Một trong những công cụ đắc lực giúpNhà nước đó chính là ngân sách Nhà nước.Trong những năm qua thì vai trò của ngânsách Nhà nước đã được thể hiện rõ trong việc giúp Nhà nước hình thành
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Một nhà nước dù tồn tại trong bất kì giai đoạn nào của lịch sử đều luôn cố gắnghoàn thành được sứ mạng lịch sử của nó Để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao,nhà nước cần có những công cụ riêng của mình Một trong những công cụ đắc lực giúpNhà nước đó chính là ngân sách Nhà nước.Trong những năm qua thì vai trò của ngânsách Nhà nước đã được thể hiện rõ trong việc giúp Nhà nước hình thành các quan hệthị trường góp phần kiểm soát lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó làm lành mạnhhoá nền tài chính quốc gia, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế.Tuy nhiênbên cạnh những mặt tích cực đó thì việc sử dụng ngân sách Nhà nước hiện nay cònnhiều bất cập, chưa đúng cách, đúng lúc, cấp vốn đầu tư chưa hiệu quả, sự yếu kémtrong việc quản lí thu chi ngân sách đã đặt ra một vấn đề rất đáng quan tâm khi xem xét
về ngân sách Nhà nước Thực tế đó cho thấy chúng ta cần phải có cái nhìn sâu hơn vềngân sách Nhà nước và tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước vì ảnh hưởng của thâmhụt ngân sách Nhà nước đến các hoạt động kinh tế - xã hội là hết sức to lớn
Vậy thế nào là thâm hụt ngân sách Nhà nước?nguyên nhân nào dẫn đến thâmhụt? ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách Nhà nước đến tình hình kinh tế - xã hội là nhưthế nào? thực trạng và các biện pháp xử lí bội chi ngân sách Nhà nước ở nước ta hiệnnay như thế nào? Trong thời gian tới để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế cao và ổnđịnh thì liệu nước ta có chấp nhận một mức bội chi ở mức cao hay không? Tất cảnhững vấn đề nói trên đã và đang đặt ra nhiều đòi hỏi đối với các nhà nghiên cứu, cácnhà hoạch định chính sách để có thể tìm ra những nguyên nhân và các biện pháp xử lítình hình bội chi ngân sách Nhà nước Trong phạm vi của một đề án môn học với đề
tài "Ngân sách nhà nước và thâm hụt ngân sách nhà nước" em xin đề cập đến một số
vấn đề như sau: khái quát hoá những vấn đề cơ bản về ngân sách Nhà nước và bội chingân sách Nhà nước, chỉ ra thực trạng về sử dụng ngân sách Nhà nước, cân đối và bộichi ngân sách Nhà nước ở nước ta hiện nay và những kiến nghị giải pháp xử lí bội chingân sách Nhà nước
Do sự hạn chế về thời gian và sự hiểu biết về đề tài còn chưa sâu sắc, đề an của
em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo
Trang 2CHƯƠNG 1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Ngân sách nhà nước
1.1 Quan niệm về ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là một bảng dự toán và thực hiện các khoản thu ,chi tàichính của nhà nước trong khoảng thời gian thường là một năm (năm tài chính bắt đầu
từ ngày 1/1 đến ngày 31/12 của năm đó)
Ngân sách nhà nước do Quốc hội xem xét và quyết định thông qua tình hìnhthực hiện ngân sách năm trước,nhiệm vụ thu chi của ngân sách nhà nước năm nay,tìnhhình bội chi ngân sách nhà nước,các giải pháp bù đắp bội chi ngân sách,các khoản nợnhà nước đến hạn
Về mặt hình thức thì ngân sách nhà nước là một bảng cân đối tổng hợp cáckhoản thu và chi Còn về mặt nội dung kinh tế thì ngân sách nhà nước phản ánh cácquan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân và cácnguồn tiền tệ khác nhằm hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập chung lớn nhất của nhànước,thực hiện chức năng nhà nước
Hàm ngân sách đơn giản có dạng sau:
B = -G + tYTrong đó: B là cán cân ngân sách
G là chi tiêu ngân sách
tY là thu ngân sách
1.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Để hiểu thế nào là ngân sách Nhà nước thì có rất nhiều quan niệm khác nhau,hiện nay có hai quan niệm phổ biến về ngân sách Nhà nước Quan niệm thứ nhất chorằng: ngân sách Nhà nước là bản dự toán thu chi tài chính của Nhà nước trong mộtkhoảng thời gian nhất định, thường là một năm Quan niệm thứ hai cho rằng: ngân sáchNhà nước là quỹ tiền tệ của Nhà nước Các quan niệm trên về ngân sách Nhà nước đãkootj tả được mặt cụ thể, mặt vật chất của ngân sách Nhà nước, nhưng lại chưa thể hiệnđược nội dung kinh tế xã hội của ngân sách Nhà nước Tròn thực tế, nhìn bề ngoài hoạtđộng ngân sách Nhà nước là hoạt động thu chi tài chính của Nhà nước Hoạt động đó
Trang 3được biểu hiện một cách đa dạng và phong phú, được tiến hành hầu hết trên các lĩnhvực văn hóa, chính trị xã hôi, kinh tế… nó tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội Tuyvậy, nhưng chúng có những đặc điểm chung sau:
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước luôn gắn liền với
quyền lực của Nhà nước và phuc vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước,được Nhà nước tiến hành trên cơ sở luật định Đây cũng chính là điểm khác biệt gũangân sách Nhà nước với các khoản tìa chính khác Các khoản thu NSNN đều mang tínhchất pháp lý, còn chi ngân sách Nhà nước mang tính chất cấp phát “ không hoàn trảtrực tiếp” Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội Nhànước đã sử dụng để quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thểnhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước với tư cách là một chủ thể.Các hoạt động thu chi NSNN đều tiến hành theo cơ sở nhất định đó là các luật thuế, cế
độ thu chi…do Nhà nước ban hành, đồng thời các hoạt động luôn chịu sự kiểm tra củacác cơ quan Nhà nước
Ngân sách Nhà nước nó luôn luôn chứa đựng nhựng lợi ích về mặt kinh tế, chínhtrị, ngoại giao, xã hội…Nhưng lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể bao giờ cũng phải đượcđặt lên hàng đầu và chi phối các lợi ích khác
Thứ hai, ngân sách Nhà nước luôn gắn chặt vơi Nhà nước chưa đụng những lợi
ích chung và công, hoạt động thu chi của ngân sách Nhà nước là thể hiện qua các mặtkinh tế - xã hội của Nhà nướcNgân sách Nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của Nhànước được chia ra làm nhiều quỹ nhỏ, mỗi một quỹ nhỏ có những tác dụng riêng rồisau đó mới được chia dung cho những mục đích
Thứ ba, cũng như các quỹ tiền tệ khác ngân sách Nhà nước cũng có đặc điểm
riêng của một quỹ tiền tệ, nó là quỹ tiền tệ tập chung của Nhà nước được chia ra thànhnhiều quỹ nhỏ Mỗi quỹ có tác dụng riêng rồi sau đó mới được chia dung cho nhữngmục đích
Thứ tư, hoạt động thu cho ngân sách Nhà nước được thể hiện theo nguyên tắc
không hoàn trả lại trực tiêp đối với người có thu nhập cao nhằm mục đích rútruts ngắnkhoản thời gian giữa người giàu và người nghèo nhằm công bằng cho xã hội ví dụ: xâydựng đường xá, an ninh quốc phòng…” người chịu thuế sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa
Trang 4này nhưng hoàn trả một cách trực tiếp Bên cạnh đó ngân sách còn chi cho các quỹchính sách, trợ cấp thiên tai
1.3 Vai trò của ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xãhội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của ngânsách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định.Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đốivới toàn bộ nền kinh tế, xã hội
Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướngphát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội
1.3.1 Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế
Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kíchthích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền
Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đivào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điềukiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững
Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho
cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ
sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực,viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp) Bên cạnh
đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện phápcăn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranhkhông hoàn hảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sáchcũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảotính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn.Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngânsách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chếsản xuất kinh doanh
Trang 51.3.2 Giải quyết các vấn đề xã hội
Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặcbiệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàngthiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống
1.4 Thu ngân sách nhà nước
1.4.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các khoảnthu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ củamình Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình đểtập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằmthỏa mãn các nhu cầu của nhà nước
Ở Việt Nam, Đứng về phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoảntiền Nhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Vềmặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hộiphát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nênquỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình ThuNSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bịràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp Theo Luật NSNN hiệnhành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm:
- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;
Trang 6- Các khoản viện trợ;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Cần lưu ý là không tính vào thu NSNN các khoản thu mang tính chất hoàn trảnhư vay nợ và viện trợ có hoàn lại Vì thế, các văn bản hướng dẫn Luật NSNN (Nghịđịnh 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ và Thông tư 59/2003/TT-BTCngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính) chỉ tính vào thu NSNN các khoản viện trợ khônghoàn lại; còn các khoản viện trợ có hoàn lại thực chất là các khoản vay ưu đãi khôngđược tính vào thu NSNN
1.4.2 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị vàthực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Mọi khoản thu của nhà nước đềuđược thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước
Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế;biểu hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp làchủ yếu
1.4.3 Nội dung thu ngân sách nhà nước
- Thuế : là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giaodịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập,hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội
- Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối giá,nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nước khi họhưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp So với thuế, tính pháp lý của phí và lệphí thấp hơn nhiều Phí gắn liền với với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phíđầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình Lệ phí gắn liền với việc thụhưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân
và pháp nhân
- Các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước
Các khoản thu này bao gồm:
+ Thu nhập từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế có vốn gópthuộc sở hữu nhà nước
Trang 7+ Tiền thu hồi vốn tại các cơ sở của nhà nước;
+ Thu hồi tiền cho vay của nhà nước
- Thu từ hoạt động sự nghiệp
Các khoản thu có lãi và chênh lệch từ các hoạt động của các cơ sở sự nghiệp
có thu của nhà nước
- Thu từ bán hoặc cho thêu tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước : Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang tính chấtphân phối lại, vừa có tính chất phân phối lại, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sửdụng tài sản quốc gia vừa tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Các nguồn thu từbán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên, thiên nhiên; thu về bán tài sản thuộc sở hữu nhànước
- Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản
Các khoản thu này cũng là một phần thu quan trọng của thu ngân sách nhànước và được pháp luật quy định
1.4.4 Yếu tố ảnh hưởng thu ngân sách nhà nước
- Thu nhập GDP bình quân đầu người
- Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế
- Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên
- Tổ chức bộ máy thu ngân sách
1.4.5 Nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách
Các nguyên tắc định hướng :
- Nguyên thu thuế theo lợi ích
- Nguyên tắc thu theo khả năng
Các nguyên tắc thực hiện thực tế:
- Nguyên tắc ổn định và lâu dài
- Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng
- Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn
- Nguyên tắc đơn giản
1.4.6 Các giải pháp tăng thu ngân sách nhà nước
Một là, trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia
Trang 8tái tạo và phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản,tài nguyên vì mục đích trước mắt.
Hai là, chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách nhànước, vừa khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư
Ba là, chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được đặttrên cơ sở thu nhập và mức sống của dân
Bốn là, dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quantrọng trong những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới
Năm là, nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệmtiêu dùng, tinh giản bộ máy, cải cách hành chính để tích lũy vốn chi cho đầu tư
1.5 Chi ngân sách nhà nước
1.5.1 Khái niệm chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nướcnhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã đượctập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng Do đó, Chingân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng màphải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng củanhà nước
Quá trình của chi ngân sách nhà nước:
- Quá trình phân phối: là quá trình cấp phát kinh phí từ ngân sách nhà nước đểhình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng;
- Quá trình sử dụng: là trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sáchnhà nước mà không phải trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sửdụng
1.5.2 Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế,chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ
Chi ngân sách nhà nước gắn với quyền lực nhà nước
Các khoản chi của ngân sách nhà nước được xem xet hiệu quả trên tầm vĩ mô.Các khoản chi của ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp
Trang 9Các khoản chi của ngân sách nhà nước gắn chặt với sự vận động của các phạmtrù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng, v.v (cácphạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ).
1.5.3 Nội dung của chi ngân sách nhà nước
1.5.3.1 Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm:
Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng
cơ bản, khấu hao tài sản xã hội
Chi bảo đảm xã hội, bao gồm:
- Lương hưu và trợ cấp xã hội
- Các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động kinh tế
- Quản lý hành chính
- An ninh, quốc phòng
- Các khoản chi khác
- Dự trữ tài chính
- Trả nợ vay nước ngoài, lãi vay nước ngoài
1.5.3.2 Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước đựoc chia ra:
Tiêu dùng cuối cùng (của Nhà nước): các khoản chi thường xuyên cho mua sắmcủa các cơ quan Nhà nước;
Đầu tư kết cấu hạ tầng: xây dựng cơ bản và khấu hao tài sản;
Phân phối và tái phân phối xã hội: lương công nhân viên chức và các khoản trợcấp xã hội, hưu trí
Trang 101.5.4 Phân loại chi ngân sách nhà nước
1.5.4.1 Căn cứ vào mục đích, nội dung :
- Nhóm 1: Chi tích lũy của ngân sách nhà nước là những khoản chi làm tăng
cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu
tư phát triển và các khoản tích lũy khác
- Nhóm 2: Chi tiêu dùng của ngân sách nhà nước là các khoản chi không tạo
ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai; bao gồm chi cho hoạt động sựnghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh
1.5.4.2 Căn cứ theo yếu tố thời hạn và phương thức quản lý
- Nhóm chi thường xuyên bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt độngthường xuyên của nhà nước
- Nhóm chi đầu tư phát triển nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nước vàthúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Nhóm chi trả nợ và viện trợ bao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiệnnghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoảnchi làm nghĩa vụ quốc tế
- Nhóm chi dự trữ là những khoản chi ngân sách nhà nước để bổ sung quỹ dựtrữ nhà nước và quỹ dự trữ tài chính
1.5.5 Yếu tố ảnh hưởng đến chi ngân sách nhà nước
- Chế độ xã hội là nhân tố cơ bản
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Khả năng tích lũy của nền kinh tế
- Mô hình tổ chức bộ máy của nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, xã hộicủa nhà nước trong từng thời kỳ
1.5.6 Nguyên tắc tổ chức chi ngân sách nhà nước
- Nguyên tắc thứ nhất: gắn chặt các khoản thu để bố trí các khoản chi
- Nguyên tắc thứ hai: đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả
- Nguyên tắc thứ ba: theo nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm, nhất làcác khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội
- Nguyên tắc thứ tư: tập trung có trọng điểm
Trang 11- Nguyên tắc thứ năm: phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của cáccấp theo quy định của luật;
- Nguyên tắc thứ sáu: phối hợp chặt chẽ với khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỷ giáhối đoái
2 Thâm hụt ngân sách nhà nước
2.1 Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước
Thâm hụt ngân sách nhà nước là tình trạng các khoản thu ngân sách nhỏ hơn cáckhoản chi.Thâm hụt ngân sách được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm so với GDP(khi tínhngười ta thường tách riêng các khoản thu mang tính hoán trả trực tiếp như viện trợ,vay
nợ ra khỏi số thu thường xuyên và coi đó là nguồn tài trợ cho thâm hụt ngân sách)
B < 0 :Thâm hụt ngân sách (B là hiệu số giữa thu và chi)
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân sách nhà nước làđảm bảo sự cân đối giũa thu và chi.Tuy nhiên do khả năng nguồn thu bị hạn chế vàtăng chậm ,thời kỳ vừâ qua(1976 đến nay) các nhu cầu chi lại tăng nhanh nên ngânsách nhà nước mới bội chi kinh niên.Thâm hụt ngân sách cũng là hiện tượng phổ biến
ở các quốc gia trên toàn thế giới
2.2 Nguyên nhân thâm hụt ngân sách nhà nước
2.2.1 Nhóm nguyên nhân khách quan:
Tác động của chu kỳ kinh doanh là nguyên nhân cơ bản nhất trong số các nguyênnhân khách quan gây ra bội chi ngân sách nhà nước Khủng hoảng làm cho thu nhậpcủa Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên (để giải quyết những khó khăn mới
về kinh tế và xã hội) Điều đó làm cho mức bội chi ngân sách nhà nước tăng lên ở giaiđoạn kinh tế thịnh vượng, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăngtương ứng
Điều đó làm giảm mức bội chi ngân sách nhà nước
Những nguyên nhân khách quan khác có thể kể ra như thiên tai, địch hoạ v.v Nếu gây tác hại lớn cho nền kinh tế thì chúng sẽ là những nguyên nhân làm giảm thu,
tăng chi và dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước
Trang 122.2.2 Nhóm nguyên nhân chủ quan:
Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước là nguyên nhân cơ bản nhấttrong số các nguyên nhân chủ quan gây ra bội chi ngân sách nhà nước Khi Nhà nướcthực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chingân sách nhà nước Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhànước thì mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt
Những nguyên nhân chủ quan khác như sai lầm trong chính sách, trong công tácquản lý kinh tế - tài chính v.v làm cho nền kinh tế trì trệ cũng có thể dẫn tới bội chingân sách nhà nước
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn, ),tổng hợp của bội chi do chu kỳ và bội chi do cơ cấu sẽ là bội chi ngân sách nhà nước.Bội chi ngân sách nhà nước tác động đến kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào cách
bù đắp bội chi.Mỗi cách bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô
Nếu Nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhànước sẽ kéo theo lạm phát
Nếu vay nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài
Nếu giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủnghoảng tỷ giá
Nếu vay quá nhiều trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bộichi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng
Hiện nay, Nhà nước ta kiên quyết không phát hành thêm tiền để bù đắp bội chingân sách nhà nước
Vay nợ (trong nước, ngoài nước) được xem là giải pháp bù đắp bội chi ngân sáchnhà nước một cách hữu hiệu Kinh nghiệm mấy chục năm cải cách của Trung Quốccho hay tỷ lệ giữa nợ trong nước và nước ngoài nên ở mức 1,4 :1.Tuy vậy, mức độ nợphải nằm trong giới hạn hợp lý
2.3 Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơcấu và thâm hụt chu kỳ
Trang 132.3.1 Thâm hụt cơ cấu :
Là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chínhphủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục,quốc phòng,
2.3.2 Thâm hụt chu kỳ :
Là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức
độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ
lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngânsách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán nhưsau:
- Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiềntrong một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm)
- Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là baonhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng
- Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơcấu
Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khácnhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tựđộng
Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánhgiá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mởrộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chínhphủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳkinh tế
2.4 Tác động của thâm hụt ngân sách nhà nước đối với nền kinh tế
2.4.1 Thâm hụt ngân sách và vấn đề thoái lui đầu tư
Theo “thuyết tương đương” của Ricardo khi có tình trạng thâm hụt ngân sách thìtiết kiệm của dân chúng tăng lên bằng mức thâm hụt.Vì thế sẽ không ảnh hưởng đến lãisuất,không gây cản trở đầu tư
Trang 14Tuy nhiên qua thực tế ở nhiều nước khi ngân sách nhà nước thâm hụt ,chităng ,thu giảm,GNP sẽ tăng lên theo hệ số nhân,nhu cầu về tiền tăng theo.Với mứccung về tiền cho trước,lãi suất sẽ tăng lên,bóp nghẹt một số đầu tư.Kết quả là một phầnGNP tăng lên có thể bị mất đi do thâm hụt cao,kéo theo tháo lui đầu tư với quy mô nhỏnếu trong ngắn hạn và quy mô lớn nếu trong dài hạn.Từ đó làm giảm sự tăng trưởngkinh tế
2.4.2 Thâm hụt ngân sách – một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát
Để thấy rõ điều này trước hết ta cần hiểu lạm phát là gì?
“Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.”
Khi ngân sách thâm hụt lớn,chính phủ có thể in thêm tiền để trang trải,lượngtiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây ra lạm phát.Khi giá cả đã tăng lên thì
sự thâm hụt mới lại nảy sinh đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếptục tăng vọt.Mà tác hại của lạm phát là rất lớn như phân phối lại thu nhập và của cảimột cách ngẫu nhiên,gây biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong nền kinhtế Như vậy, nghĩa là thâm hụt ngân sách nhà nước gián tiếp gây ra các tác động trênlàm tổn hại đến nền kinh tế
Tuy nhiên,lạm phát cũng có tác động ngược đến thâm hụt ngân sách nhànước.Với tác động phân phối lại của cải một cách ngẫu nhiên thì lạm phát cũng làm dễdàng hơn cho chính phủ trong một chừng mực nhất định:
Thứ nhất,Chính phủ có thêm một nguồn thu nhập đó là thuế lạm phát
Thứ hai,Chính phủ có thể được lợi nếu lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩatăng ít hơn bản thân mức tăng của lạm phát
Và như vậy mức thâm hụt ngân sách có thể giảm
2.4.3 Nợ quốc gia và những bất ổn trong nền kinh tế
Quy mô nợ công của Chính phủ tùy thuộc vào số nợ vay là để tài trợ cho tiêudùng hay đầu tư và hiệu quả của việc đầu tư đó đến đâu Nếu chính phủ chấp nhận bộichi để tài trọ cho các dự án có hiệu quả, có khả năng sinh lời trong dài hạn, thì chính lợitức từ dự án lại tạo ra và làm tăng nguồn thu trong dài hạn cho ngân sách nhà nước,giúp NSNN trả được gốc và lãi cho các khoản vay tài trợ bội chi trong quá khứ Trườnghợp bội chi NSNN được sử dụng cho mục đích tiêu dùng tức thời thì phần lớn ảnh
Trang 15hưởng của nó chỉ tác động đến tổng cầu trong ngắn hạn (tại thời điểm bội chi xảy ra),
và trong dài hạn nó không tai ra một nguồn thu tiềm năng cho ngân sách mà chính nólàm nặng nề hơn khoản nợ công trong tương lai
2.4.4 Ảnh hưởng tới cán cân thương mại
Hiệu số giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong khoản giao dịch còn gọi là cán cânthương mại.Các hoạt động xuất và nhập khẩu hàng hoá không chỉ được đánh giá thôngqua số lượng mà còn được đánh giá thông qua tỷ lệ trao đổi.Tỷ lệ trao đổi ở đây là tỷ sốgiữa giá hàng xuất khẩu của một nước và giá hàng nhập khẩu ccủa bản thân nước
đó Như vậy ,nếu như giá xuất khẩu tăng lên một cách tương đối so với hàng nhập khẩuthì cán cân thương mại sẽ được tăng cường theo hướng tích cực và ngược lại ( nếu nhưkhối lượng hàng không thay đổi )
Như ta đã phân tích ở trên , tình trạng thâm hụt ngân sách sẽ làm cho lãi suất thịtrường tăng.Lãi suất tăng làm cho giá trị đồng nội tệ tăng,giá hàng hoá trong nước theo
đó cũng tăng làm giảm lượng hàng xuất khẩu.Trong khi tương ứng,hàng hoá của đấtnước khác sẽ rẻ tương đối so với nước đó,dẫn tới việc tăng lượng hàng nhập khẩu Vìvậy ,thâm hụt ngân sách sẽ gây ra tình trạng nhập siêu:Nhập vào lớn hơn xuất ra,việc
sử dụng hàng hoá sản xuất trong nước bị hạn chế ,sản xuất gặp nhiều khó khăn,tácđộng không ít tới sự tăng trưởng kinh tế
Nước Mỹ từ những năm 80 khi R.RI GÂN lên làm tổng thống tình trạng thâmhụt ngân sách trở nên trầm trọng,lần đầu tiên trong lịch sử vượt qua con số trên 100 tỷUSD,ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và tình hình xuất nhập khẩu,ta có thể thấy rõ điều
đó qua bảng số liệu sau (tỷ USD )
Bảng 1 : Thâm hụt ngân sách Mỹ năm 1988
NSNN
Để xử lý tình trạng thâm hụt ngân sách có nhiều giải pháp khác nhau,nhưng biệnpháp nào ưu việt ,mang lại hiệu quả kinh tế cao thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
Trang 16điều kiện kinh tế,tình hình thực tế mỗi nước.Từ đó mới đưa ra phương thức tài trợ thíchhợp, và như vậy chúng ta sẽ nghiên cứu
2.4.5 Ảnh hưởng đến thực hiện phúc lợi xã hội
Hàng năm, ngân sách Nhà nước dành ra một khoản chi rất lớn để thực hiện phúclợi xã hội như chi sự nghiệp giáo dục, chi sự nghiệp y tế, chi sự nghiệp văn hóa, nghệthuật, chi sự nghiệp xã hội Các khoản chi sự nghiệp giáo dục nhằm mục đích nâng caotrình độ dân trí của các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm góp phần thúc đầy tăngtrưởng kinh tế và cải thiện đời sống cho nhân dân Chi sự nghiệp y tế khoản chi phục
vụ công tác phòng bệnh và chữa bệnh nhằm nâng cao mức sống cho mọi người dântrong xã hội Việc nâng cao chất lượng hoạt động khám, chữa bệnh và tăng cường trang
bị cơ sở vật chất, kỹ thuật cho một nền y học hiện đại đòi hỏi cần thêm nhiều nguồnvốn nữa Khoản chi cho các vấn đề xã hội nhằm bảo đảm đời sống của người lao độngkhi gặp khó khăn, tai nạn, già yếu, những người không có khả năng lao động đồng thờigiải quyết những vấn đề xã hội nhất định, hỗ trợ cho đồng bào khi xảy ra bão lụt, thiêntai Khoản chi này đặc biệt cần thiết ở Việt Nam khi nước ta thường xuyên xảy ra thiêntai, bão lụt, mất mùa ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân Để bù đắpthâm hụt ngân sách nhà nước trong thời gian dài, Nhà nước phải cắt giảm các khoảnchi tiêu của Chính phủ làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện phúc lợi xã hộinhằm hỗ trợ và cải thiện đời sống cho người dân
Trang 17đã cắt giảm dần viện trợ của họ cho nước ta Trước tình hình khó khăn đó, Đảng ta tiếnhành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quanliêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có định hướng XHCN Với những bước đi chậpchững ban đầu, chính sách tài chính đã có đổi mới một bước Tuy nhiên, thu NSNNcàng không đủ chi và bù đắp thâm hụt NSNN không chỉ phải vay trong và ngoài nước
mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành
Chính yếu kém về NSNN nêu trên, là một yếu tố quan trọng gây nên lạm pháttrong thập kỉ 80 của thế kỉ XX Chi NSNN đã tăng cao tới mức bùng nổ ở trong nhữngnăm 1985-1988, đã gây ra thâm hụt NSNN trầm trọng vì không có sự tăng lên tươngứng về số thu Giai đoạn từ năm 1986 - 1990, khi mà tỷ lệ tích luỹ nội bộ nền kinh tếrất thấp (có thể nói là không đáng kể), làm không đủ ăn thì tỷ lệ chi đầu tư phát triểnnhư ở đồ thị 1 là quá lớn và nguồn bù đắp cho thâm hụt NSNN lại chủ yếu do tiền pháthành thì lạm phát cao là điều khó tránh khỏi
Trang 18Biểu đồ 1: Tổng bội chi NSNN và tiền phát hành để bù đắp bội chi NSNN
(1985 - 1990) (Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Trong thời gian 5 năm 1986 - 1990, 59,7% mức thâm hụt này được hệ thốngNgân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền Năm 1984, phát hành tiền để bù đắpthâm hụt ngân sách là 0,4 tỷ đồng, năm 1985: 9,3 tỷ đồng, năm 1986: 22,9 tỷ đồng,năm 1987: 89,1 tỷ đồng, năm 1988: 450 tỷ đồng, năm 1989: 1655 tỷ đồng và năm 1990
là 1200 tỷ đồng Số còn lại được bù đắp bằng các khoản vay nợ và viện trợ của nướcngoài (so với bội chi, khoản vay và viện trợ năm 1984 là 71,3%, năm 1985 là 40,8%,năm 1986: 38,4%, năm 1987: 32,1%, năm 1988: 32,6%, năm 1989: 24,9%, năm 1990
là 46,7%) và một số nhỏ do các khoản thu từ bán công tráitrong nước
Mặc dù có nhiều cố gắng đáng kể trong năm 1989, nhưng tình trạng thiếu hụtNSNN vẫn trầm trọng Tổng chi đã tăng gấp đôi so với năm 1988, một phần do lạmphát chuyển từ năm 1988 sang và đã làm tăng giá đáng kể một số mặt hàng và dịch vụthiết yếu do Nhà nước cung cấp Tất cả những phân tích ở trên cho thấy, có nhiềunguyên nhân gây ra lạm phát cao trong giai đoạn từ năm 1986-1990, trong đó có việc
bù đắp thâm hụt NSNN bằng sự phát hành tiền như ở đồ thị 1
0 500 1000 1500 2000 2500
1986 1987 1988 1989 1990
Tiền phát hành để bù đắp bội chi NSNN Thâm h ụ t NSNN
Trang 191.2 Giai đoạn 1991-1995
Bước vào giai đoạn từ năm 1991-1995, tình hình đất nước đã có nhiều chuyểnbiến tích cực, sản xuất và lưu thông hàng hoá đã có động lực mới, tình trạng thiếulương thực đã được giải quyết căn bản, lạm phát siêu mã đã được đẩy lùi, nhưng lạmphát cao vẫn còn Cơ cấu chi NSNN đã dần dần thay đổi theo hướng tích cực Nguồnthu trong nước đã đủ cho chi thường xuyên, tình trạng đi vay hoặc dựa vào phát hànhcho chi thường xuyên đã chấm dứt Trong giai đoạn này, chi đúng đối tượng, có hiệuquả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội được đặt ra Nhờ những giải pháp trên, số thâmhụt NSNN đã giảm dần qua từng năm và được bù đắp bằng vay của dân và vay nướcngoài Trong giai đoạn từ năm 1991-1995, tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức1,4% đến 4,17% (1991: 1,4%, 1992:1,5%, 1993: 3,9%, 1994: 2,2% và năm 1995 là4,17%) Như vậy, có thể thấy bội chi NSNN trong những năm 1991-1995 là rất thấp,thể hiện chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ trong thời kỳ này và đây cũng làyếu tố rất quan trọng góp phần kiềm chế lạm phát
1.3 Giai đoạn 1996-2000
Giai đoạn từ năm 1996-2000, tình hình thu chi NSNN đã có nhiều chuyển biến tíchcực, thu không những đủ chi thường xuyên mà còn cho đầu tư phát triển, thâm hụtNSNN được khống chế ở mức thấp Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 1996-2000, do tácđộng của khủng hoảng tài chính ở các nước Đông Nam Á nên nền kinh tế có gặp không
ít khó khăn Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm dần từ năm 1996 đến năm 1999 và đếnnăm 2000, tốc độ này mới tăng lên chút ít, chặn đứng đà giảm sút Trong những nămnày, tỷ lệ bội chi NSNN ở mức từ 3,0% GDP năm 1996 lên 4,95% GDP năm 2000(năm 1996: 3%, năm 1997: 4,05%, năm 1998: 2,49%, năm 1999: 4,37%, năm 2000:4,95%) Tỷ lệ bội chi bình quân 5 năm là 3,87% GDP, cao hơn mức bình quân năm1991-1995 (2,63%) Năm 2000 có mức bội chi cao nhất là 4,95% GDP và năm 1998 cómức bội chi thấp nhất là 2,49% Đây là thời kỳ suy thoái và thiểu phát, nên mức bội chiNSNN như trên không tác động gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tếchuyển sang giai đoạn đi lên
Trang 201.4 Giai đoạn 2001-2007
Giai đoạn từ năm 2001-2007, NSNN cũng đã có chuyển biến đáng kể Tốc độtăng thu hằng năm bình quân là 18,8% Tốc độ tăng chi bình quân hằng năm đạt18,5% Bội chi NSNN trong giai đoạn này về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP vàthực hiện ở mức 4,9%-5% GDP Nếu chỉ xét ở tỷ lệ so với GDP, cũng thấy bội chiNSNN trong 7 năm trở lại đây tăng cao hơn các năm trước đó khá nhiều (bình quânkhoảng 4,95% GDP) vì giai đoạn năm 1991-1995, mức bội chi NSNN so với GDP chỉ
ở mức 2,63% và giai đoạn từ năm 1996-2000 ở mức 3,87% so với GDP (Xem đồ thị 2)
Biểu đồ 2: Bội chi NSNN so với GDPĐồ thị 2: Bội chi NSNN so với GDP
mà cao hơn (khoảng 5,8-6,2% GDP)