1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án thạc sĩ luật học quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự việt nam

106 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự việt nam
Tác giả Đào Trung Đức
Người hướng dẫn PGS.TS.Mai Đắc Biên
Trường học Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật chưa được người tiến hành tố tụng thực hiện m

Trang 1

ĐÀO TRUNG ĐỨC

QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐƯA RA LỜI KHAI CHỐNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2023

Trang 2

ĐÀO TRUNG ĐỨC

QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐƯA RA LỜI KHAI CHỐNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS.Mai Đắc Biên

Hà Nội - 2023

Trang 3

Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn (Ký, ghi rõ họ tên)

Đào Trung Đức

Trang 4

trình học tập

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Mai Đắc Biên - Phó hiệu trưởng nhà trường đã giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Cảm ơn những ý kiến đóng góp của thầy đã giúp em hoàn thiện

đề tài một cách tốt nhất Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn VKSND tối cao, TAND tối cao đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ em trong suốt quá trình nghiên cứu tài liệu,

hồ sơ và tìm kiếm số liệu

Hà Nội, ngày tháng năm 2023

Tác giả luận văn

Đào Trung Đức

Trang 5

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi

Tòa án nhân dân TAND

Viện kiểm sát nhân dân VKSND

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐƯA RA LỜI KHAI CHỐNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.2 Đặc điểm 11

1.1.3 Ý nghĩa 14

1.2 Quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội 16

1.2.1 Quy định của pháp luật quốc tế 16

1.2.2 Quy định của pháp luật một số quốc gia 17

1.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 20

1.3.1 Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội được ghi nhận trực tiếp thông qua các quy định về quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 23

1.3.2 Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội được thể hiện rõ trong hoạt động lấy lời khai, hỏi cung trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, trong thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa xét xử 32

Trang 7

của Tòa án 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐƯA

RA LỜI KHAI CHỐNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI 372.1 Thực tiễn thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của các cơ quan tiến hành tố tụng 372.1.1 Kết quả thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của các cơ quan tiến hành tố tụng 372.1.2 Kết quả sử dụng quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 392.2 Những tồn tại, thiếu sót trong việc thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 422.2.1 Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật chưa được người tiến hành tố tụng thực hiện một cách hiệu quả, thống nhất 422.2.2 Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội được người bị buộc tội sử dụng chưa hiệu quả hoặc bị lạm dụng452.3 Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót 462.3.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự còn bất cập 462.3.2 Cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật

để bảo đảm thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội 482.3.3 Người bị buộc tội chưa nhận thức đầy đủ về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội 49

Trang 8

2.3.5 Điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu 51KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐƯA RA LỜI KHAI CHỐNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 533.1 Yêu cầu đảm bảo thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 533.1.1 Yêu cầu cải cách tư pháp trong lĩnh vực hình sự 533.1.2 Yêu cầu đảm bảo thi hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội 543.1.3 Yêu cầu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội 553.1.4 Yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm 563.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội 573.2.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật 573.2.2 Bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ, nhận thức về trách nhiệm của người tiến hành tố tụng 593.2.3 Phát triển, nâng cao trình độ của đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý 613.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mính hoặc buộc phải nhận mình có tội cho người dân 623.2.5 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn kịp thời những vướng mắc khó khăn và phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng trong việc thực hiện quyền 63

Trang 9

chức, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án 65KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67KẾT LUẬN 68DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Điểm g khoản 3 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights, 1966-ICCPR 1966)

mà Việt Nam đã ký kết gia nhập vào ngày 24/9/1982 thể hiện rõ ràng về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Hiện nay, văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng xác định: “Hoạt động tư pháp phải bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đấu tranh có hiệu quả với mọi loại tội phạm và vi phạm” [17, tr.59] Hiến pháp năm 2013

có những đổi mới trong tư duy lập hiến khi lần đầu tiên ghi nhận, phân biệt rõ ràng quyền con người với các quyền của công dân Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định, ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo

vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Trên tinh thần đó, pháp luật TTHS đặt ra yêu cầu bảo vệ tối đa quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong quá trình giải quyết VAHS cùng với việc phát hiện chính xác, xử lý kịp thời, đúng đắn mọi hành vi phạm tội, người phạm tội (pháp nhân thương mại phạm tội) BLTTHS năm 2015 ghi nhận thêm nhiệm vụ “góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” tại Điều 2 so với quy định tại Điều 1 BLTTHS năm 2003 Theo đó, BLTTHS đã chú trọng đến việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là quyền của người thuộc các nhóm người dễ bị tổn thương như người bị buộc tội, người bị kết án, người khó có khả năng

tự bảo vệ quyền của mình khi tham gia tố tụng, người tố giác, nhân chứng, người bị hại và những người thân thích của những người đó Việc ghi nhận, bảo đảm quyền

và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội trong quá trình chứng minh tội phạm có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng nền tư pháp tiến bộ, công bằng, văn minh

Trang 11

BLTTHS năm 2015 đã bổ sung các quy định trực tiếp về quyền không buộc phải đưa

ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội Như vậy, việc vận dụng quyền này góp phần loại trừ trường hợp người bị nghi thực hiện tội phạm bị xâm phạm đến quyền con người, các quyền chính đáng của mình Đồng thời, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh tội phạm theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định cũng như đảm bảo việc thực hiện buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội

Pháp luật TTHS Việt Nam đã có những tiến bộ trong tư duy lập pháp về quyền con người nói chung hay quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội nói riêng Tuy nhiên, việc áp dụng quyền này vẫn còn khó khăn và vướng mắc Mặc dù quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội đã được nhiều tác giả nghiên cứu nhưng việc tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật và phân tích

cụ thể về tình hình thực tế cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo đảm thực hiện quyền này khi giải quyết VAHS trong giai đoạn năm 2018-2022 là điều cần thiết Chính vì những lí lẽ trên, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, tăng cường cơ chế bảo vệ quyền con người trong TTHS, hạn chế tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử, học viên lựa chọn đề tài: “Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong TTHS Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học Qua đó, góp phần làm sâu sắc hơn lý luận về quyền của người bị buộc tội và vấn đề thực tiễn, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền này trên thực tế

2 Tình hình nghiên cứu

Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong pháp luật quốc tế được các tác giả nước ngoài nghiên cứu dưới tên gọi “quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” (The right to silence) hoặc “Đặc quyền chống lại sự tự buộc tội” (The privilege against self-incrimination) [59] Quyền

Trang 12

không buộc phải đưa ra lời chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong TTHS Việt Nam được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu như nhóm Luận văn thạc sĩ: Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong luật TTHS Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội),(2017), Đại học quốc gia Hà Nội, Đinh Hải Ninh; Bảo vệ quyền của người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tam giam, bị can, bị cáo) trong luật TTHS Việt Nam, (2019), Đại học quốc gia Hà Nội, Lê Tiến Quân; Nguyễn Hữu Hậu (2019), Đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội; Vũ Công Giao - Nguyễn Minh Tâm (2015), “Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội trong pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (3); Nguyễn Vũ Linh Giang (2016), “Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội trong TTHS”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (12);…

Những công trình nghiên cứu trên phần lớn tập chung vào nội dung cơ bản về quyền của người bị buộc tội nói chung; một số bài viết, công trình nghiên cứu về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội nhưng chưa làm rõ tình hình sử dụng quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội và việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo đảm thực hiện quyền này trong quá trình giải quyết VAHS BLTTHS năm 2015 ra đời cùng với sự phát triển, thay đổi về kinh tế - xã hội, việc thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội bộc lộ một số hạn chế, vướng mắc nên vấn đề tiếp tục nghiên cứu quyền này là hết sức cần thiết để bảo vệ quyền con người, quyền của người bị buộc tội trong TTHS

Từ tình hình nghiên cứu trên, việc nghiên cứu đề tài “Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong TTHS” là cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong pháp luật TTHS Việt Nam Đồng thời, làm rõ những bất cập, vướng mắc về quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng quyền này của người bị buộc tội trong quá trình giải quyết VAHS từ năm 2018-2022 Từ đó, học viên đưa ra những giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật, nâng cao thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội gồm khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa

- Nêu và phân tích quy định về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội trong pháp luật TTHS quốc tế và một

số quốc gia trên thế giới (Mỹ, Đức, Nhật Bản)

Phân tích, đánh giá quy định của BLTTHS năm 2015, các văn bản hướng dẫn

về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội

- Nghiên cứu tình hình tội phạm, thực tiễn thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong TTHS trong giai đoạn 05 năm (2018-2022)

- Kiến nghị các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người

bị buộc tội trong TTHS

4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 14

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội; quy định của pháp luật TTHS quốc tế và một số quốc gia về quyền này; quy định của BLTTHS năm 2015 và thực tiễn thực hiện quyền này của người bị buộc tội từ năm 2018 đến năm 2022

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận, quy định của BLTTHS năm 2015 về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội Đồng thời, luận văn nghiên cứu về tình hình tội phạm (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) từ năm 2018-2022 trên phạm vi cả nước, tình hình thực tiễn người bị buộc tội thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo đảm thực hiện quyền này trong TTHS Từ đó, đưa ra các yêu cầu, các giải pháp thực hiện hiệu quả quyền không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng

và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp, chính sách bảo

vệ quyền con người, quyền công dân

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học pháp lý hình sự như: phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp, thống kê, xã hội học… Cụ thể:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh các quan điểm của các tác giả về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội; quy định của pháp luật quốc tế và một

số quốc gia; quy định của BLTTHS năm 2015 về quyền này của người bị buộc tội

Trang 15

- Phương pháp xã hội học (lập bảng Anket), tổng hợp, phân tích, thống kê thực tiễn người bị buộc tội sử dụng quyền không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo đảm việc thực hiện quyền này trong các VAHS

- Phương pháp phân tích, hệ thống nhằm đề xuất các giải pháp đảm bảo thực hiện quyền không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội quá trình giải quyết VAHS

6 Ý nghĩa của luận văn

Đề tài “Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong TTHS” góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận về người bị buộc tội, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; đưa ra các kiến nghị khắc phục những vướng mắc của BLTTHS, nâng cao áp dụng quyền này trong thực tiễn Qua đó, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, hạn chế tình trạng oan, sai trong TTHS Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu luật pháp hoặc phục vụ hoạt động thực tiễn trong điều tra, truy tố, xét xử VAHS

7 Bố cục của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 03 chương, gồm:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình

có tội của người bị buộc tội

Chương 2: Thực tiễn thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHÔNG BUỘC PHẢI ĐƯA RA LỜI KHAI CHỐNG LẠI CHÍNH MÌNH HOẶC BUỘC PHẢI NHẬN MÌNH CÓ TỘI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm người bị buộc tội

Thuật ngữ pháp lý “người bị buộc tội” lần đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp năm 2013 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định người bị buộc tội được coi là không

có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, điểm

đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 ghi nhận người bị buộc tội gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đồng thời, khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người

có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện…” Một trong những điểm mới nổi bật của BLTTHS năm 2015 là ghi nhận người bị buộc tội có thể

là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định

là tội phạm

Hiện nay, nhiều tác giả đã đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm người

bị buộc tội như:

Người bị buộc tội là người bị các cơ quan tiến hành tố tụng có đủ căn cứ nghi ngờ họ thực hiện hành vi phạm tội và với họ đã bị bắt, tạm giữ, khởi tố bị can hoặc

bị Tòa án đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật [28, tr.14] Khái niệm chưa nêu

ra trường hợp người bị buộc tội là người bị bắt, bị tạm giữ thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm theo BLHS, chưa nêu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp

ra các quyết định tố tụng làm phát sinh địa vị pháp lý của người bị buộc tội

Đồng thời, cũng có quan điểm cho rằng, người bị buộc tội là người (cá nhân)

bị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp tố tụng để bảo đảm cho việc

Trang 17

phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ căn cứ theo luật định xác định người đó có thể đã thực hiện tội phạm hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm mà BLHS quy định là tội phạm Người bị buộc tội có địa vị pháp lý cụ thể là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật quy định tương ứng với từng giai đoạn tố tụng cụ thể [31, tr.12-13] Theo quan điểm của học viên, người bị buộc tội còn có thể là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại trong trường hợp thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu tội phạm theo Điều 75, 76 BLHS năm 2015

Để làm rõ khái niệm người bị buộc tội cần hiểu quy định pháp luật về người

bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo:

Về người bị bắt Điều 55, khoản 2 Điều 109 BLTTHS năm 2015 chưa định nghĩa người bị bắt mà chỉ quy định là người tham gia tố tụng, liệt kê các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn

Về người bị tạm giữ Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Họ là người chưa bị khởi tố về hình sự, trừ người bị bắt theo quyết định truy nã đã bị khởi tố về hình sự được quy định tại Điều 59 BLTTHS năm 2015

Về bị can Bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định (Điều 60 BLTTHS năm 2015) Như vậy, BLTTHS

có điểm mới khi việc ghi nhận pháp nhân có thể là bị can nếu có đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm

Về bị cáo Theo Điều 61 BLTTHS năm 2015, bị cáo là người hoặc pháp nhân

đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng dựa vào các tình tiết thực tế, các căn cứ pháp lý (BLHS, BLTTHS) để xác định chủ thể đã thực hiện hành vi có

Trang 18

dấu hiệu tội phạm hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được BLHS quy định Từ đó, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành các quyết định tố tụng như: Lệnh bắt, quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, quyết định truy tố, quyết định đưa

vụ án ra xét xử… để xác định địa vị pháp lý và quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội Ví dụ, bị cáo là người hoặc pháp nhân thương mại đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Tư cách pháp lý và quyền, nghĩa vụ của bị cáo phát sinh từ khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 61, 277 BLTTHS năm 2015)

Theo BLTTHS năm 2015, người bị buộc tội có thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc bị khởi tố, điều tra, truy tố, đưa ra xét xử nhưng họ chưa thể bị coi là

có tội Như vậy, người bị buộc tội chưa bị coi là người phạm tội mà là người bị nghi thực hiện tội phạm, có thể bị áp dụng các biện pháp luật định khi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý chính xác tội phạm, người phạm tội Việc chứng minh tội phạm phải tuân theo trình tự, thủ tục

do BLTTHS quy định để rút ra kết luận, quyết định buộc tội, kết tội hoặc không buộc tội, kết tội Hoạt động chứng minh tội phạm cần bảo đảm được các quyền tố tụng của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác

Từ những nội dung đã phân tích, có thể đưa ra khái niệm người bị buộc tội như sau: Người bị buộc tội là người hoặc pháp nhân thương mại (thông qua đại diện theo pháp luật) đã bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nghi thực hiện tội phạm, xác lập tư cách pháp lý của họ là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và tiến hành các hoạt động luật định để xem xét buộc tội họ

1.1.1.2 Khái niệm nhận mình có tội của người bị buộc tội

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa nhận là “2 Chịu là có, là đúng; thừa nhận Nhận lỗi…” [30, tr.712] BLTTHS năm 2015 đề cập về hành vi nhận mình có tội của người bị buộc tội thông qua các quy định:

Một là, hành vi tự thú, đầu thú (điểm h, i Điều 4 BLTTHS năm 2015) Theo

đó, tự thú là việc người bị buộc tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành

vi phạm tội của mình trước khi người bị buộc tội, hành vi phạm tội của họ bị phát

Trang 19

hiện Đầu thú là trường hợp người bị buộc tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình

Hai là, lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, lời khai của bị can, bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố (Điều 95, 98, 309 BLTTHS năm 2015) Khi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành lấy lời khai, người bị bắt, bị tạm giữ trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm Trong quá trình hỏi cung,

bị can trình bày rõ ràng, đầy đủ về những tình tiết của vụ án mà người đó đang bị tình nghi thực hiện tội phạm Lời nhận tội chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khách của vụ án, không được dùng lời nhận tội của bị can làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội

Ba là, khi hỏi bị cáo, bị cáo nói lời sau cùng (Điều 309, 324 BLTTHS năm 2015) tại phiên tòa sơ thẩm Bị cáo trả lời những câu hỏi làm rõ tình tiết, chứng cứ, tài liệu, vật chứng trong vụ án của Hội đồng xét xử, Viện kểm sát, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự Bị cáo trình bày ý kiến

về bảo cáo trạng và những tình tiết của vụ án Kết thúc tranh luận, bị cáo được nói lời sau cùng Theo đó, bị cáo “tự nhận mình có tội” là đồng ý về tội danh và những nội dung liên quan đến việc xác định người đó có tội trong bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát Như vậy, BLTTHS năm 2015 quy định việc “nhận mình có tội” của người bị buộc tội thể hiện ra ngoài bằng hình thức nói, viết (biên bản) và được thực hiện theo trình tự, thủ tục BLTTHS

Theo quan điểm của học viên, nhận mình có tội của người bị buộc tội là sự thừa nhận của người bị buộc tội về việc đã thực hiện tội phạm hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm mà BLHS quy định là tội phạm được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác minh, thu thập theo trình tự, thủ tục của BLTTHS trong quá trình giải quyết VAHS

1.1.1.3 Khái niệm lời khai chống lại chính mình của người bị buộc tội

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa chống là “3 Hoạt động ngược lại, gây trở lực cho hành động của ai hoặc cho tác động của cái gì” [30, tr.170]

Trang 20

Trong quá trình giải quyết VAHS, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

áp dụng các biện pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện

và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Theo điểm b khoản 1 Điều 87 BLTTHS năm 2015, lời khai, lời trình bày là một trong những nguồn chứng cứ để làm rõ tội phạm, người phạm tội Lời khai của người bị buộc tội là lời trình bày của người bị bắt, người bị tạm giữ về những tình tiết liên quan đến việc họ

bị tình nghi thực hiện tội phạm; lời khai của bị can, bị cáo về những tình tiết của vụ

án Người bị buộc tội có quyền chủ động, tự nguyện khi khai báo về những vấn đề liên quan đến vụ án nhưng không buộc phải trả lời những câu hỏi, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi cho rằng việc trả lời có khả năng dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho quyền và lợi ích của họ [39, tr 43] Như vậy, có thể hiểu, lời khai chống lại chính mình của người bị buộc tội là lời trình bày của người bị buộc tội chứa đựng những tình tiết, thông tin, chứng cứ về VAHS có thể dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho họ

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm quyền không buộc phải đưa

ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong TTHS: Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong TTHS là quyền của người bị buộc tội mà theo đó họ được tự do ý chí trình bày hoặc không trình bày lời khai của mình về nội dung, tình tiết, sự kiện của vụ án mà người đó cho rằng có thể dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi, khiến họ có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự

1.1.2 Đặc điểm

- Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội là quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS

Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội thể hiện nguyên tắc đảm bảo quyền con người trong TTHS Quyền con người của người bị buộc tội trong TTHS bao gồm nhiều

Trang 21

quyền khác nhau như: quyền bảo đảm bình đẳng trước pháp luật, quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, tài sản cá nhân khác; quyền được bào chữa; quyền được kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội… Người bị buộc tội là nhóm người dễ bị tổn thương, dễ bị xâm phạm các quyền, lợi ích trong TTHS do mối quan hệ pháp luật TTHS là mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với người phạm tội (pháp nhân thương mại phạm tội) Đồng thời, người bị buộc tội bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế nên quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người

bị buộc tội không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ Quyền này cũng tạo

ra một hành lang pháp lý trong việc điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể TTHS, hạn chế việc lạm quyền của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

- Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội thể hiện sự tự nguyện của người bị buộc tội trong quá trình TTHS

Người bị buộc tội có thể trình bày hoặc không trình bày những tình tiết, tài liệu liên quan đến vụ án cũng như trả lời các câu hỏi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu như bản thân họ cho rằng việc này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ, khiến họ có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Người bị buộc tội thực hiện quyền này như một khả năng để tự bào chữa cho mình, thực hiện hoặc không thực hiện quyền này hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của người bị buộc tội mà không có gì ép buộc, ngăn cản Tuy nhiên, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội không phải là quyền tuyệt đối [46, tr.43] Trên thực tế, quyền này có ý nghĩa tích cực khi có tình trạng oan, sai hay người bị buộc tội có tâm lý hoảng loạn, mất tự chủ, bình tĩnh khi cho rằng sẽ phải đối mặt với hậu quả pháp lý bất lợi, chế tài về hình sự Như vậy, người bị buộc tội có thể tự nguyện không thực hiện quyền này, đồng thời chủ động trình bày, đưa ra tài liệu, đồ vật về vụ án hoặc thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác làm rõ tội phạm để có thể hưởng tình tiết giảm

Trang 22

nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 50 BLHS năm 2015 khi quyết định hình phạt nếu người đó phạm tội

- Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội là sự thể hiện một số nguyên tắc trong TTHS

Thứ nhất, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội gắn liền với nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13 BLTTHS năm 2015) Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có nhiệm vụ làm rõ sự thật khách quan của vụ án, kết luận người bị buộc tội có phạm tội hay không phạm tội dựa trên toàn bộ, đầy đủ các chứng cứ chứng minh hợp pháp mà không chỉ dựa vào việc người bị buộc tội đưa ra hoặc không đưa

ra lời khai thừa nhận mình có tội để quy kết họ đã thực hiện hành vi phạm tội

Thứ hai, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội thể hiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015 Trách nhiệm chứng minh người bị buộc tội có hay không thực hiện hành vi phạm tội, và làm rõ những tình tiết liên quan đến VAHS thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành hành tố tụng Theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTHS, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án, không được thực hiện bất kỳ hình thức trái pháp luật để cưỡng ép người bị buộc tội phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Như vậy, kể cả khi một người đã thực hiện tội phạm nhưng cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thể làm làm sáng tỏ việc người đó phạm tội, mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết do BLTTHS quy định thì cũng không thể tiến hành truy tố, xét xử, kết tội người đó

Trang 23

Thứ ba, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội có mối liên hệ mật thiết với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội (Điều 16 BLTTHS năm 2015) Theo đó, người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Người bị buộc tội được biết lý do mình bị buộc tội; được trình bày lời khai, trình bày ý kiến; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá Trong đó, người bào chữa cần cung cấp cho cho người bị buộc tội nhận thức, quy định về thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Đồng thời, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ Trong đó, có quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được khách quan, công bằng

bị buộc tội trong quá trình thu thập chứng cứ, các hoạt động tố tụng như hỏi cung, lấy lời khai, đối chất… bị nghiêm cấm nhằm đảm bảo quá trình chứng minh tội phạm, người phạm tội được tiến hành hợp pháp, đúng người, đúng tội, tránh làm oan người

vô tội, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội không bị xâm hại

Trang 24

Ngoài ra, quyền này thể hiện tính dân chủ và nhân đạo của hoạt động TTHS khi người

bị buộc tội được tự nguyện, tự do thể hiện ý chí trong việc đưa ra lời khai của mình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Hai là, góp phần vào việc phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật từ phía các cơ quan tố tụng dẫn đến oan, sai trong TTHS Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội được ghi nhận trong TTHS là cơ sở để CQĐT, Viện kiểm sát và Tòa án chứng minh tội phạm một cách thuyết phục, công minh Lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội không được thực hiện trên sự tự do ý chí của người bị buộc tội sẽ không có giá trị pháp lý, không được sử dụng làm chứng cứ trong VAHS [46, tr.57] Quyền này đặt

ra yêu cầu các cơ quan, người tiến hành tố tụng khi tiến hành giải quyết vụ án không phụ thuộc quá nhiều vào lời khai của người bị buộc tội mà phải xem xét tổng thể, toàn diện các tình tiết, nội dung của vụ án bằng các chứng cứ buộc tội, gỡ tội Mọi giả định, nghi ngờ về lỗi của người bị buộc tội phải được làm rõ theo trình tự, thủ tục luật định và áp dụng thống nhất các quy định của BLHS, BLTTHS; nếu không thì vụ

án phải được giải quyết theo hướng có lợi cho người bị buộc tội Theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp như như các biện pháp kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, biện pháp cưỡng chế, ngăn chặn, khám xét, triệu tập lấy lời khai, hỏi cung để quá trình chứng minh tội phạm, người phạm tội khách quan, đúng người, đúng tội

Ba là, góp phần vào việc xác định rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc chứng minh hành vi phạm tội của người bị buộc tội với từng giai đoạn TTHS Người bị buộc tội có thái độ im lặng, từ chối trình bày, không trả lời các câu hói về các vấn đề gây bất lợi cho mình không phải hành vi không hợp tác với quá trình điều tra, truy tố, xét xử VAHS hay cố tình chối tội, nên cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thể áp dụng đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có vai trò, chức năng, quyền hạn trong đấu tranh, phòng chống tội phạm, giải quyết vụ việc có dấu hiệu của tội phạm Theo đó, CQĐT thực hiện chức năng tiếp nhận, giải quyết

Trang 25

thông tin về tội phạm, tiến hành điều tra các tội phạm để phát hiện, xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và đề nghị truy tố; Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là các cơ quan quản lý nhà nước được tiến hành một số hoạt động điều tra trong một thời gian nhất định đối với tội phạm xảy ra trong lĩnh vực mình quản lý, sau đó chuyển cho cơ quan tiến hành tố tụng tiếp tục giải quyết

vụ án; VKSND có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; TAND là cơ quan xét xử Như vậy, các cơ quan cùng thực hiện mục đích chung là phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi phạm tội, người phạm tội (pháp nhân thương mại phạm tội)

1.2 Quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội

1.2.1 Quy định của pháp luật quốc tế

Trong các văn kiện quốc tế, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội được hiểu là

“quyền im lặng - right to remain silent” [59] - một trong những nội dung cơ bản về quyền con người Hệ thống pháp luật quốc tế chưa có định nghĩa thống nhất về “quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” nhưng nội hàm của quyền này được quy định trong một số công ước quốc tế, văn kiện quốc tế về quyền con người:

Đầu tiên, Điều 11 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc tuyên bố: “Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật tại một phiên tòa xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình”

Sau đó, Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), Công ước của Liên hợp quốc về các quyền trẻ em năm 1989 đã ghi nhận quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội là một quyền cơ bản của con người khi đối mặt với sự buộc tội từ cơ quan quyền lực Nhà nước Theo đó, điểm g khoản 3 Điều 14 ICCPR quy định: “Không ai buộc phải đưa

Trang 26

ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội” [11] Điều 12 Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn và các hình thức đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục khác năm 1975 quy định:“Bất kỳ lời khai nào đã được xác lập mà có được bởi kết quả của tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác không thể được viện dẫn làm bằng chứng chống lại người có liên quan hoặc chống lại bất kỳ người nào khác trong bất kỳ thủ tục tố tụng nào” Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn

ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984 quy định: “Lời khai của người bị tra tấn, bị dùng nhục hình, bị đối xử vô nhân đạo không có giá trị chứng minh trong quá trình điều tra vụ án” [13] Như vậy, lời khai, lời trình bày chống lại người có liên quan hay bất kỳ người nào khác do bị đối xử tàn bạo, hạ nhục, ép buộc thì không

có giá trị về pháp lý và không được sử dụng trong quá trình tố tụng

Theo Điều 14 Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động

tư pháp đối với người vị thành niên năm 1985 (các quy tắc Bắc Kinh), trong bất kỳ trường hợp nào, thủ tục xét xử người chưa thành niên phạm tội cũng đều phải tuân theo những tiêu chuẩn tối thiểu được áp dụng chung cho bất cứ bị can nào theo một thủ tục được biết tới là “thủ tục pháp lý cần thiết” [12] Thủ tục pháp lý cần thiết là việc “xét xử công bằng và chính đáng” có những biện pháp bảo vệ cho những quyền

cơ bản như: quyền suy đoán vô tội, quyền đưa ra nhân chứng, vật chứng, quyền được biện hộ trước tòa, quyền im lặng, quyền được nói lời cuối cùng trong phiên tòa xét

xử, quyền kháng cáo

Như vậy, hầu hết các văn kiện quốc tế đều ghi nhận rõ ràng quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội như là một biện pháp quan trọng để bảo vệ quyền con người trong TTHS Khi phát sinh mối quan

hệ bất bình đẳng với cơ quan quyền lực Nhà nước thì người bị buộc tội được quyền

im lặng, không phải khai báo, trình bày lời khai vì có thể gây hậu quả pháp lý bất lợi đối với họ

1.2.2 Quy định của pháp luật một số quốc gia

1.2.2.1 Quy định của pháp luật Hoa Kỳ

Trang 27

Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội là quyền cơ bản trong pháp luật Hoa Kỳ, được hiến định trong Tu chính án thứ 5 Hiến pháp Hoa Kỳ: “không ai bị buộc phải trở thành nhân chứng chống lại anh ta trong bất kỳ VAHS nào” Đến năm 1966, thuật ngữ “Miranda warning” (Lời cảnh báo miranda: quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội) được thiết lập trong Án lệ Miranda v.Arizona Theo đó, nội dung án lệ như sau: Vào ngày 23/3/1963, Emesto Miranda

bị bắt vì hành vi trộm cắp tại một ngân hàng tại thành phố Phoenix, bang Arizona, Hoa Kỳ Sau khi bị cảnh sát thẩm vấn, Miranda đã tự nguyện thừa nhận tội trộm cắp

và hành vi bắt cóc và hãm hiếp một cô gái 18 tuổi Tháng 6/1963, Miranda bị Tòa án quận Maricopa, thành phố Phonenix phán quyết 20 năm tù vì ba tội: trộm cắp, bắt cóc và hiếp dâm Sau đó, Miranda đã kháng án với lý do khi bị bắt, anh ta không được thông báo về việc bất cứ một lời khai nào của mình sau này có thể được sử dụng để chống lại chính mình, và không biết về quyền được luật sư bào chữa khi cảnh sát hỏi cung Tháng 6/1965, vụ án được Toà án tối cao Hoa Kỳ giải quyết Theo đó, Chánh

án Tòa án tối cao đã ra phán quyết bác bỏ việc kết tội Miranda khi chỉ dựa trên lời nhận tội do Miranda không được cho biết về những quyền của mình Từ đó, Tòa án tối cao Hoa Kỳ ra án lệ về việc trước khi thẩm vấn, cảnh sát phải thông báo cho người

bị nghi thực hiện tội phạm như sau: Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa Anh có quyền nhờ luật sư trước khi khai báo với cảnh sát và các luật sư sẽ có mặt khi cảnh sát thẩm vấn anh Nếu anh không thể tìm được luật sư, anh sẽ được Tòa án triệu tập một luật sư trước khi trả lời các câu hỏi Anh có thể trả lời câu hỏi khi không có luật

sư nhưng anh vẫn có quyền tạm ngừng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư [24, tr.42] Do đó, cảnh báo Miranda là một quy định để tăng cường bảo vệ quyền của người bị buộc tội Pháp luật TTHS Hoa kỳ quy định người bị nghi thực hiện tội phạm có quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội, nhưng cơ quan công tố vẫn thực hiện quyền buộc tội, chứng minh người phạm tội bằng các phương pháp khác nhau

Trang 28

1.2.2.2 Quy định của pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức

Trong pháp luật TTHS Đức, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội được thể hiện tại khoản 1 Điều 103 Hiến pháp Đức: “… Bất cứ ai bị xét xử đều phải lắng nghe ý kiến của họ” Quy định này gián tiếp ghi nhận việc người bị buộc tội có quyền trả lời hay không trả lời trong quá trình TTHS mà không bị tác động từ người tiến hành tố tụng BLTTHS Đức quy định người bị buộc tội có quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội trong tất cả các giai đoạn tố tụng từ trước khi bị thẩm vấn đến khi kết thúc quá trình xét xử Theo đó:

- Khoản 3 Điều 115 BLTTHS Đức: “Trong quá trình xem xét, các yếu tố buộc tội sẽ phải được trình bày đối với bị can và anh ta phải được thông báo về quyền của mình trong việc đối đáp lại lời buộc tội hoặc giữ im lặng Anh ta phải được tạo điều kiện bác bỏ căn cứ cho việc nghi ngờ và bắt người và đưa ra những tình tiết có lợi cho mình” Sau khi bị bắt, người bị buộc tội được thông báo về những quyền cơ bản, trong đó có quyền tự nguyện đối đáp hoặc im lặng khi thẩm phán xét việc buộc tội

- Khoản 1 Điều 136 BLTTHS Đức: “Tại thời điểm bắt đầu việc lấy lời khai lần đầu tiên, bị cáo sẽ được thông báo về tội danh bị khởi tố và các điều khoản luật hình sự áp dụng Anh ta sẽ được thông báo việc theo luật pháp, anh ta có quyền trình bày ý kiến đối với lời buộc tội hoặc không phát biểu bất cứ điều gì về lời buộc tội và ngay trước khi tiến hành kiểm tra, trao đổi với luật sư bào chữa do anh ta lựa chọn Anh ta sẽ được hướng dẫn việc có thể yêu cầu thu thập chứng cứ để phục vụ việc bào chữa Trong những trường hợp phù hợp, bị cáo sẽ được thông báo rằng anh ta có thể trình bày ý kiến bằng văn bản” Trong giai đoạn truy tố, xét xử, người bị buộc tội có quyền được thông báo về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội, các quyền khác như bào chữa, thu thập chứng cứ…

1.2.2.3 Quy định của pháp luật Nhật Bản

Trong pháp luật TTHS Nhật Bản, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội chỉ được ghi nhận trong giai đoạn xét xử Theo khoản 3 Điều 291 BLTTHS Nhật Bản: “Sau khi

Trang 29

bản cáo trạng được công bố, chủ toạ phiên toà, trên cơ sở thông báo rằng bị cáo có thể giữ im lặng trong toàn bộ quá trình xét xử hoặc từ chối trả lời về những câu hỏi mang tính chất cá nhân hoặc những vấn đề cần thiết khác được quy định trong Điều

lệ của toà án với mục đích bảo vệ quyền của mình, cho phép bị cáo và luật sư có cơ hội trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án” [6] Như vậy, bị cáo, người bào chữa

có quyền lựa chọn giữ im lặng, từ chối trả lời hoặc trình bày ý kiến về vụ án ngay sau khi công tố viên công bố khi bản cáo trạng

Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội là quyền của bị cáo không bị bắt buộc phải đưa ra lời khai hoặc làm chứng để chống lại chính mình, có quyền im lặng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên toà xét xử BLTTHS Nhật Bản quy định các quyền của bị cáo nói chung và quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội nói riêng tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo trước các cáo buộc của công tố viên, hạn chế việc lạm quyền của các cơ quan có thẩm quyền, đảm bảo quá trình xét xử được khách quan, công bằng

1.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội

Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội là tiền đề quan trọng để đảm bảo thực thi nguyên tắc suy đoán vô tội, trách nhiệm chứng minh tội phạm và quyền bào chữa Như đã trình bày ở trên, quyền này đã được quy định từ rất lâu trong Bộ luật TTHS của nhiều nước dưới cái tên tương tự là “quyền im lặng” và tỏ ra có hiệu quả trong việc đảm bảo quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

BLTTHS năm 2003 có nhiều quy định liên quan đến quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người BBT Tuy nhiên, đây chỉ là những quy định không rõ ràng hay có sự đề cập một cách trực tiếp Do đó, vẫn còn rất nhiều ý kiến trái chiều liên quan đến việc thực tế quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội có

Trang 30

được quy định trong Bộ luật này hay chưa? Liệu rằng quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội có phải là một quyền con người hay không? Hay cần quy định quyền này vào pháp luật như thế nào? Có ý kiến cho rằng quyền này không phải quyền con người Ý kiến khác lại cho rằng quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội phải nằm trong nhóm quyền con người, quyền công dân Một ý kiến khác lại cho rằng quyền này thực chất cần được hiểu là người bị bắt, tạm giam, tạm giữ có quyền không đưa ra chứng cứ bất lợi Điều 10 BLTTHS năm 2003 quy định:“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Vì bị can, bị cáo không phải chứng minh là mình vô tội, cho nên không cần phải khai báo Đây chính là một quy định mặc thị của quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Về vấn đề này, tác giả cho rằng quan điểm này chưa chuẩn xác, vì đây là quy định tất yếu khi ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại Điều 9 Chứng minh tội phạm là trách nhiệm của cơ quan, người THTT để xác định bốn vấn đề:

“1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

2 Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay

vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

3 Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.”

Việc khai báo hay không khai báo của người BBT không là hoạt động chứng minh tội phạm Người BBT có thực hiện hành vi chứng minh mình vô tội hay không, hay không thể chứng minh mình vô tội cũng không thể xem là căn cứ xác định tội phạm Có thể xem đây như là một nguyên tắc trong pháp luật La Mã cổ đại: “Trách nhiệm chứng minh thuộc về người khẳng định, chứ không thuộc về người phủ định”

Trang 31

Như vậy, quy định tại Điều 10 nên được nhìn nhận là nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội

Khoản 4 Điều 209 BLTTHS năm 2003 quy định: “Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án” Không thể xem đây là một quy định về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Về hình thức, quy định này nằm trong thủ tục xét hỏi tại phiên tòa nên chỉ có thể xem đây là một tình huống

mà nhà làm luật đã dự liệu trước những diễn biến tại phiên tòa Xét về nội dung, đây cũng không thể xem là một quyền của bị cáo trong quá trình tố tụng BLTTHS năm

2003 còn có những quy định liên quan đến quyền trình bày lời khai của người BBT Tùy vào từng chủ thể mà Bộ luật TTHS quy định phạm vi quyền này khác nhau:

- Người bị tạm giữ, bị can có quyền trình bày lời khai

- Bị cáo có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa

Người BBT có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến hay đưa ra tài liệu,

đồ vật yêu cầu mà không có nghĩa vụ phải trình bày lời khai Do đó, có nhiều ý kiến cho rằng không cần quy định thêm quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội vì người BBT hoàn toàn có quyền quyết định việc có trình bày lời khai hay không Tuy nhiên, tác giả nhận thấy dù đã ghi nhận quyền trình bày lời khai, ý kiến cho người BBT nhưng vẫn còn sự bất cập, thiếu rõ ràng trong phạm vi các quy định này

BLTTHS năm 2003 chưa có quy định nào rõ ràng về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người BBT Người BBT không có căn cứ để bảo vệ quyền chính đáng của mình khi tham gia tố tụng Mà chính cả người THTT cũng chưa bao giờ giải thích cho người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo về quyền không khai báo (hoặc không có nghĩa vụ khai báo) trước khi tiến hành hỏi cung thẩm vấn với lý do Bộ luật TTHS không quy định đó là một quyền

Trang 32

tố tụng Như vậy, việc không quy định một cơ chế rõ ràng đã làm cho quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội không thể hiện được vai trò bảo vệ quyền của người BBT trong quá trình TTHS

BLTTHS năm 2015 chính thức quy định trực tiếp về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong TTHS so với quy định của BLTTHS năm 2003 Trước đây, BLTTHS năm 2003 chỉ ghi nhận nội hàm của quyền này thông qua một số quy định liên quan Theo đó, Điều 10 về nguyên tắc xác định sự thật vụ án, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Đồng thời, điểm c khoản 2 Điều 48 và điểm c khoản 2 Điều 49 quy định người bị tạm giữ và bị can có quyền trình bày lời khai; điểm g khoản 2 Điều 50 quy định bị cáo có quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa BLTTHS năm 2003 quy định việc trình bày lời khai, ý kiến là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, việc thực hiện hoặc không thực hiện quyền này dựa trên sự tự nguyện về ý chí của họ Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi

là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án, không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội Như vậy, việc quy định không

rõ ràng, thống nhất về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội gây khó khăn trong việc vận dụng, thực hiện quyền trong quá trình giải quyết VAHS, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người bị buộc tội Do đó, BLTTHS năm 2015 đã hoàn thiện, quy định mới về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và thực tiễn của công tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm quyền con người trong TTHS

1.3.1 Quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội được ghi nhận trực tiếp thông qua các quy định về quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Thứ nhất, pháp luật TTHS quy định người bị buộc tội có quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội

Trang 33

Điểm d khoản 1 Điều 58, điểm c khoản 2 Điều 59, điểm d khoản 2 Điều 60, điểm h khoản 2 Điều 61 BLTTHS năm 2015 quy định người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền “Trình bày lời khai, trình bày

ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” Người bị buộc tội có quyền trình bày lời khai, ý kiến của mình khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động tố tụng như lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ; hỏi cung bị can, bị cáo; đối chất; yêu cầu bị can đưa

ra ý kiến, nhận xét khi nhận dạng người, ảnh hoặc vật; yêu cầu người bị bắt, bị tạm giữ, bị can trình bày ý kiến khi nhận biết giọng nói của một người… Theo khoản 2 Điều 183 BLTTHS năm 2015, khi hỏi cung bị can, có thể cho bị can viết bản tự khai của mình Như vậy, BLTTHS năm 2015 ghi nhận sự chủ động, tự nguyện, quyền lựa chọn thái độ hợp tác với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc làm rõ tội phạm, người phạm tội của người bị buộc tội khi trình bày lời khai, ý kiến về các tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm, những thông tin, tình tiết của vụ án (Điều 95, 98 BLTTHS năm 2015) Theo đó, trường hợp người bị buộc tội lựa chọn giữ thái độ im lặng, không trình bày, không khai nhận hành vi phạm tội của mình, hoặc khai báo gian dối thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối và cũng không bị coi hành vi này là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Người bị buộc tội được thực hiện quyền này trong suốt quá trình tố tụng từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi

tố, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS

Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 quy định trường hợp người bị buộc tội đưa

ra lời tự “nhận tội” một cách tự nguyện, lời khai được thu thập đúng theo trình tự, thủ tục của BLTTHS và phù hợp với chứng cứ chứng minh khác thì lời nhận tội đó được chấp nhận, có thể được coi là chứng cứ trong VAHS (khoản 2 Điều 98 BLTTHS năm 2015) Điều luật này xác định trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng thái độ tự nguyện, loại trừ các hành vi trái pháp luật tác

Trang 34

động đến tinh thần, thân thể của người bị buộc tội trong quá trình thu thập lời khai, lời cung của họ

Thứ hai, pháp luật TTHS quy định quyền được thông báo về quyền và nghĩa

vụ của người bị buộc tội

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng (khoản

1 Điều 71 BLTTHS năm 2015) Theo điểm c khoản 1 Điều 58, điểm b khoản 2 Điều

59, điểm b khoản 2 Điều 60, điểm c khoản 2 Điều 61 BLTTHS năm 2015, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của

họ, trong đó có quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Khoản 2 Điều 113, khoản 3 Điều 117 BLTTHS năm

2015 quy định người thi hành lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam, quyết định tạm giữ phải đọc lệnh, quyết định, giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa

vụ của người bị bắt, bị tạm giữ và phải lập biên bản về việc bắt, giao lệnh, quyết định cho người bị bắt Bên cạnh đó, Điều 3 Thông tư 46/2019/TT-BTC [8] quy định khi tiếp nhận người bị bắt, quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ, quyết định khởi tố

bị can cho bị can, người thực hiện lệnh, quyết định, tiếp nhận người bị bắt phải đọc, giải thích rõ về quyền, nghĩa vụ của họ và ghi vào biên bản giao nhận, trong đó thể hiện về việc nhờ người bào chữa và đề nghị thông báo cho người đại diện, người thân thích của họ Theo khoản 2 Điều 183 BLTTHS năm 2015, trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, ĐTV phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ của họ, và phải ghi vào biên bản Khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại

sự có mặt của những người có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập và kiểm tra lý lịch, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ (khoản 3 Điều 301 BLTTHS năm 2015)

Thứ ba, về đảm bảo pháp lý trong trường hợp ghi âm, ghi hình có âm thanh bắt buộc

BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên quy định về việc bắt buộc ghi âm, ghi hình

có âm thanh trong hỏi cung bị can tại khoản 6 Điều 183 ngăn ngừa vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bảo đảm lời khai của bị can được thu

Trang 35

thập đúng đắn theo pháp luật Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi

âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Đồng thời, khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC [9] quy định CQĐT, Viện kiểm sát, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do cá nhân trực tiếp đến tố giác

về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức trực tiếp đến báo tin về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận, ghi vào sổ tiếp nhận, có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận

Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện, sử dụng kết quả ghi âm, ghi hình có âm thanh trong quá trình giải quyết VAHS, Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC TANDTC-BQP [11] được ban hành Theo

đó, ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh là việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật

để ghi lại âm thanh hoặc hình ảnh có âm thanh trong quá trình hỏi cung bị can; lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội, người làm chứng, người bị hại, đương sự; đối chất; tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố [11, khoản 1 Điều 2]

VKSND đã ban hành Quyết định số 264/QĐ-VKSTC [51] nhằm thực hiện thống nhất công tác kiểm sát ghi âm, ghi hình có âm thanh và áp dụng đúng đắn các trường hợp trực tiếp ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can, lấy lời khai trong khởi tố, điều tra, truy tố VAHS Theo đó, các trường hợp có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh: (1) Hỏi cung bị can tại địa điểm khác theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; (2) Trực tiếp tiếp nhận

tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân; (3) Lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, đương sự; (4) Tiến hành đối chất Như vậy, việc tiến hành và kiểm sát thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh được pháp luật TTHS quy định đầy đủ, chặt chẽ nhằm tạo tiền đề quan trọng để bảo vệ

Trang 36

quyền của bị can, bảo đảm việc thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội không bị tác động trái pháp luật làm ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động hỏi cung, lấy lời khai Từ đó, việc ghi

âm hoặc ghi hình có âm thanh được tiến hành khách quan, minh bạch, bảo đảm tính nguyên vẹn, chính xác và giá trị chứng minh của lời khai, lời trình bày

Thứ tư, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội được bảo đảm dựa trên một số nguyên tắc của luật TTHS

(1) Nguyên tắc suy đoán vô tội

Theo Điều 13 BLTTHS năm 2015, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo đúng các trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định

và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Điều này có nghĩa, người bị buộc tội phải được coi là vô tội cho đến khi hành vi và lỗi của người đó được chứng minh theo quy định của BLTTHS và có phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật Mọi nghi ngờ về lỗi đều được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội và phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ [3, tr.15]

Theo Điều 7 BLTTHS năm 2015, mọi hoạt động TTHS phải được thực hiện theo quy định của BLTTHS, không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định Chứng cứ không được thu thập đúng theo trình tự, thủ tục thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết VAHS (Khoản 2 Điều 87 BLTTHS năm 2015) Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố (Điều

358 BLTTHS năm 2015) Như vậy, việc giải quyết VAHS được công khai, minh bạch, đảm bảo quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội, hạn chế những trường hợp người bị buộc tội bị tác động, dẫn dắt để đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc nhận mình có tội trái pháp luật Hành vi khai báo, nhận tội của người bị buộc tội được khuyến khích nhưng không phải là nghĩa vụ bắt buộc trong quá trình chứng minh tội phạm

Trang 37

(2) Nguyên tắc xác định sự thật vụ án

Theo Điều 15 BLTTHS năm 2015, chứng minh tội phạm là trách nhiệm của

cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp hợp pháp do BLTTHS quy định để xác định sự thật của vụ án, phải kiểm tra, đánh giá chứng cứ đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ hợp pháp, không nhận xét, kết luận định kiến, chủ quan, tùy nghi về người bị buộc tội Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng phải thu thập, đánh giá các chứng cứ về vụ án đúng với các tình tiết trên thực

tế đã diễn ra bao gồm toàn bộ các chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội

Đồng thời, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Như vậy, người bị buộc tội không có nghĩa vụ, không bị bắt buộc phải chứng minh sự vô tội của mình Nguyên tắc xác định sự thật vụ án đòi hỏi trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tôn trọng sự thật vụ án, làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến vụ án, bảo đảm việc thực thi quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội

(3) Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trước sự buộc tội của cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng là một trong những nguyên tắc được cụ thể hóa từ khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 Theo Điều 16 BLTTHS năm 2015, nguyên tắc này được thể hiện ở việc người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa

Quyền bào chữa của người bị buộc tội từ khi khởi tố bị can Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ

sở của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc

từ khi có quyết định tạm giữ Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra (điểm g khoản 1 Điều 58, điểm d khoản 2 Điều 59, Điều 74 BLTTHS năm 2015)

Trang 38

Bảo đảm quyền bào chữa được thể hiện rõ nét ở việc người bị buộc tội được trình bày lời khai, ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến

về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc buộc tội mình Bị cáo có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa; nói lời sau cùng trước khi nghị án; xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án (Điều 309, 322, 324, 331 BLTTHS năm 2015) Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa theo hướng có lợi hơn cho mình như bào chữa mình vô tội hoặc phạm tội nhẹ hơn, chỉ phải chịu hình phạt nhẹ hơn, được hưởng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, chịu mức bồi thường thiệt hại ít hơn… so với sự buộc tội của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; theo đó, người bị buộc tội đang thực hiện chủ động, hiệu quả quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội

(4) Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm là một trong những nguyên tắc đổi mới

tư duy lập pháp nhằm bảo đảm sự công bằng, dân chủ, nâng cao chất lượng xét xử Tranh tụng là sự tranh luận, đối đáp theo thủ tục tố tụng để xác định sự thật [42, tr.72] Điều 26 BLTTHS năm 2015 quy định người bị buộc tội, người bào chữa có quyền đưa ra chứng cứ, yêu cầu và đánh giá chứng cứ một cách bình đẳng với ĐTV, KSV, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết VAHS nhằm góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án Theo đó, điểm đ, e khoản 1 Điều 58; điểm đ, e khoản 2 Điều 59; điểm d, e khoản 2 Điều 60; điểm d, e khoản 2 Điều 61; điểm h khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015 đã bổ sung việc người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ, trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan

và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; người bào chữa

có quyền thu thập, đưa ra chứng cứ Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho KSV,

Trang 39

bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án

Thứ năm, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội được bảo đảm thông qua việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát trong TTHS

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm KSV kiểm sát quá trình kiểm tra, xác minh, hoạt động lấy lời khai ban đầu bằng kiểm sát hồ sơ, biên bản lấy lời khai Qua đó, KSV kiểm tra về tính tự nguyện trong lời khai, lời trình bày của người bị buộc tội; việc bảo đảm quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội

- Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế Theo Điều 15, 16, 17, 23 Quyết định 111/QĐ-VKSTC [50], KSV kiểm sát chặt chẽ thẩm quyền, căn cứ, thời hạn, trình tự giữ người trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ, gia hạn tạm giữ; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; tạm giam, gia hạn tạm giam; áp giải, dẫn giải KSV kiểm sát việc thông báo, giải thích

về quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội

- Kiểm sát hoạt động tư pháp để bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của người

bị buộc tội Theo khoản 2 Điều 11 Quyết định 111/QĐ-VKSTC, trong việc kiểm sát

để bảo đảm quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội, KSV kiểm sát việc chuyển đơn yêu cầu người bào chữa; thông báo về đơn yêu cầu nhờ người bào chữa; bảo đảm quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa; việc chỉ định người bào chữa Trong giai đoạn truy tố, KSV tiếp nhận, xử lý đơn yêu cầu bào chữa; đề xuất lãnh đạo tiến hành các thủ tục chỉ định người bào chữa cho bị can; bố trí thời gian, địa điểm và kiểm sát chặt chẽ bị can, người bào chữa thực hiện yêu cầu theo Điều 82 BLTTHS năm 2015

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra VAHS

Trang 40

Một là, kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can Điều 183 BLTTHS năm 2015 quy định KSV tham gia hỏi cung bị can khi xét thấy cần thiết KSV kiểm sát hỏi cung bị can, xem xét cách đặt câu hỏi của ĐTV, câu trả lời của bị can KSV kiểm tra việc phổ biến quyền, nghĩa vụ bị can, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội trước khi hỏi cung lần đầu Theo khoản 4 Điều

50 Quyết định 111/QĐ-VKSTC, KSV trực tiếp hỏi cung bị can khi bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai của bị can… Qua đó, KSV kiểm tra tính hợp pháp của các hoạt động điều tra, xem xét ĐTV có sử dụng các biện pháp trái luật để yêu cầu bị can khai báo hay không

Hai là, kiểm sát đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói Theo Điều 52, 53 Quyết định số 111/QĐ-VKSTC, KSV phải có mặt để kiểm sát việc đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, nếu vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản KSV kiểm sát căn

cứ, trình tự, thành phần tham gia Trong đó, kiểm tra việc đưa ra các câu hỏi của ĐTV, theo dõi việc thực hiện quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của bị can và những người tham gia đối chất

- Trong giai đoạn truy tố, căn cứ khoản 3 Điều 236 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát thực hiện một số hoạt động điều tra (hỏi cung bị can, lấy lời khai, đối chất…) nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho CQĐT KVS tập trung làm rõ việc bảo đảm quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Đồng thời, VKSND bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng khi ban hành bản cáo trạng đúng đắn

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử VAHS

Một là, tham gia xét hỏi Theo khoản 4 Điều 24 Quyết định 505/QĐ-VKSTC [49] khi KSV xét hỏi bị cáo cần đặt câu hỏi khách quan, rõ ràng, tránh kết luận ngay

để đảm bảo quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của bị cáo

Hai là, luận tội, tranh luận Theo Điều 321 BLTTHS năm 2015, luận tội của KSV căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa, ý

Ngày đăng: 27/09/2023, 08:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2  Câu trả lời lựa chọn  Số người trả lời  Tỷ lệ - Luận án thạc sĩ luật học quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự việt nam
Bảng 2 Câu trả lời lựa chọn Số người trả lời Tỷ lệ (Trang 90)
Bảng 1  Câu trả lời lựa chọn  Số người trả lời  Tỷ lệ - Luận án thạc sĩ luật học quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự việt nam
Bảng 1 Câu trả lời lựa chọn Số người trả lời Tỷ lệ (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w