NGÔ THỊ ÁNH NGỌC“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ SÂU ĐỤC THÂN Ostrinia furnacalis Guenee ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG ĐƯỜNG CAO LƯƠNG NGỌT TẠI THÁI
Trang 1NGÔ THỊ ÁNH NGỌC
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ SÂU ĐỤC THÂN (Ostrinia furnacalis
Guenee) ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG ĐƯỜNG CAO LƯƠNG NGỌT TẠI THÁI NGUYÊN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - Năm 2014
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 2NGÔ THỊ ÁNH NGỌC
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ SÂU ĐỤC THÂN (Ostrinia furnacalis
Guenee) ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG ĐƯỜNG CAO LƯƠNG NGỌT TẠI THÁI NGUYÊN”
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Thạnh
Thái Nguyên - Năm 2014
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 3liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác Các thông tin trích dẫn, sử dụng trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm
về nghiên cứu của mình.
Học viên
Ngô Thị Ánh Ngọc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 4học, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ sâu đục thân (Ostrinia furnacalis
Guenee) đến năng suất và hàm lượng đường cao lương ngọt tại Thái Nguyên”.
Tước hết tôi, xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban
chủ nhiệm khoa cùng các thầy, cô giáo đã giảng dạy trong chương trình Thạc
sĩ Khoa học cây trồng, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo TS Nguyễn Đức Thạnh
đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện đề tài và viết luận văn tốt
nghiệp.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để chuyên đề của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành c ảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2014
Học viên
Ngô Th ị Ánh Ngọc
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 5LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
3 Yêu cầu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Nguồn gốc, phân bố và điều kiện ngoại cảnh của cây cao lương 5
1.1.1 Đặc tính thực vật học và khả năng chống chịu của cây cao lương 6
1.1.2 Thời gian sinh trưởng 10
1.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu cao lương ngọt trên thế giới và Việt Nam 11
1.2.1 Tình hình sản xuất, nghiên cứu cao lương ngọt trên thế giới 11
1.2.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu cao lương ở Việt Nam 21
1.3 Nhận xét chung từ tổng quan và những vấn đề cần phải tiến hành nghiên cứu về sâu đục thân (Ostrinia furnacalis) hại cao lương ngọt 26
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Vật liệu nghiên cứu 27
2.3 Dụng cụ thí nghiệm 27
2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
2.5 Nội dung: 27
2.6 Phương pháp nghiên cứu: 28
2.6.1 Bố trí thí nghiệm 28 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 6CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Thành phần, tần suất xuất hiện diễn biến mật độ của sâu đục thân trên cao
lương ngọt 34
3.1.1 Thành phần, tần suất xuất hiện của sâu đục thân trên cao lương ngọt vụ
xuân hè năm 2013 34
3.1.2 Diễn biến mật độ sâu đục thân qua các kỳ điều tra 35
3.2 Đặc điểm sinh vật học của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) trên
cao lương ngọt vụ Xuân hè 2013 tại Thái Nguyên 37
3.2.1 Đặc điểm hình thái của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) 37
3.2.2 Kích thước của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) 37
3.2.3 Thời gian phát dục của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) trên
cao lương ngọt 41
3.2.4 Thời gian sống của trưởng thành sâu đục thân (Ostrinia furnacalis
Guenee) trên cao lương ngọt 42
3.2.5 Khả năng đẻ trứng của trưởng thành sâu đục thân (Ostrinia furnacalis
Guenee) trên cao lương ngọt 43
3.3 Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trừ sâu đục thân
(Ostrinia furnacalis Guenee) trên cao lương ngọt 46
3.3.1 Hiệu lực tiêu diệt sâu đục thân (TN trong phòng) 46 3.3.2 Hiệu lực trừ sâu đục thân (TN ngoài đồng ruộng) 47
3.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc phòng trừ sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis) đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất cao lương ngọt 48
3.4.1 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc phòng trừ sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis) đến các yếu tố cấu thành năng suất cao lương ngọt 48
3.4.2 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc phòng trừ sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis) đến năng suất cao lương ngọt 49
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 73.4.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc phòng trừ sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis) đến hàm lượng đường cao lương ngọt 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
1 Kết luận 52
2 Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO
IPM KLT KLTL NLTT NLSH NSLT NSTT ICRISAT
Food and Agriculture Organization of the United Nations - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc.
Quản lý dịch hại tổng hợp Khối lượng thân tươi Khối lượng thân lá tươi
Năng lượng tái tạo Năng lượng sinh học Năng suất lý thuyết Năng suất thực thu
Viện nghiên cứu cây trồng vùng khô hạn và bán khô hạn quốc tế
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Bảng phân loại giống căn cứ theo thời gian từ gieo đến hạt chín sinh lý 10 Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cao lương trên thế giới trong 5 năm gần đây 13 Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cao lương ở các châu lục trong 5 năm gần đây 14 Bảng 3.1 Thành phần, mức độ phổ biến của các loài sâu đục thân trên cao lương
ngọt tại Thái Nguyên năm 2013 34
Bảng 3.2 Diễn biến mật độ sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) qua các kỳ
điều tra vụ xuân hè 2014 tại Thái Nguyên 36
Bảng 3.3 Kích thước các pha phát dục của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee)
38
Bảng 3.4 Thời gian phát dục của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) trên cao
Bảng 3.5 Thời gian sống của trưởng thành sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee)
trên cao lương ngọt 43
Bảng 3.6 Khả năng đẻ trứng của trưởng thành sâu đục thân (Ostrinia furnacalis
Guenee) trên cao lương ngọt 44
Bảng 3.7 Hiệu lực trừ sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) của một số thuốc
BVTV 46 Bảng 3.8 Hiệu lực phòng trừ sâu đục thân (TN ngoài đồng ruộng) 47
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc phòng trừ sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis) đến các yếu tố cấu thành năng suất cao lương ngọt 48
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc phòng trừ sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis) đến năng suất cao lương ngọt 49
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc phòng trừ sâu đục thân Ostrinia
furnacalis đến hàm lượng đường trong cao lương ngọt 50luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Một số hình ảnh về bông của cây cao lương 8
Hình 1.2 Tình hình sản xuất cao lương trên thế giới trong 5 năm gần đây 13
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định hiệu lực phòng trừ sâu đục thân ngoài đồng ruộng 28
Hình 2.2 Sơ đồ chọn điểm điều tra 30
Hình 3.1 Tần suất xuất hiện của sâu đục thân hại cao lương ngọt 35
Hình 3.2 Diễn biến mật độ sâu đục thân qua các kỳ điều tra 35
Hình 3.3 Kích thước trứng sâu đục thân 38
Hình 3.4 Kích thước sâu non sâu đục thân 39
Hình 3.5 Kích thước nhộng sâu đục thân 40
Hình 3.6 Kích thước trưởng thành sâu đục thân 40
Hình 3.7 Thời gian phát dục của sâu đục thân 42
Hình 3.8 Thời gian sống của trưởng thành sâu đục thân 43
Hình 3.9 Thời gian đẻ trứng của trưởng thành cái sâu đục thân 44
Hình 3.10 Số ổ trứng trung bình của 1 trưởng thành cái sâu đục thân 45
Hình 3.11 Số trứng trung bình của 1 trưởng thành cái sâu đục thân 45
Hình 3.12 Hiệu lực phòng trừ sâu đục thân (TN trong phòng) 46
Hình 3.13 Hiệu lực phòng trừ sâu đục thân sâu 49 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Thế giới đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng năng lượng trầm trọng Theo dự báo của tổ chức năng lượng quốc tế IEA, khoảng 60 năm nữa các nguồn tài nguyên hóa thạch trên thế giới sẽ cạn kiệt vì con người đã và đang
khai thác nhanh hơn mức tái tạo của thiên nhiên Còn ở Việt Nam, theo báo
cáo của các chuyên gia năng lượng, dự báo đến năm 2025 Việt Nam về cơ bản cạn kiệt tài nguyên dầu khí Trong bối cảnh nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt, giá nhiên liệu liên tục tăng như hiện nay cùng với biến đổi khí hậu và yêu cầu cắt giảm khí thải CO 2 thì việc nghiên cứu tìm ra nguồn năng
lượng sạch, năng lượng tái tạo (NLTT) thay thế năng lượng truyền thống là
một giải pháp hết sức cấp bách.
Năng lượng sinh học (NLSH) nói chung được coi là một trong những
nhiên liệu thân thiện với môi trường Năng lượng thay thế hiện nay đã và
đang được phát triển mạnh mẽ trên thế giới Nghiên cứu phát triển nguồn năng lượng sinh học có ý nghĩa hết sức to lớn đối với vấn đề an ninh năng
thời góp phần thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế nông thôn theo hướng hàng hóa và công nghiệp hóa Xuất phát từ xu hướng đó, ngày 20/11/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm
2025” Quyết định này đã tạo hành lang pháp lý, chính sách và các kế hoạch đầu tư phát triển nhiên liệu sinh học.
Để ổn định và đảm bảo an ninh năng lượng, đáp ứng nhu cầu của con người, chính phủ Việt Nam đã thực hiện chính sách khuyến khích sử dụng đa dạng hóa các nguồn năng lượng (năng lượng mặt trời, năng lượng gió và đặc biệt là năng lượng sinh học) Thực hiện chủ trương này của Chính phủ, Việt
Nam hiện nay đã và đang xây dựng 4 nhà máy sản xuất xăng (ethanol) sinhluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 12học với tổng công suất gần 300.000 tấn/năm (gần 400 triệu lít/năm) Con số này mới chỉ đáp ứng được 1/2 nhu cầu xăng sinh học theo ước tính đến năm
2025 (600 triệu tấn, tương ứng với 760 triệu lít) Hiện nay, nguyên liệu chính
để sản xuất NLSH là sắn lát khô Tuy nhiên việc sản xuất xăng sinh học từ
sắn khiến các nhà máy sản xuất xăng sinh học phải cạnh tranh nguồn nguyên liệu sắn khốc liệt với các doanh nghiệp chế biến khác trong nước và gần đây
là cả Trung Quốc Chính vì vậy mà các nhà máy sản xuất xăng sinh học của Việt Nam đang phải đối mặt với vô vàn khó khăn để có đủ nguồn nguyên liệu
từ sắn Do vậy, việc tính đến cây trồng nhiên liệu khác có khả năng thâm canh
cho năng suất cao ít cạnh tranh là vô cùng cần thiết đối với nền công nghiệp năng lượng sinh học ở Việt Nam.
Cao lương ngọt là cây C4 có thời gian sinh trưởng ngắn (4-5 tháng), có
khả năng sinh trưởng rất mạnh và cho sinh khối lớn tại những vùng nhiệt đới
và á nhiệt đới như ở Việt Nam Cao lương ngọt còn là cây chịu hạn tốt, không
kén đất có thể trồng được trên những vùng đất khô cằn, thậm chí gần hoang hóa, nơi không thể trồng lúa gạo Venturi (2003) đã nghiên cứu so sánh tính
khả thi của việc sử dụng lúa mì, lúa mạch, ngô, cao lương hạt, củ cải đường
và cao lương ngọt làm nguyên liệu sản xuất chất đốt ở châu Âu Công trình này đánh giá trên 34 quốc gia và kết quả cho thấy: cây cao lương ngọt là cây
trồng có tiềm năng nhất do có hiệu suất quang hợp cao và khả năng thích nghi rộng Hiện nay, trên thế giới cao lương ngọt đang được coi là cây trồng tiềm
năng nhất để sản xuất xăng sinh học, 1 ha cao lương có năng suất trung bình
80 tấn sẽ sản xuất được 6.300 lít Ethanol Thân cao lương ngọt sau khi ép có thể dùng làm chất đốt sản xuất điện năng hoặc bã thải có thể dùng làm phân bón và thuốc nhuộm Sợi cao lương được dùng làm ván ốp tường, hàng rào, vật liệu bao bì phân hủy sinh học và dung môi Ngoài ra, phần lá và ngọn cao lương có thể làm thức ăn cho chăn nuôi gia súc với hàm lượng dinh dưỡng cao (trong 100g nguyên liệu với ẩm độ 12% có 10,4g Protein; 3,1g Fat; 1,6g
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 13Ash; 2,0g chất xơ; 70,7g cacbohydrate; 329 kcal năng lượng; 25,0mg Ca; 5,4mg Fe; 0,38 mg Thiamin; 0,15 mg Roboflavin và 4,3 mg niacin.
Bên cạnh những ưu điểm vượt trội, cao lương ngọt còn là một trong những cây trồng bị nhiều loài sâu bệnh xuất hiện, phát triển và gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển giảm hàm lượng đường và năng suất
khoảng 30% (Delattre R, 1993) [28] Trong đó, sâu đục thân là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm nhất, chúng xuất hiện và gây hại từ giai
đoạn cây con cho đến khi thu hoạch làm giảm năng suất cao lương 10%, thậm
chí 25 – 75% Trên cao lương và ngô có 17 loài sâu đục thân, chúng thuộc 2
họ côn trùng (họ ngài sáng Pyralidae và họ ngài đêm Noctuidae) Trong đó, loài Ostinia nubilalis là loài gây hại chính ở các nước Mỹ, Australia, Egyt,
Peru, Rumani, Thổ Nhĩ Kỳ, Berger,… (Abel C.A, 1995) [21], (Barbulescu
A,1982) [23] và loài Ostrinia furnacalis Guenee là loài gây hại chính trên ngô
và cao lương ở các nước châu Á như: Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Đài
Loan, Nhật, Triều tiên, Phillippine, Indonesia, Brunei, Malaysia,
Campuchia,…(Chu Y.I, 1996) [27], [29].
Trước thực tế đó, để phát triển cao lương ngọt bền vững, chúng tôi
thực hiện đề tài: “ “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của
m ột số loại thuốc trừ sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) đến năng suất và hàm lượng đường cao lương ngọt tại Thái Nguyên”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được đặc điểm sinh vật học của sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis Guenee) hại cao lương ngọt.
- Xác định được hiệu quả của biện pháp phòng trừ sâu đục thân
(Ostrinia furnacalis Guenee) và ảnh hưởng của biện pháp đó đến năng suất và
hàm lượng đường cao lương ngọt.
3 Yêu cầu của đề tài
- Xác định thành phần, tần suất xuất hiện, diễn biến mật độ của sâu đục thân trên cao lương ngọt.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 14- Xác định được đặc điểm sinh vật học của sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis Guenee) trên cao lương ngọt.
- Xác định hiệu lực của một số thuốc loại thuốc BVTV trừ sâu đục thân
(Ostrinia furnacalis Guenee) trên cao lương ngọt.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu đục thân
(Ostrinia furnacalis Guenee) đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
cao lương ngọt.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc, phân bố và điều kiện ngoại cảnh của cây cao lương
Cây cao lương (Sorghum bicolor L Moench) thuộc chi lúa miến hay
chi Cao lương (chi Sorghum) một trong 30 loài thực vật họ hòa thảo (họ
Poaceae) Cây cao lương có nguồn gốc từ miền Trung Phi cách đây 5 - 7 nghìn năm, sau đó được phát triển ở Ấn Độ, Trung Quốc và được du nhập vào
Mỹ năm 1890 để làm thức ăn gia súc (Evelyn, 1951) [30] Hiện nay có hàng triệu người ở châu Phi, châu Mỹ La Tinh… dùng cao lương như một loại
lương thực chính trong bữa ăn hàng ngày.
Cao lương có khả năng chống chịu với những điều kiện ngoại cảnh bất
thuận đặc biệt là hạn và ngập úng, chúng đóng vai trò quan trọng hơn trong các khu vực có khí hậu khô cằn Hiện tại cao lương là cây lương thực chủ yếu của vùng bán khô hạn của thế giới Cao lương thường được trồng luân canh với lúa mỳ, ngô và là một thành phần quan trọng trên các bãi chăn thả gia súc của nhiều khu vực nhiệt đới Các loài lúa miến là cây lương thực quan trọng ở
châu Phi, Trung Mỹ và Nam Á, là “cây lương thực đứng hàng thứ năm trên
trưởng của cao lương nhưng cao lương vẫn có thể trồng và phát triển ở những
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 16nơi có điều kiện khắc nghiệt và trình độ thâm canh hạn chế Cao lương rất
thích nghi với vùng đất nóng, khô hạn và bán khô hạn và là cây trồng chính ở châu Phi, châu Á, Nam Mỹ và châu Đại Dương, những nơi quá nóng và khô không phù hợp sản xuất ngô Đây cũng là cây trồng lấy hạt chính ở những vùng khô hạn và bán khô hạn Cây cao lương có xuất xứ từ vùng nhiệt đới
nên điều kiện khí hậu nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho phát triển Cao
,H.K and Myer, 1954) [42] Đa số các giống cao lương hiện nay không phản
ứng với ánh sáng, tuy nhiên cao lương là cây trồng ngày ngắn.
1.1.1 Đặc tính thực vật học và khả năng chống chịu của cây cao lương
Cao lương ngọt (Sweet sorghum) là một cây thuộc họ hòa thảo, chiều
cao trung bình từ 0,6 - 5m tùy thuộc vào giống, điều kiện canh tác và môi
trường Đặc điểm thực vật học cũng như thời gian sinh trưởng của cây cao lương tương tự cây ngô và các cây ngũ cốc khác.
Cao lương là cây thân thẳng, chứa nhiều nước Tùy từng giống và điều
kiện sinh trưởng mà chiều cao cây thay đổi từ 0,5 - 5m, cũng có giống cao tới
6m Đa số là cây hàng năm nhưng có các giống cây lâu năm tùy thuộc vào
tổng tích ôn của từng giống trong điều kiện trồng cụ thể, do vậy mà thời gian
sinh trưởng của chúng cũng khác nhau (Mc Bee, 1983) [34].
Thân cao lương gồm các lóng và đốt, lá mọc ra từ đốt, chồi có thể mọc
ra từ các đốt thân Thời gian đẻ nhánh sớm hay muộn tùy thuộc vào giống, thời vụ và kỹ thuật canh tác Cao lương có khả năng đẻ nhánh, nhánh được sinh ra từ các đốt trên thân, các đốt sát mặt đất ra nhánh trước, nếu thân chính
bị chết đi thì các nhánh con sẽ mọc ra thay thế thân chính Cao lương có sức tái sinh rất mạnh, trồng một vụ có thể thu hoạch liên tiếp 2 - 3 lần, có khi tới 4 lần tùy vào mức độ thâm canh Nếu chăm sóc tốt, năng suất vụ gốc không kém vụ tơ, thậm chí cao hơn Mỗi mắt trên thân cao lương có những chồi mầm, khi đã thu hoạch thân được chặt đi, những mầm ở phần gốc sẽ tiếp tụcluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 17phát triển cho ra những cây mới ở vụ sau Nên thu hoạch vụ tơ đúng lúc khi hạt vừa cứng, nếu thu hoạch trễ các chồi mầm sẽ già yếu đi.
Bộ rễ cao lương phát triển rộng, rễ chính đâm sâu với nhiều rễ phụ và rễ bên, rễ chủ yếu xuất hiện ở tầng đất mặt Rễ chính có thể đâm sâu tới 1,5m dưới mặt đất nhưng thông thường tập trung ở độ sâu 0,9m hoặc có thể tăng lên gấp 2 lần chiều sâu đó Rễ cao lương là rễ chùm với rất nhiều rễ bên có khả năng hút
nước hiệu quả, rễ đâm rộng Nhờ đặc điểm này mà cao lương có thể sống ở
những nơi khô hạn hơn ngô (Wilson, 1995), (Mortvedt J.J,1996) [36], [41].
Thân cây cứng, thông thường thuộc dạng thân đứng, thân có thể khô hoặc chứa nhiều nước, giữa thân có thể rỗng hoặc không, có đốt giống cỏ, nằm trong họ hòa thảo Đường kính thân dao động từ 0,5 - 5cm và thu nhỏ ở phần ngọn Tại mỗi mắt thân xuất hiện một lá và một chồi Trên thân phát triển một vài chồi nách làm cho cây cao lương đẻ nhánh nhiều và khỏe.
Lá cao lương rộng và dài, phân bố trên thân rất đa dạng, chúng có thể
tập trung phần gốc hoặc phân bố đồng đều trên thân ít hoặc nhiều Số lá trên thân chính có thể thay đổi từ 7 - 24 lá tùy thuộc từng giống Lá cây trông rất giống lá ngô, đôi khi cuộn tròn lại Lá cao lương cũng có phần bẹ ôm sát vào
thân cây làm tăng độ cứng cho cây, bẹ lá thông thường có chiều dài khoảng
15 35cm và cuộn chặt lấy thân Phiến lá thẳng hoặc lòng mo, dài từ 30 135cm và rộng từ 1,5 - 13cm với mép lá thẳng hoặc gợn sóng, mặt lá thường phủ một lớp phấn sáp Gân giữa lá có thể có màu trắng, vàng đối với giống có thân rỗng và khô hoặc màu xanh đối với giống thân có dịch.
-Hoa cao lương kết lại thành bông dài 4 - 25cm, rộng 2 - 20cm, có thể
mọc thẳng đứng hoặc cong xuống như cổ ngỗng Hoa cao lương mọc thành chùm, chùm hoa có cả hoa đực và hoa cái, mỗi chùm gồm khoảng 6000 bông con Chùm hoa có một cuống trung tâm, với những nhánh cấp 1, cấp 2, đôi khi có cấp 3, từ các nhánh này sinh ra các chùm hoa nhỏ Chiều dài và khoảng cách của những nhánh hoa quyết định hình dạng của chùm, từ hình nón hoặc hình ô van kín.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 18Hình 1.1 M ột số hình ảnh về bông của cây cao lương
(Nguồn: FAOSTAT, 2007) [31]
Cao lương là cây tự thụ phấn, đôi khi xảy ra hiện tượng giao phấn, tỷ
lệ giao phấn thường nhỏ hơn 6%.
Hạt cao lương có dạng tròn hoặc ô van có kích thước từ 4 - 8mm, có nhiều màu sắc, hình dạng khác nhau tùy từng giống Thường hạt được bao phủ bởi lớp mày Vỏ hạt cao lương cứng, có màu sẫm hoặc màu nâu đậm, có tính kháng bệnh và các tác động gây hại nhưng làm gia súc khó tiêu hóa hơn Một kg hạt giống chứa 25.000 đến 61.740 hạt Hạt cao lương có nhiều màu sắc khác nhau từ màu vàng nhạt, màu nâu đỏ nhạt đến màu nâu sẫm tùy thuộc vào từng nhiều tanin làm cho hạt có vị đắng.
Hạt cao lương khá nhỏ, đường kính khoảng 3 - 4mm, màu sắc hạt thay
đổi từ vàng nhạt đến nâu đỏ và nâu sẫm tùy thuộc vào giống Giống NL3 có
hạt màu nâu sẫm Chùm hoa cao lương nhỏ, các hoa trên bông không đồng
đều nở hoa Các loài cao lương hoang dại phân biệt bởi vòng đặc trưng với
lông dài tại những mấu Chúng dễ nở hoa và nở trên nhiều nhánh, nhánh hoaluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 19có hình xoắn ốc Đầu hoa mang hai loại hoa, một loại không có cuống và có
cả hoa đực lẫn hoa cái, loại còn lại có cuống và thông thường là hoa đực (Ramph, 2005) [38].
Cũng như ngô, cao lương là cây C4 có khả năng sử dụng ánh sáng cao
hơn các loại cây khác, dưới điều kiện ánh sáng cao và nhiệt độ nóng, chúng
có thể quang tổng hợp mạnh hơn (nhiều nghiên cứu cho thấy hơn 90% chất khô tích lũy được là do quang hợp) và sản xuất nhiều sinh khoáng, có khả
năng thích nghi và tiến hóa trong những vùng bị hạn chu kỳ (Trần Văn Hòa,
2003) [7] Phần lớn các loài cây cao lương có khả năng chịu khô hạn và chịu
nóng cao, đóng vai trò quan trọng trong các khu vực có khí hậu khô cằn.
Chúng tạo thành một phần quan trọng của các bãi chăn thả gia súc tại nhiều khu vực nhiệt đới.
Theo báo cáo từ các khu vực Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Tây Á,
Địa Trung Hải… thì cây cao lương là cây trồng chống chịu được với các loại đất từ chua đến kiềm, đất ngập nước hay khô hạn, nồng độ muối cao, các loại
nấm bệnh cũng như cỏ dại Cao lương có các đặc điểm về hình thái và sinh lý cho phép nó có thể sinh trưởng và tồn tại trong điều kiện hạn như: bộ rễ ăn sâu và lan rộng, bộ rễ phụ nhiều gấp 2 lần so với ngô, trên phiến lá hoặc bẹ lá
có một lớp sáp màu trắng nhạt bao phủ để bảo vệ chúng khỏi sự mất nước
dưới điều kiện khô nóng và làm giảm sự mất nước, khả năng tái sinh mạnh
mẽ và tự dừng sinh trưởng trong điều kiện hạn, phục hồi bình thường trở lại
khi điều kiện thuận lợi Do vậy, cao lương có thể phát triển ở vùng nhiệt đới
và á nhiệt đới với lượng mưa hàng năm chỉ khoảng 400 - 600mm, nơi quá khô ngô không trồng được Không chỉ có khả năng sinh trưởng trong vùng hạn mà
nó còn có khả năng phát triển được ở điều kiện thường xuyên ngập nước, do
đó nó cũng có thể trồng ở những vùng có lượng mưa lớn.
Cao lương sinh trưởng được ở độ cao 0 - 2300m so với mực nước
biển, khoảng pH đất mà cao lương có thể sinh trưởng được rất rộng từ 5,0 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 20-8,5 Nhưng theo Duke (1983) thì cao lương cũng có thể trồng được ở những
vùng đất có pH xuống tới 4,3 hoặc lên tới 8,7; khoảng nhiệt độ cao lương có
thể thích ứng được là từ 2 - 41 o C, nhiệt độ hàng năm trung bình có thể từ 7,8
- 27,8 0 C, thông thường khoảng 20,1 0 C Cao lương có thể thích ứng tốt trong các điều kiện nóng và lạnh của các vùng thuộc khu vực nhiệt đới và cận
nhiệt đới.
Như vậy cao lương cho thấy khả năng chịu hạn, úng, nóng, lạnh và mặn hơn hẳn những cây trồng khác Đây là ưu điểm mới để cho phép canh tác cao lương ở những vùng đất khó khăn, đặc biệt là trong điều kiện khô hạn.
1.1.2 Th ời gian sinh trưởng
Thời gian từ gieo đến thu hoạch hạt là một trong những yếu tố quan trọng để phân loại các giống cao lương, bố trí mùa vụ Thời gian sinh trưởng
thường ít thay đổi tuy nhiên nó cũng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, mùa
vụ, cùng một giống nếu trồng sớm thường có thời gian sinh trưởng dài hơn nếu trồng muộn.
Bảng 1.1 Bảng phân loại giống căn cứ theo thời gian từ gieo
gian sinh trưởng đến 25 ngày so với cách phân loại trên.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 211.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu cao lương ngọt trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất, nghiên cứu cao lương ngọt trên thế giới 1.2.1.1 Tình hình s ản xuất cao lương ngọt trên thế giới
Cao lương là một trong những loại cây ngũ cốc hàng đầu thế giới, cung
cấp thực phẩm, thức ăn, chất xơ, nhiên liệu, sợi Cung cấp lương thực cho
750 triệu người trên hành tinh, đặc biệt là ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới của châu Phi, châu Á và châu Mỹ La Tinh.
Hiện nay có hơn 50 quốc gia trồng cao lương phân bổ ở cả 5 châu lục, tập trung chủ yếu ở châu Phi và châu Mỹ Cây cao lương được ví dụ như một cây trồng đa tác dụng, sản phẩm của nó phục vụ cho nhiều ngành khác nhau tùy vào mục đích sử dụng: hạt làm thực phẩm cho người và gia súc, thân lá dùng làm thức ăn cho gia súc, làm chất đốt hoặc trong ngành công nghiệp sản xuất ethanol.
Mục đích sử dụng cũng dần thay đổi, trong những năm 1970 - 2000 cao
lương chủ yếu được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, từ những năm 1990 cao lương được nghiên cứu để sản xuất ethanol, trong khi đó trước năm 1970 thì
hạt lại được dùng làm lương thực cho con người.
Ngoài ra, cao lương còn được trồng với mục đích rất quan trọng là lấy thân lá làm thức ăn gia súc Cao lương thường trồng thành thảm cỏ để thu cắt cho gia súc ăn tươi hoặc chế biến dự trữ trong mùa khô hoặc làm
đồng cỏ chăn thả Phần lớn các giống cao lương có khả năng chịu khô hạn,
chịu nóng và chịu lạnh cao nên chúng đóng vai trò quan trọng trong ngành
chăn nuôi ở các khu vực khô cằn, khắc nghiệt Cây cao lương được sử dụng
làm thức ăn gia súc vì loại cây này có ưu điểm là có thể chịu đựng điều kiện khô hạn tự nhiên.
Sử dụng thân lá cao lương làm thức ăn gia súc thì có thể thu hoạch từ 2
- 5 lần/vụ trồng Cao lương trồng có giống hàng năm và giống lưu năm để làm thức ăn xanh cho gia súc Đây là loại cây gia súc rất thích ăn Khi thu hoạchluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 22năng suất thân của một số giống làm thức ăn có thể đạt tới 54,3 tấn/ha và 43,4
- 71,4 tấn/ha/lứa đối với cao lương lai Năng suất chất khô ở một số nước cũng thay đổi, tại Brazil là 13 - 15 tấn/ha, tại Mỹ là 14 - 17 tấn/ha, tại Irac 24
- 28 tấn/ha; 2,5 - 25 tấn/ha ở Oklahoma; 12 tấn/ha ở CuBa (Menedez and Martinez, 1980) [35]; 6 - 8 tấn/ha ở Ấn Độ, 14 - 33 tấn/ha ở Louisiana (Ricaud và cs, 1981) [40] Trong khi đó năng suất chất khô của cây cao lương
có thể đạt tới 20 tấn/ha (cây lâu năm) hoặc 30 tấn/ha (cây hàng năm) Như vậy, năng suất chất khô của cây cao lương thay đổi rất lớn tùy thuộc vào điều kiện đất đai khí hậu, kỹ thuật chăm sóc, thu hái và giống Điều này đã ảnh
hưởng tới chất lượng và sản lượng thức ăn khi sử dụng cho mục đích làm
thức ăn gia súc Theo Boardman, cao lương sử dụng làm thức ăn gia súc ở
120 ngày sau trồng tại California có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt 23g/m 3 /ngày sẽ cho năng suất đạt 27,6 tấn/ha; tại Australia cao lương 83 ngày sau trồng có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt 17g/m 3 /ngày sẽ cho
năng suất 14,1 tấn/ha.
Hiện nay, cao lương làm thức ăn thô xanh cho gia súc có thể được lấy
từ nhóm cây cao lương lấy hạt (thường gọi là milo) nhưng năng suất chất khô nhóm này thấp Nhóm giống cao lương chuyên dùng để làm thức ăn gia súc
có năng suất chất xanh cao và tỷ lệ sử dụng thường 80 - 90%.
Ngoài mục đích sử dụng làm thức ăn gia súc, thân cao lương còn được
sử dụng để sản xuất mật cao lương, đường, đồ uống chứa cồn, ethanol Các
bộ phận của cây là nguồn nguyên liệu cho nấu nướng Chất nhuộm màu được chiết ở cao lương hạt được sử dụng ở phía đông châu Phi Ở Mỹ, tinh bột của
cao lương được chế biến bằng quy trình nghiền ướt làm thành đường dextro,
các giống cao lương hạt sáp sử dụng làm keo dán giấy và vải Ở Trung Quốc
người ta đã ước tính giá thành sản xuất cồn từ cây cao lương chỉ có 3.500
NDT/tấn Cứ 16 tấn cây cao lương có thể sản xuất được một tấn cồn, phần bã còn lại có thể chiết suất được 500kg dầu diesel sinh học, người ta chỉ chế biến nhiên liệu từ thân cây, phấn hạt cao lương vẫn để dùng làm thực phẩm.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 23B ảng 1.2 Tình hình sản xuất cao lương trên thế giới trong 5 năm gần đây
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Hình 1.2 Tình hình s ản xuất cao lương trên thế giới trong 5 năm gần đây
Trong 5 năm trở lại đây, diện tích trồng cao lương không có nhiều thay đổi, duy trì ở mức trên 40 triệu ha, cao lương được trồng nhiều nhất năm 2011
(42,31triệu ha).
Từ năm 2009 - 2013, diện tích trồng cao lương trên thế giới có xu
hướng tăng nhẹ từ 40,94 triệu ha lên 42,12 triệu ha, riêng năm 2012 diện tích
trồng cao lương giảm xuống một cách rõ rệt (38,16 triệu ha) Tuy nhiên tổng sản lượng hạt cao lương giảm không nhiều do việc sử dụng những giống mới phù hợp với từng vùng sinh thái và mùa vụ Tổng sản lượng hạt cao lương thế giới từ năm 2009 - 2013 luôn duy trì ở mức 56 - 61 triệu tấn Năng suất hạtluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 24cao lương qua các năm dao động trong khoảng 13,9 - 14,57 tạ/ha Năng suất
hạt cao lương của thế giới đạt cao nhất năm 2011 (14,95 tạ/ha).
B ảng 1.3 Tình hình sản xuất cao lương ở các châu lục trong 5 năm gần đây
nâng cao năng suất hạt cao lương được quan tâm và chú trọng, rất nhiều
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 25chương trình, dự án cải tiến kỹ thuật canh tác, lai tạo giống cao lương mới đang tiến hành.
Tính đến năm 2013, châu Đại Dương là châu lục có năng suất cao nhất thế giới đạt 37, 49 tạ/ha nhưng sản lượng chỉ đạt 2,2 tiệu tấn do diện tích trồng của châu lục này rất thấp Châu Mỹ là châu lục có năng suất cao lương cao thứ thế giới, sản lượng cao lương lớn thứ hai thế giới tập trung chủ yếu ở
Mỹ, Mexico, Braxin và Argentina Châu Á cũng là châu lục trồng nhiều cao
lương nhưng trong số 10 nước có sản lượng cao nhất thế giới chỉ có Trung
quốc là đại diện của châu Á Năm 2009 sản lượng cao lương của Trung Quốc
là 2,3 triệu tấn, năng suất 39,65 tạ/ha cao hơn so với trung bình thế giới.
Mỹ là quốc gia sản xuất cao lương lớn thứ hai thế giới sau Nigeria năm
2009 Mỹ sản xuất trên 9,73 triệu tấn hạt trong đó chủ yếu chế biến thức ăn
chăn nuôi, 12% sản lượng cao lương phục vụ ngành công nghiệp chế biến ethanol Đồng thời Mỹ cũng là quốc gia xuất khẩu cao lương lớn nhất thế giới
chiếm 80% sản lượng cao lương xuất khẩu của thế giới Sản lượng cao lương xuất khẩu của Mỹ tăng liên tục trong vòng 35 năm năm qua Năm 2010 lượng
cao lương xuất khẩu của Mỹ tăng 15% so với năm 2009.Trồng cao lương để
sản xuất Ethanol sẽ là hướng đi mà quốc gia lựa chọn trong thời kỳ khủng hoảng năng lượng như hiện nay Ở Mỹ cao lương được trồng chủ yếu ở Kansas, Nebraska và Texas.
Châu Á cũng là châu lục trồng nhiều cao lương nhưng trong số 10 nước
có sản lượng cao nhất thế giới chỉ có Trung Quốc là đại diện của châu Á.
1.2.1.2 Tình hình nghiên c ứu cao lương trên thế giới
Trải qua hàng ngàn năm thì cây cao lương được trồng và nghiên cứu khắp nơi trên thế giới, từ những vùng đất màu mỡ đến những vùng đất khô cằn tưởng như không thể sinh sống được Đầu tiên là từ thượng nguồn sông
Nile sau đó đã lan rộng ra hầu hết các châu lục, cho đến nay thì đã rất quen
thuộc với nhiều người.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 26Tháng 12/2002 tại cuộc họp của những nhà khoa học nghiên cứu về
lương thực thế giới, Grisse đã nói: “Chúng tôi thiết lập kế hoạch tập huấn
khoảng 100 nhà kỹ thuật nông nghiệp trong sản xuất và sử dụng lúa miến ngọt ở hai vùng đất khô cằn và có muối kiềm với diện tích 10 ha trong hai
năm, từ đó thiết lập biện pháp canh tác, chế biến cho vật nuôi sau đó chuyển
giao kỹ thuật thành công cho 200 hộ nông dân”.
Tổ chức FAO đã thông qua một chương trình kỹ thuật giúp đỡ Bộ Nông nghiệp Trung Quốc canh tác cây cao lương ở Slandong và Shaanxi để
cho gia súc ăn, sản xuất ethanol trên những vùng đất khô cằn có độ mặn, kiềm cao Đối tác của dự án là Viện giống Trung Hoa, có thể gây giống để bảo tồn
trong nhiều năm Từ đó Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, Bộ Khoa học và kỹ thuật xem xét việc giới thiệu một kế hoạch đẩy mạnh trồng cây cao lương ngọt trong năm 2003 - 2005 lên 1 triệu ha.
Tháng 12/2006 khu vực trước hồ Bewery của Milwankee, Wisconsin
đã mở màn trồng gọi là: “giống lúa mạch mới”, cây để chiết tách lấy “gluten”
để dùng trong công nghiệp nước giải khát và công nghiệp hóa học.
Các ngành khoa học dự án ICRISAT đã có rất nhiều nghiên cứu về các giống cao lương trên nhiều vùng khác nhau Từ đó đưa ra những giống
có thời gian sinh trưởng ngắn, trung, dài phù hợp với mục đích gieo trồng ở mỗi nơi.
Nhận thức được vai trò quan trọng của cao lương cũng như nhu cầu tiêu thụ cao lương của con người không ngừng tăng lên Nhiều nước đã đầu tư cho việc tăng năng suất và diện tích trồng cao lương Vấn đề đặt ra là chúng
ta phải tăng năng suất cao lương bằng cách sử dụng các giống có tiềm năng
năng suất cao và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất.
Ở Châu Phi dự án nghiên cứu cao lương cấp nhà nước được phê duyệt năm 1984, bắt đầu hoạt động từ năm 1986 đến 1991 dưới nguồn vốn tài trợ
của chính phủ Mỹ [43].
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 27Công tác nghiên cứu cao lương trên thế giới đang ngày càng được mở rộng với các tổ chức và nhiều chương trình nghiên cứu như:
ICRISAT: Trung tâm nghiên cứu cây trồng vùng bán khô hạn.
NRCS: National Research Centre for Sorghum INTSORMIL-CRSP: Chương trình hỗ trợ nghiên cứu hợp tác quốc tế
về cây cao lương và cây kê.
INRAN: viện nghiên cứu nông nghiệp Niger SAFGRAD: Tổ chức nghiên cứu và phát triển cây ngũ cốc vùng bán khô hạn.
CGIAR: trung tâm nghiên cứu tư vấn nông nghiệp quốc tế.
1.2.1.3 Tình hình nghiên c ứu sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) trên thế giới
* Đặc điểm sinh vật học của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee)
Sâu đục thân ngô, cao lương (Ostrinia furnacalis Guenee) thuộc họ ngài
sáng (Pyralidae), bộ cánh vảy (Lepidoptera) Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) đã được nghiên cứu ở
Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Philippine và Malaysia (Cao Y.P, 1994), (Chandrashekar A, 2006), (Chu Y.I, 1996), (Delattre R,1993), [25], [26], [27], [28] Song các tác giả này mới chỉ nghiên cứu đặc điểm sinh
vật học của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) với nguồn thức ăn nuôi
sâu là ngô mà chưa nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài này với thức ăn
là cao lương ngọt.
Thời gian phát dục của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) ở các
điều kiện thời tiết khí hậu khác nhau là không giống nhau: Pha trứng dao động từ 3 - 4 ngày; sâu non có 6 - 7 tuổi và kéo dài từ 17 - 30 ngày; pha
nhộng dao động từ 6 - 9 ngày Như vậy, vòng đời của sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis Guenee) dao động từ 26 - 43 ngày tùy thuộc vào điều kiện thời tiết
khí hậu và thức ăn Sâu trưởng thành có thể sống được từ 7 - 11 ngày Mộtluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 28trưởng thành cái đẻ trung bình 602 - 817 trứng Trưởng thành sâu đục thân
(Ostrinia furnacalis Guenee) có thể phát tán với khoảng cách xa nhất 8 - 10
km, trung bình chỉ phát tán với khoảng cách 2 km Ở Triều Tiên và ở vùng
Jiang Su (Trung Quốc), mỗi năm sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee)
có thể hoàn thành 3 thế hệ.
Chất lượng thức ăn ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng, phát triển của sâu
non (Ostrinia furnacalis Guenee) Sâu non sống trong cây ở giai đoạn chín có
tỷ lệ sống sót cao hơn so với sâu sống trên cây ở giai đoạn đang sinh trưởng
sinh dưỡng.
Theo Chu Y.P, 1996 [27], kết quả nuôi sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis Guenee) trong phòng thí nghiệm ở Đài Loan cho thấy: sự thay
đổi mật độ sâu non tuổi 4 và tuổi 5 ảnh hưởng rõ rệt đến sự tăng trưởng
quần thể sâu.
Sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) gây hại trên ngô, cao lương
và bông Tuy nhiên, tùy theo từng loại thức ăn mà tỷ lệ sống của sâu non và thời gian phát dục của sâu khác nhau Trên loại thức ăn thích hợp, sâu non có
tỷ lệ sống cao và thời gian phát dục ngắn lại (Delattre, 1993) [28].
* Biện pháp phòng trừ sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee)
- Biện pháp canh tác:
Ở Ấn độ, để tránh tác hại của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee,
Sesamia cretica, Chilo agamemnon) và các loài rệp muội, người ta khuyến
cáo nên gieo trồng vào thời gian trước giữa tháng 6 hàng năm Ở Nicaragua đã khuyến cáo, việc cày đất trước khi trồng có tác dụng trừ được một số mầm mống sâu, bệnh hại trong đất, trong đó có sâu đục thân Ở Philippine, việc xen
canh ngô với lạc có tác dụng hạn chế số lượng sâu đục thân (Ostrinia
furnacalis Guenee) (FAO,1997) [31].
Theo Phelan P.L (1995) [37], phân đạm có ảnh hưởng lớn đến sâu đục thân Thí nghiệm năm 1991 ở Benin cho thấy: phân đạm không những chỉ có tác dụng tăng sinh trưởng và năng suất ngô mà nó còn làm tăng cả tỷ lệ sốngluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 29sót của các loài sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee, Sesamia cretica,
Chilo agamemnon) do đó làm tăng tỷ lệ cây bị hại và tăng số lỗ đục trên 1 cây.
Mật độ ổ trứng sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) trên ruộng ngô bón
phân hóa học cao gấp 18 lần so với trên ruộng ngô bón phân hữu cơ Nếu
không bón đạm cho cây, tỷ lệ thiệt hại năng suất ngô do sâu đục thân là 20%, cao hơn so với có bón đạm (tỷ lệ thiệt hại năng suất 11%) là 9% Nếu bón đạm
vô cơ (đạm, lân, kali) cân đối cùng với phân vi lượng có chứa muối mangan và kẽm thì sẽ tăng khả chống chịu của cây ngô đối với sâu đục thân.
Ở điều kiện mưa ẩm, mật độ sâu đục thân không phụ thuộc vào mật độ
trồng, nhưng ngược lại nếu trong điều kiện khô thì mật độ sâu đục thân ở những ruộng trồng mật độ thưa sẽ thấp hơn so với ruộng trồng dày.
- Biện pháp thủ công cơ giới:
Việc thu dọn, tiêu hủy tàn dư sau thu hoạch có tác dụng làm giảm đáng
kể quần thể sâu đục thân.
- Biện pháp sử dụng giống kháng Giống kháng sâu đục thân là giống mà sâu đục thân không đẻ trứng lên
đó và khi nhiễm sâu nhân tạo thì thì tỷ lệ sống sót của sâu non thấp Đối với
ngô, có nhiều giống có tính kháng sâu đục thân (Ostrinia furnacalis) như:
giống ngô Michigan No 561, L317, Oh7, W10, F1244, F1246, F1250A,
PI503728, PI503849, A10623,… nhưng hiện nay chưa có tài liệu nào công bố
về giống cao lương ngọt có tính kháng sâu đục thân (Ostrinia furnacalis).
- Biện pháp sinh học:
Nghiên cứu biện pháp sinh học bắt đầu từ việc nghiên cứu thành phần lớn là vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu đục thân Ở Liên Xô cũ
đã phát hiện hơn 20 loài thiên địch thuộc bộ cánh màng (Hommoptera) và bộ 2
cánh (Diptera) là ký sinh sâu đục thân (Ostrinia nubilalis) Trong đó, ong mắt
đỏ (Trichogramma evanescens) ký sinh trứng, ong vàng (Habrobracon
hebetor) ký sinh sâu non Ở Pháp, đã phát hiện 4 loài ruồi họ Tachinidae ký
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 30sinh sâu đục thân (Ostrinia nubilalis) Ở Thổ Nhĩ Kỳ, ong mắt đỏ
(Trichogramma evanescens) là loài ký sinh quan trọng trên sâu đục thân (Ostrinia nubilalis).
Trong các năm 1987 – 1990, trứng sâu đục thân (Ostrinia nubilalis) bị
ong mắt đỏ (Trichogramma evanescens) ký sinh với tỷ lệ 48,9 – 73,02% Loài
ong mắt đỏ này có hiệu quả cao trong việc kìm hãm số lượng sâu đục thân Ở Hoa Kỳ, đã xác định được 4 loài ký sinh và 6 loài vi sinh vật là thiên địch của
sâu đục thân (Ostrinia nubilalis), trong đó loài Nosema pyraustae là loài có
triển vọng nhất, nó có khả năng gây chết 60% ký chủ Số lượng quần thể ký
sinh tăng hay giảm phụ thuộc vào số lượng quần thể ký chủ và diễn biến mật
độ 2 loài ký sinh và ký chủ theo đường parabol (Andreadis,1982) [22].
Ở Triều Tiên, mới ghi nhận được 2 loài ký sinh sâu đục thân Trong đó,
ong mắt đỏ (Trichogramma evanescens) có thể tiêu diệt được 63,8% số trứng
của vật chủ Ở Malaysia, đã ghi nhận được 2 loài bắt mồi ăn thịt Ở
Philippine, đã phát hiện được 3 loài bắt mồi ăn thịt và 1 loài ký sinh trứng sâu
đục thân Ngoài ra, các loài vi khuẩn Bacillus thuringiensis, virus nhân đa
diện NPV, nấm Beauveria bassiana, tuyến trùng Steinernama carpocapsae, trùng bào tử (Nosema furnacalis và Nosema pyrausta) có tác dụng trong
phong trừ sâu đục thân (Gahlukar, 1976) [32].
Ở Đức, đã nghiên cứu ứng dụng ong mắt đỏ để phòng trừ sâu đục
thân, kết quả cho thấy: Nếu thả 50 – 100 nghìn ong mắt đỏ/1 ha với số lần thả 1 - 3 lần, thả cách nhau 1 tuần thì loài ong này đã tiêu diệt được 80 –
94% sâu đục thân và vào năm 1979-1981, đã tiến hành thả ong mắt đỏ trên
diện tích 12 - 73 ha/năm Ở Liên Xô cũ, việc thả ong mắt đỏ với số lượng
30 ngàn con/ha cho kết quả khá cao (tỷ lệ trứng sâu đục thân bị ký sinh lên tới 78%) Ở Trung Quốc, vào năm 1974 đã tiến hành thả ong mắt đỏ trên
diện tích 5 ngàn ha để trừ sâu đục thân (Ostrinia nubilalis) (thả 2 lần, mỗi
lần thả 150 ngàn con và kết quả cho thấy: 62,2 – 78% trứng sâu đục thân bị ong ký sinh Ngoài ra, việc nghiên cứu ứng dụng ong mắt đỏluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 31(Trichogramma evanescens) trong phòng trừ sâu đục thân (Ostrinia
nubilalis) còn được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới như: Thổ Nhĩ Kỳ,
Italy, Đài Loan, Australia, Philippine,… (Berger H, 1984) [24].
- Biện pháp sử dụng thuốc hóa học:
Biện pháp hóa học là một biện pháp chủ chốt, quan trọng trong phòng trừ dịch hại cây trồng nói chung và sâu đục thân nói riêng Biện pháp này
được sử dụng khi mà các biện pháp khác không phát huy được hiệu quả hoặc
hiệu quả phòng trừ không cao và đây cũng là biện pháp duy nhất dùng để sử dụng khi nạn dịch có nguy cơ bùng phát trên một diện tích lớn.
Theo Bei-Bienko (1954), việc sử dụng thuốc hóa học BVTV quá mức
và máy móc, đặc biệt là việc dùng các thuốc có độ độc cao, có thể kéo theo những hậu quả nặng nề: làm gia tăng số lượng và ý nghĩa kinh tế của nhiều loài sâu hại do sự phá hủy hệ thiên địch của chúng trong tự nhiên.
Ở Pháp, do sử dụng lạm dụng thuốc Pyrethroid (Decis và Sumisidin)
trừ sâu đục thân đã gây bùng phát số lượng các loài rệp muội Rhopalosiphum
padi, Sitobion avenae, Metopolophium dirhodum và làm cho việc phòng trừ
sâu hại ngô đi vào bế tắc.
Thuốc Fenitrothion có hiệu quả diệt trừ sâu đục thân và rệp muội cao ở
Yugoslavia, nhưng loại thuốc này cũng làm cho tỷ lệ thiên địch (bọ rùa, bọ
mắt vàng, ruồi thuộc họ Syrphidae) chết cao Để trừ sâu đục thân, có thể sử
dụng các loại thuốc: Quinalphos, Cypermethrin, Furadan, Sevin,
Monocrotophos, phosphamidon,… (DelattreR, 1993) [28].
1.2.2 Tình hình s ản xuất, nghiên cứu cao lương ở Việt Nam 1.2.2.1 Tình hình s ản xuất, nghiên cứu cao lương cao lương
Ở nước ta, cao lương được trồng từ lâu đời Tùy theo từng vùng cây cao lương có nhiều tên gọi khác nhau như: lúa miến, củ làng, mì, bobo… Cao lương được trồng ở các khu vực núi cao như: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên… hoặc khu vực Tây Nguyên Cao lương đã được đồng
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 32bào dân tộc vùng núi dùng làm thức ăn chăn nuôi từ lâu đời Tuy nhiên, cây
cao lương chỉ phát triển khi nước ta du nhập những giống mới từ năm 1962 Trong giai đoạn vừa qua nước ta đã nhập nội 210 mẫu giống cao lương từ
ICRISTAT, Pacific Seed, Philippin, Nhật Bản bao gồm cả hai dòng lai và dòng thuần, một số giống địa phương cũng được thu thập Mẫu giống được tiến hành
đánh giá, thử nghiệm tại nhiều vùng và đã cho nhiều kết quả khả quan.
Việc nghiên cứu sử dụng cây cao lương làm thức ăn xanh còn rất hạn chế, đặc biệt là thức ăn xanh trong vụ đông Một số nghiên cứu đã theo dõi trên ruộng thí nghiệm 36 giống cao lương nhập từ Liên Xô Kết quả cho thấy
có sự biến động lớn về tốc độ sinh trưởng, năng suất chất xanh và thành phần
dinh dưỡng giữa các giống Có những giống cho năng suất chất xanh khá cao
(30 - 33 tấn/ha/lứa) Kết quả trồng cao lương tại Nông trường Ba Vì cùng thời
điểm cũng cho kết quả tương tự Có những giống có hàm lượng protein thô
cao (12,61; 13,65 và 15,81%) Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn hạn chế về
quy mô và lượng mẫu phân tích Hơn nữa, nghiên cứu này không định hướng
tuyển chọn giống cao lương làm thức ăn chăn nuôi (có năng suất và chất
lượng cao) trong mùa đông khô hạn.
Các thí nghiệm so sánh và khảo sát về các giống triển vọng ở các vùng sinh thái khác nhau gồm có các giống thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh Các nghiên cứu tiến hành ở Hà Nội, Bắc Thái, Hải
Dương, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Minh Hải đã thu được kết quả chung là
giống có thời gian sinh trưởng trung bình là 115 - 125 ngày, thì khả năng chống bệnh đốm lá, mốc hồng nhạt, chống độc tố và năng suất cao như các giống: ICSV (5,8 tấn/ha), ICSR - 9075 (4,8 tấn/ha) Các giống được trồng tại
Hà Nội, Hải Dương và Cần Thơ là cho kết quả đáng chú ý hơn, có thể mở rộng diện tích trồng các loại cây này phổ biến trong các nông hộ.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tiến hành thu thập và đánh giá
một số giống cao lương ở các địa phương như: Bản Phố (Bắc Hà - Lào Cai), Vũluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 33Nông (Nguyên Bình - Cao Bằng), Thái Học (Hà Quảng - Cao Bằng), Lũng Nặm (Hà Quảng - Cao Bằng), Kéo Yên (Hà Quảng - Cao Bằng) [4], [5] Một số giống
cao lương cũng đã được nhập nội từ Nhật Bản: Indian Sorghum, Hayakawa, Kazetachi, Gold Sorgo, Suzuko,…và cộng sự năm 2006 đã tiến hành mô tả các đặc điểm sinh vật học của các giống cao lương đồng thời đánh giá đặc tính nông
sinh học qua các vụ trồng khác nhau tại Đại học Nông nghiệp Hà Nội Bước đầu tác giả cũng đã đánh giá năng suất và đặc tính sinh lý liên quan đến khả năng chịu hạn của cao lương Bùi Quang Tuấn và cộng sự (2007) cũng đã đánh giá giá trị dinh dưỡng của một số giống cao lương trồng trong mùa đông tại Gia Lâm -
Hà Nội và cho thấy có nhiều kết quả khả quan.
Trong những năm gần đây, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tiến hành thu thập và đánh giá một số giống cao lương ở các địa phương như: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang Một số giống cao lương cũng đã
được nhập nội từ Nhật Bản: EN 4, EN 6, EN 8, EN 16, EN 19… Bước đầu tác
giả cũng đã đánh giá năng suất và đặc tính sinh lý liên quan đến khả năng chịu hạn của cao lương [10], [14], [18], [19].
Nhìn chung, những nghiên cứu về cây cao lương trên thế giới rất đa dạng.
Đối với nước ta, nghiên cứu về cây cao lương chỉ mới bắt đầu phát triển ở một
số khía cạnh nhưng chỉ là đánh giá sơ bộ chưa có nghiên cứu nào đi sâu Sự tác
động của biến đổi khí hậu làm cho những nơi lượng mưa giảm đi và khả năng tưới không đáp ứng nhu cầu của các cây trồng truyền thống, dẫn tới đất bị bỏ
hoang không thể canh tác được Cũng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
nhưng theo hướng ngược lại là do băng tan, nước biển dâng cao làm cho diện
tích đất có thể trồng trọt kéo dài theo 3260 km bờ biển của nước ta bị nhiễm mặn Do vậy, tìm ra cây trồng mới tham gia cơ cấu cây trồng để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn là hết sức cần thiết và quan trọng với Nông nghiệp Việt Nam Theo Quyết định 177/2007/QĐ-TTg ngày 10/11/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn 2020, với mục tiêu sản xuất xăng E10 (10% ethanol trong xăng) và dầuluan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 34sinh học nhằm thay đổi một phần nhiên liệu truyền thống hiện nay Theo Đề án
này, trong giai đoạn 2006 - 2010, Việt Nam sẽ tiếp cận công nghệ sản xuất nhiên
liệu sinh học từ sinh khối, xây dựng mô hình thí điểm phân phối nhiên liệu tại một số tỉnh, thành, quy hoạch vùng cây nhiên liệu cho năng suất cao, đào tạo cán
bộ chuyên sâu về kỹ thuật Giai đoạn 2010 - 2015 sẽ phát triển mạnh mẽ sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học thay thế một phần nhiên liệu truyền thống
mở rộng quy mô sản xuất và mạng lưới phân phối phục vụ giao thông và các ngành công nghiệp khác, đa dạng hóa nguồn nguyên liệu.
Trong những năm gần đây, một số tổ chức đã tiến hành nghiên cứu cao
lương ngọt làm nhiên liệu sinh học, trong đó điển hình là đề tài cấp Nhà nước
“Nghiên cứu tuyển chọn một số giống cao lương ngọt có năng suất cao, chất lượng tốt cho sản xuất ethanol nhiên liệu” với mục tiêu tuyển chọn và xây dựng
quy trình thâm canh cao lương ngọt Tuy nhiên bộ giống sử dụng là những giống thuần nhập nội từ ICRISAT (Ấn Độ) năng suất chỉ đạt 30 - 35 tấn/ha [43] Ngoài ra cũng có một vài nơi thử nghiệm các giống khác nhau nhưng
năng suất thấp, chưa đặt được hiệu quả như mong muốn.
Từ những năm 1990, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng đã tiến hành nghiên cứu cao lương lấy hạt trên quy mô nhỏ, những giống này
được nhập từ ICRISAT Tuy nhiên chưa có quy trình nghiên cứu tổng thể về điều kiện sinh thái trong quá trình chọn tạo giống, quy trình kỹ thuật trồng
nên những giống nhập nội này chưa thực sự phù hợp với điều kiện sinh thái vùng trung du miền núi phía Bắc, cho năng suất rất thấp.
Hiện nay, công ty Sacoin đang thực hiện Dự án sinh học thực vật ứng dụng mới ở giai đoạn nghiên cứu định hướng được thực hiện trên 4ha, gồm 2 phòng thí nghiệm và một số vườn ươm Các kết quả thực nghiệm sẽ được áp dụng trên 170 ha thực địa tại Quảng Ninh, Hà Tĩnh Dự án này đã được sự ủng
hộ nhiệt tình của các địa phương, sự hợp tác hào hứng của các kỹ sư, nhà khoa học ngoài công ty, đặc biệt là sự tham gia của công ty Hanhwa Rerources (Hàn Quốc) và tư vấn của các nhà khoa học Mỹ, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 35Năm 2011, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã ký kết bản ghi
nhớ hợp tác nghiên cứu và bản thỏa thuận nghiên cứu phát triển cây cao
lương ngọt làm nguyên liệu sản xuất xăng sinh học tại Việt Nam Trường đã
có buổi làm việc và thảo luận cơ hội hợp tác nghiên cứu với đại diện Công ty TNHH Earth Note Nhật Bản Theo bản thỏa thuận nghiên cứu, phía công ty TNHH Earth Note sẽ hỗ trợ giống, kỹ thuật và một số kinh phí để tiến hành nghiên cứu thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu về sâu đục thân (Ostrinia furnacalis
Guenee) ở Việt Nam
Ở nước ta, việc nghiên cứu về sâu đục thân Ostrinia furnacalis còn
khá tản mạn và cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào chuyên sâu về sâu
đục thân cao lương ngọt.
Về biện pháp phòng trừ sâu đục thân cao lương cũng giống như biện pháp phòng trừ sâu đục thân ngô Thời vụ, giống, phân bón có ảnh hưởng
đến sâu đục thân và rệp muội hại ngô (Nguyễn Quý Hùng, 1978) [9] Tuy nhiên đó chỉ là kết quả đánh giá sơ bộ chứ không phải kết quả nghiên cứu
chuyên sâu Ngoài ra, một số nhà khoa học đã chỉ ra được đặc điểm, hình thái của sâu đục thân (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) [2], (Nguyễn Đức Thạnh và CS, 2010) [17].
Ở Hà Nội và phụ cận có 10-16 loài thiên địch của sâu đục thân và
rệp muội hại ngô (Trần Đình Chiến, 1991) [3], Hà Quang Hùng, 1990) [8] Ở Lâm Đồng đã ghi nhận được 72 loài thiên địch trên ruộng ngô (Lưu
Thanh Mưu, 1995) [13] Năm 1996, Phạm Văn Lầm đã ghi nhận được 72 loài thiên địch trong đó đã định danh được 63 loài trên ruộng ngô [11] Đến năm 2002, Phạm Văn Lầm đã xác định được 73 loài thiên địch trên
ruộng ngô [12].
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 36Năm 2003, Đặng Thị Dung đã đưa ra một số dẫn liệu về đặc điểm hình
thái và đặc điểm sinh vật học của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis) [6].
1.3 Nhận xét chung từ tổng quan và những vấn đề cần phải tiến hành
nghiên cứu về sâu đục thân (Ostrinia furnacalis) hại cao lương ngọt
- Cao lương ngọt là cây năng lượng sinh học tiềm năng của Việt Nam Cho nên, bên cạnh công tác tuyển chọn giống và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác thì việc nghiên cứu về sâu bệnh trên cao lương ngọt
và biện pháp phòng trừ chúng là cần thiết để phát triển cao lương bền vững, phục vụ nhu cầu sản xuất xăng sinh học, góp phần đảm bảo an ninh năng
lượng quốc gia.
- Các nghiên cứu về sâu đục thân (Ostrinia furnacalis) trên ngô ở nước
ngoài được thực hiện tương đối đầy đủ từ nghiên về thành phần, đặc điểm
sinh vật học, cho đến các biện pháp phòng trừ chúng Trong đó, nổi bật là các
chương trình nghiên cứu tuyển chọn được những giống ngô có tính kháng sâu
đục thân (Ostrinia furnacalis) cao và nhiều biện pháp sinh học trong phòng
trừ sâu đục thân đem lại hiệu quả cao, bền vững Nhưng các nghiên cứu về
loài sâu đục thân (Ostrinia furnacalis) trên cao lương ngọt chưa được mang
tính chuyên sâu Các tác giả mới xác định được thành phần các loài sâu đục
thân trên cao lương ngọt và đánh giá hiệu quả phòng trừ chúng bằng một số
thuốc hóa học mà chưa đánh giá được đặc điểm sinh vật học của nó khi nhân nuôi bằng thức ăn là cây cao lương ngọt Chưa xác định được loài cao lương ngọt có tính kháng với sâu đục thân và cũng chưa nghiên cứu biện pháp IPM trong phòng trừ sâu đục thân hại cao lương ngọt.
- Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về sâu đục thân cao lương là hoàn toàn mới mẻ và chưa có ai tiến hành nghiên cứu từ xác định thành phần các loài sâu
đục thân cho đến các đặc điểm sinh vật học và biện pháp phòng trừ chúng.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) trên cao lương ngọt.
2.2 Vật liệu nghiên cứu
Cây cao lương ngọt có nguồn gốc từ tỉnh Điện Biên, Việt Nam.
Thuốc bảo vệ thực vật Regen 5SC và Diaphos 10G.
2.3 Dụng cụ thí nghiệm
- Bút lông nhỏ, chậu thủy tinh có kích thước 25-30cm, cồn, giấy thấm
- Bình xịt để phun thuốc trong phòng thí nghiệm
- Lồng nhân nuôi sâu giống
- Bình phun thuốc sâu,…
2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Vụ xuân hè 2013 và 2014.
- Ngày gieo: Năm 2013: 2/3/2013
Năm 2014: 26/2/2014
- Địa điểm: tại thị trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
2.5 Nội dung:
- Nghiên cứu thành phần, tần suất xuất hiện, diễn biến mật độ của sâu
đục thân trên cao lương ngọt.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của sâu đục thân (Ostrinia furnacalis
Guenee) trên cao lương ngọt.
- Nghiên cứu đánh giá hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật
(BVTV) trừ sâu đục thân (Ostrinia furnacalis Guenee) trên cao lương ngọt.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ sâu đục thân
(Ostrinia furnacalis Guenee) đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
cao lương ngọt.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 382.6 Phương pháp nghiên cứu:
2.6.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 3 công thức và 3 lần nhắc lại.
Trong đó: Công thức 1 (CT1): Đối chứng (phun nước lã)
Công thức 2 (CT2): Phun thuốc Regent 5SC (Pha 10ml
nước thuốc vào bình 20l nước lã)
Công thức 3 (CT3): Phun thuốc Diaphos 10G (Rắc 5 hạt vào ngọn cao lương Sau khi rắc thuốc dùng chai nước khoáng Lavi có đục lỗ trên nắp chai phun vào ngọn).
Thí nghiệm trong phòng được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn
(Complete randomized design - CRD); thí nghiệm ngoài đồng ruộng được bố
trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) (Đỗ Ngọc Oanh, Hoàng Văn
Phụ 2012) [15] gồm 3 công thức với 3 lần nhắc lại (Hình 2.1).
- Số ô thí nghiệm: 3 x 3= 9 (ô).
- Diện tích 1 ô thí nghiệm: 5m x 10m = 50 m 2
- Tổng diện tích thực tế đang sử dụng cho thí nghiệm (không kể rãnh, lối
- Thời vụ gieo: vụ xuân hè
- Làm đất: Đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ, chia khối lên luống và rạch hàng.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 39+ Bón lót (được kết hợp với làm đất lần cuối): 100% phân chuồng,
phân hữu cơ vi sinh, lân, 1/6 N +1/6 K.
c ủa sâu đục thân trên cao lương ngọt
* Nghiên cứu xác định thành phần, tần suất xuất hiện của sâu đục thân trên cao lương ngọt
Thí nghiệm xác định thành phần, tần suất xuất hiện của sâu đục thân
trên cao lương ngọt được tiến hành điều tra trên ruộng cao lương ngọt tại thị
trấn Giang Tiên, huyện Phú Lương và các ruộng bổ sung (trên ruộng tập đoàn tại phường Quang Vinh, TP Thái Nguyên và ruộng thí nghiệm tại Đại học Nông Lâm) năm 2013.
Phương pháp lấy mẫu, cách tiến hành thí nghiệm và chỉ tiêu đánh giá được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Phương pháp điều tra
phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 01-38:2010/BNNPTNT) [1] Các điểm
điều tra được tiến hành theo phương pháp 5 điểm chéo góc.
luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si
Trang 40Hình 2.2 Sơ đồ chọn điểm điều tra
Thí nghiệm xác định phổ ký chủ và mức độ phổ biến của sâu đục thân
trên cao lương ngọt được tiến hành điều tra trên các ruộng cố định và các
ruộng bổ sung Mỗi ruộng có diện tích tối thiểu 300 m 2 Tại mỗi ruộng điều
của mỗi loài sâu đục thân được đánh giá bằng tần suất bắt gặp trong quá trình
điều tra (công thức 1).
lần bắt gặp của sâu đục thân
* Nghiên c ứu diễn biến mật độ của sâu đục thân trên cao lương ngọt
- Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm: Vụ xuân hè năm 2014 tại Thái Nguyên.
- Phương pháp theo dõi như mục trên, nhưng chỉ theo dõi trên các ô thí nghiệm không phun thuốc BVTV mà chỉ tưới phun lã.
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Diễn biến mật độ của sâu đục thân được tính theo công thức 2 (CT2).