Hệ thống dự trữ liên bang Mỹ là ngân hàng cổ phần với hội đồng thống đốc có 7 thành viên do Tổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm,… -Bản chất của ngân hàng trung ương Về mặt bản chất, ng
Trang 1Tiểu luận:
MÔ HÌNH TỔ CHỨC NHTW & LIÊN HỆ VỚI VN
Mục lục:
I Giới thiệu chung về ngân hàng trung ương .2
II Các mô hình tổ chức của ngân hàng trung ương .2
1.Ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ
2.Ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ
3.Ưu nhược điểm của từng mô hình
III Mô hình ngân hàng trung ương của Việt Nam .5
1.Ưu nhược điểm
2.Mô hình phù hợp cho ngân hàng trung ương Việt Nam
3 Một số so sánh về Ngân hàng TW của Việt Nam- Mỹ- Châu Âu
Trang 2I.Giới thiệu chung về ngân hàng trung ương:
Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia; nhóm quốc gia; vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ
Sự ra đời của ngân hàng trung ương là hệ quả của quá trình chuyển hóa ngân hàng thương mại thành ngân hàng phát hành, và ngân hàng phát hành thành ngân hàng trung ương gắn liền với sự can thiệp của Nhà nước trên lĩnh vực này Sự ra đời của ngân hàng trung ương xuất phát từ đòi hỏi của sản xuất và lưu thông hàng hóa, cùng với yêu cầu của Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ Nó ra đời không vì mục đích tìm kiếm doanh lợi, mà xuất phát từ yêu cầu của quản lý và điều tiết lưu thông tiền tệ, thực hiện nhiệm vụ ổn định tiền tệ, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn và có hiệu quả để phát triển kinh tế Dù tên gọi không giống nhau như Quỹ
dự trữ liên bang, Ngân hàng nhà nước, Viện phát hành,… chúng đều có chung một tính chất: ngân hàng trung ương
Hiện nay, ở một số nước ngân hàng trung ương không hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng hoạt động vẫn mang tính chất như một ngân hàng của nhà nước và cơ quan quản lý cao nhất của nó là do nhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm Chẳng hạn: Ngân hàng trung ương Nhật Bản là ngân hàng cổ phần ( nhà nước chiếm 55%) nhưng cơ quan quản trị ngân hàng có 7 thành viên do chính phủ
bổ nhiệm và miễn nhiệm Hệ thống dự trữ liên bang Mỹ là ngân hàng cổ phần với hội đồng thống đốc có 7 thành viên do Tổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm,… -Bản chất của ngân hàng trung ương
Về mặt bản chất, ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành công quản, có thể biệt lập hoặc phụ thuộc chính phủ, vừa thực hiện chức năng độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông, vừa thực hiện quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng Trong hoạt động nó không giao dịch với công chúng
mà chỉ giao dịch với kho bạc và các ngân hàng trung gian
Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, điều hoà lưu thông tiền tệ và quản lý hệ thông ngân hàng nhằm đảm bảo cho lưu thông tiền tệ được ổn định, kiểm soát lạm phát và nó sử dụng chính sách tiền tệ để thực hiện mục tiêu đó Có thể nói ngân hàng trung ương là một định chế hỗn hợp của hai tính chất: Doanh nghiệp và Quản lý hành chính
II.Các mô hình tổ chức của ngân hàng trung ương:
Sự ra đời của ngân hàng trung ương là do yêu cầu khách quan của việc quản lý phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ … Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền phát hành tiền và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng với nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị tiền tệ Để thực hiện chức năng nhiệm vụ đó, ngân hàng trung ương phải chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ Do đó ngân hàng trung ương có vị trí đặc biệt trong bộ máy quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô
Đến nay, trên thế giới đã biết đến 3 mô hình NHTW: NHTW độc lập với chính phủ; NHTW là một cơ quan thuộc chính phủ; và NHTW thuộc Bộ Tài chính Trong đó, hai mô hình đầu tiên là phổ biến hơn cả
Trang 31.Ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ:
Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của Ngân hàng trung ương, đặc biệt là trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
-Cơ sở hình thành:
Dựa trên quan điểm: Chính phủ là người thực thi chính sách tài chính quốc gia, quản lý, điều hành ngân sách nhà nước Để ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ sẽ bị Chính phủ lạm dụng công cụ phát hành tiền để trang trải sự thiếu hụt của ngân sách nhà nước, từ đó dễ gây ra lạm phát Mặt khác ngân hàng trung ương mất hẳn tính độc lập và chủ động trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
-Cách thức hoạt động:
Theo mô hình này, ngân hàng trung ương không chịu sự kiểm soát của chính phủ
Tuy nhiên ngân hàng trung ương có thể tham vấn với chính phủ về các chính sách của mình, chính phủ cũng có thể tham gia vào các cuộc họp chính sách của ngân hàng nhưng việc thưc hiện hay không phụ thuộc vào quyết định của ngân hàng trung ương
2.Ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ:
Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối với ngân hàng trung ương thông qua việc bổ nhiệm các thành viên của bộ máy quản trị và điều hành ngân hàng trung ương, thậm chí Chính phủ còn can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
-Cơ sở hình thành:
Dựa trên quan điểm: Chính phủ là người thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thực hiện vai trò quản lý kinh tế vĩ mô, do đó chính phủ phải nắm và sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô Việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu trong tổng thể các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô Chính phủ phải nắm lấy ngân hàng trung ương để sử dụng ngân hàng này trong việc thực hiện các chức năng của Chính phủ
Quốc hội
Trang 4-Cách thức hoạt động
Theo mô hình này, ngân hàng trung ương là một bộ máy của chính phủ, là một
cơ quan chức năng của chính phủ, chịu sự kiểm soát toàn diện và thực hiện mọi chính sách, thể chế của chính phủ Ngân hàng trung ương không có quyền thực hiện các hoạt động của mình một cách độc lập mà chưa có sự tán thành của chính phủ
3.Ưu nhược điểm của từng mô hình:
a Ngân hàng trung ương độc lập với chính phủ:
-Ưu điểm:
Việc ngân hàng trung ương hoạt động độc lập với chính phủ khiến việc xây dựng
và thực thi các chính sách tiền tệ nhanh chóng, hiệu quả hơn Ngoài ra việc độc lập của ngân hàng trung ương còn giúp các chính sách này không bị ảnh hưởng do tác động từ các mục tiêu riêng của chính phủ như phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước từ đó hạn chế được nguy cơ lạm phát, khủng hoảng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ngân hàng trung ương càng độc lập thì mục tiêu duy trì tỷ lệ lạm phát thấp càng dễ thực hiện
-Nhược điểm:
Đòi hỏi ngân hàng trung ương phải có uy tín cao và năng lực thực thi rất tốt thì mới có thể biến mục tiêu hành hiện thực, nhất là trong giai đoạn thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt
Bên cạnh đó ngân hàng trung ương phải có khả năng dự báo chuẩn xác trên cơ sở các thống kê kinh tế- tài chính, vì chỉ có như vậy thì ngân hàng trung ương mới có thể thực hiện được mục tiêu đã đề ra
Khó có sự kết hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ - do NHTW thực hiện và chính
Chính phủ
NHTW
Mối liên hệ giữa chỉ số độc lập của ngân hàng trung ương và lạm phát trung bình của một số quốc gia Nguồn:
“Central Bank Independence and Macroeconomic Performance: Some Comparative Evidence,” Alberto Alesina và Lawrence H Summers
Trang 5b Ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ:
-Ưu điểm:
Ngân hàng trung ương trục thuộc chính phủ giúp nhà nước có thêm công cụ quản
lí nhà nước Việc chính phủ nắm trong tay các công cụ kinh tế còn giúp thực thi các chính sách vĩ mô dễ dàng hơn nhờ vào việc phối hợp đồng bộ nhiều công cụ khác nhau cùng một lúc như kết hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Ngoài ra còn giúp nền kinh tế đi theo đúng định hướng của chính phủ đã đề ra, tăng quyền lực & khả năng quản lí của nhà nước
-Nhược điểm:
Mức độ phụ thuộc của ngân hàng nhà nước với chính phủ càng chặt chẽ thì nguy
cơ lạm phát sẽ càng cao và giải quyết cũng khó khăn hơn
Ngân hàng nhà nước mất khả năng tự chủ trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ sẽ hạn chế hiệu quả, tiến độ thực hiện của các chính sách đó
III Mô hình ngân hàng trung ương của Việt Nam:
1.Ưu nhược điểm:
Ở Việt Nam hiện nay, ngân hàng nhà nước đang theo mô hình phụ thuộc vào chính phủ Ngân hàng nhà nước là cơ quan của Chính phủ và Thống đốc ngân hàng nhà nước là thành viên Chính phủ
Đối với Việt Nam, mô hình này có những ưu điểm như đã đề cập ở trên:
- Giúp nhà nước có thêm công cụ quản lí nhà nước, tăng quyền lực & khả năng quản lí của nhà nước
- Thực thi các chính sách vĩ mô dễ dàng hơn nhờ vào việc phối hợp đồng bộ nhiều công cụ khác nhau cùng một lúc như kết hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong kiềm chế lạm phát
- Giúp nền kinh tế đi theo đúng định hướng XHCN
Tuy nhiên nó cũng có khá nhiều nhược điểm:
- Với mô hình ngân hàng nhà nước độc lập tự chủ hạn chế, Chính phủ là nơi quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng như can thiệp vào quá trình triển khai thực thi chính sách tiền tệ Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của ngân hàng trung ương, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền Đây chính là trường hợp của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay và trên thực tế thì mức độ độc lập tự chủ này đã bắt đầu bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập
- Mô hình của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay còn mang nặng mô hình của một cơ quan hành chính khó đem lại hiệu quả trong việc nghiên cứu và đưa ra các chính sách
- Ngoài ra vì việc quản lí nền kinh tế bị phân quyền giữa ngân hàng nhà nước, chính phủ và hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia làm giảm quyền lực của ngân hàng nhà nước dẫn đến khó tạo nên sự đồng thuận cao mỗi khi các chính sách được ban hành
Trang 62.Mô hình phù hợp cho ngân hàng trung ương Việt Nam:
Không có mô hình ngân hàng trung ương nào là lý tưởng cho mọi quốc gia Sự lựa chọn này không hoàn toàn nằm trong ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế- xã hội và thể chế chính trị của từng nước Điều đó có nghĩa rằng mỗi một quốc gia có thể vận dụng một mô hình Ngân hàng trung ương khác nhau phù hợp với điều kiện thực tiễn của mình
Một số ý kiến cho rằng chúng ta nên lựa chọn mô hình Ngân hàng trung ương độc lập với lý do cơ bản được đưa ra là Ngân hàng trung ương càng độc lập thì càng dễ duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức thấp
Về mặt lý thuyết, ý kiến này là đúng tuy nhiên ở Việt Nam, mô hình Ngân hàng nhà nước là một cơ quan của Chính phủ như hiện nay vẫn phù hợp với thể chế chính trị, đặc thù kinh tế- xã hội và hệ thống luật pháp của nước ta Bởi vì nó giúp nhà nước thực hiện mục tiêu quản lí, ổn định xã hội được tốt hơn Đảm bảo các chính sách điều tiết nền kinh tế nhà nước đi đúng hướng, có hiệu quả Đưa nền kinh tế đất nước đi đúng theo định hướng đã đề ra
Mặt khác việc chuyển đổi sang một mô hình mới là một vấn đề khá khó khăn vì các lí do sau:
-Phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, tính đặc thù về thể chế chính trị, tổ chức nhà nước và hệ thống pháp luật của Việt Nam
-Mô hình độc lập tự chủ rất khó vận dụng nhất, vì nó đòi hỏi Ngân hàng trung ương phải có uy tín cao và năng lực thực thi rất tốt, điều này ngân hàng Việt Nam vẫn chưa thể làm tốt được
-Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống tài chính nói riêng đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, việc dự báo dựa trên các biến số kinh tế- tài chính là rất khó khăn Bên cạnh đó, năng lực thống kê và dự báo của chúng
ta hiện vẫn còn rất hạn chế Vì vậy, việc tự chủ hoàn toàn là không phù hợp với Ngân hàng nhà nước Việt Nam ít nhất là trong thời gian ngắn và trung hạn
Tuy nhiên, để tăng cường hiệu quả hoạt động của Ngân hàng nhà nước với tư cách là một Ngân hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường, việc nâng cao tính độc lập của Ngân hàng nhà nước là hết sức cần thiết Nâng cao tính độc lập không
có nghĩa là phải tách Ngân hàng nhà nước ra khỏi bộ máy Chính phủ mà cần phải trao thêm quyền cho Ngân hàng nhà nước trong việc chủ động lựa chọn và điều hành các công cụ chính sách tiền tệ
Tóm lại:
Trong bối cảnh nước ta hiện nay, vấn đề đặt ra không phải là thay đổi mô hình quản lí giữa phụ thuộc và độc lập với chính phủ Thay vào đó, cần có sự thay đổi trong chính sách của nhà nước đối với ngân hàng trung ương:
Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng quản lí Ngân hàng nhà nước để đảm bảo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu đã đề ra Chính phủ Việt Nam cần phải trao quyền độc lập, tự chủ hơn cho Ngân hàng nhà nước trong việc đưa ra các quyết định, chính sách liên quan đến tài chính tiền tệ Phải trao quyền kiểm soát tất cả các công cụ có ảnh hưởng tới các mục tiêu của chính sách tiền tệ, nhất là về vấn đề chống lạm phát cho Ngân hàng nhà nước Hạn chế việc tài trợ trực tiếp cho thâm hụt ngân sách của Chính phủ nhằm giảm
và kiềm chế nguy cơ lạm phát
Trao cho Ngân hàng nhà nước quyền độc lập tự chủ trong việc sử dụng ngân sách
Trang 73 Một số so sánh về Ngân hàng TW của Việt Nam- Mỹ- Châu Âu:
(The State Bank of Vietnam)
FED (Federal Reserve System)
ECB (European Central Bank) Thành lập Ngày 6/5/1951 theo sắc lệnh
15/SL do chủ tịch Hồ Chí Minh ký.
Năm 1913 theo Federal Reserve Act được Quốc hội Mỹ thông qua.
Năm 1998 theo Hiệp định Amsterdam được Liên minh châu
Âu thông qua
Vị trí Là cơ quan của Chính phủ và
là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Là cơ quan độc lập với Chính phủ và quốc hội Mỹ.
Là một cơ quan của liên minh châu
Âu, độc lập với chính phủ và quốc hội các nước thành viên.
Nhiệm vụ Phát hành tiền tệ, quản lý tiên
tế, tham mưu các chính sách liên quan
đến tiền tệ cho Chính phủ Việt Nam, quản lý hoạt động các ngân hàng
thương mại.
Thực thi chính sách tiền
tệ, giám sát và quản lý các tổ chức tín
dụng, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính Mỹ.
Chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ của 13 nước thành viên với nhiệm vụ chính là ổn định giá trị đồng Euro.
Các ngân
hàng thành
viên
Gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố
Gồm 12 ngân hàng dự trữ liên bang và các ngân hàng thành viên.
Gồm Ngân hàng Trung ương Châu
Âu và ngân hàng trung ương các quốc gia thành viên
Ngân sách
hoạt động
Được sử dụng các khoản thu
để trang trải chi phí hoạt động của mình, chênh lệch thu chi sau khi trích quỹ được nộp Ngân sách nhà nước.
Độc lập về tài chính, doanh thu đến từ tiền lãi của các tài sản nắm giữ
Được tổ chức như một công ty cổ phần với cổ phần do các ngân hàng thành viên nắm giữ.
Lãnh đạo Thống đốc Ngân hàng nhà
nước Việt Nam do quốc hội bầu, là thành viên Chính phủ ngang bộ trưởng.
Chủ tịch hội đồng thống đốc do Tổng thống chỉ định
Chủ tịch Ngân hàng do Liên minh châu Âu chỉ định.
Bộ máy tổ
chức
Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, Thống đốc
và các Vụ trưởng
Hội đồng thống đốc, Giám đốc các ngân hàng dự trữ, Hội đồng thị trường mở.
Ban giám đốc, Ủy ban trung ương
Đồng tiền
phát hành
(còn gọi là đô la Mỹ)
Euro
Tính độc lập
(bao gồm độc
lập về việc
lựa chọn công
cụ và độc lập
về lựa chọn
mục tiêu khi
thực thi chính
sách tiền tệ)
Thấp do trực thuộc và phải nhận chỉ thị từ Chính phủ (các chính sách cũng phải có Chính phủ quyết), ngân sách hoạt động cũng do Chính phủ xét duyệt
Cao do hoạt động độc lập với chính phủ (để thanh đổi quy chế của FED quốc hội thậm chí phải sửa đổi hiến pháp), các lãnh đạo có nhiệm
kì dài và không được tái
cử, ngân sách hoạt động độc lập.
Cao nhất do chỉ chịu tác động từ hiệp ước Maastricht (muốn thay đổi hiệp ước này cần có sự đồng ý của tất cả các thành viên)
Quốc hội quyết định mức lạm phát hàng năm, Chính phủ quyết định các mục tiêu về cung ứng tiền, còn Ngân hàng Nhà nước quyết định áp dụng công cụ phù hợp để thực thi mục tiêu đó.
Hoàn toàn độc lập trong việc lựa chọn mục tiêu và các công cụ sử dụng để thực thi chính sách tiền tệ.
Các công cụ
sử dụng điều
hành Chính
sách Tiền tệ
Nghiệp vụ thị trường mở Tỉ lệ tái chiết khấu Tỉ lệ dữ trữ bắt buộc.
So sánh về cơ chế tổ chức và hoạt động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam với
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB)
Trang 8Nguồn tham khảo:
Giáo trình Nhập môn Tài chính tiền tệ- ĐHKT TP.HCM
http://www.sbv.gov.vn
http://vi.wikipedia.org
http://www.chinhphu.vn
http://www.vietnamconsulate-sydney.org
http://www.tuanvietnam.net
http://economistsview.typepad.com