ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN HỌC: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC HỌ VÀ TÊN: LÊ KIM MINH THƯ GVHD: TS. NGUYỄN THỊ THÙY DUYÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2022 NỘI DUNG THỰC HIỆN CÂU HỎI: 1. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử gì? Chứng minh sứ mệnh lịch sử ấy bằng các hoạt động cụ thể trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục. 2. Chọn 1 trong 2 vấn đề sau để chứng minh tính tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: a. Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. b. Sự đan xen giữa các yếu tố văn hoá mới với các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc (Hội nhập văn hoá thế giới nhưng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc). 3. Việt Nam đã và đang làm gì để đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc? 4. Lựa chọn và phân tích một tôn giáo ở Việt Nam để chứng minh tại sao các tôn giáo vẫn tồn tại ở Việt Nam trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội? BÀI LÀM: 1. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử gì? Chứng minh sứ mệnh lịch sử ấy bằng các hoạt động cụ thể trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục. Từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nước ta xác định nhu cầu đi lên chủ nghĩa xã hội. Do khoảng thời gian chưa thống nhất đất nước, miền Bắc đã diễn ra thời kỳ quá độ trước tiên. Thời kỳ này bắt đầu từ năm 1954 – ngay sau khi miền Bắc được giải phóng. Đến năm 1975, đất nước đã được độc lập và thống nhất. Từ đó, cả nước cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội và được chỉ huy dưới những chủ trương của Đảng ta. Tuy nhiên, sau những biến động thế giới phức tạp, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô và và Đông Âu cuối thế kỷ XX, các nhà lý luận tư sản đã tuyên bố rằng đó là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội và học thuyết Marx – Lenin lỗi thời, thế giới không cần sứ mệnh của giai cấp công nhân nữa. Nhưng sự thật thì chủ nghĩa xã hội khoa học luôn tồn tại, cải tiến và đổi mới để khẳng định rằng sứ mệnh của giai cấp công nhân vẫn còn đó. Trong lĩnh vực kinh tế Việc loại bỏ tính tư hữu hóa các tài nguyên và tư liệu sản xuất và xây dựng chế độ công hữu tư liệu sản xuất đã giúp cho đất nước nâng cao năng suất lao động. Từ đó, từng bước thỏa mãn nhu cầu phát triển của nhân dân, của đất nước. Đặc biệt, trong nền kinh tế tri thức và công nghiệp 4.0, dù đã được tự động hóa rất nhiều, thì giai cấp công nhân vẫn là bộ phận sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu cho xã hội. Các sự thay đổi này với khao khát “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” – nó là một trong những sứ mệnh của giai cấp công nhân trong lĩnh vực này. Trong lĩnh vực chính trị Những ngày đầu, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo các giai cấp khác đập tan chính quyền tư sản. Hiện nay, giai cấp công nhân cùng với các giai cấp khác xây dựng chính quyền nhà nước vô sản (nền chuyên chính vô sản). Cũng như, Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền đã Đổi mới đất nước thành công, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách nhanh chóng và bền vững. Trong lĩnh vực văn hóa Về góc độ văn hóa, giai cấp công nhân là lực lượng xác lập các hệ giá trị mới như công bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do… Đây là các giá trị thay thế cho hệ giá trị tư sản, phong kiến cũ. Đồng thời, Đảng và Nhà nước đấu tranh Ví dụ, trước đây, cùng ở gần vị trí trung tâm, các khu công nghiệp thường hắt hiu bóng dáng của các sân chơi, bãi tập thể thao và bãi thiết chế văn hóa cũng như những khu nhà trọ ọp ẹp, lụp xụp, trong khi đó, khu đô thị và các nơi ở của các đại gia thì thường được xây dựng nhiều sân golf và các khu vực xa hoa phục vụ nhu cầu vui chơi, thư giãn. Tuy điều này là một so sánh khập khiễng, nhưng đó cũng là một trong những khó khăn trong quá trình phát triển đất nước và hiện thực hóa chỉ số hạnh phúc con người. Vì vậy để có thể thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta vẫn đang nỗ lực bảo đảm chỉ số hạnh phúc (đời sống tinh thần) cho công nhân lao động và toàn thể nhân dân. Trong lĩnh vực giáo dục Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, giáo dục đóng vai trò quan. Nó là nguồn lực để thúc đẩy sự phát triển của quốc gia. Chính vì thế, sứ mệnh của giai cấp công nhân trong sự nghiệp giáo dục sẽ cần định hướng cho học sinh những yêu cầu thực tiễn cho đất nước và thế giới đối với người lao động. Điều này sẽ giúp nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và kỹ năng tay nghề. Đồng thời giáo dục kỹ năng mềm để người học có thể vận dụng thực tiễn công việc ở tương lai. Cùng với các giá trị khoa học và tư tưởng của Marx – Lenin, giúp học sinh sinh thích nghi nhanh với hoàn cảnh, vượt qua khó khăn thử thách để thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh của mình. 2. Chọn 1 trong 2 vấn đề sau để chứng minh tính tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: a. Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. b. Sự đan xen giữa các yếu tố văn hoá mới với các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc (Hội nhập văn hoá thế giới nhưng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc). Vì vừa thoát khỏi chiến tranh với những hậu quả nặng nề, nước ta học theo mô hình nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa. Điều này nghĩa là nền kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ đạo, nhà nước tiến hành xóa bỏ kinh tế tư nhân cá thể và sở hữu tư nhân khỏi xã hội. Việc này khiến cho kinh tế Việt Nam bị trì trệ, lâm vào khủng hoảng với nhiều tiêu cực. Việc này kéo theo các lĩnh vực khác như văn hóa – xã hội – giáo dục – y tế cũng bị trì trệ và cần sự cải tiến trước khi đi vào “vết xe đổ” giống như sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa đi trước. Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là sự đột phá đầy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi nhận ra những bất cập của cơ chế kinh tế hiện hành, Nhà nước Việt Nam cũng bắt đầu có một số thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế. Hội nghị Trung ương 6 khóa IV đã ra nghị quyết số 20NQTW ngày 20 tháng 9 năm 1979 với tinh thần chính là: Cho phép kết hợp kế hoạch hóa với cơ chế thị trường Sử dụng lại kinh tế tư nhân bao gồm cả tư bản tư nhân dưới sự quản lý của Nhà nước Sửa lại giá lương thực và giá các nông sản khác theo hướng dựa trên thỏa thuận. Cho phép địa phương tiến hành xuất nhập khẩu Sau khi kinh nghiệm khoán của Đoàn Xá được thí điểm ở toàn huyện Đồ Sơn và Hải Phòng đem lại kết quả tích cực, Hội nghị Trung ương 9 khóa IV (tháng 121980) đã quyết định mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Chỉ thị này cho phép áp dụng chế độ khoán trong toàn bộ nền nông nghiệp cả nước. Chế độ khoán này thường được gọi tắt là Khoán 100. Hội nghị Trung ương 6 khóa IV, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 25CP ngày 21 tháng 1 năm 1981 về Một số chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất, kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh. Quyết định này cho phép áp dụng chế độ 3 kế hoạch. Từ năm 1981, kinh tế Việt Nam khởi sắc. Sản lượng lương thực tăng mạnh, giá trị sản lượng công nghiệp tăng khá, thâm hụt thương mại giảm đáng kể. Với công cuộc đổi mới từ năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Nếu như trước đổi mới GDP tăng chưa đầy 4% thì sau đổi mới, có những năm GDP tăng đến 89%. Trung bình từ 1986 đến nay, GDP tăng trưởng liên tục, bình quân ở mức 6,6% năm… Việt Nam còn là một trong những nước thu hút nhiều vốn FDI, đẩy mạnh xuất khẩu trên tất cả các lĩnh vực, tạo công ăn việc làm. Điều này cho thấy việc từ bỏ kìm hãm các lực lượng sản xuất tạo ra bước chuyển mình đó có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ấn tượng 30 năm qua. 3. Việt Nam đã và đang làm gì để đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc? Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó xây dựng đất nước và chống giặc ngoại xâm. Theo các nhà dân tộc học, Việt Nam có 54 tộc người sinh sống. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả dân tộc người Việt Nam dù ít hay đông người, đều tự do và bình đẳng, cùng phấn đấu vươn lên, chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước. Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc. Về kinh tế Thông thường các dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi, vùng biên giới nơi mà giao thông khó khăn, thường xảy ra thiên tai và khó có khả năng tiếp cận với các vùng trung tâm. Vì vậy tỷ lệ các vùng hộ nghèo, cận nghèo cao. Nhà nước thường xuyên có các chính sách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm quan tâm và ưu tiên các địa bàn này. Một minh họa cho vấn đề này là “Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững” đề ra vào năm 2012 – 2018, Nhà nước đã bố trí khoảng 630.764 tỷ đồng để thực hiện hỗ trợ đa lĩnh vực, trong đó, vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã chiếm khoảng 80% tổng chi cho việc giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo và và cận nghèo của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số giảm nhanh (trung bình khoảng 3,5% mỗi năm) và hộ nghèo ở huyện giữ vững mức giảm trên 5% mỗi năm qua các giai đoạn. Thêm vào đó, chính phủ còn tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số sản xuất và nâng cao thu nhập bằng các chương trình hỗ trợ sản xuất , các khóa tập huấn kỹ thuật, đặc biệt là các dự án hỗ trợ vay vốn tín dụng với lãi suất thấp. Tuy nhiên công tác giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều bất cập. Ví dụ như kết quả của tỷ lệ giảm nghèo tuy khả quan nhưng tình trạng tái nghèo và phát sinh nghèo vẫn còn cao. Hoặc, điều kiện tiếp cận các dịch vụ cơ bản, tiếp cận thị trường, việc làm giữa các vùng, các nhóm dân cư vẫn chưa được thu hẹp, đặc biệt vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và vùng Tây Nguyên. Việc này khiến cho chênh lệch giàu nghèo ở ngày càng tăng. Thực tế, các cấp địa phương gặp nhiều khó khăn trong triển khai chính sách và bố trí nguồn lực phù hợp. Đồng thời, hoạt động giám sát và đánh giá vẫn còn lỏng lẻo và chưa thống nhất. Về chính trị Vào thời kỳ 1930 – 1945, trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ I : “Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận cho các Đảng Cộng sản thừa nhận cho các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn. Đảng chống chế độ thuộc địa, chống hết các hình thức trực tiếp đem dân tộc này vào đàn áp bóc lột dân tộc khác”. Trong hội nghị này, Đảng ta cũng đã khẳng định: “Sự liên hợp huynh đệ phải lấy nguyên tắc chân thật, tự do và bình đẳng cách mạng mà làm căn bản”. Vào thời kỳ 1945 – 1954, tại Đại hội lần thứ II (21945) Đảng ta đã khẳng định: Các dân tộc sống trên đất Việt Nam đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc, kiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh đổ âm mưu gây thù hằn, chia rẽ dân tộc của đế quốc và lũ Việt gian. Đồng thời, cải thiện đời sống cho các dân tộc thiểu số, giúp đỡ họ tiến bộ về mọi mặt, đảm bảo để họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong giáo dục ở các địa phương thiểu số. Đồng thời trong khoảng thời gian này Ban chấp hành Trung ương Đảng đưa ra nghị quyết về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng” Thời kỳ năm 1955 – 1975, chính sách dân tộc ở hai miền có sự thay đổi do hoàn cảnh. Lúc này, công tác dân tộc ở miền Bắc gắn liền với cải cách dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, miền Nam tiến hành đoàn kết sức người sức của cùng nhau dánh thắng kẻ thù xâm lược và thống nhất đất nước. Thời kỳ 1976 đến nay, Đảng luôn lấy sự bình đẳng dân tộc làm kim chỉ nam cho mọi hành động, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ, kinh tế và văn hóa giữa dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp đồng bằng. Bình đẳng trong chính trị ở thời bình còn thể hiện qua việc Đảng và Nhà nước luôn chào đón những người thuộc dân tộc thiểu số đóng góp và điều hành bộ máy nhà nước. Điều này được quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch 022014TTLTBNVUBDT . Đó là: ở địa phương các vùng dân tộc thiểu số bắt buộc phải có cán bộ, công nhân viên chức lãnh đạo, quản lý là người dân tộc thiểu số; và đảm bảo hợp lý tỷ lệ người dân tộc thiểu số làm việc tại các cơ quan ở trung ương. Về văn hóa Hiến pháp Việt Nam công nhận quyền của người dân tộc thiểu số trong “sử dụng ngôn ngữ và chữ viết riêng, giữ gìn bản sắc dân tộc và nuôi dưỡng các phong tục, truyền thống và văn hóa tốt đẹp” . Mỗi người có “quyền tự chọn dân tộc, sử dụng tiếng mẹ đẻ và chọn ngôn ngữ để giao tiếp” . Điều này cho thấy nhà nước Việt Nam tự do trong lựa chọn ngôn ngữ và chữ viết, cũng như khuyến khích sự đa dạng văn hóa trong một nước Việt Nam thống nhất. Để phát triển hiệu quả các nhân tố quan trọng như kinh tế, đời sống tinh thần của nhân dân cũng cần được nâng cao. Đối với các dân tộc thiểu số, ngoài bảo vệ chữ viết và tiếng mẹ đẻ của mình, họ cũng đang được chính phủ giúp đỡ bảo vệ trang phục và phong tục tập quán truyền thống mang màu sắc dân tộc. Đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” đã và đang được hưởng ứng khá tốt từ các đồng bào dân tộc thiểu số. đề án này cũng góp phần rất lớn khơi gợi sự quan tâm và góp sức của toàn thể xã hội đối với Công tác dân tộc, và giúp các dân tộc có ý thức giữ gìn, phát huy các truyền thống văn hóa tốt đẹp và tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Bảo tồn trang phục truyền thống phải đi đôi với nghề dệt truyền thống. Bởi vì nghề dệt thổ cẩm không còn thì trang phục truyền thống cũng khó mà giữ được. Và để có thể hòa nhập tốt hơn, các nhà tạo mẫu cũng quan tâm đến việc kết hợp giữa các họa tiết, chi tiết độc đáo của thổ cẩm với những trang phục hiện đại mặc hàng ngày. Hoặc có nhiều cặp đôi đã chọn lễ phục đồ cưới thổ cẩm của dân tộc mình trong ngày trọng đại của đời mình. Qua các hoạt động tưởng chừng như nhỏ nhặt này cũng đã giúp dân tộc bản địa cảm nhận được giá trị của trang phục mình, đồng thời đem đến sự phổ biến và tính ứng dụng cao. Về giáo dục Nhà nước Việt Nam đã và đang có nhiều chính sách quan tâm đến giáo dục cho các dân tộc ít người thông qua nhiều chính sách hỗ trợ. Đầu tiên là chính sách hỗ trợ điểm cộng trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia. Theo thông tư 082022TTBGDĐT các thí sinh là dân tộc thiểu số ở khu vực 1 được cộng 2 điểm và ở ngoài khu vực 1 thì được cộng 1 điểm. Tiếp theo là chế độ cử tuyển theo Nghị định số 412020NĐCP . Chế độ cử tuyển này đã phần giúp đỡ các bạn học sinh dân tộc thiểu số đặc biệt là các bạn có hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, còn có các chính sách về học bổng , hỗ trợ các học sinh có hoàn cảnh khó khăn , các chính sách miễn giảm học phí . Thông qua những nỗ lực và sự ưu tiên của nhà nước nhằm đảm bảo sự công bằng trong giáo dục đối với trẻ em dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn và thiếu điều kiện để học tập. Từ những nỗ lực đã kể trên, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu: 100% các xã đặc biệt khó khăn có trường học, nhà mẫu giáo và các lớp bán trú dân nuôi. Các bản xa trung tâm đều có lớp căn bản, trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 90% 95%. Đến năm 2008 – 2009, đã có khoảng 285 trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn 49 tỉnh thu hút 84.000 học sinh theo học. Tất cả các tỉnh vùng dân tộc và miền núi đều có trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề và đào tạo nghiệp vụ trong các lĩnh vực nông nghiệp, quản lý kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế,... Về y tế Chính phủ đã có nhiều chính sách nhằm đảm bảo quyền chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộ thiểu số. Một trong những số đó, nổi bật nhất đó là bảo hiểm y tế. Theo quyết định 861QĐTTg của Thủ tướng nhân dân vùng đặc biệt khó khăn (vùng III) sẽ được cấp miễn phí bảo hiểm y tế. Việc này đã giúp rất nhiều hoàn cảnh gia đình người dân tộc thiểu số không gục ngã trước những căn bệnh hiểm nghèo phải tốn rất nhiều viện phí. Vào một số dịp đặc biệt, các bệnh viện còn tổ chức phát thuốc miễn phí cho các đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, mạng lưới y tế phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh, huyện và trạm y tế xã được quan tâm đầu tư, có 99,39% số xã có trạm y tế, 77,8% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Nhờ vậy, đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, các dịch bệnh ở vùng dân tộc và miền núi như sốt rét, bướu cổ cơ bản được khống chế; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm đáng kể. Thêm vào đó, chính phủ Việt Nam cũng hỗ trợ việc bảo tồn, khai thác, sử dụng những bài thuốc dân gian và phương pháp khám chữa bệnh cổ truyền của dân tộc thiểu số đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Bên cạnh việc đảm bảo quyền bình đẳng dân tộc, Việt Nam còn là nước tiêu biểu lên án chống phân biệt chủng tộc hay phân biệt đối xử dưới mọi hình thức. Việt Nam đã có nhiều biện pháp để từng bước giải quyết vấn đề này: Nhà nước thường xuyên tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đại đoàn kết dân tộc, chính sách dân tộc, cũng như không ngừng nâng cao đạo đức và lên án chủ nghĩa cá nhân cực đoan và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa đồng bào và cán bộ dân tộc đa số với đồng bào dân tộc thiểu số. Tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở chính trị và đào tạo các cán bộ dân tộc, kết hợp hài hòa sự phát triển từng dân tộc và sự phát triển chung của quốc gia dân tộc, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc, giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc. Bên cạnh việc chống phân biệt chủng tộc, Việt Nam còn là nước đấu tranh chống chủ nghĩa bá quyền. Có thể thấy Việt Nam là một mục tiêu cũng như là một nạn nhân của chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc. Để chống lại chủ nghĩa bá quyền, Việt Nam ta đã đưa ra nhiều giải pháp và chính sách từ mềm mỏng đến cứng rắn. Đầu tiên, Việt Nam nổi tiếng với đường lối “ngoại giao cây tre” để tránh sự xung đột hay đối đầu gay gắt giữa Việt Nam với các cường quốc cũng như giữa các nước lớn với nhau. Tuy nhiên, “phản đối ngoại giao” cũng được sử dụng trong nhiều trường hợp. Chẳng hạn, Việt Nam luôn phản đối mạnh mẽ và liên tục với bất kỳ hành động nào của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Cùng lúc đó, Việt Nam cũng tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để Trung Quốc cân nhắc hơn trong quan hệ với Việt Nam, bởi vì “trỗi dậy hòa bình” là hình ảnh mà Trung Quốc đang xây dựng trên trường quốc tế. Rõ ràng, bất cứ nước nào khi có một vị thế nhất định trên trường quốc tế khi tham gia quan hệ quốc tế đều có xu hướng tham vọng như vậy. Vì vậy, để tránh bị nuốt chửng giữa những khát vọng trở thành bá quyền của các nước lớn, Việt Nam cũng nỗ lực nâng cao vị thế của bản thân trên trường quốc tế, đặc biệt là ở lĩnh vực kinh tế. Việt Nam cũng đang có nhiều hành động khác nhau để tránh bị các nước lớn bành trướng. 4. Lựa chọn và phân tích một tôn giáo ở Việt Nam để chứng minh tại sao các tôn giáo vẫn tồn tại ở Việt Nam trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội? Như chúng ta đã biết, nước ta nằm ở ngã ba Đông Nam châu Á, là nơi giao nhau giữa các luồng tư tưởng, văn hóa khác nhau, có địa hình phong phú đa dạng, lại ở vùng nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên vừa ưu đãi vừa đe dọa cộng đồng người sống ở đây. Do đó, người dân thường nãy sinh tâm lý sợ hãi, nhờ cậy vào lực lượng tự nhiên. Cũng như, lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm , những người có công lớn trong việc cứu nước giúp dân thường được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ phụng. Trong tâm thức của người Việt Nam luôn chứa đựng đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”. Điều này thể hiện rất rõ trong đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của người dân. Việt Nam công nhận “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.” và “nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” . Nho giáo từ Trung Quốc đã có tác động, có ảnh hưởng đến cấu trúc chính trị xã hội của lịch sử và thực hành tôn giáo dân gian ở Việt Nam. Phần lớn người dân Việt Nam không theo tôn giáo – nghĩa là họ không công khai hoặc kiên định thực hiện niềm tin vào một vị thần duy nhất hoặc có quyền lực cao hơn. Tuy nhiên người Việt có ý thức tôn trọng và tôn kính mạnh mẽ đối với tổ tiên và tinh thần, vì gần một nửa dân số có liên quan đến tôn giáo dân gian Việt Nam. Tôn giáo và tín ngưỡng đóng vai trò thỏa mãn tinh thần nhân dân, là bước đệm tiềm ẩn cho các lợi ích về phát triển kinh tế xã hội, việc thừa nhận, khuyến khích và phát huy những nét đẹp trong tín ngưỡng và tôn giáo đóng vai trò quan trọng công cuộc xây xã hội mới. Đạo Phật là minh chứng rõ ràng cho sự tồn tại các tôn giáo Việt Nam trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Về đạo Phật Đạo Phật hay còn gọi là Phật giáo Việt Nam được bản địa hóa khi du nhập vào Việt Nam. Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất Đạt Đa (Shidartha). Dù sống trong cuộc đời vương giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường của thế sự nên Thái tử đã quyết tâm xuất gia tìm đạo nhằm tìm ra căn nguyên của đau khổ và phương pháp diệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Tư tưởng chủ đạo của đạo Phật là dạy con người hướng thiện. Đạo Phật không công nhận một đấng tối cao mà con người phải tuân theo luật Nhân – Quả, làm việc thiện. Đạo Phật cũng không có thái độ phân biệt đẳng cấp. Cũng như, quan điểm “Tứ chúng đồng tư” cho thấy nếu bất cứ ai có quyết tâm tu đạo và hướng thiện sẽ đạt được thành tựu như Đức Phật. Đặc biệt, trong quá trình du nhập vào hơn 100 quốc gia trên thế giới, đạo Phật không đi liền với chiến tranh hay xảy ra các cuộc thánh chiến. Ảnh hưởng của Phật giáo và tiến trình quá độ lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Phật giáo vẫn tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vì nó mang tính lịch sử lâu đời. Có thể nói, Phật giáo đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều mặt trong đời sống người Việt Nam. Về tương tưởng, đạo lý “Duyên Khởi”, “Tứ Diệu Đế” và “Bát Chánh Đạo” đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt Nam. Ta có thể vô tình bắt gặp những ảnh hưởng này trong đời sống hàng ngày. Chẳng hạn, Luật Nhân đã được in đậm trong văn chương bình dân, văn học chữ Hán, chữ Nôm từ xưa đến nay. Từ những câu nói đơn giản như “Ác giả ác báo” hoặc “chạy trời không khỏi nắng”. Hay mọi người cố gắng sống thiện để cải thiện định nghiệp – nghĩa là họ không dựa dẫm vào thế lực siêu nhiên quá nhiều mà cố gắng hoàn thiện bản thân. Mặt khác, Phật giáo cũng đóng góp sức ảnh hưởng của mình trong quan niệm hiếu hạnh của người Việt. Đạo Phật thường có nhiều các lời khuyên răn về nhớ ơn và báo ơn cha mẹ. Ngày lễ Vu Lan ra đời theo sự tích Đại Đức Mục Kiền Liên (một trong hai đại đệ tử của Phật Thích Ca) với lòng đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi ngạ quỷ. Ngày trước, đó là ngày lễ của Phật giáo nhưng giờ đây đã trở thành ngày lễ lớn của người dân Việt Nam. Về phong tục tập quán truyền thống, có nhiều lễ nghi, tập tục, thói quen của người Việt liên quan đến Phật giáo. Đầu tiên, hầu hết người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng nếp sống văn hóa ăn chay, thờ Phật, phóng sanh và bố thí. Phật giáo cũng ảnh hưởng tập tục cúng rằm, cúng mùng một và lễ chùa. Ngoài ra, Phật giáo cũng ảnh hưởng đến sinh hoạt các nghi thức ma chay, cưới hỏi. Những điều trên đã nêu trên cũng đều hướng đến mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là hướng đến con người. Không chỉ Phật giáo mà các tôn giáo khác cũng đóng góp vào quá trình này. TÀI LIỆU THAM KHẢO Btgcp. (2014, August 10). Đôi nét về đạo phật và giáo hội Phật Giáo việt nam giới thiệu các TỔ Chức Tôn Giáo đã được công nhận: Ban Tôn Giáo Chính Phủ. BTGCP. Retrieved August 8, 2022, from http:btgcp.gov.vngioithieucactochuctongiaodaduoccongnhanDoi_net_ve_dao_Phat_va_Giao_hoi_Phat_giao_Viet_NampostZrm0Gxqx.html Chính Sách Của đảng và Nhà Nước về lĩnh vực văn hóa đối với Các Dân Tộc Người thiểu SỐ. smot. (2021, April 19). Retrieved August 8, 2022, from http:smot.bvhttdl.gov.vnchinhsachcuadangvanhanuocvelinhvucvanhoadoivoicacdantocnguoithieuso Chính sách và Quyền Của Người Dân tộc thiểu số và Người Bản địa. Open Development Vietnam. (2020, June 16). Retrieved August 8, 2022, from https:vietnam.opendevelopmentmekong.netvitopicsethnicminoritiesandindigenouspeoplepolicy Cận, M. (2022, January 21). Khái quát Các Thành Tựu đổi Mới TỪ 1986 đến Nay Của Việt Nam. Tip.edu.vn. Retrieved August 8, 2022, from https:tip.edu.vnkhaiquatcacthanhtuudoimoitu1986dennaycuavietnam LuatVietnam. (2022, March 31). Quyết định 90qđTTG 2022 Chương Trình Mục Tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. LuatVietnam. Retrieved August 8, 2022, from https:luatvietnam.vnchinhsachquyetdinh90qdttg216005d1.html Ly, D. (2021, April 19). Việt Nam nỗ lực thực Hiện Công ước quốc tế Chống Phân Biệt Chủng Tộc. Báo Dân tộc và Phát triển. Retrieved August 8, 2022, from https:baodantoc.vnvietnamnolucthuchienconguocquoctechongphanbietchungtoc1618388596332.htm Nỗ Lực giảm Nghèo Bền vững Vùng Dân Tộc thiểu SỐ. https:dangcongsan.vn. (n.d.). Retrieved August 8, 2022, from https:dangcongsan.vndaymanhcaicachtuphapvahoatdongtuphapdiendannolucgiamngheobenvungvungdantocthieuso552026.html:~:text=C%E1%BA%A7n%20c%C3%B3%20c%C3%A1c%20ch%C3%ADnh%20s%C3%A1ch%20h%E1%BB%97%20tr%E1%BB%A3%20%C4%91%E1%BA%B7c,v%C3%A0o%20nh%C3%A0%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%20trong%20qu%C3%A1%20tr%C3%ACnh%20th%E1%BB%B1c%20hi%E1%BB%87n. Person, amp; Nguyễn Chí Chung Phòng Giáo dục huyện Sông Mã, S. L. (2019, May 1). Chính Sách hỗ trợ đồng Bào Dân Tộc thiểu SỐ phát triển Kinh TẾ ở Tỉnh Sơn La. TapChiTaiChinh. Retrieved August 8, 2022, from https:tapchitaichinh.vnnghiencuutraodoichinhsachhotrodongbaodantocthieusophattrienkinhteotinhsonla306008.html SỨ Mệnh Lịch SỬ Của Giai Cấp Công Nhân Trong Thời KỲ công nghiệp 4.0. (n.d.). Retrieved August 8, 2022, from https:hoanhap.vnchitietsumenhlichsucuagiaicapcongnhantrongthoikycongnghiep401606039053.html SỨ Mệnh Lịch SỬ Của Giai Cấp Công Nhân. LyTuong.net. (2022, April 18). Retrieved August 8, 2022, from https:lytuong.netsumenhlichsucuagiaicapcongnhan2_giai_cap_cong_nhan_va_viec_thuc_hien_su_menh_lich_su_cua_giai_cap_cong_nhan_hien_nay ThuTTXVN, H. (2022, August 6). Bảo đảm Quyền Lợi Chăm Sóc Sức Khỏe Bảo Hiểm y tế Cho đồng Bào Dân Tộc thiểu SỐ. Báo tin tức. Retrieved August 8, 2022, from https:baotintuc.vndiaphuongbaodamquyenloichamsocsuckhoebaohiemytechodongbaodantocthieuso20220806082618370.htm Trang, H. (2020, July 28). Hoàng Trang. Tạp chí Quản lý nhà nước. Retrieved August 8, 2022, from https:www.quanlynhanuoc.vn20200804thuchienchinhsachphattrienkinhtedoivoidongbaodantocthieusocactinhtaynguyen Tìm Hiểu VỀ quá trình du NHẬP và Phát Triển đạo Phật Ở Việt Nam. (n.d.). Retrieved August 8, 2022, from http:bantongiao.snv.kontum.gov.vnnghiencuuvetinnguong,tongiaoTIMHIEUVEQUATRINHDUNHAPVAPHATTRIENDAOPHATOVIETNAM1343 VietNamNet News. (n.d.). Không còn chỗ Cho Chủ Nghĩa BÁ Quyền. VietNamNet News. Retrieved August 8, 2022, from https:vietnamnet.vnkhongconchochochunghiabaquyen176476.html Việt Namnbsp;nbsp;có thể làm gì để chống lại sự bành trướng của trung quốc trên biển đông? Blog VietWriter. (2022, June 4). Retrieved August 8, 2022, from https:vietwriter.vnblogvietnam%EF%BF%BCcothelamgidechonglaisubanhtruongcuatrungquoctrenbiendong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN HỌC:
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
HỌ VÀ TÊN: LÊ KIM MINH THƯ GVHD: TS NGUYỄN THỊ THÙY DUYÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2022
NỘI DUNG THỰC HIỆN
Trang 2CÂU HỎI:
1 Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử gì? Chứng minh sứ mệnh lịch sử ấy bằng các hoạt động cụ thể trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục
2 Chọn 1 trong 2 vấn đề sau để chứng minh tính tất yếu phải có thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
a Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
b Sự đan xen giữa các yếu tố văn hoá mới với các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc (Hội nhập văn hoá thế giới nhưng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc)
3 Việt Nam đã và đang làm gì để đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc?
4 Lựa chọn và phân tích một tôn giáo ở Việt Nam để chứng minh tại sao các tôn giáo vẫn tồn tại ở Việt Nam trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội?
BÀI LÀM:
1 Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử gì? Chứng minh sứ mệnh lịch sử ấy bằng các hoạt động cụ thể trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục.
Từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nước ta xác định nhu cầu đi lên chủ nghĩa xã hội Do khoảng thời gian chưa thống nhất đất nước, miền Bắc đã diễn ra thời kỳ quá độ trước tiên Thời kỳ này bắt đầu từ năm
1954 – ngay sau khi miền Bắc được giải phóng Đến năm 1975, đất nước đã được
Trang 3độc lập và thống nhất Từ đó, cả nước cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội và được chỉ huy dưới những chủ trương của Đảng ta
Tuy nhiên, sau những biến động thế giới phức tạp, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô và và Đông Âu cuối thế kỷ XX, các nhà lý luận tư sản đã tuyên bố rằng đó
là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội và học thuyết Marx – Lenin lỗi thời, thế giới không cần sứ mệnh của giai cấp công nhân nữa Nhưng sự thật thì chủ nghĩa xã hội khoa học luôn tồn tại, cải tiến và đổi mới để khẳng định rằng sứ mệnh của giai cấp công nhân vẫn còn đó
Trong lĩnh vực kinh tế
Việc loại bỏ tính tư hữu hóa các tài nguyên và tư liệu sản xuất
và xây dựng chế độ công hữu tư liệu sản xuất đã giúp cho đất nước nâng cao năng suất lao động Từ đó, từng bước thỏa mãn nhu cầu phát triển của nhân dân, của đất nước Đặc biệt, trong nền kinh tế tri thức
và công nghiệp 4.0, dù đã được tự động hóa rất nhiều, thì giai cấp công nhân vẫn là bộ phận sản xuất ra của cải vật chất chủ yếu cho xã hội Các sự thay đổi này với khao khát “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” – nó là một trong những sứ mệnh của giai cấp công nhân trong lĩnh vực này
Trong lĩnh vực chính trị
Những ngày đầu, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo các giai cấp khác đập tan chính quyền tư sản Hiện nay, giai cấp công nhân cùng với các giai cấp khác xây dựng chính quyền nhà nước vô sản (nền chuyên chính vô sản) Cũng như, Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền đã Đổi mới đất nước thành công, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một cách nhanh chóng và bền vững
Trong lĩnh vực văn hóa
Trang 4Về góc độ văn hóa, giai cấp công nhân là lực lượng xác lập các
hệ giá trị mới như công bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do… Đây là các giá trị thay thế cho hệ giá trị tư sản, phong kiến cũ Đồng thời, Đảng
và Nhà nước đấu tranh Ví dụ, trước đây, cùng ở gần vị trí trung tâm, các khu công nghiệp thường hắt hiu bóng dáng của các sân chơi, bãi tập thể thao và bãi thiết chế văn hóa cũng như những khu nhà trọ ọp
ẹp, lụp xụp, trong khi đó, khu đô thị và các nơi ở của các đại gia thì thường được xây dựng nhiều sân golf và các khu vực xa hoa phục vụ nhu cầu vui chơi, thư giãn Tuy điều này là một so sánh khập khiễng, nhưng đó cũng là một trong những khó khăn trong quá trình phát triển đất nước và hiện thực hóa chỉ số hạnh phúc con người Vì vậy để có thể thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng ta vẫn đang nỗ lực bảo đảm chỉ số hạnh phúc (đời sống tinh thần) cho công nhân lao động và toàn thể nhân dân
Trong lĩnh vực giáo dục
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, giáo dục đóng vai trò quan
Nó là nguồn lực để thúc đẩy sự phát triển của quốc gia Chính vì thế,
sứ mệnh của giai cấp công nhân trong sự nghiệp giáo dục sẽ cần định hướng cho học sinh những yêu cầu thực tiễn cho đất nước và thế giới đối với người lao động Điều này sẽ giúp nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn và kỹ năng tay nghề Đồng thời giáo dục kỹ năng mềm
để người học có thể vận dụng thực tiễn công việc ở tương lai Cùng với các giá trị khoa học và tư tưởng của Marx – Lenin, giúp học sinh sinh thích nghi nhanh với hoàn cảnh, vượt qua khó khăn thử thách để thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh của mình
Trang 52 Chọn 1 trong 2 vấn đề sau để chứng minh tính tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
a Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
b Sự đan xen giữa các yếu tố văn hoá mới với các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc (Hội nhập văn hoá thế giới nhưng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc).
Vì vừa thoát khỏi chiến tranh với những hậu quả nặng nề, nước ta học theo mô hình nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa Điều này nghĩa là nền kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ đạo, nhà nước tiến hành xóa bỏ kinh tế
tư nhân cá thể và sở hữu tư nhân khỏi xã hội Việc này khiến cho kinh tế Việt Nam bị trì trệ, lâm vào khủng hoảng với nhiều tiêu cực Việc này kéo theo các lĩnh vực khác như văn hóa – xã hội – giáo dục – y tế cũng bị trì trệ
và cần sự cải tiến trước khi đi vào “vết xe đổ” giống như sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa đi trước
Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là sự đột phá đầy sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Khi nhận ra những bất cập của cơ chế kinh tế hiện hành, Nhà nước Việt Nam cũng bắt đầu có một số thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế Hội nghị Trung ương 6 khóa IV đã ra nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 20 tháng 9 năm 1979 với tinh thần chính là:
- Cho phép kết hợp kế hoạch hóa với cơ chế thị trường
- Sử dụng lại kinh tế tư nhân bao gồm cả tư bản tư nhân dưới sự quản lý của Nhà nước
- Sửa lại giá lương thực và giá các nông sản khác theo hướng dựa trên thỏa thuận
- Cho phép địa phương tiến hành xuất nhập khẩu
Trang 6Sau khi kinh nghiệm khoán của Đoàn Xá được thí điểm ở toàn huyện
Đồ Sơn và Hải Phòng đem lại kết quả tích cực, Hội nghị Trung ương 9 khóa
IV (tháng 12/1980) đã quyết định mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp Chỉ thị này cho phép áp dụng chế độ khoán trong toàn bộ nền nông nghiệp cả nước Chế độ khoán này thường được gọi tắt là Khoán 100
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 25-CP ngày 21 tháng 1 năm 1981 về Một số chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất, kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Quyết định này cho phép áp dụng chế độ 3 kế hoạch
Từ năm 1981, kinh tế Việt Nam khởi sắc Sản lượng lương thực tăng mạnh, giá trị sản lượng công nghiệp tăng khá, thâm hụt thương mại giảm đáng kể
Với công cuộc đổi mới từ năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ Nếu như trước đổi mới GDP tăng chưa đầy 4% thì sau đổi mới, có những năm GDP tăng đến 8-9% Trung bình từ 1986 đến nay, GDP tăng trưởng liên tục, bình quân ở mức 6,6% năm…
Việt Nam còn là một trong những nước thu hút nhiều vốn FDI, đẩy mạnh xuất khẩu trên tất cả các lĩnh vực, tạo công ăn việc làm
Điều này cho thấy việc từ bỏ "kìm hãm các lực lượng sản xuất" tạo ra bước chuyển mình đó có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ấn tượng 30 năm qua
3 Việt Nam đã và đang làm gì để đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc?
Trang 7Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Trải qua hàng nghìn năm dựng nước
và giữ nước, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn
bó xây dựng đất nước và chống giặc ngoại xâm Theo các nhà dân tộc học, Việt Nam có 54 tộc người sinh sống Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả dân tộc người Việt Nam dù ít hay đông người, đều tự do và bình đẳng, cùng phấn đấu vươn lên, chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước
Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc
Về kinh tế
Thông thường các dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi, vùng biên giới nơi mà giao thông khó khăn, thường xảy ra thiên tai và khó
có khả năng tiếp cận với các vùng trung tâm Vì vậy tỷ lệ các vùng hộ nghèo, cận nghèo cao Nhà nước thường xuyên có các chính sách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm quan tâm và ưu tiên các địa bàn này Một minh họa cho vấn đề này là “Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững” đề ra vào năm 2012 – 2018, Nhà nước đã bố trí khoảng 630.764 tỷ đồng để thực hiện hỗ trợ đa lĩnh vực, trong đó, vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã chiếm khoảng 80% tổng chi cho việc giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo và và cận nghèo của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số giảm nhanh (trung bình khoảng 3,5% mỗi năm) và hộ nghèo ở huyện giữ vững mức giảm trên 5% mỗi năm qua các giai đoạn
Thêm vào đó, chính phủ còn tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu
số sản xuất và nâng cao thu nhập bằng các chương trình hỗ trợ sản xuất , các khóa tập huấn kỹ thuật, đặc biệt là các dự án hỗ trợ vay vốn tín dụng với lãi suất thấp
Trang 8Tuy nhiên công tác giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều bất cập Ví dụ như kết quả của tỷ lệ giảm nghèo tuy khả quan nhưng tình trạng tái nghèo và phát sinh nghèo vẫn còn cao Hoặc, điều kiện tiếp cận các dịch vụ cơ bản, tiếp cận thị trường, việc làm giữa các vùng, các nhóm dân cư vẫn chưa được thu hẹp, đặc biệt vùng Trung
du và miền núi Bắc Bộ và vùng Tây Nguyên Việc này khiến cho chênh lệch giàu nghèo ở ngày càng tăng Thực tế, các cấp địa phương gặp nhiều khó khăn trong triển khai chính sách và bố trí nguồn lực phù hợp Đồng thời, hoạt động giám sát và đánh giá vẫn còn lỏng lẻo
và chưa thống nhất
Về chính trị
Vào thời kỳ 1930 – 1945, trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
I1: “Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận cho các Đảng Cộng sản thừa nhận cho các dân tộc được quyền tự do hoàn toàn Đảng chống chế độ thuộc địa, chống hết các hình thức trực tiếp đem dân tộc này vào đàn
áp bóc lột dân tộc khác” Trong hội nghị này, Đảng ta cũng đã khẳng định: “Sự liên hợp huynh đệ phải lấy nguyên tắc chân thật, tự do và bình đẳng cách mạng mà làm căn bản”.2
Vào thời kỳ 1945 – 1954, tại Đại hội lần thứ II (2/1945) Đảng
ta đã khẳng định: Các dân tộc sống trên đất Việt Nam đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ nhau để kháng chiến và kiến quốc, kiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đánh
đổ âm mưu gây thù hằn, chia rẽ dân tộc của đế quốc và lũ Việt gian Đồng thời, cải thiện đời sống cho các dân tộc thiểu số, giúp đỡ họ tiến
bộ về mọi mặt, đảm bảo để họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ
Trang 9đẻ trong giáo dục ở các địa phương thiểu số Đồng thời trong khoảng thời gian này Ban chấp hành Trung ương Đảng đưa ra nghị quyết về
“Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng”
Thời kỳ năm 1955 – 1975, chính sách dân tộc ở hai miền có sự thay đổi do hoàn cảnh Lúc này, công tác dân tộc ở miền Bắc gắn liền với cải cách dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong khi đó, miền Nam tiến hành đoàn kết sức người sức của cùng nhau dánh thắng kẻ thù xâm lược và thống nhất đất nước
Thời kỳ 1976 đến nay, Đảng luôn lấy sự bình đẳng dân tộc làm kim chỉ nam cho mọi hành động, tạo những điều kiện cần thiết để xóa
bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ, kinh tế và văn hóa giữa dân tộc
ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp đồng bằng
Bình đẳng trong chính trị ở thời bình còn thể hiện qua việc Đảng và Nhà nước luôn chào đón những người thuộc dân tộc thiểu số đóng góp và điều hành bộ máy nhà nước Điều này được quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch 02/2014/TTLT-BNV-UBDT3 Đó là: ở địa phương các vùng dân tộc thiểu số bắt buộc phải có cán bộ, công nhân viên chức lãnh đạo, quản lý là người dân tộc thiểu số; và đảm bảo hợp
lý tỷ lệ người dân tộc thiểu số làm việc tại các cơ quan ở trung ương
Về văn hóa
Hiến pháp Việt Nam công nhận quyền của người dân tộc thiểu
số trong “sử dụng ngôn ngữ và chữ viết riêng, giữ gìn bản sắc dân tộc
và nuôi dưỡng các phong tục, truyền thống và văn hóa tốt đẹp”4 Mỗi
3 Thuvienphapluat.vn (n.d.) Thông TƯ Liên tịch 02/2014/TTLT-BNV-UBDT Hướng dẫn Chính Sách Cán BỘ 05/2011/ NĐ-CP công Tác Dân Tộc THƯ VIỆN PHÁP LUẬT Retrieved August 8, 2022, from https://thuvienphapluat.vn/van- ban/bo-may-hanh-chinh/thong-tu-lien-tich-02-2014-ttlt-bnv-ubdt-huong-dan-chinh-sach-can-bo-05-2011-nd-cp-cong-tac-dan-toc-252932.aspx?_ga=2.94281629.1670091898.1659781418-652219405.1642511717
4 Điều 5, chương 1 Hiến pháp năm 2013
Trang 10người có “quyền tự chọn dân tộc, sử dụng tiếng mẹ đẻ và chọn ngôn ngữ để giao tiếp”5 Điều này cho thấy nhà nước Việt Nam tự do trong lựa chọn ngôn ngữ và chữ viết, cũng như khuyến khích sự đa dạng văn hóa trong một nước Việt Nam thống nhất
Để phát triển hiệu quả các nhân tố quan trọng như kinh tế, đời sống tinh thần của nhân dân cũng cần được nâng cao Đối với các dân tộc thiểu số, ngoài bảo vệ chữ viết và tiếng mẹ đẻ của mình, họ cũng đang được chính phủ giúp đỡ bảo vệ trang phục và phong tục tập quán truyền thống mang màu sắc dân tộc Đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”6 đã và đang được hưởng ứng khá tốt từ các đồng bào dân tộc thiểu số đề án này cũng góp phần rất lớn khơi gợi sự quan tâm và góp sức của toàn thể xã hội đối với Công tác dân tộc, và giúp các dân tộc
có ý thức giữ gìn, phát huy các truyền thống văn hóa tốt đẹp và tự hào
về bản sắc văn hóa của dân tộc mình
Bảo tồn trang phục truyền thống phải đi đôi với nghề dệt truyền thống Bởi vì nghề dệt thổ cẩm không còn thì trang phục truyền thống cũng khó mà giữ được Và để có thể hòa nhập tốt hơn, các nhà tạo mẫu cũng quan tâm đến việc kết hợp giữa các họa tiết, chi tiết độc đáo của thổ cẩm với những trang phục hiện đại mặc hàng ngày Hoặc có nhiều cặp đôi đã chọn lễ phục đồ cưới thổ cẩm của dân tộc mình trong ngày trọng đại của đời mình Qua các hoạt động tưởng chừng như nhỏ nhặt này cũng đã giúp dân tộc bản địa cảm nhận được giá trị của trang phục mình, đồng thời đem đến sự phổ biến và tính ứng dụng cao
Về giáo dục
Trang 11Nhà nước Việt Nam đã và đang có nhiều chính sách quan tâm đến giáo dục cho các dân tộc ít người thông qua nhiều chính sách hỗ trợ Đầu tiên là chính sách hỗ trợ điểm cộng trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia Theo thông tư 08/2022/TT-BGDĐT7 các thí sinh
là dân tộc thiểu số ở khu vực 1 được cộng 2 điểm và ở ngoài khu vực
1 thì được cộng 1 điểm Tiếp theo là chế độ cử tuyển theo Nghị định
số 41/2020/NĐ-CP8 Chế độ cử tuyển này đã phần giúp đỡ các bạn học sinh dân tộc thiểu số đặc biệt là các bạn có hoàn cảnh khó khăn Ngoài ra, còn có các chính sách về học bổng9, hỗ trợ các học sinh có hoàn cảnh khó khăn10, các chính sách miễn giảm học phí11 Thông qua những nỗ lực và sự ưu tiên của nhà nước nhằm đảm bảo sự công bằng trong giáo dục đối với trẻ em dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn
và thiếu điều kiện để học tập
Từ những nỗ lực đã kể trên, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu: 100% các xã đặc biệt khó khăn có trường học, nhà mẫu giáo và các lớp bán trú dân nuôi Các bản xa trung tâm đều có lớp căn bản, trẻ
em trong độ tuổi đến trường đạt 90% - 95% Đến năm 2008 – 2009,
đã có khoảng 285 trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn 49 tỉnh thu hút 84.000 học sinh theo học Tất cả các tỉnh vùng dân tộc và
7 Thuvienphapluat.vn (n.d.) Thông TƯ 08/2022/TT-BGDĐT Quy Chế Tuyển Sinh đại học Ngành Giáo Dục mầm non THƯ VIỆN PHÁP LUẬT Retrieved August 9, 2022, from
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Thong-tu-08-2022-TT-BGDDT-Quy-che-tuyen-sinh-dai-hoc-nganh-Giao-duc-Mam-non-510093.aspx
8 Thuvienphapluat.vn (n.d.) Nghị định 141/2020/NĐ-CP chế độ cử Tuyển đối với học sinh Dân Tộc Thiểu SỐ THƯ VIỆN PHÁP LUẬT Retrieved August 9, 2022, from
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Nghi-dinh-141-2020-ND-CP-che-do-cu-tuyen-doi-voi-hoc-sinh-dan-toc-thieu-so-459013.aspx
9 học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú trường dự bị đại học được hưởng học bổng bằng 80% mức lương tối thiểu chung/học sinh/tháng và được hưởng 12 tháng/năm
10 Trẻ em mẫu giáo 3-5 tuổi đi học tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc các xã biên giới, núi cao, hải đảo và các xã
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hỗ trợ 10% mức lương cơ sở/trẻ/tháng (một năm học 9 tháng)
để duy trì bữa ăn trưa tại trường
11 Nghị định số 86/2015/NĐ-CP, Nghị định số 145/2018/NĐ-CP, Nghị định số 86/2015/NĐ-CP