1. Tổng quan Là bệnh truyền nhiễm của loài nhai lại, virus gây bệnh có tính hướng thượng bì, biến đổi bệnh lý chủ yếu ở bộ máy tiêu hoá. Đặc trưng của bệnh là con vật sốt cao, loét niêm mạc miệng, tiêu chảy, hạch lympho bị hoại tử. Bệnh lây lan nhanh, mạnh; tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết cao. Lịch sử và địa điểm bệnh: Bệnh dịch tả trâu bò là một trong những bệnh được ghi nhận sớm nhất ở động vật. Bệnh được mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 4; từ thế kỷ 18 19 bệnh hoành hành khắp châu Âu. Căn bệnh được phân lập năm 1902. Trước đây, bệnh xảy ra phổ biến ở châu Âu, châu Phi, châu Á và Tây Á. Hiện nay, bệnh chỉ còn ở một số nước châu Phi (gần xích đạo và vùng Đông Bắc), Trung Á (Ấn Độ, Pakistan, Afganistan, Nepal, Bangladesh). Năm 1992, Tổ chức năng lượng của Liên hợp quốc (FAO) đã xây dựng chương trình thanh toán bệnh dịch
Trang 1PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA NÔNG HỌC
-BÁO CÁO BỆNH TRUYỀN NHIỄM CHUYÊN ĐỀ: BỆNH DỊCH TẢ TRÂU BÒ
GVHD: Thầy Nguyễn Đức Huy
Họ tên sinh viên : Phạm Thế Huy
Mssv: 207640101021
Lớp : K65B Thú Y
Trang 2
Đồng Nai
1 Tổng quan
- Là bệnh truyền nhiễm của loài nhai lại, virus gây bệnh có tính hướng thượng
bì, biến đổi bệnh lý chủ yếu ở bộ máy tiêu hoá Đặc trưng của bệnh là con vật sốt cao, loét niêm mạc miệng, tiêu chảy, hạch lympho bị hoại tử Bệnh lây lan nhanh, mạnh; tỷ
lệ ốm và tỷ lệ chết cao
- Lịch sử và địa điểm bệnh: Bệnh dịch tả trâu bò là một trong những bệnh được ghi nhận sớm nhất ở động vật Bệnh được mô tả lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 4; từ thế kỷ 18 - 19 bệnh hoành hành khắp châu Âu Căn bệnh được phân lập năm 1902 Trước đây, bệnh xảy ra phổ biến ở châu Âu, châu Phi, châu Á và Tây Á Hiện nay, bệnh chỉ còn ở một số nước châu Phi (gần xích đạo và vùng Đông Bắc), Trung Á (Ấn
Độ, Pakistan, Afganistan, Nepal, Bangladesh) Năm 1992, Tổ chức năng lượng của Liên hợp quốc (FAO) đã xây dựng chương trình thanh toán bệnh dịch tả trâu bò toàn cầu (Global Rinderpest Eradication Programme - GREP), tiến tới thanh toán toàn bộ virus dịch tả trâu bò vào năm 2010 Ở Việt Nam, bệnh dịch tả trâu bò gây thiệt hại nặng nề, nhất là dưới thời Pháp thuộc Với việc áp dụng chương trình vacxin, bệnh dần dần được khống chế và đến nay đã công nhận thanh toán được bệnh
Hình 1 Trâu bò chết do dịch tả
2 Căn bệnh
2.1 Phân loại
Trang 3Virus dịch tả trâu bò (Rinderpest virus - RPV) thuộc giống Morbillivirus, họ Paramyxoviridae Các thành viên khác của Morbillivirus là sởi, canine distemper, phocine distemper và peste des petit ruminants Trên thế giới, chỉ có duy nhất một serotyp virus dịch tả trâu bò
Hình 2 Rinderpest virus
2.2 Hình thái, cấu trúc RPV
Là ARN virus sợi đơn, đường kính 150 - 300nm Virus có dạng hình cầu, có vỏ bọc lipid Lớp vỏ chứa lipid có nguồn gốc từ màng tế bào chủ khi nảy chồi Các vỏ lipid này chứa các phần lồi glycoprotein giống như gai có chiều dài khoảng 8–12 nm, cách nhau 7–10 nm, 'đính' trên bề mặt của chúng được gọi là peplomers Bên trong lớp vỏ lipid, các virion chứa nucleocapsid hình xoắn cuộn có đường kính 13–18 nm và dài tới 1000 nm với bước sóng 5,5–7 nm
Hình 3 Hình thái, cấu trúc RPV
2.3 Tính chất nuôi cấy
Trang 4Có thể nuôi cấy virus trên môi trường tế bào như: tế bào thận bò (cấy trên tế bào Vero phân lập từ tế bào biểu mô thận) sau 3 - 12 ngày virus gây bệnh tích tế bào Trong cơ thể động vật, RPV có tính hướng thượng bì, tấn công tế bào Malpighi của niêm mạc đường tiêu hóa gây nên hoại tử, loét sâu Virus dễ bị hấp phụ bởi bạch cầu trong máu Tiêm truyền liên tục RPV cường độc nhiều đời qua thỏ, virus dần dần trở thành nhược độc đối với trâu bò, vẫn giữ tính kháng nguyên Sau 100 đời, virus làm cho thỏ chết (cường độc đối với thỏ), ổn định độc tính Sau 355 đời, độc tính hoàn toàn ổn định, gây miễn dịch bền vững cho trâu bò, được dùng làm giống sản xuất vacxin Ngoài ra, virus có thể nhân lên khi tiêm vào màng nhung niệu của phôi gà 10 ngày tuổi
2.4 Sức đề kháng :
+ Virus có sức đề kháng yếu với điều kiện ngoại cảnh
+ Ánh sáng mặt trời diệt Virus sau 2 giờ
+ Với nhiệt độ : 56°C/50 - 60´, 60°C/30´
+ pH : 4,0 – 10,2 , ngoài ra sẽ bị tiêu diệt
+ Mẫn cảm với các chất làm tan mỡ
3 Truyền nhiễm học
3.1 Dịch tễ học
Loài vật mắc bệnh: Hầu hết các loài vật guốc chẵn đều mẫn cảm với bệnh ở các
mức độ khác nhau Trâu, bò và bò Tây Tạng (yak) đặc biệt mẫn cảm với bệnh Ngoài
ra, dê, cừu, lợn, lạc đà và một số động vật hoang dã (hươu cao cổ, linh dương châu Phi, linh dương Cudu ở Nam Phi, lợn lòi) cũng mắc bệnh Bệnh không có khả năng lây sang người Tỷ lệ ốm có thể lên đến 100%, tỷ lệ chết dao động từ 90 - 100% Một
số giống bò bản địa ở châu Phi thì tỷ lệ chết thấp hơn, khoảng 50%
Trang 5Hình 4 Bò Tây Tạng
Phương thức truyền lây: Bệnh lây chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp giữa con ốm
và con khỏe do hít phải virus có trong không khí hoặc lây qua đường tiêu hóa do thức
ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh
Chất chứa: Con vật bệnh thải virus ra ngoài qua dịch tiết nước mắt, nước mũi
và phân Giai đoạn lây nhiễm quan trọng nhất là từ 1 - 2 ngày trước khi có triệu chứng lâm sàng, kéo dài 8 - 9 ngày sau khi có triệu chứng điển hình
3.2 Cơ chế sinh bệnh
- Virus xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp trên (hoặc có thể gây bệnh thực nghiệm qua đường tiêu hoá của trâu bò) Trong thời gian nung bệnh, virus lúc đầu nhân lên ở lưỡi và hạch lympho Hai đến 3 ngày sau nhiễm, VR nhân lên trong máu, gây bại huyết; sau đó lan đi khắp cơ thể, nhân lên ở lách, tuỷ xương, mô lympho, dịch đường tiêu hoá
- Trong máu, VR gây bại huyết, phá huỷ thành mạch gây viêm tụ máu, xuất huyết
- VR gây hoại tử dung bào và hoại tử thoái hoá dịch ở thượng bì một số niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc đường tiêu hoá Niêm mạc bị xung huyết, sưng lên Hoại tử bắt nguồn từ những lớp sâu của tầng Malpighi ngay trên lớp đế Trong tế bào hoại tử, nhân tan ra, nguyên sinh chất đông lại, sau đó hình thành những đám, nốt hoại tử
4 Triệu chứng
* Thể quá cấp tính (thể ác tính, thể kịch liệt):
Trang 6- Ít gặp
- Thường xảy ra ở đầu ổ dịch, ở những con non trên dưới 1 năm tuổi
- Sốt cao đột ngột (40 – 42°C)
- Ủ rũ, mệt mỏi
- Các niêm mạc xung huyết, đỏ ửng lên
- Chết khi chưa có triệu chứng đặc trưng (2 – 3 ngày sau khi sốt)
- Do chưa có hiện tượng tiêu chảy nên gọi là Dịch tả khô
Hình 5 Con vật ủ rũ, mệt mỏi, lờ đờ
* Thể cấp tính: Thường gặp
- Thời gian nung bệnh từ 3 – 15 ngày, thường từ 4 - 5 ngày
- Triệu chứng chung : sốt, mệt mỏi, ủ rũ, kém ăn, kém vận động
- Sốt đặc trưng: 41 – 42°C, có khi lên đến 43°C, Kéo dài liên tục 3 – 4 – 5 ngày
- Táo bón
- Các niêm mạc xung huyết, đỏ ửng lên
- Mắt :
+ Viêm đỏ, có thể có chấm xuất huyết
+ Chảy nước mắt : lúc đầu trong, loãng; về sau đục và đặc dần Có thể màu xanh giống như mủ chảy ngoằn ngoèo ở dưới mắt
Trang 7Hình 6 Niêm mạc xung huyết, đỏ ửng
Hình 7 Chảy nước mắt có dử
- Mũi :
+ Viêm niêm mạc mũi
+ Chảy nước mũi
+ Mũi bị nứt nẻ
Trang 8Hình 8 Mũi bò bị nứt nẻ
- Miệng :
+ Niêm mạc miệng viêm đỏ
+ Xuất huyết ở lợi, chân răng, gốc lưỡi, hai bên má
+ Niêm mạc có mụn nhỏ li ti, có thể tập trung thành mảng lớn to nhỏ không đều
Mụn vỡ tạo thành mụn loét
Hình 9 Niêm mạc miệng viêm, có các nốt loét
Trang 9Hình 10 Lợi bò bị lở + Chảy nước dãi
+ Hơi thở mùi hôi thối, khó chịu
- Triệu chứng tiêu hoá : là triệu chứng đặc trưng
+ Khi sốt, con vật đi táo
+ Khi thân nhiệt hạ, con vật đi tiêu chảy, ỉa ở tư thế vọt cần câu, phân toé
ra, phân màu nâu hoặc màu của máu, khắm như mắm thối có thể có những đám màng giả (do niêm mạc ruột bong ra)
+ Đuôi, mông, đùi sau thường dính bết phân
+ Giai đoạn sau, con vật nằm bẹp, phân tự chảy ra ngoài
- Thở: thở nhanh, thở khó
- Tim: Lúc đầu đập nhanh, mạnh Sau đập chậm và yếu dần
- Con cái có thai: xảy thai hoặc trụy thai
- Bệnh kéo dài 1 tuần, con vật suy kiệt, chết (sau 6 – 12 ngày)
Trang 10Hình 11 Trâu bị tiêu chảy
* Thể mạn tính
- Con vật gầy còm, da khô, lông rụng
- Ho thường xuyên
- Ỉa chảy liên miên
* Thể ngoài da: Nhẹ, hiếm thấy
- Con vật bị viêm loét niêm mạc miệng
- Giai đoạn sau có đi tiêu chảy nhưng nhẹ
- Trên các vùng da mỏng có các nốt, mụn nhỏ li ti, lúc đầu mụn đứng riêng lẻ, sau tập trung thành từng đám, từng mảng, có nước, có mủ, mụn vỡ ra, chảy nước, chảy mủ, dính lông lại, khô đóng vẩy, khi vẩy bong ra, để lại các vết sẹo nông, màu
đỏ, khó mọc lông trở lại nhìn da như một đám da bị đốt cháy
5 Bệnh tích
Đại thể
- Xác gầy, bẩn, mùi tanh
- Bắp thịt mềm nhão, thấm máu
- Niêm mạc thường tụ máu, tím bầm hoặc có các điểm, vệt xuất huyết, niêm mạc miệng, chân răng, gốc lưỡi, hai bên má thường có vết loét to nhỏ khác nhau, có phủ bựa màu trắng xám hoặc vàng xám niêm mạc tiêu hoá chủ yếu là hiện tượng tụ máu, xuất huyết và loét (rõ nhất ở mảng payer trên niêm mạc ruột non), van hồi manh tràng tụ máu, xuất huyết
Trang 11Hình 12 Hoại tử có phủ bựa trên niêm mạc ruột non
Hình 13 Loét ở ruột bò mắc bệnh dịch tả
Trang 12Hình 14 Lưỡi bò vàng xám bong tróc ở bệnh dịch tả
Hình 15 Xuất huyết màng treo ruột ở dịch tả trâu bò
- Trực tràng: xuất huyết
- Phổi: tụ máu
- Gan: màu vàng úa, dễ nát
- Túi mật: căng, niêm mạc túi mật tụ máu, xuất huyết, có nốt loét
Trang 13Hình 16 Xuất huyết và loét niêm mạc túi mật
- Lách, thận: tụ máu
Hình 17 Tụ máu, xuất huyết niêm mạc ruột, van hồi manh tràng
Trang 14Hình 18 Viêm loét trên ruột già
Hình 19 Hoại tử và xuất huyết niêm mạc dạ cỏ
- Hạch lâm ba: sưng, tụ máu, có điểm xuất huyết
Vi thể:
Virus có khuynh hướng thích các tế bào lympho tạo ra các nốt hoại tử ở các trung tâm mầm và sự xuất hiện các tế bào khổng lồ có nhiều nhân (hợp bào) vào khoảng 8 ngày sau khi cảm nhiễm Các thể bao hàm trong tế bào chất và trong nhân tế bào đã được mô tả (Plowright, 1968) Các biểu bì vẩy, nhất là ở phần trên đường tiêu hóa cho thấy tạo thành hợp bào, cùng các biến đổi thoái hóa, tiếp đó hoại tử và tróc ra
để tạo thành các nốt loét
Trang 156 Chẩn đoán
- Cần phân biệt với bệnh LMLM, bệnh tiêu chảy của trâu bò và THT
- Dùng phương pháp gây bệnh thực nghiệm
+ Lấy bệnh phẩm : hạch, lá lách trâu bò nghi bệnh
+ Tiêm dưới da cho bê: Chuẩn bị bê 5-7 tháng, khoẻ mạnh, không nằm trong vùng có dịch, chưa sử dụng vaccin DTTB Lấy BF nghiền, lọc, xử lý kháng sinh Tiêm dưới da, theo dõi : nếu trong bệnh phẩm có VR DTTB, sau khi tiêm 3 ngày, con vật mệt mỏi, ăn uống kém, sốt 39,5 - 41°C, kéo dài 3 - 4 ngày Niêm mạc đỏ ửng, tụ máu, chảy nước mắt, nước mũi, mắt có dử… Từ ngày thứ 6 trở đi, thân nhiệt hạ dần, con vật tiêu chảy, phân nát, mùi thối khắm Con vật yếu dần và chết trong vòng
7-10-12 ngày Mổ khám có bệnh tích ở đường tiêu hoá
- Chẩn đoán huyết thanh học
7 Phòng, trị bệnh
* Trị bệnh
- Dùng kháng huyết thanh : tiêm dưới da cổ
+ 60 – 100ml cho bê 100kg
+ 100 – 160 ml cho bò 100 – 200 kg
+ 160 – 200 ml cho bò > 200 kg
+ Trâu: tiêm liều gấp đôi
• Khi trâu bò bị sốt cao thì sử dụng thuốc Urotropin 10% để tiêm dưới da, với liều lượng 10ml/ngày
• Khi trâu bò bị tiêu chảy dữ dội, mất nước, cần truyền tĩnh mạch dung dịch sinh lý mặn, sinh lý ngọt đẳng trương với liều 1000ml cho 100kg khối lượng
• - Hộ lý chăm sóc tốt
Trang 16Hình 20 Thuốc Urotropin 10%
* Phòng bệnh:
– Khi chưa có dịch:
+ Tiêm vắc xin phòng bệnh cho cả đàn định kỳ 1-2 lần/năm, nhất là những vùng có nguy cơ cao, vùng xung quanh các ổ dịch, vùng đã từng xảy ra dịch
+ Tổ chức nghiêm ngặt việc nhập khẩu trâu bò qua biên giới, tăng cường vệ sinh thú
y, vệ sinh môi trường, không để dịch bệnh có cơ hội phát sinh
Hình 21 Tiêm phòng vaccine định kì – Khi có dịch:
+ Kiểm tra và phát hiện trâu bò ốm, cần cách ly với những con khác để điều trị + Tiêm huyết thanh dịch tả cho trâu bò nghi mắc bệnh
Trang 17+ Nghiêm cấm vận chuyển, giết mổ gia súc.
+ Trâu bò chết vì dịch tả phải chôn sâu 2m, đổ vôi sát trùng, lấp kín cẩn thận Vệ sinh khử trùng chuồng trại bằng dung dịch nước vôi 10% hoặc crezin 2-3% và để trống chuồng 30 ngày
Hình 22 Xịt thuốc sát trùng chuồng trại
Trang 18TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang web
https://kythuatnongnghiep.com/benh-dich-ta-o-trau-bo/
http://hpstic.vn:96/tin-chi-tiet/Nguyen-nhan-va-cach-phong-tri-benh-dich-ta-trau-bo-2442.html
https://greenvet.com.vn/dich-ta-trau-bo/
https://naipet.com/benh-dich-ta-trau-bo-pestis-bovium-rinderpest/#prettyPhoto
https://en.wikipedia.org/wiki/Rinderpest
Tiếng Việt
1 Nguyễn Đức Huy (2020) “ Đề Cương Bài Giảng Bệnh Truyền Nhiễm”, Phân Hiệu Đại Học Lâm Nghiệp, Đồng Nai Trang 16 – 19
2 TS Nguyễn Hữu Vũ, TS Nguyễn Đức Lưu, TS Phương Song Liên (2000): Một số bệnh quan trọng ở trâu bò NXB Nông nghiệp -
Hà Nội Trang 12 – 17
3 Triển, Bộ Nông Nghiệp Và Phát, and Nông Thôn "Vacxin thú y Quy trình kiểm nghiệm vacxin dịch tả trâu bò nhược độc thỏ hóa 10TCN 178-93." (2002)
Tiếng Anh
4 Plowright, W., JG Cruickshank and AP Waterson "The morphology of the rinderpest virus." Virology 17.1 (1962): 118-122
5 Tajima, M and T Ushijima "Pathogenesis of rinderpest in the lymph nodes of cattle Light and electron microscopy studies." American Journal of Pathology 62.2 (1971): 221
6 Plowright, W "Study on the pathogenesis of rinderpest in experimental cattle
II Viral growth in different tissues after nasal infection." Epidemiology & Infections 62.2 (1964): 257-281
Trang 197 Kim, Y., Jones, BA, Pfeiffer, DU, Marrana, M., Simmons, HL, Budke, CM, & Fournié, G (2023) Risk of re-emergence of rinderpest virus 10 years after eradication Prophylactic veterinary drugs, 213, 105867
8 Phoofolo, Pule "Epidemics and revolutions: the rinderpest
epidemic in late nineteenth-century Southern Africa." Past & Present 138 (1993): 112-143.
9 Plowright, W., and R D Ferris "Studies with rinderpest virus in tissue culture: III The stability of cultured virus and its use in
virus neutralization tests." Archiv für die gesamte Virusforschung 11 (1962): 516-533.
10 Stolte, M., et al "Induction of apoptotic cellular death in lymphatic tissues of cattle experimentally infected with
different strains of rinderpest virus." Journal of comparative pathology 127.1 (2002): 14-21.