1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính trị học Vai trò của Đảng chính trị đối với sự phát triển của các quốc gia. Phân tích trường hợp Đảng Cộng sản Việt Nam

42 17 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của Đảng chính trị đối với sự phát triển của các quốc gia. Phân tích trường hợp Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả Phạm Đỗ Phương
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 193,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố lãnh đạo nhân không thể thay đổi trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Kể từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng tháng Tám thành công đánh dấu một bức ngoặt quan trọng của Đảng và nhân dân Việt Nam. Đối với Đảng, đó là sự biến chuyển sâu sắc vai trò của Đảng từ là đảng lãnh đạo sang đảng cầm quyền, là đảng đã có chính quyền trong tay. Đối với nhân dân Việt Nam, đó là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Lần đầu tiên, nhân dân được làm chủ đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, dưới ngọn cờ cách mạng vô sản. Khi đã có chính quyền trong tay, Đảng bắt tay vào xây dựng và bảo về nền độc lập non trẻ của nhân dân, lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành công hai cuộc kháng chiến cứu nước vị đã là kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngày 3041975, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng vô điều kiện, non sông thu về một mối, nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, tự do. Tuy nhiên, hòa bình chưa được bao lâu thì nhân dân ta lại phải bắt tay vào cuộc chiến bảo vệ biên giới. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam trước quân phản bội Khơme Đỏ và biên giới phía Bắc chống quân bành trướng Trung Quốc năm 1979. Khi đất nước hòa bình thật sự, Đảng tiếp tục bắt tay vào lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện về mọi mặt, đem lại những thành tựu phát triển rực rỡ, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng tăng lên, niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

KHOA CHÍNH TRỊ HỌC

-🙞🙞🙞🙞🙞 -TIỂU LUẬN MÔN CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN

Vai trò của Đảng chính trị đối với sự phát triển của các quốc gia Phân tích

trường hợp Đảng Cộng sản Việt Nam

Học viên: Phạm Đỗ Phương Lớp: Chính trị học phát triển K29.1

HÀ NỘI – 2023

Trang 2

Chương 2: VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ

2.1 Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế thị

2.1.1 Bối cảnh cơ chế quản lý kinh tế trước thời kỳ đổi mới ở Việt Nam 152.1.2 Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kỳ đổi mới 17

2.2 Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng nhà nước pháp

2.2.1 Tiếp thu những tư tưởng, giá trị của nhân loại về nhà nước pháp quyền22

2.2.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền xã

2.3 Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển xã hội Việt Nam

30

Chương 3: MỘT SỐ NGUY CƠ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO

Trang 3

3.1.1 Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và

3.1.3 Nguy cơ về sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên là tệ

3.1.4 Nguy cơ “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động 363.2 Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng

3.2.2 Về rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …… 41

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố lãnh đạo nhân không thể thay đổi trongtiến trình cách mạng Việt Nam Kể từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản ViệtNam đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Cách mạngtháng Tám thành công đánh dấu một bức ngoặt quan trọng của Đảng và nhân dânViệt Nam Đối với Đảng, đó là sự biến chuyển sâu sắc vai trò của Đảng từ là đảnglãnh đạo sang đảng cầm quyền, là đảng đã có chính quyền trong tay Đối với nhândân Việt Nam, đó là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, là nhà nướccủa dân, do dân và vì dân, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhândân Lần đầu tiên, nhân dân được làm chủ đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảngcộng sản Việt Nam, dưới ngọn cờ cách mạng vô sản Khi đã có chính quyền trongtay, Đảng bắt tay vào xây dựng và bảo về nền độc lập non trẻ của nhân dân, lãnhđạo nhân dân ta thực hiện thành công hai cuộc kháng chiến cứu nước vị đã làkháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ cứu nước Ngày30/4/1975, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng vô điều kiện, non sông thu

về một mối, nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, tự do Tuy nhiên, hòa bìnhchưa được bao lâu thì nhân dân ta lại phải bắt tay vào cuộc chiến bảo vệ biên giới.Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã giành thắng lợi vẻ vang trongcuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam trước quân phản bội Khơme Đỏ vàbiên giới phía Bắc chống quân bành trướng Trung Quốc năm 1979 Khi đất nướchòa bình thật sự, Đảng tiếp tục bắt tay vào lãnh đạo cách mạng Việt Nam trongthời kỳ mới, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện về mọi mặt, đem lại nhữngthành tựu phát triển rực rỡ, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càngtăng lên, niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố

Trang 5

Song, bên cạnh những thành tựu ấy, Đảng cũng phải đối mặt với nhữngnguy cơ xuất phát từ thế lực thù địch hòng bôi nhọ, xuyên tạc, tẩy trắng nhữngthành tựu có được dưới sự lãnh đạo của Đảng Vì vậy, việc tăng cường nhận thức,giáo dục, tuyên truyền về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự pháttriển của đất nước là điều vô cùng quan trọng và cấp thiết hiện nay nhằm củng cốhơn nữa niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ thực tiễn đó, em lựa chọn đề tài “Vai tròcủa Đảng chính trị đối với sự phát triển của các quốc gia Phân tích trường hợpĐảng Cộng sản Việt Nam” để làm rõ vấn đề này.

2 Tình hình nghiên cứu

Ở trong nước đã có những đề tài nghiên cứu về vai trò của Đảng Cộng sảnViệt Nam đối với quá trình phát triển của đất nước, trong đó phải kế đến: Cuốnsách “Đảng Cộng sản Việt Nam – Những chặng đường lịch sử” của PGS TS NgôĐăng Trí, nhà xuất bản Thông tin và truyền thông; cuốn sách “Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo và thực hiện chính sách xã hội trong 25 năm đổi mới (1986-2011)của PGS.TS Đinh Xuân Lý, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội; cuốn sách “tậpbài giảng lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” của khoa Lịch sử Đảng và tư tưởng

Hồ Chí Minh, học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân viện Hà Nội;…

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu về vai trò của Đảng chính trị đối với sựphát triển của các quốc gia, từ đó vận dụng để nghiên cứu về vai trò của ĐảngCộng sản Việt Nam đối với quá trình đất nước sau đổi mới

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đảng chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 6

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: tại Việt Nam

Phạm vi thời gian: từ sau thời kỳ đổi mới 1986 đến nay

6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: quan điểm của các học giả tư sản, mác xít về Đảng chính trị;quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân

Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng các phương pháp như logic và lịch

sử, phân tích tài liệu, tổng hợp, khái quát, hệ thống hóa,…

7 Kết cấu của bài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, đề tài gồm 3 chương

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH TRỊ

1.1 Khái niệm

1.1.1 Quan điểm về đảng chính trị dưới góc nhìn của các học giả tư sản

Xuất phát từ những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể và từ nhận thứckhông hoàn toàn giống nhau về quá trình phát triển của đời sống xã hội, người tađưa ra những quan niệm về đảng chính trị khác nhau và từ đó việc hình thành nênđội ngũ của mỗi chính đảng cũng không như nhau Ở những chính đảng tư sản, họcoi những nhận thức chung, những lý tưởng giống nhau về các vấn đề nào đó trong

xã hội là cốt lõi, là nền tảng cho nên họ không có những yêu cầu cao về mặt tổchức Với họ, đảng gần như một câu lạc bộ, việc gia nhập đảng hay ra khỏi đảngtrước hết và chủ yếu xuất phát từ việc họ tán thành hay không tán thành cươnglĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng

Trang 7

Có nhiều quan niệm về đảng chính trị, đôi khi những quan điểm của các họcgiả phương Tây mang cách nhìn trái ngược nhau Có quan niệm cho rằng, đảngthực chất là một tổ chức của những người có cùng quan điểm, cùng thừa nhận mộthọc thuyết nào đó Quan điểm này coi cốt lõi của một tổ chức đảng là hệ tư tưởng– là cái cơ sở để tập hợp lực lược tham gia vào tổ chức đảng Có quan điểm kháccho rằng đảng là một “nhóm người kết lại với nhau để hoạt động với những mụcđích nhất định , là tổ chức chính trị của một tầng lớp xã hội” và chính đảng là “tổchức chính trị đại diện và đấu tranh vì quyền lợi của một giai cấp, một tầng lớp xãhội”1 Quan điểm này bám sát vào mục đích và lợi ích là ngọn cờ mà chính đảngtập hợp thành viên của mình

Ở thế kỷ 18, xuất hiện định nghĩa về đảng chính trị của học giả người AnhEdmund Burke Edmund Burke (1729-1797) là nhà lý thuyết học chính trị, nhàtriết học được coi là người sáng lập tư tưởng của chủ nghĩa bảo thủ hiện đại và làđại diện cho chủ nghĩa tự do cổ điển Trong công trình nghiên cứu mang tên

“Thoughts on the Causes of the Present Discontents”, ông đã định nghĩa đảngchính trị là “một tổ chức của những người (men – nam giới) tập hợp với nhaunhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia thông qua nỗ lực chung của họ, dựa trên một sốnguyên tắc cụ thể được tất cả nhất trí”2

Sang đến thế kỷ 20, học giả người Mỹ Anthony Downs (1930-2021) trongcông trình nghiên cứu kinh điển của ông về nền chính trị hiện đại với nhan đề “AnEconomic Theory of Democracy” lại định nghĩa đảng chính trị là “một nhómngười (men) tìm cách kiểm soát bộ máy chính quyền bằng việc giành lấy nhữngchức vụ trong các cuộc bầu cử được tổ chức theo thời hạn”3

1 Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, 1998, tr.586 và tr.367.

2 Samuel Kernell & Gary C.Jacobson: Logic chính trị Mỹ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.495

Trang 8

1.1.2 Quan điểm về đảng chính trị dưới góc nhìn của các học giả mác xít

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx đã có những nhận định rất sâu sắc vềbản chất và các đặc trưng của chính đảng, trong đó các ông đặc biệt nhấn mạnhtính chất giai cấp của chính đảng Các ông cho rằng chính đảng là đại biểu tậptrung nhất lợi ích của giai cấp mình, là lực lượng lãnh đạo sức mạnh chính trị củagiai cấp, là tổ chức chính trị của các thành viên trung kiên nhất của các giai cấpđấu tranh giành quyền lực hoặc tăng cường quyền lực nhà nước, là tiên phongchiến đấu của giai cấp mình4

Đứng trên lập trường giai cấp, các nhà mác xít cho rằng đảng chính trị là sảnphẩm của đấu tranh giai cấp và là yêu cầu tất yếu của đấu tranh giai cấp Đảngchính trị là tổ chức tự nguyện của những người có cùng mục tiêu, cùng lý tưởng vàtheo đổi cùng một mục đích chính trị nhất định, hướng đến việc xây dựng và xáclập vai trò thống trị xã hội của giai cấp mình Đảng chính trị không phải là toàn bộgiai cấp mà là một bộ phận của giai cấp, gắn bó hữu cơ với giai cấp, và đây là bộphận bao gồm những phần tử ưu tú nhất, tiên tiến nhất trong giai cấp, là bộ phậnnòng cốt, tiên phong của giai cấp C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, đảng chính trịkhông những là người đại diện cho lợi ích cho toàn bộ phong trào của giai cấp mà

nó còn luôn đi đầu, dẫn dắt, định hướng thúc đẩy sự phát triển của phong trào theomục đích chính trị của giai cấp Bàn về vai trò của chính đảng trong cuộc đấu tranhgiai cấp của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong cuộc đấutranh của mình chống quyền lực liên hợp của các giai cấp hữu sản, giai cấp côngnhân, chỉ khi được tổ chức thành một chính đảng độc lập đối lập với tất cả cácchính đảng cũ do các giai cấp hữu sản lập nên, thì mới có thể hành động với tưcách là một giai cấp”5

4 Yến Kế Vinh: Nguyên lý phân tích chính trị hiện đại, Nxb Giáo dục cao đẳng, Bắc Kinh, tr.210

5 C.Mác và Ph Ăngghen Toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị Quốc gia, H 1995 , tr 203

Trang 9

Bu-ten-cô nhà lý luận của Đảng cộng sản Liên Xô quan niệm “Chính đảng là

tổ chức chính trị đoàn kết những đại biểu tích cực nhất của một giai cấp xã hội nhấtđịnh (hay một nhóm xã hội) và thể hiện (trong cương lĩnh và các văn kiện khác)những lợi ích cơ bản của giai cấp đó”6

Với Đảng Cộng sản Việt Nam, điều lệ đảng nêu rõ: “Đảng Cộng sản ViệtNam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong củanhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giaicấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Mục đích của Đảng là xâydựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh,không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuốicùng là chủ nghĩa cộng sản”7

Từ những quan điểm trên về đảng chính trị, có thể đưa ra một định nghĩachung nhất về đảng chính trị: Đảng chính trị là một tổ chức chính trị tự nguyện, đạidiện cho các giai cấp xã hội nhất định (hay một nhóm xã hội) theo một hệ tư tưởnghay một đường lối nhất định, với mục tiêu giành quyền lực chính trị, giành chínhquyền nhà nước

1.2 Đặc điểm

Muốn trở thành một đảng phái chính trị thì đảng đó phải đạt được một sốtiêu chuẩn nhất định J.Lapalombara, người Mỹ, một trong những chuyên gia có uytín nhất về đảng phái học đã nêu bật bốn yếu tố cấu thành đảng:

Thứ nhất, đảng đó phải có hệ tư tưởng – mọi đảng phái về bản chất là ngườiđại diện cho hệ tư tưởng hoặc ít nhất cũng phải thể hiện một định hướng nhất định

về thế giới quan hoặc nhân sinh quan

6 A.Bu-ten-cô: Đảng trong hệ thống chính trị, Matxcơva, 1987, tr.19 (tiếng Nga)

Trang 10

Thứ hai, đảng là một tổ chức, nghĩa là có một sự liên kết con người tươngđối lâu dài theo thời gian thành các thành viên (đảng viên) hợp thành, là một thiếtchế mà nhờ đó đảng khác với tập hợp quần chúng.

Thứ ba, mục tiêu của đảng là giành và thực hiện quyền lực nhà nước Trong

hệ thống đa đảng, tự thân đảng khó có thể trở thành đảng cầm quyền Muốn trởthành đảng cầm quyền đảng đó phải có chương trình vận động tranh cử, phải đượcnhân dân tín nhiệm

Thứ tư, mỗi đảng phải cố gắng bảo đảm cho mình một sự ủng hộ rộng rãicủa nhân dân

Bên cạnh đó, có một số quan điểm cho rằng, một trong những đặc trưng củađảng chính trị là có biểu tượng của đảng Ví dụ như biểu tượng của Đảng Cộng hoà

ở Mỹ là con voi, Đảng Dân chủ ở Mỹ là con lừa,…

1.3 Chức năng, nhiệm vụ

Trong mọi chế độ xã hội, các chính đảng về cơ bản khi nào cũng là ngườiđại diện ít nhiều cho quyền lợi của một giai cấp hay một tầng lớp xã hội nhất định.Thông thường các chính đảng đều bao gồm những đại diện tích cực nhất của mộtgiai cấp hoặc một tầng lớp xã hội Các chính đảng ra đời trước hết và chủ yếu là đểlãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nào đó trong xã hội

Bất kỳ một chính đảng nào cũng không thể bao gồm toàn bộ một giai cấp,một tầng lớp xã hội, mà chỉ có thể bao gồm những đại diện tích cực nhất của giaicấp, tầng lớp xã hội đó Họ là những người ý thức được rõ rệt nhất quyền lợi củagiai cấp, tiến trình phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp Chính đảng ra đời khôngngoài mục đích tập hợp lực lượng đấu tranh để giành và bảo vệ quyền lợi của giaicấp và tầng lớp xã hội mà họ đại diện Quyền lợi của giai cấp trên thực tế chỉ cókhả năng được thoả mãn tối đa khi chính đảng của giai cấp trở thành đảng cầm

Trang 11

quyền Tuy nhiên, quyền lợi ấy cũng không thể vượt quá khả năng của xã hội, nó

bị hạn chế và được quy định trong mối tương quan giữa lợi ích của các giai cấp,các tầng lớp xã hội, tập trung ở lợi ích của quốc gia, dân tộc Vì vậy, vai trò củachính đảng rất to lớn, nó không chỉ có ảnh hưởng tới giai cấp sinh ra nó mà ở mộtmức độ nào đó còn có khả năng tác động đến cả các tổ chức khác trong hệ thốngchính trị, nhất là đối với chính quyền nhà nước

Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, chính đảng ở mỗi nước khácnhau có vị trí, vai trò trong xã hội khác nhau Mặt khác, tuỳ từng thời kỳ vị trí, vaitrò của chính đảng đó cũng có sự thay đổi Ví dụ: khi là đảng cầm quyền; khi liênminh cầm quyền; lúc là đảng đối lập; lại có thời kỳ là đảng trung dung Cũng nhưvậy, chức năng của các chính đảng ở đó cũng không hoàn toàn như nhau và ở mỗithời kỳ do vị trí vai trò của nó thay đổi nên chức năng của đảng cũng có sự thayđổi, điều chỉnh

Về cơ bản, một đảng chính trị thường có một số chức năng sau đây: (1)Chức năng chính trị: xây dựng cương lĩnh, chương trình hành động, kế hoạchchính trị, mục tiêu chính trị; (2) Chức năng tổ chức: tìm kiếm và lựa chọn nhữngthành phần tinh hoa của đảng ra ứng cử, tranh cử vào các vị trí của nhà nước; (3)Chức năng tư tưởng: tuyên truyền, vận động lôi kéo người dân theo đảng

Cụ thể hơn, chức năng của đảng chỉnh trị được hiểu là:

Một là, đại biểu cho quyền lợi của giai cấp và tầng lớp nó đại diện Đảngchính trị luôn mang bản chất giai cấp, là tổ chức đại diện cho giai cấp, là cơ sở đểgiai cấp có thể tham gia vào quá trình giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước.Một giai cấp, lực lượng trong xã hội không thể giành lấy quyền lực nhà nước nếukhông tập hợp những con người tinh hoa của giai cấp trong một tổ chức đảng tiên

Trang 12

phong, là chủ thể đại diện cho lợi ích giai cấp và đại diện cho những hành độngchính trị sau này.

Hai là, định hướng về chính trị, tư tưởng cho các hoạt động quan trọng củagiai cấp Sự định hướng này chủ yếu được thể hiện qua cương lĩnh, đường lối, chủtrương của Đảng Mỗi một chính đảng, trong quá trình hình thành và phát triển đềuphải xây dựng được cho mình định hướng về chính trị, tư tưởng, hoạt động củađảng trong đời sống chính trị Những định hướng, tư tưởng và hoạt động của đảngđược tập hợp trong cương lĩnh chính trị của đảng Cương lĩnh chính trị vừa là quanđiểm của đảng, của giai cấp về một vấn đề nào đó trong xã hội, vừa là định hướng,tầm nhìn và cách giải quyết các vấn đề ấy nếu đảng lên nắm quyền lực nhà nước.Cương lĩnh chính trị cũng là cái mà đảng dựa vào để thu hút lực lượng quần chúngtham gia đảng, miễn là cương lĩnh của đảng phù hợp với lợi ích số đông người dânhoặc ít nhất không tổn hại quá nhiều đến lợi ích của họ thì sẽ đảm bảo được ítnhiều sự ủng hộ của quần chúng nhân dân

Ba là, tổ chức, lãnh đạo giai cấp đấu tranh hướng vào mục tiêu trước mắt vàlâu dài của giai cấp Mục tiêu trước mắt và lâu dài của giai cấp, xét cho cùng cũng

là đảm bảo lợi ích của giai cấp, duy trì được lợi ích đó hoặc làm sao đem lại nhiềulợi ích nhất có thể cho giai cấp mình Để đảm bảo những lợi ích đó, trước mắt giaicấp ấy phải nắm trong tay quyền lực nhà nước Vì vậy mà đảng cần đấu tranh trongquá trình giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Khi và chỉ khi nắm đượcquyền lực nhà nước, quyền lợi của giai cấp mới được tối đa hóa và có thể đảm bảoduy trì lâu dài lợi ích ấy Mục tiêu trước mắt là đấu tranh giành lấy chính quyền,giành lấy quyền lực nhà nước thông qua bầu cử, ứng cử; mục tiêu lâu dài là sửdụng quyền lực của nhà nước để đem lại lợi ích cho giai cấp mình

Bốn là, động viên và phối hợp hành động giữa các lực lượng trong xã hộiủng hộ đảng theo hướng có lợi cho lợi ích của đảng và của giai cấp

Trang 13

Năm là, bằng các chủ trương, chính sách, Đảng tích cực tham gia vào cáchoạt động thực thi quyền lực nhà nước bằng thông qua các đại diện của đảng thamgia vào các cơ quan dân cử và đội ngũ đảng viên của đảng hoạt động trong cơ cấu

bộ máy nhà nước

Sáu là, đào tạo và giới thiệu cán bộ tham gia vào bộ máy Nhà nước Thôngqua đội ngũ này, đảng mở rộng ảnh hưởng của đảng đối với Nhà nước và toàn xãhội

Xuất phát từ các chức năng trên, đảng chính trị hiện đại có những nhiệm vụ

cử tri bỏ phiếu cho họ trong cuộc bầu cử và từ đó giành quyền lực nhà nước

Tóm lại, chính đảng ra đời là để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh giaicấp Chính đảng là trung tâm lãnh đạo chính trị của giai cấp Xét đến cùng, trướchết và chủ yếu nó đại biểu cho quyền lợi của một giai cấp Sự ra đời của các chínhđảng gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp Mục tiêu của các chính đảng là địnhhướng, lãnh đạo giai cấp đấu tranh giành chính quyền hay ít nhất cũng là gián tiếp

Trang 14

hoặc trực tiếp tác động đến nhà nước theo hướng có lợi cho quyền lợi của giai cấp

mà mình đại diện Chính đảng là một sản phẩm lịch sử tự nhiên của cuộc đấu tranhgiai cấp, nó ra đời và tồn tại trong các xã hội có giai cấp Không có chính đảng phigiai cấp, siêu giai cấp

1.4 Phân loại đảng chính trị

Về phân loại đảng chính trị hiện nay, cơ bản có 2 loại: (1) hệ thống đơnđảng; (2) hệ thống đa đảng

Thứ nhất, về hệ thống đơn đảng (độc đảng) là hình thức một đảng cầmquyền, mà đa số các trường hợp do một đảng chính trị thành lập chính quyền vàkhông cho các đảng khác được phép ra đời (đặt các đảng phái khác ra ngoài vòngpháp luật); hoặc cũng có thể có trường hợp tuy tồn tại nhiều đảng nhưng các đảngphải thừa nhận sự lãnh đạo của đảng cầm quyền (trường hợp Trung Quốc) Trong

hệ thống đơn đảng, có thể chia làm hệ thống đơn đảng thực tế và hệ thống đơnđảng bắt buộc Hệ thống đơn đảng thực tế: trong xã hội chỉ có 01 đảng thực tế hoạtđộng đại diện lợi ích của bộ phận tiên tiến nhất, các nhóm xã hội khác không đủđiều kiện thành lập đảng và lợi ích của các bộ phận này trùng với lợi ích của đảngcầm quyền (Singapo) Hệ thống đơn đảng bắt buộc: Trong xã hội chỉ có 01 đảngduy nhất theo quy định của pháp luật (Việt Nam, điều 4 hiến pháp 1992; Liên Xô

Trang 15

nay); (4)Hệ thống đa đảng phân cực (Polarized multipartism): phân tán lớn, phâncực tư tưởng lớn (như ở Pháp trong nền cộng hoà IV).

Trang 16

Chương 2: VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ

PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC

2.1 Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.1.1 Bối cảnh cơ chế quản lý kinh tế trước thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

a) Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp

Trước thời kỳ đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạchhóa tập trung với một số điểm chính sau:

Một là, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chínhdựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Các doanhnghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phátvốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nộp lại sản phẩm cho Nhà nước.Trong quá trình kinh doanh, nếu làm ăn thua lỗ thì Nhà nước sẽ bù, còn nếu có lãithì Nhà nước thu

Hai là, các cơ quan hành chính can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinhdoanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất vàpháp lý đối với các quyết định của mình Những quyết định không đúng đã gây rathiệt hại về vật chất song đối tượng gánh chịu lại là ngân sách nhà nước Các doanhnghiệp kinh doanh không có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bịràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh

Ba là, mối quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ dừng lại ở mức hìnhthức Quan hệ chủ yếu là quan hệ hiện vật Nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua

cơ chế “cấp phát – giao nộp” vì vậy mà nhiều hàng hóa quan trọng như sức lao

Trang 17

động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa

về mặt pháp lý

Bốn là, bộ máy quản lý quá cồng kềnh, nhiều cấp trung gian không cần thiết,kém năng động, linh hoạt, vừa sinh ra đội ngủ quản lý kém năng lực, thiếu tráchnhiệm Phong cách cửa quyền, quan liêu nở rộ nhưng lại được hưởng quyền lợi caohơn người lao động gây ra những bất mãn trong lòng xã hội

Trước thời kỳ đổi mới năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa vận dụngđúng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất, Đảng chưa có nhận thức đúng và chưa coi trọng lực lượng sản xuất Chúng tavẫn xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xã hội chủnghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu; coi thị trường chỉ là mộtcông cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch Không thừa nhận thực tế sự tồn tại của nềnkinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa, lấy kinh tế nhànước và kinh tế tập thể là chủ yếu, hạn chế tối đa các thành phần kinh tế khác, nhất

là kinh tế tư nhân Tất cả những điều ấy tạo nên một cuộc khủng hoảng trầm trọng

về kinh tế - xã hội, lực lượng sản xuất bị kìm hãm phát triển, kinh tế bị suy thoáitrầm trọng, sản phẩm khan hiếm, lạm phát tăng cao, đời sống của nhân dân vôcùng khó khăn, bí bách

b) Nảy sinh nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế

Dưới áp lực của cuộc khủng hoảng kinh tế đang ngày càng trầm trọng, nhucầu thiết yếu nhất lúc này là tìm ra giải pháp đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạngkhủng hoảng kinh tế - xã hội Xuất phát từ nhu cầu ấy, chúng ta đã có những bướccải tiến nền kinh tế theo hướng thị trường, tuy nhiên vẫn còn nhỏ lẻ, chưa toàndiện, chưa triệt để Chỉ thị số 100-CT/TW ban hành ngày 13/01/1981 của Ban Bíthư Trung ương khóa IV về khoán sản phẩm trong nông nghiệp; bù giá vài lương ở

Trang 18

Long An; Nghị quyết Trung ương 8 khóa V (năm 1985) về giá – lương – tiền; thựchiện Nghị định số 25-CP và Nghị định số 26-CP của Chính phủ,… Đó là nhữngcăn cứ thực tế để Đảng đi đến quyết định thay đổi về cơ bản cơ chế quản lý kinh tế.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã khẳng định: “Việc bố trílại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Cơ chế quản lý tậptrung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay đã không tạo được động lực phát triển,làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thànhphần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả,gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xãhội”8 Vì vậy, việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cần thiết vàcấp bách lúc bấy giờ

2.1.2 Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kỳ đổi mới

a) Tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội VIII

sản Việt Nam có sự thay đổi căn bản và sâu sắc

Thứ nhất, kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản

mà là thành tựu phát triển chung của tinh hoa nhân loại Trong một nền kinh tế, khicác nguồn lực kinh tế được phân bổ bằng nguyên tắc thị trường thì ta gọi đó là kinh

tế thị trường Đó là các yếu tố thị trường như: cung, cầu, giá cả, các tài nguyênthiên nhiên như vốn, tư liệu sản xuất, sức lao động, phục vụ cho sản xuất và lưuthông Kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong

xã hội phong kiến và phát triển đỉnh cao ở xã hội tư bản Về cơ bản, kinh tế thịtrường có nhiều nét tương đồng với kinh tế hàng hóa, song chúng cũng có sự khácbiệt cơ bản Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, nhưng còn ở trình độ thấp,

8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.47, tr.395-396

Trang 19

chủ yếu sản xuất hàng hóa với quy mô nhỏ bé, kĩ thuật thủ công, năng suất thấp.Còn kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển cao, đạt đến trình độ thịtrường trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại hay không tồn tại của người sản xuấthàng hóa Kinh tế thị trường lấy khoa học công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sảnxuất xã hội hóa cao Đảng ta nhận định nền kinh tế thị trường đã có lịch sử pháttriển lâu dài, nhưng cho đến nay nó mới biểu hiện rõ rệt nhất trong thời kì chủnghĩa tư bản, có bước phát triển cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của conngười trong xã hội đó Chính vì vậy, nhiều người nghĩ rằng kinh tế thị trường làsản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản không sinh ra kinh tế hànghóa, và điều tất nhiên là kinh tế thị trường với tư cách là kinh tế hàng hóa phát triển

ở trình độ cao không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựuphát triển chung của nhân loại

Thứ hai, kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kì quá độ lênchủ nghĩa xã hội Đảng ta nhận định kinh tế thị trường chỉ đối lập với kinh tế tựnhiên, tự cấp tự túc chứ không đối lập với các chế độ xã hội Là thành tựu chungcủa văn minh nhân loại, kinh tế thị trường tồn tại và phát triển ở nhiều phươngthức sản xuất khác nhau Kinh tế thị trường vừa có thể liên hệ với chế độ tư hữu,vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho chúng Vì vậy kinh tế thịtrường tồn tại khách quan trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đại hội VIIcủa Đảng (tháng 6/1991) vừa khẳng định chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần, phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế vừacạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất,vừa kết luận rằng sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, nó tồn tạikhách quan và cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội VIII của Đảng(tháng 6/1996) đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ,

Trang 20

tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,

có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở nước ta Đảng ta nhận định kinh tế thị trường tồn tại khách quan trong thời

kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thịtrường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trước đổi mới, do chưa thừa nhậntrong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại sản xuất hàng hóa và cơ chếthị trường nên chúng ta đã xem kế hoạch là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế

xã hội chủ nghĩa, đã thực hiện phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu.Còn thời kì sau đổi mới, chúng ta ngày càng nhận rõ có thể dùng cơ chế thị trườnglàm cơ sở phân bổ các nguồn lực kinh tế, dùng tín hiệu giá cả để điều tiết chủngloại và số lượng hàng hóa, điều hòa quan hệ cung cầu, điều tiết tỉ lệ sản xuất thôngqua cơ chế cạnh tranh, thúc đẩy cái tiến bộ, đào thải cái lạc hậu yếu kém

b) Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường

Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) xác định: nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kì quá

độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hànhtheo cơ chế thị trường, có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa Đây là bước chuyển quan trọng từ nhận thức kinh tế thị trường chỉ như mộtcông cụ, một cơ chế quản lí đến nhận thức coi kinh tế thị trường như một chỉnhthể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội IXxác định, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “một kiểu tổ chức kinh

tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở chịu sự dẫn dắt,chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội” Đại hội XII khẳngđịnh: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tếvận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo

Trang 21

đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đấtnước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lí củaNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệsản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có nhiềuhình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai tròchủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thểthuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thịtrường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lựcphát triển, là độn lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất Nhà nước đóng vai tròđịnh hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranhbình đằng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ chính sách và các nguồnlực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinhdoanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước,từng chính sách phát triển Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triểnkinh tế - xã hội9 Trải qua các Đại hội IX, X, XI, XII, Đảng ta đã làm sáng tỏ nộidung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ởnước ta, thể hiện ở các tiêu chí sau:

Về mục tiêu phát triển: mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh”, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nângcao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi ngườivươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khágiả hơn

9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr

Ngày đăng: 26/09/2023, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anthony Downs: An Economic Theory of Democracy, New York: Harper and Row, 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Economic Theory of Democracy
Tác giả: Anthony Downs
Nhà XB: Harper and Row
Năm: 1957
2. A.Bu-ten-cô: Đảng trong hệ thống chính trị, Matxcơva, 1987.Tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng trong hệ thống chính trị
Tác giả: A. Bu-ten-cô
Nhà XB: Matxcơva
Năm: 1987
1. Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, 1998, tr.586 và tr.367 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1998
2. Samuel Kernell & Gary C.Jacobson: Logic chính trị Mỹ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.495 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic chính trị Mỹ
Tác giả: Samuel Kernell, Gary C. Jacobson
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
3. Yến Kế Vinh: Nguyên lý phân tích chính trị hiện đại, Nxb. Giáo dục cao đẳng, Bắc Kinh, tr.210 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý phân tích chính trị hiện đại
Tác giả: Yến Kế Vinh
Nhà XB: Nxb. Giáo dục cao đẳng
4. C.Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập, tập 18, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập, tập 18
Tác giả: Karl Marx, Friedrich Engels
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.47, tr.395-396 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 102-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2000, t.6, t7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
9. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1961
10.Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam. Nxb Sự thật, Hà Nội,1975, t1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1975
11.Văn kiện Đảng toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2004, t.37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
12.Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Văn phòng Trung ương Đảng
Năm: 2016
15.Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Tổng kết thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w