bảng phân loại khoa học, trong đó ông cho rằng xã hội học sẽ nảy sinh từ sinh học để rồi trở thành "môn khoa học vua" Comte cũng thuộc những người đầu tiên đưa ra phép loại suy (analogy) thế giới hữu cơ vào xã hội học, khi ông so sánh sự tương đồng giữa cơ thể sinh học và cấu trúc xã hội, nhìn xã hội như là một cơ thể sống
Mác tạo nên dòng quan điểm riêng trong xã hội học, đòi hỏi một nghiên cứu độc lập Tuy nhiên, người ta thấy Mác đã vận dụng quan điểm tiến hoá vào việc hình thành lý thuyết xã hội học riêng của mình Mác nhìn xã hội loài người là một quá trình phát triển lịch sử tự nhiên, từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn, từ đơn giản đến phức tạp, trải qua những hình thái xã hội và phương thức sản xuất khác nhau
Trong khi Comte mới chỉ đưa ra ý tưởng ban đầu so sánh sinh học với xã hội học, thì Spencer là người kết hợp chúng rõ nét nhất Trước khi Darwin xuất bản tác phẩm "Nguồn gốc các loài" (1859), Spencer đã nói đến "sự sống sót của kẻ thích ứng nhất (fittest)", theo nghĩa là những hình thái tổ chức xã hội tốt hơn sẽ sống sót trong cuộc cạnh tranh, bằng cách đó mà trình độ xã hội nâng lên Một tư tưởng đáng chú ý ở Spencer là ông cho rằng xã hội học phải
nghiên cứu xã hội với tư cách là những cơ thể siêu hữu cơ (superorganic), tức
là những mối liên hệ giữa các cơ thể sống Như vậy, một mặt ông nói đến sự tương đồng giữa cơ thể hữu cơ với xã hội, mặt khác ông cũng nói đến sự khác biệt giữa chúng khi coi xã hội là loại cơ thể siêu hữu cơ Các nhà xã hội học có thể vay mượn quan điểm sinh học khi nhìn xã hội như là cơ thể sống, song không được quên rằng giữa chúng có sự khác nhau về nguyên tắc, không thể vượt qua
Durkheim tiếp tục phát triển quan điểm tiến hoá trong xã hội học Durkheim cho rằng đa dạng hoá làm cho sự tồn tại của một loài trở nên dễ dàng hơn Theo ông, xã hội loài ngưòi cũng chịu quy luật tương tự: trong một vùng, các nghề nghiệp khác nhau cùng tồn tại mà không nhất thiết phải đe doạ lẫn nhau
vì chúng theo đuổi những mục tiêu khác nhau Durkheim phát triển một mô hình sinh thái học, theo đó các động lực làm tăng mức độ vật chất của dân cư hoặc làm giảm không gian xã hội của các cá thể (vận tải, truyền thông) đều làm tăng tính cạnh tranh Điều này dẫn đến sự chuyên biệt hoá xã hội hay là
Trang 4phân công lao động, nó làm giảm cạnh tranh và tăng hợp tác giữa các cá thể ở trong những khu vực phân công khác nhau thông qua trao đổi nguồn lực Cơ chế này là động lực tạo ra tiến hoá xã hội từ đơn giản đến phức tạp hơn
Hình 1 Sơ đồ sinh thái học Durkheim về khác biệt hoá xã hội
_
Trình độ công
nghệ vận tải và
tuyềÒn tô«ng +
+
Mật độ sinh thái +
+
Tỷ suất di cư + Mức tăng + Mức cạnh tranh +
Mức khác biệt
àovµo sớivíi di â d©ố sè iữai÷á c¸củchñểthÓ oáhoã xộihéi
+ +
Quy mô dân số _
4 Sinh thái học đô thị
Nhà sinh học E.H Haeckel là người nêu lên thuật ngữ sinh thái học (ecology) vào năm 1869 để chỉ một chuyên ngành khoa học nghiên cứu các sinh thể với tính cách là thành viên của một mạng lưới các sinh thể tương tác với nhau trong môi trường của chúng Thoạt đầu không mấy người hiểu tư tưởng của Haeckel, nhưng khoảng 20 năm sau chuyên ngành này đã phát triển mạnh, trong đó có cả tiếp cận sinh thái học con người (human ecology)
Trường phái Chicago nhìn đô thị là một hệ thống sinh thái văn hoá xã hội (sociocultural ecosystem), trong đó các vùng, khu vực và đơn vị cơ bản trở nên khác biệt hoá do cạnh tranh giành nguồn lực Trường phái này phát triển một sơ đồ lý thuyết tổng quát về sinh thái học đô thị (Hình 2) Tăng trưởng đô thị liên quan đến sản xuất và tăng dân số Hai điều này tập trung dân cư và các đơn vị tổ chức Khi sự tập trung ngày càng tăng thì mật độ dân cư tăng, dẫn đến cạnh tranh giành nguồn lực (không gian đô thị, nguồn lực tổ chức hành chính, thị trường, v.v ) Cạnh tranh dẫn đến khác biệt hoá các vùng, các điểm
Trang 5cư trú, hoạt động sản xuất kinh doanh, biểu trưng văn hoá Cạnh tranh càng tăng thì đô thị càng bành trướng, vì các chủ thể phải tìm kiếm những vùng nguồn lực khác để tránh những vùng cạnh tranh quá mạnh, giá cả quá cao đối với hoạt động kinh doanh và sinh hoạt
Hình 2 Sơ đồ sinh thái học đô thị trường phái Chicago
_
Quy mô
âdốn sè +
+
ứMøcậtËp trung + ứMøcạc¹nh tranh + áh¸ciệiÖtoáo¸
dân cư trong nguồn lực khu vực
đô thị
ôkh«ng gian
+/- + + + +
Mức phi
trung
cư
+
Trình độ
sản xuất
+
+
_ _
Sau trường phái Chicago, sinh thái học đô thị tiếp tục là một tiếp cận trung mô
có nhiều đóng góp đối với xã hội học đô thị thực nghiệm Có những nỗ lực lý thuyết từ góc độ sinh thái xem xét quá trình đô thị nói chung với tính cách là những quá trình nền tảng ảnh hưởng đến khuôn mẫu tổ chức đời sống của một quần thể dân cư trong một không gian nhất định Hình 3 trình bày tiếp cận sinh thái học đô thị được phát triển trong các công trình sau trường phái Chicago
Trang 6Trong lý thuyết sinh thái học đô thị, trình độ công nghệ và quy mô dân số là hai yếu tố xuất phát điểm, ảnh hưởng đến trình độ phát triển vận tải và truyền thông, trình độ sản xuất hàng hoá và dịch vụ Công nghệ và sản xuất dẫn đến việc mở rộng và nâng cao cơ sở hạ tầng vật chất cho một quần thể trong một không gian nhất định (đường sá, nhà cửa, bến cảng, ), tạo năng lực mở rộng
sự phân phối thông tin, vật liệu, dịch vụ trong không gian Thị trường và hạ tầng quản lý hành chính tác động đến quy mô và mật độ cư trú, đến di dân, đến
sự bành trướng về mặt địa lý của đô thị, kết quả là hình thành những chuỗi siêu đô thị (agglomeration)
Trang 7Hỡnh 3 Sơ đồ sinh thỏi học đụ thị tổng quỏt
_ _
+
+ + + +
+ +/-
-/+
+ + +/-
+ +/- +/- +/- +/- +
- +
+
+
+
+
+/- + +
+/- +
+ +
+
+/- + +
+
+
+
_ _
5 Sinh thỏi học vĩ mụ
Trong khi trường phỏi Chicago và cỏc nghiờn cứu sinh thỏi học đụ thị ỏp dụng quan điểm tiến hoỏ vĩ mụ cổ điển vào cấp độ trung mụ (cỏc đụ thị), thỡ trong khoảng cuối thập niờn 40 và đầu thập niờn 50 Amos H Hawley đưa tiếp cận sinh thỏi trở lại cấp
độ vĩ mụ Lý thuyết Hawley cần một khảo sỏt riờng, ở đõy chỉ cú thể nờu lờn vài ý tưởng chớnh
Lý thuyết Hawley dựa trờn ba định đề Định đề thớch nghi: việc thớch nghi với mụi
trường diễn ra thụng qua sự hỡnh thành một hệ thống cỏc sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
Trình độ
công
nghệ
Trình độ vận tải/ truyền thông
Quy mô và mật
độ khu c trú
Phạm vi và mức độ bành trớng địa lý các khu c trú
Di dân ròng
Mức độ siêu đô thị Quy mô
vật chất
Trình độ sản
xuất Trình độ phân
phối
Độ lớn và tốc độ thị tr-ờng trtr-ờng
Tập trung hoá cơ
quan hành chính
Cơ sở hạ tầng hành chính
Trang 8các thành viên của một quần thể Định đề tăng trưởng: trong trường hợp các yếu tố
khác không đổi, hệ thống đi theo hướng tối đa hoá sự phức tạp nhờ vào vận tải và
truyền thông Định đề tiến hoá: sự phát triển của hệ thống gắn với việc áp dụng
thông tin mới làm nâng cao khả năng vận chuyển vật liệu, con người và thông điệp
Nó sẽ tiếp tục cho đến khi khả năng này được sử dụng hoàn toàn Để tồn tại và thích nghi, các quần thể người phải trở nên khác biệt hoá và liên kết thông qua một hệ thống phụ thuộc lẫn nhau Quy mô dân cư và tính phức tạp về tổ chức xã hội của dân cư đó bị hạn chế bởi nền tảng tri thức của nó, đặc biệt là công nghệ vận tải và truyền thông Trong một trình độ công nghệ nhất định, bao giờ cũng có một chi phí (thời gian, năng lượng, tiền bạc, vật liệu) cho sự vận chuyển thông tin, vật liệu và con người Hawley gọi đó là những chi phí di động (mobility costs) Quần thể dân
cư không thể tăng quy mô và tính phức thể của nó nếu không mở rộng tri thức về truyền thông cũng như sự vận chuyển con người và vật liệu Để hỗ trợ cho một khối dân cư lớn hơn, khác biệt hoá hơn trong một lãnh thổ rộng hơn đòi hỏi sản xuất ra nhiều vật phẩm và dịch vụ hơn, phân phối chúng thông qua các công nghệ vận tải và truyền thông Nếu năng suất không thể tăng, nếu chi phí di động không thể giảm, thì quy mô, mức độ và độ phức tạp của hệ thống sẽ không thể vượt quá một giới hạn trần
Lý thuyết Hawley cho rằng để hiểu được một tổ chức xã hội phải xem xét sự biến đổi qua lại giữa môi trường và cấu trúc xã hội bên trong Những biến đổi cơ bản của một xã hội diễn ra xung quanh việc tập trung các chủ thể trong một không gian vật
lý, cạnh tranh và khác biệt hoá, sự liên kết thông qua việc hình thành những tiểu hệ thống và tập trung hoá quyền lực Quy mô dân số, lãnh thổ, sức sản xuất, công nghệ vận tải/ truyền thông, và cạnh tranh là những nguyên nhân quan trọng đối với
những quá trình cấu trúc vĩ mô như khác biệt hoá, xung đột, hình thành giai tầng, củng cố quyền lực Dòng nguồn lực (năng lượng, thông tin, vật liệu) chảy vào hệ thống xét đến cùng là nguồn tăng trưởng và tiến hoá của hệ thống xã hội
6 Sinh thái học tổ chức
Khoảng 2-3 thập niên vừa qua xuất hiện hướng nghiên cứu mới về tổ chức từ quan điểm sinh thái Michael Hannan và John Freeman thuộc số những người đi đầu trong cách nhìn tiến hoá sinh học đối với một quần thể các tổ chức Trong cách nhìn này, các tổ chức cạnh tranh nhau giành nguồn lực Mức cạnh tranh cao làm tăng áp lực chọn lọc: những tổ chức có khả năng bảo vệ được nguồn lực trong sự cạnh tranh thì tồn tại, những tổ chức thiếu khả năng sẽ thất bại hoặc phải chuyển sang vùng nguồn lực khác
Một loạt động lực tạo nên cạnh tranh và chọn lọc Thứ nhất, số lượng tổ chức trong một vùng nguồn lực, điều này làm tăng mật độ, mức cạnh tranh, sự chọn lọc và tỷ lệ
tổ chức bị thất bại Động lực thứ hai là độ mở và tự do của thị trường Nếu các tổ chức độc quyền và cơ cấu quyền lực hành chính tác động theo hướng gây trở ngại cho thị trường, thì mức cạnh tranh, áp lực chọn lọc và tỷ lệ thất bại tổ chức sẽ giảm Thứ ba, các tổ chức sống sót sẽ lại có xu hướng trì trệ khiến cho trong quá trình chọn
Trang 9lọc tiếp theo chúng lại có khả năng bị gạt bỏ Thứ tư, nguồn lực biến động theo nhiều khía cạnh: mức biến động (các nguồn lực tăng giảm thường xuyên như thế nào), phạm vi và độ dài của biến động Những loại tổ chức có quy mô hay độ
chuyên môn hoá khác nhau sẽ có ưu thế khác nhau đối với các kiểu biến động nguồn lực
7 Xã hội học tiến hoá mới
Những phát triển mới của sinh học khuyến khích tìm tòi mới trong xã hội học tiến hoá hiện đại, liên quan đến bốn hướng quan tâm chính: các lý thuyết sinh học xã hội (sociobiology); các lý thuyết giai đoạn tiến hoá; các lý thuyết so sánh loài; các lý thuyết về bản chất sinh học của con người Bài viết này chỉ đề cập đến các lý thuyết giai đoạn tiến hoá, hình thành từ những năm 60 thế kỷ 20 Loại lý thuyết này chú ý đến những quá trình lịch sử dài hạn trong đó diễn ra sự khác biệt hoá ngày càng tăng trong cấu trúc và văn hoá của một quần thể dân cư
Mô hình của vợ chồng Lenski được gọi là tiếp cận tiến hoá văn hoá xã hội (socio-cultural evolution), theo nghĩa đó là quá trình biến đổi xã hội do tác động của những yếu tố văn hoá mới, đặc biệt là công nghệ
Gerhard Lenski quan tâm đến các hệ thống và cơ chế phân phối quyền lực, uy tín
và của cải trong một quần thể dân cư Phân tích của Lenski mang quan điểm tiến hoá vì ông xem xét sự phân phối này trong các kiểu xã hội khác nhau, chúng làm nên những giai đoạn trong quá trình tiến hoá lịch sử Lenski phân biệt các kiểu xã hội phản ánh những giai đoạn tiến hoá: xã hội săn bắt và hái lượm; xã hội nông nghiệp bằng tay (horticultural) đơn giản; xã hội nông nghiệp bằng tay phát triển (advanced); xã hội nông nghiệp; xã hội công nghiệp Động lực tiến hoá qua các kiểu xã hội là trình độ và bản chất của công nghệ đối với sản xuất tạo ra thặng dư kinh tế để có thể đem ra phân phối một cách bất bình đẳng Chu trình công nghệ-sản xuất-thặng dư tương quan cong (curvilineally) với bất bình đẳng trong quá trình tiến hoá qua các kiểu xã hội
Vợ chồng Lenski cùng cộng sự quan tâm xây dựng lý thuyết giai đoạn tiến hoá vĩ
mô, trong đó đề cập đến những tương đồng và khác biệt giữa tiến hoá sinh học và tiến hoá xã hội Tiến hoá sinh học và xã hội đều dựa trên những ghi chép (record) kinh nghiệm được lưu trữ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác dưới hình thái các hệ thống mã thông tin Cả hai loại tiến hoá đều dựa trên những quá trình biến dị
và chọn lọc ngẫu nhiên các đặc điểm thúc đẩy sự thích nghi với môi trường
Ngược lại, có những khác biệt giữa hai loại tiến hoá Thứ nhất, trong tiến hoá sinh học thì gen là vật mang mã thông tin, còn trong tiến hoá xã hội thì các hệ thống biểu trưng văn hoá đóng chức năng tương tự Khác biệt thứ hai liên quan đến cách chuyển đạt thông tin Trong tiến hoá sinh học, thông tin gen chỉ
có thể được chuyển giao thông qua sinh sản cơ thể hữu cơ mới, và chỉ diễn ra trong phạm vi một loài, giữa các loài không thể có sự phối giống Ngược lại,
Trang 10mã văn hoá có thể chuyển đạt mạnh và rộng rãi giữa các kiểu xã hội Thêm nữa, trong tiến hoá sinh học, các loài đơn giản hơn và phức tạp hơn có thể tiếp tục chung sống trong cùng một vùng nguồn lực Còn trong tiến hoá xã hội, các kiểu xã hội đơn giản hơn có xu hướng bị loại trừ bởi những kiểu xã hội phức tạp hơn
Hình 4 Sơ đồ lý thuyết tiến hoá sinh thái của nhà Lenski
_ _
Môi trường vật lý/sinh học và xã hội
Đặc điểm văn hoá xã hội hiện tại của một xã hội
- Dân số (quy mô, mức tăng, đặc điểm)
ộii ốèn óã ủaa ộét ã· ộii - á¸c ả¶n pẩÈm ậËt cấÊt (do ô«ng ngệÖ)
- Tổ chức xã hội (mạng lưới quan hệ)
- Các định chế xã hội
Di truyền gen của loài người _ _
Theo Lenski và cộng sự, có hai động lực cơ bản đối với biến đổi xã hội Thứ nhất, đổi mới (công nghệ): tạo ra thông tin mới và các khuôn mẫu cấu trúc xã hội mới Thứ hai, sự loại bỏ (extinction): các khuôn mẫu cấu trúc và văn hoá
bị từ bỏ Đổi mới trong tiến hoá xã hội làm cho các biến đổi có thể diễn ra nhanh hơn, vì con người có năng lực ý thức; có nhu cầu và khát vọng vô hạn;
có thể chấp nhận những truyền bá văn hoá từ xã hội khác, đồng thời có thể gây sức ép buộc xã hội khác chấp nhận mã thông tin của mình; có thể định chế hoá các đổi mới khiến đổi mới có thể trở nên thường xuyên và bền vững (chẳng hạn tạo ra định chế khoa học khiến cho các phát minh sáng chế liên tục diễn ra); có thể kết nối các hệ thống khác nhau để tạo ra sự tiến triển hỗ tương, dây chuyền
Các xã hội khác nhau về mức độ đổi mới do một loạt động lực Đó là khối lượng thông tin mà một xã hội đã tích luỹ được ảnh hưởng đến khả năng tạo ra nhiều thông tin hơn Thứ hai, quy mô dân số khiến xã hội có thêm nhân lực tham gia vào đổi mới Thứ ba, sự ổn định và đặc tính của môi trường (vật lý sinh thái và xã hội) Thứ tư, bản thân tính chất của các đổi mới có thể dẫn đến