1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp tinh thần yêu nước trong ngọc đường thi văn tập của nguyễn xuân ôn

64 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tinh thần yêu nước trong ngọc đường thi văn tập của Nguyễn Xuân Ôn
Tác giả Chu Thị Lan Anh
Người hướng dẫn ThS. An Thị Thúy
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 667,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu ở Nam Kì nổi bật vai trò lãnh đạo của Nguyễn Hữu Huân, ở Bắc Kì là Nguyễn Quang Bích thì ở Trung Kì phong trào gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Xuân Ôn - một nhà nho, một văn thân ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -o0o -

CHU THỊ LAN ANH

TINH THẦN YÊU NƯỚC

TRONG NGỌC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP

CỦA NGUYỄN XUÂN ÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên nghành: Văn học Việt Nam

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của giảng viên - ThS An Thị Thúy

đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn đặc biệt là các thầy cô trong tổ văn học Việt Nam - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong 4 năm học nói chung và trong quá trình nghiên cứu khóa luận nói riêng

Mặc dù có nhiều cố gắng song với trình độ và kiến thức còn hạn chế của người viết, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô và các bạn sinh viên để bài khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Tác giả khóa luận

Chu Thị Lan Anh

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của tôi cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của

giảng viên - Thạc sĩ An Thị Thúy

Trong quá trình làm khóa luận, tôi có tham khảo những tài liệu có liên quan đã được hệ thống trong mục Tài liệu tham khảo Khóa luận không có sự trùng lặp với các công trình khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Tác giả khóa luận

Chu Thị Lan Anh

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Cấu trúc khóa luận 5

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội và tư tưởng thời đại 7

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội 7

1.1.2 Tư tưởng thời đại 9

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương 11

1.2.1 Cuộc đời 11

1.2.2 Sự nghiệp văn chương 14

1.3 Vị trí của Nguyễn Xuân Ôn trong dòng văn học yêu nước nửa cuối thế kỉ XIX 15

CHƯƠNG 2 NGỌC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP - KHÚC CA THẤM ĐƯỢM TINH THẦN YÊU NƯỚC 19

2.1 Biểu hiện của tinh thần yêu nước trong Ngọc Đường thi văn tập 19

2.1.1 Ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước 19

2.1.2 Nỗi căm giận với kẻ thù 26

2.1.3 Ý chí và hành động quyết tâm cứu nước 39

2.1.4 Tình yêu thiên nhiên đất nước 43

2.2 Một số bút pháp nghệ thuật thể hiện cảm hứng yêu nước trong Ngọc Đường thi văn tập 47

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 5

2.2.1 Bút pháp hiện thực 48

2.2.2 Bút pháp châm biếm, trào phúng 50

2.2.3 Bút pháp trữ tình 54

KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 6

Trong cuộc đấu tranh ấy, không thể không kể đến các phong trào của các sĩ phu yêu nước Nếu ở Nam Kì nổi bật vai trò lãnh đạo của Nguyễn Hữu Huân, ở Bắc Kì là Nguyễn Quang Bích thì ở Trung Kì phong trào gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Xuân Ôn - một nhà nho, một văn thân chống Pháp tiêu biểu nửa cuối thế kỉ XIX

Việt Nam là đất nước của những anh hùng vừa làm thơ, vừa đánh giặc

Do vậy, ngoài vai trò một lãnh tụ kháng chiến, Nguyễn Xuân Ôn còn là một nhà thơ Số lượng sáng tác tuy không nhiều nhưng ông đã có đóng góp lớn

cho nên văn học dân tộc với tập thơ văn giàu giá trị đó là Ngọc Đường thi văn

tập Tác phẩm là chân dung con người cá nhân Nguyễn Xuân Ôn - một nhà

nho yêu nước nhiệt thành và một trái tim thi sĩ giàu rung cảm yêu thương

Khi tìm hiểu về Nguyễn Xuân Ôn, giới nghiên cứu lịch sử tập trung vào các phương diện: một nhà nho yêu nước, một sĩ phu chống Pháp… Bên cạnh đó, giới nghiên cứu còn khẳng định “An Tĩnh Hiệp thống quân vụ đại

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 7

2

thần” là một nghệ sĩ tài hoa Phương diện này, ông đã kí thác trong Ngọc

Đường thi văn tập

Nhữ Bá Sĩ đã từng nói “Ôi! Văn chương là cái hiện trạng một thời làm nên nó” và thơ ca còn là sự rung cảm kì diệu của tâm hồn người nghệ sĩ Bởi vậy, thơ ca chính là nơi gửi gắm tâm sự, nỗi lòng, cảm xúc của thi nhân Những nỗi niềm sâu kín, những băn khoăn trăn trở đều là nguyên nhân bên trong khiến người nghệ sĩ tìm đến với thơ văn Chúng ta từng cảm nhận được nỗi buồn trong thơ Ức Trai, Nguyễn Du, Tú Xương, Nguyễn Khuyến hay nỗi niềm chua xót thân phận trong thơ Hồ Xuân Hương… Theo đó, văn chương

là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng tâm hồn người nghệ sĩ và phản ánh chân dung tâm hồn của chính họ Vì vậy tìm hiểu thơ văn Nguyễn Xuân Ôn chúng

ta sẽ thấy rõ hơn, đúng đắn hơn con người cũng như tấm lòng yêu nước của ông

Hơn nữa, tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Xuân Ôn cũng giúp chúng ta hiểu thêm về tâm trạng lớp nhà nho chống Pháp cuối thế kỉ XIX và sáng tác của lớp sĩ phu cùng thời như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn

Quang Bích… Nghiên cứu đề tài “Tinh thần yêu nước trong Ngọc Đường thi

văn tập của Nguyễn Xuân Ôn” góp phần tái hiện chân dung và tài năng nghệ

thuật của nhà thơ Đó chính là lí do khiến chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Xuân Ôn là một trong những tác giả tiêu biểu, một nhà thơ, nhà văn, một trí thức Nho học có tên tuổi trong khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX Chúng tôi có thể điểm qua một số cuốn sách và công trình nghiên cứu viết về ông như sau:

Đầu tiên phải kể đến công trình của Nhiều tác giả, “Giáo trình lịch sử

văn học Việt Nam”, (1965), đã có sự nghiên cứu kĩ lưỡng về con người, nhân

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 8

3

cách Nguyễn Xuân Ôn để rồi đi tới khẳng định: “Nguyễn Xuân Ôn cũng

khăng khăng một “Lòng son giết giặc chết không phai” (Thuật hoài) và khi

tên khâm sứ tra gạn thì ném ngay vào mặt nó câu nói khí phách “Tôi muốn giết chết hết cả lũ xâm lược nhà ông” (tiểu sử Nguyễn Xuân Ôn)” [37;6]

Thứ hai, là Nguyễn Lộc trong “Giáo trình văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX)”, (1976) ông nhận xét: “Nét quán xuyến trong toàn bộ thơ văn Nguyễn Xuân Ôn là tinh thần yêu nước thiết tha, là ý chí bất khuất, không gì lay chuyển được Từ những sáng tác đầu tiên của ông trong thời gian trước khi thi đậu và làm quan, những nhân tố của tư tưởng tích cực ấy đã biểu hiện rất rõ” [684;7]

Thứ ba, là Trần Quang Diệm, người đã bỏ ra rất nhiều công sức nghiên cứu về cuộc đời cũng như con người của Nguyễn Xuân Ôn, trong Lời

bạt “Ngọc Đường thi văn tập” (1977) viết: “… Ngoài ra các bài bày trận lợi

hại trù tính sự nghi, thích yếu và cương trực, có phong cách của các bài tâu bàn của Lục Tuyên Công ngày xưa Đến như những ý niệm thương đời ghét tục, gõ mái chèo, thề dẹp giặc thi lưu lệ trên giấy mực, không bài nào là không có Bởi vì khí phách cương trực lớn lao, bẩm thụ tự ở trời sinh, vì thế thốt ra lời nói, có thể làm khuôn phép cho đời sau, chẳng những xưng hùng trong thi đàn mà thôi… Ngàn năm sau người ta thưởng thức văn chương của tiên sinh, còn như thấy tiên sinh…” [74;3]

Đây được coi là công trình nghiên cứu và tổng hợp lại được những sáng tác của Nguyễn Xuân Ôn có giá trị vô cùng to lớn

Thứ tư, ta không thể bỏ qua nhà nghiên cứu Đinh Xuân Lâm khi viết

“Lời giới thiệu thơ văn Nguyễn Xuân Ôn”, (1977) đã khái quát về giá trị to lớn của các tập thơ văn, ông cho rằng: “Thơ văn Ngọc Đường đến với chúng

ta ngày nay như một bài học lớn giàu tính thời sự về tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm, chống thỏa hiệp đầu hàng, như một bài ca hùng tráng về

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 9

Vinh nhục thân này đâu dám kể Lòng son giết giặc chết không phai

Có thể thấy đó là lời nhận xét vô cùng xác đáng về tài năng và nhân cách Nguyễn Xuân Ôn Khi đi sâu vào phân tích thơ văn Nguyễn Xuân Ôn ta mới thấy hết điều đó

Ngoài ra, các tác giả cuốn “Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh”, (2003)

đã viết: “Từ 1858 đến cuối thế kỉ XIX, phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ…Nguyễn Xuân Ôn mang tư tưởng yêu nước nhiệt thành

và chí căm thù giặc sục sôi” [23;2]

Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã phần nào nhìn

nhận ở góc độ này hay góc độ khác con người Nguyễn Xuân Ôn và Ngọc

Đường thi văn tập của ông Tuy nhiên các tác giả chưa có sự nhìn nhận một

cách tổng thể hệ thống về con người và thơ văn Nguyễn Xuân Ôn Điều đó cũng là dễ hiểu, bởi đó là những công trình luận bàn về lịch sử của cả một giai đoạn hoặc bàn về một khuynh hướng văn học

Kế thừa những khám phá tìm tòi của những người đi trước, coi đó là định hướng quan trọng, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu về con người và giá trị thơ văn Nguyễn Xuân Ôn” Với tấm lòng yêu kính các bậc tiền nhân và yêu quý thơ văn của họ, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những kiến giải của mình, hi vọng góp được một tiếng nói nhằm hiểu sâu sắc hơn Nguyễn Xuân Ôn và sáng tác thơ văn của ông

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 10

5

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, khóa luận hướng tới ba nhiệm vụ sau:

- Thấy được tư tưởng yêu nước trong thơ văn Nguyễn Xuân Ôn nói riêng cũng như có cái nhìn toàn diện về thơ văn Nguyễn Xuân Ôn nói chung qua

Ngọc Đường thi văn tập

- Góp phần hiểu thêm về tầng lớp sĩ phu chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX và thơ văn của họ

- Làm phong phú thêm vốn tri thức về thơ văn yêu nước chống Pháp cuối thế

kỉ XIX và văn học chống ngoại xâm củadân tộc, góp phần tích cực cho giảng dạy văn học sau này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khóa luận tập trung vào tập Ngọc Đường thi văn tập của Nguyễn Xuân Ôn

Chúng tôi sử dụng và trích dẫn thơ văn Nguyễn Xuân Ôn chủ yếu lấy từ cuốn

“Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn” do Đinh Xuân Lâm giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội, (1977)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Tinh thần yêu nước trong Ngọc Đường thi văn tập của Nguyễn Xuân Ôn

5 Phương pháp nghiên cứu

Tìm hiểu vấn đề này chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp chính sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, so sánh

- Phương pháp tổng hợp

6 Cấu trúc khóa luận

Khóa luận được triển khai theo 2 chương

Chương 1 Những vấn đề chung

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 11

6

Chương 2 Ngọc Đường thi văn tập - khúc ca thấm đượm tinh thần yêu nước

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 12

7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội và tư tưởng thời đại

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội

Dân tộc Việt Nam từ xưa vốn đã có truyền thống lịch sử của bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước Và khi nói về Việt Nam bạn bè quốc tế từng đánh giá: “Việt Nam là một dân tộc làm thơ và đánh giặc Tổ quốc Việt Nam nhỏ bé nhưng đã phải trải qua biết bao cuộc đấu tranh xâm lược anh hùng mà hào hùng Chính những năm tháng lịch sử đầy biến động ấy người Việt Nam càng trở nên đẹp hơn bao giờ hết”

Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng chấm dứt thời kì nghìn năm Bắc thuộc Tiếp sau đó, cha ông ta đã đánh thắng giặc phương Bắc với những chiến công hiển hách Đến giữa thế kỉ XIX chủ nghĩa tư bản phương Tây phát triển lên chủ nghĩa thực dân, mở rộng phạm vi thuộc địa sang các nước trong khu vực Đông Nam Á Việt Nam cũng không nằm ngoài sự kiện đó Ngày 31/8/1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng vào cửa biển Đà Nẵng mở màn cho cuộc chiến tranh phi nghĩa và báo hiệu hàng loạt những thay đổi lớn trong đời sống dân tộc Cuộc kháng chiến chống Pháp trở thành một sự kiện nổi bật trong lịch sử dân tộc

Kế thừa những truyền thống yêu nước bất khuất từ ngàn năm, con người Việt Nam đứng lên đấu tranh với tư cách một người dân mất nước quyết chiến với kẻ thù để giữ gìn độc lập dân tộc Trong khí thế đấu tranh sôi nổi của nhân dân thì triều đình Huế phản động và mục nát đến tận xương tủy Chúng hoàn toàn không dựa vào sức của nhân dân để chống giặc nên chỉ kháng cự một cách yếu ớt rồi quay lại làm tay sai cho giặc Vua tôi nhà Nguyễn thỏa hiệp bán nước cầu vinh Chúng đẩy nhân dân vào cuộc sống khốn khó, lầm than để đổi lấy hư danh

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 13

8

Một lần nữa, nhân dân ta lại phải cầm gươm giáo đứng lên chống lũ xâm lăng Cuộc kháng chiến chống Pháp trong thời đại mới không những đấu tranh chống thực dân cướp nước mà còn chống cả triều đình phong kiến mục ruỗng không còn đủ sức lãnh đạo và cầm quyền Lúc này người dân chính thức lại bước lên vũ đài chính trị Mặc dù vẫn “chưa phải nhân dân nắm quyền lãnh đạo tất cả các cuộc kháng Pháp nhưng tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm của dân tộc, tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bền bỉ gan dạ, tinh thần anh dũng bất khuất, tinh thần chịu thương chịu khó của dân tộc thì đúng là nhân dân lao động Việt Nam” Nếu thời xa xưa, tầng lớp người nông dân có Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, sau đó

có anh hùng áo vải Lê Lợi, Nguyễn Huệ sẵn sàng đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm thì đến hôm nay, trước nguy cơ mất nước họ đã đứng lên kháng chiến kháng Pháp cùng những sĩ phu yêu nước - bộ phận ưu tú nhất của giai cấp phong kiến trong quá trình phân hóa

Ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp đánh vào Đà Nẵng, trong khi triều đình còn đang lúng túng chưa biết xử trí ra sao thì lòng dân đã sôi sục như dầu trong chảo nóng, nhất là nhân dân Nam bộ Bằng chứng là hàng loạt các cuộc nổi dậy nổi lên như nấm mọc sau mưa Thực dân Pháp đánh ra ngoài Bắc

và miền Trung thì phong trào chống giặc ở Trung và Bắc cũng không kém gì Nam bộ Cả nước hừng hực khí thế kháng Pháp Từ Bắc chí Nam, các sĩ phu yêu nước lãnh đạo nhân dân đứng lên nổi dậy khởi nghĩa Ngoài Bắc có đốc học Phạm Văn Nghị chiêu mộ quân sĩ trợ chiến cho Quảng Nam, Sơn Tây có phong trào của Lãnh Cồ, Lê Quán Chí, Bắc Ninh có phong trào của Dương Khải…Trong Nam ở Gia Định, Gò Công, Tân An có cuộc nổi dậy của Trương Định, Đồng Tháp Mười có Thiên Lộ Dương, Bến Tre, Sa Đéc, Trà Vinh…

Phong trào chống thực dân Pháp sôi nổi rầm rộ khắp nước khi kinh thành Huế thất thủ Vua Hàm Nghi ra sơn phòng xuống chiếu Cần Vương

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 14

9

Phong trào Cần Vương nổ ra mạnh mẽ với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền ở Bình Định; Trần Văn Dự, Nguyễn Huy Hiệu ở Quảng Nam; Phan Đình Phùng, Lê Ninh ở Hà Tĩnh; Phạm Bành, Đinh Công Tráng ở Thanh Hóa và ở Nghệ An có Lên Doãn Nhạ, Nguyễn Xuân Ôn… Nhân dân ta chiến đấu anh dũng, quật cường nhưng thế nước không cứu vãn nổi khi thực dân Pháp thực hiện chiến dịch tằm ăn dâu

Dù cuộc chiến tranh của nhân dân ta là chính nghĩa nhưng do nhiều nguyên nhân cuối cùng đều dẫn đến thất bại Đặc biệt triều đình nhà Nguyễn lại liên tục nhún nhường khi kí với Pháp hàng loạt các hiệp ước, thương ước xác lập

sự có mặt hợp pháp của chúng trên đất nước ta Tiêu biểu phải kể đến hai hiệp ước năm 1883 và 1884 chính thức công nhận nền đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam Sau đó, thực dân Pháp tiến hành củng cố bộ máy chính quyền, tiến hành chương trình khai thác thuộc địa Hệ quả tất yếu là một xã hội thực dân nửa phong kiến hình thành thay thế cho hình thái xã hội phong kiến

1.1.2 Tư tưởng thời đại

Giai đoạn cuối thế kỉ XIX là giai đoạn lịch sử đất nước Việt Nam có những biến đổi hết sức to lớn Thực dân Pháp xâm lược, biến nước ta thành một nước xã hội thực dân nửa phong kiến nửa thuộc địa Chế độ phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống giặc ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc

Lúc này, ở Việt Nam diễn ra sự va chạm giữa hai nền văn minh Á - Âu, giữa văn hóa Nho giáo và văn hóa Kitô giáo, giữa tư tưởng Nho giáo với các triết thuyết và khoa học phương Tây Trước sự va chạm đó, đời sống tư tưởng của Việt Nam nhiều đặc trưng riêng so với tư tưởng của các giai đoạn trước đó, đồng thời nó tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam

Triều đại nhà Nguyễn lên ngôi đã đưa Nho giáo lên vị trí là hệ tư tưởng thống trị độc tôn trong đời sống tinh thần dân tộc Triều Nguyễn đã xác lập

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 15

10

nền tảng tư tưởng quan trọng nhất cho triều đại mình Cùng với sự triển khai, củng cố hệ tư tưởng Nho giáo và mọi thiết chế chính trị, xã hội, các giá trị Nho học được củng cố trở lại thành rường cột đạo đức xã hội và đời sống xã hội được sắp đặt theo trật tự Nho giáo ngày càng vững chắc

Nho giáo được củng cố mạnh mẽ trong xã hội, Phật giáo, Đạo giáo ngày càng suy giảm và đi vào đời sống dân chúng trên phương diện tôn giáo Điều đó khiến cho đời sống tư tưởng chính thống có phần nghèo nàn hơn so với thế kỉ trước Và đến cuối thế kỉ XIX, cuộc xâm chiếm bành trướng của thực dân Pháp vào Việt Nam đã khiến cho bức tường thành ý thức hệ Nho giáo bị lung lay tận gốc rễ Nho giáo tỏ ra bất lực trong vai trò là đường lối dẫn dắt dân tộc bảo vệ đất nước trước một kẻ thù hoàn toàn mới về ý thức hệ

và nền văn hóa

Do tác động của bối cảnh lịch sử, những vấn đề được đặt ra là vấn đề

về chính trị tôn giáo với xã hội mới, giữa đường lối bảo thủ với canh tân…

Đặc biệt, cuối thế kỉ XIX, hệ tư tưởng Nho học suy vi cực độ Biểu hiện qua những chủ trương chính sách phản động của triều đình nhà Nguyễn mục nát không thể cứu vãn nổi Trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ hệ tư tưởng Nho giáo chính thống có sự rạn nứt nghiêm trọng Một bên là tư tưởng đầu hàng, một bên là tư tưởng chiến đấu giữ nước Phong kiến Việt Nam đã yếu đuối lại không dám dựa vào sức dân nên đã thất bại thảm hại Khuynh hướng tích cực cũng lại chưa thoát khỏi hệ tư tưởng phong kiến nên cuối cùng cũng thất bại

Như vậy, rõ ràng biến cố lịch sử trong nửa cuối thế kỉ XIX đã làm phân hóa hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam Điều này đã tác động không nhỏ đến quan điểm sáng tác cũng như nội dung phản ánh trong các tác phẩm văn học nghệ thuật Và Nguyễn Xuân Ôn tất nhiên cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng của tư tưởng thời đại ấy

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 16

Từ nhỏ, vốn thông minh, ham học, ngay từ hồi còn thanh niên ông đã nổi tiếng hay chữ, học rộng nhớ nhiều, nhưng vì ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, cha là học trò không đỗ đạt gì, mẹ mất sớm, phải đến ở với bà nội, mãi đến khi tuổi đã lớn mới có điều kiện đi học Năm Giáp Thìn (1844), ông đỗ tú tài lúc 18 tuổi, nhưng rồi lận đận mãi đến năm 42 tuổi, ông mới đỗ Cử nhân khoa Đinh Mão (1867), và bốn năm sau ông mới đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi (1871) cùng khoa với Nguyễn Khuyến và Phó bảng Lê Doãn Nhã, người bạn đồng hương sau này cộng tác đắc lực với ông trong cuộc khởi nghĩa Cuộc đời Nguyễn Xuân Ôn có thể chia làm 3 giai đoạn :

Thứ nhất, đó là giai đoạn ra làm quan cho nhà Nguyễn Bước chân vào

quan lộ lúc tuổi đã luống, những tưởng đường mây từ nay rộng mở, ông hăm

hở có dịp được đem những điều sở đắc của mình ra giúp nước cứu dân trong cơn nước nhà đang nguy ngập trước sức tấn công ngày càng hung bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp Nhưng ngay từ đầu ông đã thất vọng Với bản tính cương trực không chịu cúi mình chiều chuộng bọn quan trên, ông bị chúng bắt kéo dài thời gian tập sự ba năm tại kinh đô Huế (nay là thành phố Huế) rồi mới được bổ đi làm tri phủ Quảng Ninh - tỉnh Quảng Bình (nay là huyện Quảng Ninh, tỉnh Bình - Trị - Thiên), ở đấy, biết có lệ bắt dân phải nạp gạo củi hàng tháng, ông liền gửi sớ về kinh hạch tội khiến các viên quan cai trị địa phương phải vội vàng bỏ lệ đó và xin ông thôi gửi sớ về triều Sau đó, một lần vì bắt tội một giáo sĩ người Pháp (ông này dùng lọng vàng, màu chỉ dành riêng cho vua, trong lúc đi giảng đạo, ông bị vua Tự Đức khi ấy đang có chủ trương hòa

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 17

12

nghị với thực dân Pháp nên đã đổi ông vào làm đốc học tỉnh Bình Định (nay thuộc tỉnh Nghĩa Bình) Ở Bình Định một thời gian, ông vào Huế giữ chức ngự sử Chứng kiến cảnh bọn quan lại bất tài ở kinh, chỉ lo chuyện tham nhũng, lo tranh giành quyền vị vào lúc vận mệnh Tổ quốc đang như “trứng để đầu đẳng”, thực dân Pháp sau khi đã nuốt trôi sáu tỉnh Nam Kì đang ráo riết xúc tiến âm mưu đánh chiếm miền Bắc nước ta, ông lại lên tiếng kịch liệt phê phán, chỉ trích khiến bọn chúng đem lòng thù ghét, cuối cùng chúng đã tìm cách đẩy ông vào làm án sát ở tỉnh Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Thuận Hải) cực nam Trung kì hồi đó là nơi tiếp giáp với đất Nam kì, khi ấy đã bị thực dân Pháp chiếm đóng nên có nhiều khó khăn trong việc giao thiệp với bọn thực dân Pháp đang ngày đêm cố tình khiêu khích kiếm chuyện Vào đến đây, sau khi điều tra nắm rõ tình hình, Nguyễn Xuân Ôn đã nhiều lần báo cáo về triều đình âm mưu của Pháp và liên tục vạch mặt lên án chúng Nhưng đường lối của triều đình lúc bấy giờ với Pháp chủ yếu là thương thuyết cầu hòa nên để tránh chuyện lôi thôi xảy ra, triều đình vội điều ông ra Quảng Bình Năm Kỷ Mão (1879), Nguyễn Xuân Ôn lại gửi tấu sớ về kinh trình bày mọi điều lợi hại bấy giờ (nhấn mạnh việc nên chọn những người có dũng lược để làm rường cột) Năm Nhâm Ngọ,

Tự Đức thứ 35 (1882), ông lại gửi tấu sớ xin được đi kinh kí miền thượng du,

để chọn nơi lập đồn điền và sơn phòng Năm 1882, nghe tin thành Hà Nội thất thủ lần thứ 2, khi này Nguyễn Xuân Ôn đã đổi về làm Án sát Quảng Bình, liền bài tâu xin được về quê để tập hợp tráng đinh chống Pháp và động viên tinh thần của nhân dân… Nhìn chung, đa phần các tấu sớ của ông đều phản đối chủ trương hòa nghị và trình bày những phương cách như: lựa chọn người hiền tài giao phó việc chấn chỉnh võ bị, lập đồn điền và sơn phòng, khuyến khích việc cày cấy, bớt tiêu dùng sa sỉ… Buồn vì các tấu sớ của mình bị triều đình làm ngơ, bản thân lại bị cách chức (1883) nên khi về đến quê nhà, Nguyễn Xuân

Ôn liền tự mình tổ chức việc kháng Pháp

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 18

13

Thứ hai, giai đoạn về quê kháng Pháp Tháng Năm năm Ất Dậu (Đêm

4, sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885), kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn rồi hạ dụ Cần Vương, ông được phụ chính Tôn Thất Thuyết (thay mặt vua) cử làm An Tĩnh hiệp thống quân vụ đại thần có nhiệm vụ thống lĩnh nghĩa quân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh giúp vua cứu nước Ông cùng Nguyễn Nguyên Thành, Lê Doãn Nhạ, Đinh Nhật Tân lập chiến khu ở xã Đông Thành thuộc huyện Yên Thành (Nghệ An) Ở vùng núi đó, Nguyễn Xuân Ôn chọn một thung lũng làm nơi xây dựng Đại đồn Đồng Thông Đại đồn rộng khoảng

30 ha chung quanh có núi non bao bọc Từ đây có thể đi ngược lên phía Tây vào sâu đến núi Trọc cao gần 500m, hoặc có thể vượt qua dốc Lội đi về phía Tây Bắc vào vùng Động Đình, Nhà Đũa, nơi mà chủ soái Lê Lợi và tướng Đinh Lễ ém quân vào cuối năm 1424 để tám tháng sau kéo về xuôi đánh thắng Thành Trài và bị quân Minh chiếm đóng vào tháng 6 năm 1425, giải phóng Nghệ An Buổi đầu khởi nghĩa, nghĩa quân lên đến khoảng hai ngàn người, hầu hết là nông dân trai tráng, có nhiều người chỉ huy quân giỏi như

Đề Kiều, Đề Mậu, Đề Nhục, Lãnh Tư, Đốc Nhạn… Ở đây, nghĩa quân ngày đêm luyện tập võ nghệ, rèn vũ khí và sản xuất lương thực Kể từ đó, căn cứ Đông Thông đã góp phần không nhỏ trong công cuộc chống Pháp lúc bấy giờ Trong chiến đấu, Nguyễn Xuân Ôn mặc dù tuổi cao sức yếu song ông vẫn nêu cao gương dũng cảm, luôn luôn xung phong đi trước làm cho khí thế nghĩa quân vô cùng phấn chấn Ông đã nhiều lần bị thương nặng nhưng vẫn giữ vững quyết tâm chiến đấu đến cùng Kết hợp vào đó, ông lại nhiều lần cương quyết cự tuyệt sự dụ dỗ mua chuộc của Pháp và tay sai Những việc đó khiến người đương thời rất cảm mến ông, uy tín của ông trong văn thân sĩ phu cũng như trong nhân dân ngày càng lớn Cũng chính bởi lí do ấy mà thực dân Pháp

đã đày ông đi thật xa, hoàn toàn cách li với những bạn chiến đấu cũ, hoàn toàn cách biệt ra khỏi môi trường hoạt động cách mạng Nhưng không lâu sau ngày 20 tháng 5 năm Mậu Tí (1888) ông bị bắt giải về kinh thành Huế

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 19

14

Giai đoạn thứ ba, là thời gian ông bị bắt giam và mất Sau khi Nguyễn

Xuân Ôn bị bắt giam, giặc Pháp và tay sai đẩy mạnh khủng bố, quê hương ông bị đốt phá tan tành, gia đình ông tan nát, mỗi người chốn chánh một nơi Ngày 2 tháng 4 năm Đinh Hợi (25 tháng 7 năm 1887), nhờ chỉ điểm, quân Pháp bất ngờ tập kích Đồng Nhân (nay là thôn Đông Đức, xã Mã Thành, huyện Yên Thành) nơi ông đang nằm dưỡng thương sau trận Xóm Hổ Bị đột kích bất ngờ, không kịp tự sát, ông bị đối phương bắt được rồi lần lượt trải qua các nhà lao ở Diễn Châu (Nghệ An), Vinh, Hải Dương, Huế Dù đã bắt được ông, các chỉ huy Pháp vẫn xua quân đi bắt bớ các nghĩa quân nhằm dập tắt cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo Trong thời gian bị cầm cố khổ sở, năm Mậu Tí (1888) thời vua Đồng Khánh, ông có gửi Lời Trình về Bộ kêu oan về việc ông tuân theo dụ Cần Vương của vua Hàm Nghi, mà bị kết án là đã tham gia “đảng ngụy”, đồng thời gửi thư cho các bạn đồng liêu của ông ở kinh nhờ

có lời bênh vực cho mình Tuy vậy, đến khi vua Thành Thái lên thay (1889), Nguyễn Xuân Ôn mới được ân xá nhưng không cho về quê vì sợ ông lại tổ chức kháng Pháp Bị quản thúc ở Huế, chẳng bao lâu sau năm 1889 ông lâm bệnh nặng rồi mất, thọ 64 tuổi

1.2.2 Sự nghiệp văn chương

Sáng tác trong suốt thời gian dài từ khi còn là một anh học trò nghèo, trải qua một thời gian làm quan đầy biến cố, tiếp theo là một thời kì oanh liệt giương cao cờ chống Pháp và cuối cùng là tới những ngày thất bại bị giam giữ trong nhà tù của đế quốc phong kiến và tay sai Sự nghiệp thơ văn của ông để

lại cho chúng ta ngày bao gồm các sáng tác bằng chữ Hán:

- Ngọc Đường thi tập, gồm 311 bài thơ

- Ngọc Đường văn tập, gồm 22 bài văn xuôi cùng một số câu đối

Ngoài ra còn có một số ít bài thơ Nôm không có trong hai tập trên, nhưng từ trước đến nay vẫn được nhân dân yêu thích truyền tụng

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 20

15

Thơ Nguyễn Xuân Ôn, lúc ông còn đèn sách thường thể hiện ý chí, hoài bão của một người đầy tráng khí muốn được giúp nước, cứu đời Tiêu

biểu là bài Bột hứng (Cảm hứng bột phát), Trung dạ khởi tư (Nửa đêm nảy ra

ý nghĩ),Tiểu hữu nhân (Trách bạn), Độc Trang Chu dưỡng sinh thiên cảm hoài (Cảm hoài khi đọc Thiên Dưỡng sinh của Trang Tử)…

Đến khi ra làm quan, dù là chức quan nhỏ, ông vẫn “nguyện giá trường phong phá hải đào” (nguyện cưỡi gió lớn phá tam sóng biển) Tiêu

biểu là bài: Đắc chỉ bổ Quảng Ninh tri phủ, hậu bản độ đường quan hồi tác

(Làm lúc đượcchỉ vua bố cức Tri Phủ Quảng Ninh), Thuật hoài (Thuật ý nghĩ của mình)…

Gặp buổi thực dân Pháp xâm lược, ông dùng ngòi bút của mình để châm biếm, đả kích những tiêu cựu, nói lên nỗi phẫn uất của mình vì đất nước

cứ mất dần vào tay ngoại bang, ca ngợi khí phách dũng cảm và hi sinh của quân dân, khẳng định chỗ yếu mạnh của cả hai bên, tỏ rõ một tinh thần quyết

đánh và tin tưởng vào chiến thắng Tiêu biểu là bài: Nhân duyệt quán đoàn

dũng ở xã Mỹ Lộc, giản Bang biện cử nhân Võ Bá Liêm, Trường An hoài cổ (Nhớ cảnh cũ Trường An), Cảm thuật (Cảm khái thuật ra)…

Nhìn chung, thơ văn ông thường theo sát những vấn đề thời sự, chính trị, biểu hiện rõ tình cảm, ý chí của ông Đó là tiếng nói chân thành, là tấm lòng thiết tha của một con người yêu nước, suốt đời gắn bó với vận mệnh Tổ quốc và độc lập của dân tộc Về mặt nghệ thuật, thơ văn ông đều mộc mạc, chân chất không chạm trổ hay đẽo gọt mĩ miều

1.3 Vị trí của Nguyễn Xuân Ôn trong dòng văn học yêu nước nửa cuối thế kỉ XIX

Nhân dân ta nói chung và nhân dân Nam Bộ nói riêng luôn có truyền thống yêu nước, được tôi luyện qua nhiều cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm suốt hàng nghìn năm lịch sử nên rất nhạy bén về cảm quan yêu nước,

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 21

16

không sợ hi sinh, không tiếc xương máu, sẵn sàng đứng lên đánh giặc cứu nước Cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX là những trang sử rực rỡ về lòng yêu nước của nhân dân ta mà nhất là của người dân Nam Bộ Trong phong trào ấy chúng ta phải kể đến vai trò vô cùng quan trọng của các sĩ phu yêu nước, tiêu biểu ở đây là Nguyễn Xuân Ôn

Thực dân Pháp xâm lăng đã làm cho hàng ngũ phong kiến bị phá vỡ tan

rã thành nhiều mảnh Ngoài triều đình Huế mê muội, bọn địa chủ phong kiến hám lợi cầu vinh thì vẫn còn một số đông các trí thức phong kiến ý thức được trách nhiệm của mình với dân với nước Tuy nhiên, mặc dù cùng đứng trong hàng ngũ sĩ phu yêu nước nhưng thái độ và hành động với thời cuộc của mỗi người mỗi khác Mâu thuẫn dân tộc cấp bách đang cần được giải quyết thì một bộ phận trí thức vẫn tự mê hoặc mình bằng lí trí trung thời và trung hiếu với chế độ quân thần đã mục nát, an nhiên lãnh cảm trước sự lâm nguy của đất nước Tuy ý thức hệ phong kiến đã lỗi thời nhưng nó vẫn còn cố hữu và

có sức ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ trong tư tưởng của họ Triều đình nhà Nguyễn cũng không còn đủ bản lĩnh và tư cách để lãnh đạo nhân dân Bởi vậy, một số sĩ phu khác thiếu nghị lực, ý chí đã chọn lối sống ẩn dật, trốn tránh sự đời, không màng thế sự hoặc mơ mộng hão huyền về một xã hội phong kiến Nghiêu Thuấn đã từng tồn tại nay lùi sâu vào quá khứ Có người cũng bày tỏ thái độ bất mãn trước hiện thực đất nước nhưng lại chỉ khoanh tay đứng nhìn mà không hành động

Trái lại, khác với biểu hiện của các sĩ phu trên, Nguyễn Xuân Ôn - một trí thức phong kiến yêu nước thấy rõ quyền lợi của phong kiến cũng chỉ là quyền lợi làm cho tay sai đế quốc Và luôn ý thức được trách nhiệm của mình, ông tiếp thu và kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc, sống gần gũi, tin tưởng vào nhân dân, hăng hái cùng nhân dân chống giặc cứu nước Cả cuộc đời mình ông đã chiến đấu hết mình bằng cả nhiệt thành yêu nước và tấm lòng trung trinh trong sáng

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 22

17

Cũng chung bầu không khí u ám dưới ách thống trị hà khắc của thực dân Pháp, giống như phần đông các nhà Nho lúc bấy giờ, Nguyễn Xuân Ôn cũng dùng ngòi bút của mình để “chở đạo, tải đạo” quyết liệt đấu tranh trên mặt trận văn hóa, tư tưởng Tấc lòng riêng tư của Nguyễn Đình Chiểu:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

(Than đạo)

cũng trở thành tư tưởng chung của hầu hết các nhà Nho đương thời Tư tưởng

ấy đã tạo thành một dòng chảy xuyên suốt trong văn chương nửa cuối thế kỉ XIX với các sáng tác của hàng loạt các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Xuân Ôn cũng là một tên tuổi lớn với các tập thơ không nằm ngoài dòng chảy ấy Là một sĩ phu tiêu biểu đất Trung kì, Nguyễn Xuân Ôn xứng đáng là tấm gương sáng về một con người dám hi sinh vì Tổ quốc, chiến đấu ngoan cường, anh hùng bất khuất, sẵn sàng xả thân vì nghĩa

Có thể nói, trong phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Nam

bộ cuối thế kỉ XIX lúc bấy giờ, Nguyễn Xuân Ôn có vai trò hết sức to lớn Trước hết, bản thân ông chính là một lãnh tụ trực tiếp của phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX xuất thân từ tầng lớp phong kiến Song ông đã kịp thời bắt rễ được với phong trào yêu nước của các sĩ phu trên khắp đất nước không chịu khom lưng quỳ gối đầu hàng mà dũng cảm đứng lên chống lại tư tưởng thỏa hiệp đầu hàng của triều đình và lãnh đạo nhân dân kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc Ông đã lấy phương châm “Xã tắc lâm nguy, thất phu hữu trách” làm phương châm hành động của mình Ông chính là linh hồn của cao trào chống Pháp Nam bộ cuối thế kỉ XIX

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 23

18

Tóm lại, lịch sử dân tộc đã ghi nhận vai trò to lớn của ông Mặc dù phong trào do ông lãnh đạo cuối cùng vẫn đi đến thất bại nhưng tấm gương tiết liệt, nhất là thơ văn đầy tinh thần chiến đấu của ông sẽ còn sống mãi trong đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam nói chung và người dân Nam bộ nói riêng

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 24

19

CHƯƠNG 2 NGỌC ĐƯỜNG THI VĂN TẬP - KHÚC CA THẤM

ĐƯỢM TINH THẦN YÊU NƯỚC

2.1 Biểu hiện của tinh thần yêu nước trong Ngọc Đường thi văn tập

Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn là tiếng nói chân thành, là tấm lòng thiết tha của một con người suốt đời gắn bó với vận mệnh của Tổ quốc, với độc lập của dân tộc từ tuổi tráng niên đầy mơ ước cao đẹp đến lúc tuổi già sức yếu vẫn không ngừng phấn đấu, cả đến lúc sa cơ lọt vào nanh vuốt của bè lũ cướp nước và bán nước vẫn không thôi tin tưởng vào một ngày nào đó kẻ thù bị tiêu diệt, đất nước lại sáng tươi,vẫn mong đợi vào “tấm lòng cứu nước” của đồng bào đồng chí Chính vì vậy mà từ toàn bộ thơ văn của ông toát lên một tinh thần yêu nước mãnh liệt Tinh thần yêu nước mãnh liệt đó đã được biểu hiện sâu sắc và phong phú qua nhiều mặt, cụ thể:

2.1.1 Ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước

Trước tiên đó là niềm hoài bão lớn lao của một người luôn luôn có ý thức sâu sắc về tài đức của mình và thiết tha mong muốn được đem tài đức đó

ra phục vụ nhân dân, đất nước Ngay từ khi còn là một thư sinh dùi mài kinh

sử chờ ngày phong vân gặp hội, những nhân tố lịch sử đó đã thể hiện rõ qua các sáng tác đầu tiên của ông Khác với nhiều bạn cùng tuổi và cùng thời chỉ

lo cặm cui học tập một mai thi đỗ ra làm quan để được vinh thân phì gia, người thanh niên họ Nguyễn đã từng bao phen băn khoăn, suy nghĩ, trăn trở

về vai trò của mình trong xã hội, nghĩa vụ với dân với nước:

Thiên địa sinh ngô hữu ý vô, Sinh ngô chung tất hậu ư ngô (Bột hứng)

(Sinh ta trời có ý chi không, Hậu đãi vì ta chắc sẵn lòng) Ông cho rằng việc mình được sinh ra và có mặt trong vũ trụ này là duyên số là ý trời sắp đặt, do vậy phải sống làm sao cho xứng đáng với trời

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 25

20

đất, không phụ ý trời, sẵn sàng xả thân vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, hạnh phúc nhân dân Trước Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Công Trứ từng ngạo nghễ “Vũ trụ phận sự phi nội mạc” (Mọi việc trong trời đất này chẳng có việc

gì không phải phận sự của ta) Và nếu như Nguyễn Công Trứ ý thức về vai trò

cá nhân mình là sự hiện diện của một con người có tài một cách kiêu ngạo, danh vọng thì Nguyễn Xuân Ôn lại khiêm nhường rất mực Ông ý thức được tài đức của mình với một niềm tin vào bản thân sẽ có đủ bản lĩnh trước thời cuộc để đảm nhận những nhiệm vụ mà thời thế định sẵn cho mình một cách xứng đáng:

Quân tử thân danh đơn bút duyên Nam nhi phận sự nhất tang hồ

Ngã niên tuy thiếu tâm nhưng tráng, Phú quý nan dân đại trượng phu

(Bột hứng)

(Thân danh quân tử riêng cậy bút Phận sự nam nhi một cánh cung Tuổi dẫu còn non hăng hái sẵn, Giàu sang khôn đắm dạ hào hùng)

Trang 26

21

lại có được tấm lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm vì dân vì nước luôn rạo rực như Nguyễn Xuân Ôn:

Thử tâm na đắc như tùng bách

Tự phụ phong trần nại đắc kiên

(Trung dạ khởi tư)

(Lòng ta mong sánh bách tùng, Phong trần vẹn chữ kiên trung chẳng sờn)

(Nửa đêm nảy ra ý nghĩ)

Xưa nay, các nhà thơ trung đại, các bậc hiền nhân quân tử luôn lấy hình ảnh cây bách, cây tùng để biểu tượng cho cốt cách ngay thẳng, khí phách hiên ngang bất khuất của mình Ta từng bắt gặp hình ảnh cây tùng mang bóng dáng kẻ sĩ trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…Và ở đây, Nguyễn Xuân Ôn cũng sánh lòng mình như cây bách, cây tùng để khẳng định phẩm chất kiên trung và bản lĩnh quật cường, ngang tàng của người quân tử, đồng thời qua đó kín đáo gửi gắm những nỗi niềm tâm sự của riêng mình: muốn trọn nghĩa kiên trung,một lòng dốc sức mang hết tài đức, tâm sức ra phục vụ

cho dân cho nước Trong bài Tửu hứng ông viết:

Nhân tu tự tín bình sinh sự, Hủy dự hoàn tha bất động tâm (Mọi việc bình sinh ta tự tín, Khen chê mặc quách dạ như không) (Tửu hứng)

Ý thức trách nhiệm và tấm lòng đau đáu vì dân vì nước ấy cũng hòa vào chén rượu với ông bạn thân cùng uống Nguyễn Xuân Ôn khẳng định người ta phải tự tin về việc làm bình sinh cứu nước cứu đời của mình, còn việc khen chê bình phẩm của người đời không cần quan tâm, cũng chẳng nên động lòng Việc trách bạn đối với ông cũng là dịp để bày tỏ ý thức trách nhiệm của mình đồng thời cũng để khẳng định chí khí của bản thân mình:

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 27

22

Nam tử hào hùng ưng đáo để,

Ná tương tâm sự loạn phù vân

(Tiễu hữu nhân)

(Sao cho vẹn tiếng hào hùng, Phù vân đâu để loạn lòng nam nhi)

(Trách bạn)

Nguyễn Xuân Ôn cho rằng đã là đấng nam nhi, là bậc quân tử trong thiên hạ phải hào hùng, tu thân dưỡng tín chất, phải có đủ cả đức lẫn tài, kiên định hiên ngang đứng giữa trời đất chứ không được để vướng lòng bởi những phù phiếm Chưa bao giờ ông để những gì thuộc về cá nhân riêng tư cản trở bước đường thực hiện chí nam nhi Chỉ có tấc lòng yêu nước thiết tha nên Nguyễn Xuân Ôn mới ý thức được vai trò trách nhiệm của mình với xã hội như việc nhất thiết phải làm Cùng thời với ông, Nguyễn Quang Bích cũng tự xác định nhiệm vụ cho mình:

Kì khu mạc phụ lộ hành nan

Đồ báo dư sinh thệ thốn đan Đầu thượng quân thân thiên nhật chiếu Giang sơn đáo sứ hộ bình an

(Gập ghềnh nào sợ bước gian nan Cứu nước thân già dạ sắt son Trung hiếu trên đầu trời chiếu rọi Giang sơn che chở được bình an)

(Đi rừng núi,tự an ủi)

Không phải ai cũng có được những suy tư trăn trở ấy mà chỉ có được từ những người có tâm trong sáng Tấc lòng yêu nước thương dân lo lắng ngày đêm chúng ta cũng bắt gặp trong thơ Nguyễn Trãi:

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 28

Tráng tuế phương lai hiềm dĩ thệ, Thiếu niên nhất khứ hận nan phùng

Thử sinh vị liễu công danh trái Khủng phụ đương sơ lục xạ bồng

(Đông nhật cảm hoài)

(Trai tơ mấy lúc thành ông, Tuổi thơ đi khỏi sao mong trở về Công danh chƣa trọn lời thề Tên bồng e phụ những gì mới sinh)

(Ngày mùa đông cảm hoài)

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 29

24

“Công danh trái” (nợ công danh) hay nam nhi chí (chí làm trai) đều là những hoài bão, những nhiệm vụ hiển nhiên tồn tại trong tư tưởng của kẽ sĩ xưa nhưng hành động của mỗi người lại chứng tỏ những chữ ấy được hiểu theo những cách khác nhau Ở nước ta, không ít kẻ có học thậm chí đỗ đạt cao, hết lòng phục vụ triều đình trong những cuộc đàn áp khởi nghĩa nông dân, hoặc theo gương triều đình cung phụng ngoại bang, giúp chúng giày xéo giang sơn mà vẫn lấy làm thanh thản, còn dùng cả văn chương để mỹ hóa hành động của mình, và hiển nhiên họ coi đó là chí làm trai, là cách trả món

nợ công danh Song đó là một cách hiểu mù quáng đầy sai lầm của những kẻ hèn nhát, bạc nhược ngu muội Ngược lại, Nguyễn Xuân Ôn với tâm tuệ thông tỏ, ông đã dành cả cuộc đời và văn thơ để thể hiện chí làm trai của mình

đó là hướng vào giải quyết những vấn đề trọng đại của đất nước đương thời Tâm sự mộc mạc, chân chính trên của Nguyễn Xuân Ôn ta bắt gặp một nỗi

lòng tương tự trong Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão:

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu (Công danh nam tử còn vương nợ,

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu) Thực tế xã hội và thực tế cuộc sống càng về sau càng cay nghiệt tất không khỏi có lúc làm cho con người ta cảm thấy thất vọng, chán nản nhưng nỗi thất vọng đó chỉ thoáng qua để rồi sau đó là cả một ước mơ sôi nổi:

Quân tử hữu cùng bi phiếm lạm, Anh hùng vô dụng hối trần ai

Tiêu dao vị giải Trang sinh ý, Vạn lí bằng phong phụ tráng hoài

(Độc Trang Chu Dưỡng sinh thiên cảm hoài)

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 30

25

(Vận cùng quân tử lỡ làng, Trần ai tiếc nỗi dở dang anh hùng

Tiêu dao chưa hiểu thấu cùng

Cánh bằng vạn dặm phụ lòng nam nhi)

(Cảm hoài khi đọc thiên Dưỡng sinh

của ông Trang Tử)

Cho nên chúng ta cũng không lấy gì làm lạ và dễ dàng thông cảm với nỗi hân hoan, sự vui mừng khi ông đỗ đạt ra làm quan, bước đầu thực hiện ước mơ hoài bão cứu nước giúp đời của mình Năm 1873, khi được bổ đi giữ chức tri phủ Quảng Ninh, một chức vụ tuy nhỏ bé trong bộ máy quan liêu nặng nề triều Nguyễn, nhưng dù sao theo ông vẫn là chỗ để thi thố tài năng, miễn là có quyết tâm và chí khí:

Thử gian thượng hữu phu thi xứ Nguyện giá trường phong phá hải đào

(Đắc chỉ bổ Quảng Ninh tri phủ,

hậu bản bộ đường quan hồi tác)

(Từ đây có chốn vươn đôi cánh Cưỡi gió tung bay đạp sóng trào)

(Làm lúc được chỉ vua bổ chức tri phủ

Quảng Ninh, hầu quan bản bộ về)

Như vậy, sau bao năm dùi mài kinh sử mong mỏi chờ đợi lận đận trong vòng trường ốc nay đỗ đạt làm quan,dải gấm về làng Nguyễn Xuân Ôn hăm

hở, vui sướng khi từ nay được đem hết tâm sức, năng lực, những điều sở đắc của mình ra giúp nước cứu dân trong cơn nước nhà đang nguy ngập trước sức tấn công ngày càng hung bạo của kẻ thù Ông coi chốn quan trường là nơi để ông vẫy vùng “vươn đôi cánh” ra để “cưỡi gió tung bay” lấn lướt kẻ cướp nước và bè lũ tham quan bán nước bạc nhược

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 31

26

Có thể khẳng định rằng Nguyễn Xuân Ôn là một sĩ phu yêu nước nhiệt thành, luôn ý thức được trách nhiệm của cá nhân đối với vận mệnh của quốc gia dân tộc

2.1.2 Nỗi căm giận với kẻ thù

Xưa nay, tinh thần yêu nước không chỉ được thể hiện ở việc ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân đối với đất nước mà yêu nước còn là tiếng nói đầy căm giận, uất hận đối với kẻ thù và cụ thể ở đây là với bọn đề quốc và phong kiến tay sai Nguyễn Xuân Ôn với lý tưởng thi cử đỗ đạt ra làm quan nay đã được thỏa mong ước dù mãi tới lúc đã bốn mươi tám tuổi ông mới đỗ Tiến sĩ khoa Tân vị (1871) Bước chân vào quan trường lúc tuổi

đã luống, lúc này tình hình nước nhà rối ren, đảo lộn làm cho những người quan tâm đến thời cuộc như ông phải băn khoăn lo ngại Giặc Pháp tham lam

và hung bạo ngày càng lấn lướt, sau khi nuốt gọn sáu tỉnh Nam Kì nay lại đang ráo riết xúc tiến âm mưu tìm cách chiếm luôn cả hai miền Trung - Bắc

để biến toàn bộ nước ta thành một thuộc địa độc chiếm Vận mệnh Tổ quốc đang như “trứng để đầu đẳng”, trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn hèn nhát, bạc nhược chỉ sau một giai đoạn chống cự ngắn ngủi ban đầu đã nhanh chóng

đi từ nhượng bộ này tới nhượng bộ khác đối với kẻ thù của dân tộc Song song với đó là ngoan cố thi hành chính sách cầu hòa không điều kiện bất chấp làn sóng phản kháng ngày một dâng cao trong các tầng lớp nhân dân, kể cả một bộ phận của giai cấp phong kiến quý tộc Trong hoàn cảnh phức tạp, rối ren đó, niềm hi vọng sẽ có thể thi thố để có được “chí tang bồng” của Nguyễn Xuân Ôn không có điều kiện để thực hiện Với bản tính cương trực không chịu cúi mình chiều chuộng bọn quan trên, lại được chứng kiến cảnh bọn quan lại bất tài và tham nhũng chỉ lo tranh giành quyền vị, bóc lột bòn rút của dân nghèo ông đã liên tiếp gửi về triều đình một loạt các bài sớ, điều trần đề cập tới những vấn đề cấp bách trước mắt cần làm để chống giặc xâm lược cướp nước và bại trừ quan tham bán nước hại dân

Hanoi Pedagogical University 2

Trang 32

27

Trong bài Tâu về việc trình bày mọi điều lợi hại thời bấy giờ (1879),

ông đã có những lời đề nghị thiết thực về cách dùng người, chọn người làm trụ cột cho đất nước: “Trong triều thì dùng những người cương quyết để làm rường cột, bên ngoài thì chọn những người tài lược để vững giậu phên Đừng cho người chăm việc giấy mực, nhỏ nhen là tận tâm, đừng cho người luật lệ tinh thông là đắc lực, đừng cho người cẩn nguyệt là hay, đừng cho những người khắc nghiệt là giỏi” Về cách cai trị, ông viết: “Tiết kiệm của cải để quân nhu được dồi dào, bớt sưu thuế để sức dân được thư thái, đừng chỉ chăm bóc lột sức dân mà làm yếu sức bảo vệ, đừng chỉ cậy vàng lụa mà trễ nải việc giáp binh Bao nhiêu phương pháp tự cường, tự trị đều phải làm gấp” Có thể thấy dù mới làm quan không được bao lâu nhưng nhận thấy tình hình đất nước đang khủng hoảng về mọi mặt, nhất là đường lối chiến đấu, Nguyễn Xuân Ôn đã ngay lập tức trình lên những bài tấu sớ với lời lẽ vô cùng thống thiết, lý luận vô cùng xác đáng nhằm khắc phục kịp thời tình trạng rối ren đó của đất nước Không chỉ dừng lại ở việc trình bày mọi điều lợi hại của thời cuộc lúc bấy giờ mà ngay từ đầu năm Kỷ Mão ông đã nói rõ ý kiến của mình

về âm mưu của giặc và các công việc cần làm Trong Tâu điều trần việc nên

làm (1883), sau khi nêu lên bốn đề nghị cụ thể là “hợp các tỉnh nhỏ làm thành

trấn lớn”, “dời các tỉnh thành”, “bớt tiêu dùng để xung vào quân nhu”, “dứt việc hòa hảo để khích lệ lòng người”, nhằm tăng cường lực lượng quốc phòng, ông đã dùng ngòi bút của mình để kịch liệt đả phá tâm lý sợ giặc, phục giặc lúc đó đang trên đà phát triển trong triều đình nhà Nguyễn cũng như trong giới quan lại phong kiến Với truyền thống giết giặc cứu nước, bảo vệ đất nước anh hùng bất khuất của dân tộc và căn cứ vào thực tiễn lịch sử hồi

đó, ông rút ra một kết luận đầy chí lí và có ý nghĩa tích cực đối với phong trào

chống Pháp đương thời: sở dĩ ta thua Pháp là vì “chỗ yếu của ta bị chúng lợi

dụng, chớ không phải hoàn toàn là do chỗ mạnh của chúng mà ta không địch

Hanoi Pedagogical University 2

Ngày đăng: 27/09/2023, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Văn Các, (2003), Từ điển Hán - Việt, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Phan Văn Các
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
2. Các tác giả, (2003), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Các tác giả
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
3. Trần Quang Diệm, (1977) Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn
Nhà XB: Nxb. Văn học
4. Hà Minh Đức, Thơ ca hiện đại Việt Nam, (1998) Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca hiện đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Văn học
5. Đinh Xuân Lâm, Ngọc Đường thi văn tập, (1977), Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngọc Đường thi văn tập
Tác giả: Đinh Xuân Lâm, Ngọc Đường thi văn tập
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1977
6. Nhiều tác giả, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam tập IVA, (1965), Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam tập IVA
Tác giả: Nhiều tác giả, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam tập IVA
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1965
7. Nguyễn Lộc, Giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - hết XIX, (1976), Nxb. GDHNHanoi Pedagogical University 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - hết XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb. GDHNHanoi Pedagogical University 2
Năm: 1976

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w