1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sơ đồ hóa thời kì lịch sử chính của việt nam từ văn lang âu lạc đến nay

11 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sơ đồ hóa thời kì lịch sử chính của việt nam từ văn lang âu lạc đến nay
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 143,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nhà nước và pháp luật là hệ thống tri thức về bối cảnh lịch sử, quá trình ra đời, hình thành, phát triển hoạt động, phát huy hiệu lực của nhà nước và những đặc trưng, quy luật ra đời, hình thành, phát triển của các nhà nước và pháp luật trong lịch sử.

Trang 1

1 Sơ đồ hóa thời kì lịch sử chính của Việt Nam từ Văn Lang Âu Lạc đến nay.

b Sơ đồ hóa hoạt động xây dựng pháp luật thời Lê Sơ.

Trang 2

Câu 2:

Đặc điểm cơ bản quản lý làng xã trong các thời kì lịch sử từ Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn.

Thứ nhất, bộ máy quản lý hành chính nhà nước ở cấp cơ sở địa phương dần được hoàn thiện Vào đầu đời Trần, năm 1242 Trần Thái Tông tiến hành phân chia ra các xã lớn, xã nhỏ mà đặt các chức đại tư xã, tiểu tư xã

là các xã quan thay mặt Nhà nước trực tiếp quản lý từ 1 đến 2, 3, 4 xã Sang đến thời Lê Thánh Tông, \tiến hành cải cách lại bộ máy quản lý hành chính, đổi chức xã quan thành xã trưởng, quy định việc bầu xã trưởng cũng như tư cách, đạo đức, năng lực của xã trưởng rất chặt chẽ Về

số lượng xã trưởng, luật quy định các xã cứ trên 500 hộ thì bầu 5 xã trưởng, từ 300 đến 500 hộ thì bầu 4 xã trưởng, từ 100 đến 300 hộ thì bầu 2

xã trưởng và không đến 60 hộ thì bầu 1 xã trưởng Nhà Nguyễn thời Minh Mệnh cải tổ lại bộ máy quản lý xã thôn: Bỏ chức xã trưởng và thay vào đó chức lý trưởng, quy định một xã chỉ có 1 lý trưởng và tuỳ theo quy mô làng xã nếu đinh số từ 50 đến 149 thì đặt thêm 1 phó lý, đinh số trên 150 thì đặt thêm 2 phó lý Tổ chức bộ máy địa phương nông thôn cơ bản hoàn chỉnh, riêng thời Nguyễn chính thức thừa nhận sự tồn tại của hai thiết chế: thiết chế quan phương (hội đồng chức dịch), thiết chế phi quan phương (hội đồng kỳ mục) trong bộ máy quản lý làng, xã trong đó, hội đồng kỳ mục là cơ quan quyết nghị ở làng, xã, còn hội đồng lý dịch là cơ quan chấp hành và mang tính đại diện Với cơ quan lý dịch, triều Nguyễn có xu hướng nhất nguyên hóa khi quy định chỉ có một người đứng đầu cấp xã là

lý trưởng chứ không phải là nhiều xã trưởng như trước đây, quy định rõ tiêu chuẩn chọn, chức năng, nhiệm vụ và cách thức khảo công lý trưởng Thứ hai, chính quyền trung ương tăng cường việc kiểm soát hoạt động của

bộ máy quản lý xã thôn, chủ yếu là hạn chế tình trạng ẩn lậu dân đinh và

Trang 3

ruộng đất, quản lý chặt chẽ hơn ruộng đất qua việc lập địa bạ và ban hành chính sách nông nghiệp Thời Lý Trần, bộ máy nông thôn vẫn còn lỏng lẻo, dưới thời Trần thái ấp được thiết lập trở thành thế lực riêng của các vương công quý tộc nên quyền lực nhà nước không vươn đến tận địa phương để quản lí mà phần lớn là thông qua vương hầu làm việc Sang đến thời Lê Thánh Tông cải cách đổi chức xã quan thành xã trưởng đồng thời quản lí số lượng quan lại lại địa phương, Lê Thánh Tông đã khéo biết khai thác và lợi dụng tục bầu cử người đứng đầu trong các công xã nông thôn trước đây để tuyển chọn người đứng đầu làng xã, bảo đảm họ vừa là đại diện của dân làng, vừa phục vụ một cách có hiệu quả cho yêu cầu quản lý làng xã của Nhà nước trung ương Sang đến thời Lê Trung Hưng, Nguyễn thông qua một loạt các hoạt động thay đổi về quan chế cũng như việc “Sắc phong thần” đã càng tăng cường sự kiểm soát về thần quyền lẫn vương quyền của nhà nước với làng xã nông thôn

Thứ ba, nhà nước can thiệp vào các phong tục tập quán làng xã nhằm hạn chế các tệ nạn xã hội và tăng cường hiệu lực của pháp luật nhà nước Đến đầu thế kỷ XIX các làng xã, nhất là trên địa bàn Bắc Bộ đã phát sinh nhiều tục lệ hết sức phức tạp, phiền hà Nhà Nguyễn nhận thức được vấn đề này:

"Gần đây giáo dục trễ nải, chính sự suy đồi, làng không tục hay, noi theo

đã lâu, đắm chìm quá đỗi Phàm tiết ăn uống, lễ cưới xin, việc ma chay và thờ thần thờ phật, nhiều việc quá trớn lấn lễ, bọn hào mục nhân đó mà đục khoét, người cùng dân đến nỗi xiêu giạt, thực là bởi cớ ấy" Để khắc phục tình hình trên, năm 1804 vua Gia Long định lại điều lệ hương đảng cho xã dân Quy định cụ thể như sau: Về tiết ăn uống - "Gần đây có kẻ mượn cớ việc làng họp nhau chè chén, tiêu phí một bữa ít là 3, 4 quan, nhiều hơn là

10 quan, nếu đóng góp chưa kịp thì bắt xã trưởng, thôn trưởng vay nợ cầm

áo mà ứng biện, để đến kỳ thu thuế thì vượt lệ bội thu mà bù vào phí trước,

Trang 4

trên thì quy oán cho quy ty, dưới thì bóc lột của dân nghèo" Nhà nước quy định chỉ những việc quan trọng thì mới tổ chức họp bàn và dùng trầu cau làm lễ, cấm dùng rượu thịt Ngay việc dùng chiêng trống làm hiệu lệnh để họp làng cũng cấm - vì cho đó sẽ làm hỗn loạn hương thôn - chỉ dùng mõ

Giá trị tham khảo và kế thừa hiện nay.

Thứ nhất, nhà nước một mặt thừa nhận các yếu tố tự trị, tự quản của làng

xã (như thừa nhận hội đồng kỳ mục với vai trò là cơ quan quyết định trong làng xã, quy định người đứng đầu cấp xã do dân bầu, thừa nhận hương ước

là công cụ quản lý ở làng xã) nhưng mặt khác kiểm soát rất chặt chẽ đối với người đứng đầu cấp cơ sở, thông qua đó quản lý làng xã sâu sát hơn

Mô hình quản lý nông thôn Việt Nam thời phong kiến mặc dù có tham khảo những mô hình sẵn có của Trung Quốc nhưng sự khác nhau căn bản trong nguyên tắc quản lý nông thôn là các nhà nước Trung Quốc dựa vào gia đình, lấy gia đình nông dân làm đơn vị cơ sở để quản lý nông thôn, trong khi các nhà nước Việt Nam thường chỉ dừng lại ở làng Nhà nước phong kiến phải thông qua làng, cụ thể thông qua người đại diện cho nhà nước ở làng là các lý trưởng mới tới được dân đinh, gia đình; trái lại, dân đinh, gia đình phải thông qua làng xã mới tới được nhà nước

Thứ hai, nhà nước đã cố gắng hạn chế và thủ tiêu các mặt tiêu cực của thiết chế quản lý làng xã cổ truyền Một trong những mặt tiêu cực chính là nạn cường hào Nhà nước phong kiến (Lê – Nguyễn) nhận thức được thực trạng, tác hại của tệ cường hào với đời sống người dân và là cản trở lớn nhất cho các chính sách của nhà nước nhưng cách quản lý làng xã thông qua người đứng đầu cấp xã tạo nên sự “khoán trắng” của nhà nước, dễ đẩy người đứng đầu làng xã trở thành người có quyền hành rất lớn mà lại không phải chịu đầy đủ trách nhiệm cá nhân của mình Đây là một kẽ hở

Trang 5

để người đứng đầu làng xã có thể nhân danh nhà nước hoặc nhân danh làng xã vì những mục đích riêng

Thứ ba, về quản lý cấp thôn: sự xuất hiện cấp thôn từ thế kỷ X bên cạnh cấp xã đương nhiên là hết sức cần thiết cho công việc tổ chức quản lý nông thôn Tuy nhiên, trong quá trình vận hành, cấp thôn cũng gây ra không ít rắc rối Hiện nay, các àng xã trong cả nước đều có thôn và chức danh

“thôn trưởng” Đảng ta khẳng định: “Nhà nước cần sớm nghiên cứu đề ra quy ước thích hợp về chức năng và vai trò cấp thôn, bản, ấp phù hợp với tình hình từng vùng” Thôn, bản được sử dụng như một cánh tay nối dài để truyền đạt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Bên cạnh những thành tựu đạt được như đảm bảo chủ trương, chính sách được phổ biến nhanh hơn, phát huy vai trò tự quản của người dân ở cộng đồng dân cư tốt hơn thì cũng bộc lộ hạn chế về sự lệ thuộc của bộ máy chính quyền cơ sở vào các tổ chức tự quản này

Câu 3:

Quy định tiến bộ và nhân văn trong quan chế thời Lê Thánh Tông.

Quan chế với các bộ phận cấu thành nêu trên đã được điều chỉnh bằng các văn bản phápluật một cách chi tiết, minh bạch nhưng rất chặt chẽ, nghiêm minh và hợp lý Tiêu biểu nhất trong các bộ pháp điển lúc bấy giờ điều chỉnhvề quan chế là Hoàng triều quan chế và Bộ Luật Hồng Ðức Trong phạm vi điều chỉnh của Luật Hồng Ðức, quan chế chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt là chế định trách nhiệm của quan lại Ðiểm độc đáo ở đây là các quy định liên quan đến trách nhiệm quan lại thường được thể hiện trong các điều luật về quyền lợi của người dân theo triết lý: một bên có quyền, một bên có nghĩa vụ đảm bảo thực thi

Trang 6

Vua Lê Thánh Tông khuyến khích giáo dục đối với nhiều tầng lớp khác nhau, không còn bó hẹp trong tầng lớp vua chúa, quý tộc, địa chủ, quan lại

và đặc biệt coi trọng chữ “đức” của sĩ tử Tháng 4, niên hiệu Quang Thuận thứ 3 (1462), vua mở hội thi Hương Các quan, xã trưởng sở tại có trách nhiệm chứng thực các thí sinh đi thi phải thật sự là người có đức hạnh Những kẻ bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, dù có học giỏi đến đâu cũng không được dự thi Phép thi được quy định như sau: thí sinh phải nộp giấy chứng thực ghi rõ là người của phủ, huyện nào, lý lịch bản thân, không được gian dối, giả mạo Nhà phường chèo, con hát và những kẻ phản nghịch thì bản thân và con cháu không được dự thi Nếu nhờ người thi hộ sẽ bị trị tội nặng Bên cạnh đó, vua đề cao quan điểm “lấy rộng người thực tài, không

lo bội số”, tập trung thu hút nhân tài làm việc cho triều đình, tạo điều kiện

để họ phát huy năng lực vào sự nghiệp phát triển đất nước Điều này đã được nhà sử học Phan Huy Chú ghi lại: “Khoa cử các đời, thịnh nhất là đời Hồng Đức Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng Trong nước không để sót nhân tài, triều đình không dùng lầm người kém” Thực hiện việc thi cử công bằng và minh bạch sẽ tuyển chọn được những cá nhân ưu

tú, bổ nhiệm họ vào những vị trí phù hợp

Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại ưu tú, vua Lê Thánh Tông chủ trương xây dựng nền quan chế đề cao vai trò của pháp trị “Pháp trị” là thuật ngữ có nội hàm rộng và phức tạp Tiếp cận dưới phương diện quản lý, pháp trị là học thuyết chủ trương quản lý xã hội bằng pháp luật Đại biểu của học thuyết này là Hàn Phi Tử với tư tưởng pháp là phép tắc hiệu lệnh rõ ở chỗ công, hình phạt là để cho lòng dân quyết chắc mà theo

Ai giữ phép cẩn thận thì thưởng, trái lệnh thì phạt Trong quá trình trị vì, vua Lê Thánh Tông luôn vận dụng các học thuyết một cách có chọn lọc,

Trang 7

đặc biệt là học thuyết Nho giáo vào việc củng cố quyền lực và xây dựng nền quan chế

Cùng với đó, vua Lê Thánh Tông hết sức đề cao vai trò của pháp luật, lấy pháp luật làm thước đo, chuẩn mực để đánh giá hành vi, đặc biệt là trong xét xử Bộ Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức là một trong những bộ luật cho thấy bước phát triển vượt bậc về tư duy pháp lý cũng như kỹ thuật lập pháp của nhà nước phong kiến Việt Nam Bộ luật Hồng Đức được vua Lê Thánh Tông ban hành và áp dụng thành công trong thời gian trị vì nước Đại Việt Bộ luật gồm 722 điều luật, chủ yếu là luật hình, song chứa đựng giá trị nhân văn, đề cập đến các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội: dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, quân sự… Nền quan chế của nước Đại Việt khi đó cho thấy, vua Lê Thánh Tông đã xây dựng bộ máy quyền lực không đơn thuần chỉ hoạt động máy móc dựa trên ý chỉ của người đứng đầu mà quan trọng hơn đã lấy pháp luật làm thước đo, chuẩn mực của hành vi Pháp luật không chỉ mang tính chất răn

đe, trị tội mà còn bảo đảm tính công bằng, minh bạch, bình đẳng trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Lịch sử cho thấy, “trăm quan” thực sự “là nguồn gốc của trị loạn” Nội hàm thuật ngữ “loạn” không đơn thuần chỉ là “loạn” khi đất nước bị giặc xâm lăng mà còn là mối “loạn” bên trong của triều đình Đó là nạn quan lại tham ô, nhũng nhiễu, vơ vét,

hà hiếp nhân dân, xảy ra phổ biến ở các triều đại phong kiến Dưới thời vua Lê Thánh Tông, ông chú trọng việc kiểm tra, giám sát và trừng trị thích đáng đối với những kẻ gây “loạn” Vua từng nhắc nhở Thái bảo Lê Lăng nên “cẩn thận về sau như trước, phải thanh liêm, phải công bằng”, cảnh tỉnh Tả đô đốc Lê Thọ Vực phải “hết lòng thành, bỏ lòng riêng” Nếu

đã nhắc nhở mà cố tình tái phạm, đặc biệt là đối với những hành vi tham ô,

Trang 8

nhũng nhiễu, lạm quyền, vua Lê Thánh Tông luôn xử phạt rất nghiêm khắc

để đảm bảo sự công bằng trong xã hội

Tính pháp trị mạnh mẽ của triều vua Lê Thánh Tông thể hiện ở một số quy định xử lý rất nghiêm khắc đối với những quan lại có hành vi trục lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhũng nhiễu, vơ vét của cải Điều 67, Chương

Vi chế, Bộ luật Hồng Đức chỉ rõ: “Các quan tướng súy tại các phiên trấn đến những châu huyện ở trấn mình sách nhiễu tiền tài của nhân dân thì bị biếm ba bậc, phải bồi thường gấp đôi số tiền trả lại cho dân” Điều 130 xác định: “Nếu người nào lạm chiếm quá phần đất đã định thì bị tội xuy đánh

50 roi, biếm một tư; người có vườn ao rồi mà lại chiếm nơi khác thì tội thêm một bậc Nếu người nào có công được vua cấp thêm đất thì không kể”8 Bên cạnh đó, Điều 157, Chương Vi chế đã xác định rõ trách nhiệm của quan liệu triều đình trong việc thực thi công vụ: “Các quan giám lâm, quan chủ ty biết thuộc viên phạm tội mà không phát giác, xử biếm hai tư; đàn cư quan biết mà không phát giác, tội cũng như thế”9 Quyền gắn liền với trách nhiệm là nguyên tắc quản lý được vua Lê Thánh Tông và quần thần hết sức đề cao

Về chế định phòng ngừa, xử lý tội tham nhũng của quan lại Trong quan chế thời vua Lê Thánh Tông còn bao gồm các quy định, các thiết chế về phòng, chống, xử lý nghiêm minh hành vi tham nhũng của quan lại Nghiên cứu toàn bộ Bộ luật đã chỉ ra, trong tổng số 722 Ðiều luật với 13 Chương chia làm 6 quyển thì có 78 Ðiều luật có quy định hành vi liên quan đến tham nhũng(chiếm 12,3%) Trong tổng số 13 Chương của Bộ luật thì có 7 Chương có các quy định về ham nhũng với các chế tài xử phạt nghiêm khắc Theo đó, có quy định về các tội phạm liên quan đến nhận hối

lộ, nhũng nhiễu để chiếm đoạt tiền của dân, được thể hiện trong 14 điều.Việc nhũng nhiễu ăn hối lộ trên nhiều lĩnh vực khác nhau như nhận

Trang 9

hối lộ trong tuyển đinhtráng vào quân đội (Ðiều 170); nhận hối lộ khi mật tra của quan liêm phóng (Ðiều 197); nhận hối lộ để không tâu với quan trên về hành vi khinh nhờn (Ðiều 229); v.v Nhóm tội danh thứ hai là các tội phạm liên quan đến lợi dụngchức quyền để chiếm đoạt tài sản là ruộng đất,thuế khóa hoặc lạm quyền chiếm đoạt tài sản của dân…

Giá trị tham khảo vào công cuộc xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay.

Thông qua việc tìm hiểu khái lược về tư tưởng cũng như các chính sách, phát kiến tạo lập nền quan chế dưới thời vua Lê Thánh Tông, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm, đề xuất giải pháp trong bối cảnh xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính ở Việt Nam hiện nay:

Thứ nhất, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong bối cảnh mới của đất

nước, đặc biệt trong kỷ nguyên số hiện nay là một đòi hỏi tất yếu Chính phủ kiến tạo, liêm chính dựa trên nền tảng sự chủ động của các cơ quan chức năng trong việc tạo lập môi trường cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội phát triển Vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức của thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, thành thạo về tin học, ngoại ngữ, được trang bị đầy đủ kỹ năng mềm Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong bối cảnh xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính bảo đảm năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức; tinh thần trách nhiệm với công việc; tuân thủ pháp luật, kỷ luật

Thứ hai, thực hiện tốt công tác nêu gương, tăng cường trách nhiệm của

người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị Nhìn lại lịch sử, có thể thấy, một trong những yếu tố giúp vua Lê Thánh Tông thu hút được nhiều người tài làm việc trong bộ máy triều đình, đó là bởi ông rất coi trọng tính trách nhiệm trong thực hiện công việc Từ vua, quan cho đến các vị trí khác trong triều đình đều rất nghiêm túc, chăm chỉ, cần mẫn làm việc Do đó,

Trang 10

người tài không chỉ khẳng định được tài năng của bản thân, mà còn hướng đến việc được cùng vua, quan cống hiến sức lực cho đất nước Đặt trong bối cảnh đất nước hiện nay, những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt thực hiện công tác nêu gương, tăng cường trách nhiệm, đặc biệt

là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong khu vực công Tuy nhiên, ở một số đơn vị, địa phương, công tác này còn có những hạn chế nhất định: vẫn còn tình trạng tham nhũng, sai phạm trong khi thi hành công vụ, mất đoàn kết trong nội bộ tổ chức… Do đó, để bảo đảm sự

“liêm chính” trong thực thi công vụ, trước hết, mỗi cán bộ, công chức phải thực sự có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao Người đứng đầu cơ quan,

tổ chức, đơn vị phải thực sự liêm khiết, chính trực, là tấm gương để cấp dưới và đồng nghiệp noi theo

Thứ ba, xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính trong bối cảnh hiện nay

đòi hỏi sự chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán

bộ, công chức cũng như sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, ban, ngành với nhau Nội hàm thuật ngữ “kiến tạo” hướng đến việc Chính phủ

và các cơ quan chức năng tạo điều kiện, là cầu nối giữa người dân, doanh nghiệp với Nhà nước, tạo động lực để phát triển, đặc biệt là phát triển kinh

tế Trong những năm qua, đã có nhiều địa phương đạt được nhiều thành tựu tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, những địa phương này đều hướng đến mục tiêu tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, năng động, thu hút đầu tư; cán bộ, công chức chủ động trong việc tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính, đồng thời sáng tạo nhiều kênh thông tin để tương tác với người dân và doanh nghiệp Trong thời gian tới, Chính phủ, các bộ, ban, ngành địa phương cần nhân rộng hơn nữa những cách làm hay, những cải cách mang tính đột phá; khắc phục và hạn chế tối đa tình trạng cán bộ, công chức “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”

Ngày đăng: 25/09/2023, 23:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w